Việt Nam đã có các nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đối với phụ nữ và trẻ em, những ảnh hưởng tiềm tàng đến phụ nữ ở Việt Nam đã phần nào được xem xét, trong đó vấn đề bình đẳng giớ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
VŨ PHƯƠNG LY
VẤN ĐỀ GIỚI TRONG BỐI CẢNH CỦA
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (Nghiên cứu trường hợp tại xã Giao Xuân,
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 62 31 03 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS TS Nguyễn Hữu Minh
2 PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa
HÀ NỘI, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
VŨ PHƯƠNG LY
VẤN ĐỀ GIỚI TRONG BỐI CẢNH CỦA
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ GIAO XUÂN,
HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 62 31 03 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC Xác nhận của chủ tịch Hội đồng
GS TS Trịnh Duy Luân
TM Giáo viên hướng dẫn
GS TS Nguyễn Hữu Minh
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS TS Nguyễn Hữu Minh
2 PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài này tôi yêu thích và theo đuổi từ năm 2009 khi tôi có cơ hội tham gia một nghiên cứu về giới và biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc tại Việt Nam Sau đó được sự động viên, khuyến khích và chỉ bảo của các thầy cô giáo khoa Xã hội học, tôi đã đi sâu nghiên cứu phát triển thành luận án của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc đối với GS TS Nguyễn Hữu Minh và PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa đã luôn động viên, hướng dẫn và chỉ bảo trong quá trình học tập hơn sáu năm tôi là nghiên cứu sinh để hoàn thiện luận án của mình Tôi không thể hoàn thành được công việc nghiên cứu sinh của mình nếu thiếu
sự động viên và hướng dẫn tận tình của thầy cô
Tôi xin cảm ơn đến gia đình tôi, những người thân yêu và quan trọng nhất của tôi đã luôn tạo điều kiện về thời gian và tinh thần cho việc học tập của tôi Tôi cũng xin cảm ơn các đồng nghiệp của tôi, các bạn nghiên cứu sinh xã hội học cùng khóa đã thường xuyên chia sẻ các thông tin để khuyến khích và động viên tôi hoàn thiện luận văn
Lời cảm ơn trân trọng của tôi cũng xin được chuyển đến các thầy cô giáo khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội, những người luôn lắng nghe và chia sẻ các ý kiến một cách thẳng thắn, thấu đáo về chuyên môn và tạo điều kiện trong quá trình học và chuẩn bị thủ tục để tôi hoàn thành luận án này
Tác giả
Vũ Phương Ly
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình đề tài luận án này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS TS Nguyễn Hữu Minh và PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa Các
số liệu khảo sát xã hội học là trung thực Các số liệu và các tài liệu khác được trích dẫn nguồn tham khảo rõ ràng
Tác giả
Vũ Phương Ly
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ………… ……….… ……….………1i
Lời cam đoan…… ……… ……… ……….2
Mục lục ……… ……3
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt ……….…… 6
Danh mục các bảng ……….……… ……… 7
Danh mục các hình và biểu đồ ……….……….8
MỞ ĐẦU ……….… 9
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ………… … 20
1.1 Các quan điểm và cách tiếp cận về giới và biến đổi khí hậu ……… … …20
1.2 Các quan điểm về thích ứng với biến đổi khí hậu ………….…….….… 24
1.3 Khung luật pháp quốc tế liên quan đến giới và biến đổi khí hậu …… … 27
1.4 Chính sách và nghiên cứu giới và biến đổi khí hậu ở Việt Nam ……….… 31
1.4.1 Các chính sách về giới và biến đổi khí hậu ở Việt Nam …… 31
1.4.2 Giới và biến đổi khí hậu từ góc nhìn sinh kế ……… ……… 34
1.4.3 Tác động của BĐKH đối với lao động trả lương, lao động tự chủ trong lĩnh vực phi nông nghiệp và di cư .36
1.4.4 BĐKH và sức khỏe phụ nữ với tư cách là người chăm sóc … 37
1.4.5 Giới, sự thích ứng và khả năng chống chịu và phục hồi đối với biến đổi khí hậu ……… ……… ……….……… 38
1.4.6 Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực ra quyết định liên quan đến BĐKH ……….……….……41
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 45
2.1 Hệ khái niệm công cụ ……… ….….45
2.1.1 Biến đổi khí hậu ……… … 45
2.1.2 Thích ứng với biến đổi khí hậu ……….……… … 46
2.1.3 Giảm nhẹ biến đổi khí hậu ………49
2.1.4 Bình đẳng giới, quan hệ giới, vai trò giới và vấn đề giới ……….… 50
Trang 62.1.5 Một số khái niệm khác …….……….……… 53
2.2 Các lý thuyết xã hội học được sử dụng ……….….… 57
2.2.1 Lý thuyết giới và môi trường ……….……….……… 58
2.2.2 Các lý thuyết xã hội học về giới ……….….……… 61
2.2.3 Quan điểm giới về sự thích ứng với biến đổi khí hậu …… …… … 66
2.3 Phương pháp nghiên cứu ……… ……….……….…… 69
2.3.1 Phân tích tài liệu ……….……….……… 69
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi ………….……….……… 70
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu ……….……….…… 74
2.3.4 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung ……….….……….75
Chương 3: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ QUAN HỆ GIỚI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP … ……… ………… ….……… … ………… 77
3.1 Địa bàn nghiên cứu xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định ……77
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội …… ……….……… 75
3.1.2 Các xu hướng biến đổi khí hậu và các dạng thiên tai chủ yếu tại Giao Xuân, huyện Xuân Thủy ……… ……….……….….82
3.2 Phân công lao động theo giới trong lao động sản xuất nông nghiệp tại xã Giao Xuân ……… ……….… ……… ….84
3.3 Biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng đến quan hệ giới trong sản xuất nông nghiệp 101
Chương 4: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ QUAN HỆ GIỚI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG PHI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ………117
4.1 Ứng phó với biến đổi khí hậu trong các hoạt động phi sản xuất nông nghiệp của gia đình ……….117
4.2 Sự tham gia của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu qua các hoạt động dự án ……….……….……… 124
4.3 Sự tham gia của Hội phụ nữ vào ban phòng chống thiên tai … ….… …132
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……… ……… 150
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……… ……….……….……….161
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 162
Trang 7PHỤ LỤC ……… 170
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu
BĐG : Bình đẳng giới
BLĐ-TB XH : Bộ Lao động - thương binh và xã hội
COP : Hội nghị liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
DFID : Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh
FAO : Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc ILO : Tổ chức Lao động quốc tế của Liên hợp quốc
ICPP : Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
KTXH : Kinh tế xã hội
LHQ : Liên hợp quốc
LHQVN : Liên hợp quốc tại Việt Nam
MDG : Mục tiêu phát triển thiên niên kỉ
MCD : Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng NTTS : Nuôi trồng thủy sản
UNFCCC : Công ước khung của Liên hơp quốc về biến đổi khí hậu UNISDR : Văn phòng của Liên hợp quốc về giảm nhẹ rủi ro thiên tai SDGs : Mục tiêu phát triển bền vững
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1 Đặc điểm của người tham gia trả lời phỏng vấn theo bảng hỏi ở xã Giao Xuân ……….….… 73 Bảng 3.1 Dân số và lao động của xã Giao Xuân ……….….…… 79 Bảng 3.2 Ngành nghề và mức sống của các hộ gia đình xã Giao Xuân …… … 80 Bảng 3.3 Đặc điểm chung của cộng đồng dân cư xã Giao Xuân .… 81 Bảng 3.4 Phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp ở xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy ……… ……… ….85 Bảng 3.5 Yếu tố khoa học kĩ thuật ảnh hưởng đến sự tham gia vào hoạt động sản xuất ……… ……… … 88 Bảng 3.6 Phân chia thời gian lao động trong ngày … 94 Bảng 3.7 Tác động của thiên tai đến hoạt động sản xuất nông nghiệp .103 Bảng 3.8 Ứng phó với thiên tai theo giới trong sản xuất nông nghiệp ở xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy ……….……… 104 Bảng 4.1 Phân công trách nhiệm cho thành viên Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Nam Định ……… ……….… 138 Bảng 4.2 Thành kiến giới trong quản lý rủi ro thiên tai ……….… 142 Bảng 4.3 Ý kiến về các vấn đề thường xảy sau thiên tai ở địa phương
……… ……… 144
Trang 10DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ Trang Hình 1.1 Khung phân tích cho nghiên cứu …….………18 Hình 2.1 Thiết kế nghiên cứu ……….68 Hình 3.1 Bản đồ địa bàn nghiên cứu Giao Xuân, huyện Giao Thủy ……… 76
Biểu đồ 3.1 Đánh giá về khả năng tham gia công việc gia đình của nam giới …… 94
Biểu đồ 3.2 Các mong đợi với nam giới về việc nhà 95 Biểu đồ 3.3: Phụ nữ giải thích về việc nam giới không muốn tham gia vào công việc nhà ………98 Biểu đồ 3.4 Thiệt hại do bão lớn gây ra .……….….…… ………100 Biểu đồ 3.5 Giải pháp của gia đình khi sản xuất nông nghiệp thất bại do thiên tai và thời tiết ……….……….……… 107 Biểu đồ 3.6 Mong muốn về các hình thức hỗ trợ khi sản xuất nông nghiệp gặp rủi ro
do thiên tai ……… ……… ……….111 Biểu đồ 3.7 Mong muốn về các hình thức hỗ trợ sau khi thiên tai xảy ra …… ……113 Biểu đồ 4.1 Hoạt động phổ biến nhất mà phụ nữ và nam giới phải thực hiện trong quá trình trước, trong và một tuần sau khi bão lớn và thiên tai ……… … … 119 Biểu đồ 4.2 Thời gian làm thêm trong khoảng thời gian trước, trong và sau khi bão to
và mưa lớn ……….………… ……… …….120 Biểu đồ 4.3 Đánh giá của người dân về nhóm dễ bị tổn thương trong cộng đồng khi có thiên tai ……… ….……….……… …… 121 Biểu đồ 4.4 Lý do không muốn tham gia vào quá trình tham vấn kế hoạch …… 128 Biểu đồ 4.5 Mong muốn về các cấp độ tham gia trong quá trình tham vấn và đưa ra các quyết định ở cộng đồng .……… ………129 Biểu đồ 4.6 Các vấn đề người dân mong muốn được chính quyền địa phương giúp đỡ sau khi thiên tai bão và mưa lớn xảy ra ……….130 Biểu đồ 4.7 Hoạt động Hội phụ nữ có thể hỗ trợ nhiều hơn trong quá trình trước, trong và sau thiên tai ……… ……… 134
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập
kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình BĐKH có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn địa cầu Trong bối cảnh chính sách môi trường, BĐKH đề cập tới hiện tượng nóng lên toàn cầu và nguyên nhân chính là gia tăng hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Ở cấp độ toàn cầu BĐKH được công nhận là một trong những thách thức to lớn đe dọa sự phát triển Điều này được thể hiện cụ thể trong các Mục tiêu phát triển bền vững (viết tắt là SDGs) được thành viên của Liên hợp quốc (LHQ) thông qua, trong đó có Việt Nam vào tháng 9 năm 2015
Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH, đặc biệt ở các vùng duyên hải đất thấp [LHQVN, 2012] Trong nhiều văn kiện chính trị quan trọng, Chính phủ Việt Nam đã nhâ ̣n định BĐKH là một thách thức to lớn với những nỗ lực xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội [LHQVN, 2010] Các cam kết này được thể hiện trong việc thông qua các chính sách và chương trình quan trọng để ứng phó với BĐKH như Luật phòng chống thiên tai được thông qua năm 2013, Chương trình mục tiêu Quốc gia Ứng phó với BĐKH,
Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH giai đoạn 2012-2020, xây dựng mô hình quốc gia về Quản lý và rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Việt Nam đã xây dựng kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam nhằm đưa ra thông tin cơ bản về xu thế BĐKH, các bối cảnh nước biển dâng của Việt Nam trong tương lai tương ứng với các kịch bản khác nhau về phát triển kinh tế xã hội Đây là những hành động chính sách và chương trình quan trọng nhằm định hướng cho các Bộ, ngành, địa phương xem xét đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực kinh tế xã hội để
Trang 12xây dựng và triển khai kế hoạch hành động ứng phó với tác động tiềm tàng của BĐKH trong tương lai
Để xây dựng các chính sách về ứng phó với BĐKH, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm thu thập bằng chứng về ảnh hưởng của BĐKH đến các nhóm dân cư với đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau Trung bình hàng năm , Việt Nam có đến một triệu người bị ảnh hưởng từ thiên tai như ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, các hiện tượng hạn hán nghiêm trọng ảnh hưởng đến vùng ven biển miền Trung, đồng bằng Sông Cửu Long và các khu vực miền núi Tuy nhiên nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất là nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt là người nghèo, người già, phụ
nữ và trẻ em [LHQVN, 2012] BĐKH có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với bình đẳng giới Nhiều nghiên cứu toàn cầu chỉ ra các tác động nặng nề của BĐKH lên các nhóm xã hội đã và đang làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng giới và bạo lực đối với phụ nữ [LHQVN, 2010] Địa vị của người phụ nữ bị giảm sút ngay cả khi họ đóng vai trò tích cực trong các hoạt động ứng phó với thiên tai và BĐKH, đặc biệt trong bối cảnh ở Việt Nam khi sự tiếp cận đến các nguồn lực sinh kế của phụ nữ hạn chế hơn nam giới [LHQVN, 2010] Khi có thiên tai xảy ra, phụ nữ thường là nhóm dễ bị tổn thương hơn nam giới do khác biệt về mặt cơ thể, hay quan điểm của xã hội về vai trò và trách nhiệm khác nhau của phụ nữ và nam giới trong gia đình, cộng đồng và xã hội Ví dụ như nhiều cộng đồng không khuyến khích phụ
nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo trong cộng đồng, các hoạt động quản lý và ứng phó với BĐKH, hoặc phụ nữ được mong đợi đảm nhiệm nhiều hơn các công việc chăm sóc và nội trợ trong gia đình; những quan niệm này phần nào ảnh hưởng đến địa vị của phụ nữ và nam giới trong gia đình BĐKH cũng ảnh hưởng trực tiếp chiến lược và hình thức sinh kế của các hộ gia đình và từng cá nhân, trong đó có khu vực nông thôn và sản xuất nông nghiệp; và các loại hình sinh kế gắn bó mật thiết với điều kiện khí hậu, chất đốt và nước BĐKH làm nảy sinh nhiều vấn đề ảnh hưởng đến nam giới và phụ nữ, trẻ em trai và trẻ em gái theo cách khác nhau
Việt Nam đã có các nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đối với phụ nữ
và trẻ em, những ảnh hưởng tiềm tàng đến phụ nữ ở Việt Nam đã phần nào được xem xét, trong đó vấn đề bình đẳng giới phần nào được phân tích như một cách tiếp cận trong quá trình xây dựng và thực hiện các can thiệp về ứng phó với BĐKH, cụ
Trang 13thể là các chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó BĐKH từ năm 2008 đến
2015 Tuy nhiên thực tế các tổ chức còn gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng năng lực nhằm xác định được cách tiếp cận đúng đắn, xây dựng mục tiêu và hành động cụ thể để phân tích và giải quyết vấn đề giới trong ứng phó BĐKH Ngoài ra nhiều nghiên cứu liên quan đến tác động và BĐKH còn thiếu sự lồng ghép giới trong quá trình xây dựng thực hiện, dẫn đến việc thiếu thông tin về khác biệt giới trong các thiệt hại do BĐKH gây ra, hay trong chiến lược thích ứng trong sinh kế hộ gia đình cũng như khác biệt giới trong quá trình tham gia chia sẻ thông tin ứng phó với BĐKH ở cộng đồng
Do đó, nghiên cứu Vấn đề giới trong bối cảnh của biến đổi khí hậu (nghiên cứu trường hợp tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) có thể giúp
các nhà xây dựng chính sách và người làm thực tiễn ở địa phương giải đáp những thay đổi về một số vấn đề bình đẳng giới tại địa bàn trong bối cảnh BĐKH Cụ thể nghiên cứu này sẽ phân tích tác động của BĐKH đến sinh kế của phụ nữ và nam giới; sự thích ứng của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động sản xuất và phi sản xuất; các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động ứng phó với BĐKH ở cộng đồng Từ đó lý giải những ảnh hưởng của BĐKH đến vấn đề BĐG và đưa ra gợi ý làm giảm tối đa bất bình đẳng giới bằng như thế nào qua các can thiệp BĐKH
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu
Mục tiêu
Nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của BĐKH lên mối quan hệ giới tại một địa phương cụ thể: xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Vấn đề được xem xét trong nghiên cứu này là thay đổi mối quan hệ giới khi có tác động của BĐKH lên các hoạt động sản xuất nông nghiệp của phụ nữ và nam giới;
sự thay đổi mối quan hệ giới trong các hoạt động phi sản xuất trong gia đình và sự tham gia của phụ nữ, bao gồm việc ra quyết định về các hoạt động ứng phó với BĐKH cấp cộng đồng
Trang 14Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở đó, nhiệm vụ của nghiên cứu bao gồm:
Tổng quan các nghiên cứu đã có liên quan đến chủ đề nghiên cứu;
Xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cho đề tài;
Phân tích sự ứng phó với những tác động của BĐKH của phụ nữ và nam giới trong công việc sản xuất nông nghiệp;
Phân tích sự ứng phó với BĐKH trong một số hoạt động phi sản xuất trong gia đình và sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động ứng phó BĐKH cấp cộng đồng; và
Nêu lên các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy bình đẳng giới thông qua các can thiệp giảm thiểu tác động của BĐKH
3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề giới trong bối cảnh của biến đổi khí hậu (nghiên cứu trường hợp tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định)
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ bị tác động trong bởi BĐKH
- Nam giới bị tác động bởi BĐKH
- Chính quyền địa phương cấp xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy
- Các ban ngành đoàn thể cấp tỉnh ở tỉnh Nam Định
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Giao Xuân, một xã ven biển thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Xã Giao Xuân thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Thuỷ và có gần 60% số người dân tham gia vào hoạt động thuỷ sản và sinh kế của họ phụ thuộc rất lớn vào khu vực đất ngập nước của Vườn quốc gia Xuân Thủy Giao
Trang 15Xuân có đê quốc gia dài 2,8 km chạy dọc qua xã, con đê này chính là ranh giới giữa vùng dân cư sinh sống với vùng bãi triều có rừng ngập mặn và khu nuôi trồng hải sản
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam từ năm
2008 đến năm 2014 về BĐKH, huyện Giao Thủy là một trong những huyện điển hình chịu ảnh hưởng rõ nét của BĐKH Do đó Nam Định là một trong những tỉnh, thành phố đầu tiên trên cả nước đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Nam Định giai đoạn 2015 - 2020 nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường năng lực thích ứng với BĐKH, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới sự phát triển bền vững
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 4
năm, từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 2 năm 2016 Qúa trình thu thập số liệu được tiến hành trong nhiều giai đoạn và tập trung nhiều nhất trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015
Phạm vi nội dung: Nội hàm của vấn đề giới trong bối cảnh của BĐKH là rất
rộng, chẳng hạn, bao gồm sự phân công lao động theo giới, kiểm soát và tiếp cận các nguồn lực của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động ứng phó với BĐKH, cụ thể là sự ứng phó với BĐKH thông qua sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong công tác cứu trợ thiên tai, các dạng bạo lực trên cơ sở giới trong bối cảnh BĐKH, ngân sách có trách nhiệm giới trong các nỗ lực giảm thiểu tác động của BĐKH Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tác giả chỉ đi sâu phân tích vào mối quan hệ giới trong các hoạt động sinh kế sản xuất nông nghiệp, các hoạt động phi sản xuất trong gia đình nhằm ứng phó với BĐKH Đây cũng là những vấn đề có tầm quan trọng đối với bình đẳng giới
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Thông qua việc nghiên cứu định tính và định lượng tại một địa bàn cụ thể ở Việt Nam chịu tác động rõ nét của BĐKH, luận án thực hiện kiểm chứng một số luận điểm xã hội học về sự thay đổi quan hệ giới trong quá trình thích ứng với sự
Trang 16thay đổi của môi trường tự nhiên, ở đây cụ thể là BĐKH Các luận điểm được đúc kết qua nghiên cứu ở một số quốc gia cho rằng BĐKH đã và đang làm tồi tệ thêm mối quan hệ bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới Nghiên cứu này sẽ một lần nữa làm rõ rằng tình trạng bình đẳng giới có mối quan hệ chặt chẽ với tính dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH, tuy nhiên dễ bị tổn thương hơn không có nghĩa là phụ nữ dễ bị động hơn nam giới trong quá trình ứng phó với BĐKH Do đó, để tạo được sự thay đổi tích cực về BĐG thông qua cac can thiệp về BĐKH, cần phải có những tác động vào chuẩn mực xã hội, vai trò giới bởi những khuôn mẫu về vai trò giới tạo nên kì vọng văn hóa chủ đạo và chuẩn mực xã hội về phương diện năng lực, đặc điểm nhân cách, thái độ, động cơ và phương thức hành vi đặc trưng thích hợp đối với phụ nữ và nam giới Do tác động của BĐKH không phải là trung tính giới, điều này có nghĩa là các can thiệp về ứng phó với BĐKH có thể thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới hoặc tiếp tục làm tồi tệ thêm mối quan
hệ bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, điều này phụ thuộc vào việc các vấn đề giới sẽ được xem xét và phân tích như thế nào trong quá trình thiết kế các can thiệp ứng phó với BĐKH Các kết quả của nghiên cứu sẽ đóng góp trực tiếp vào cách tiếp cận và vận dụng lý thuyết xã hội học về giới, môi trường và phát triển trong hoạt động thực tiễn ở Việt Nam
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Bình đẳng giới (BĐG) không chỉ là mục tiêu mà còn là phương tiện cho sự phát triển của mỗi quốc gia, cộng đồng và từng cá nhân [Bộ LĐ-TB và XH, 2011] Một xã hội không thể được coi là phát triển nếu phụ nữ là nhóm yếu thế hơn nam giới và không được tạo điều kiện bình đẳng để đóng góp một cách tối đa trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Nhận diện các vấn đề bất BĐG hiện hữu có thể đánh giá được mức độ phát triển của một gia đình, cộng đồng hay một quốc gia Nghiên cứu này hướng đến làm sáng tỏ thực trạng rằng phụ nữ và nam giới đang trải nghiệm tác động của BĐKH theo những cách khác nhau và điều này bị tác động bởi chính vai trò giới và tình trạng bất bình đẳng giới Một cách khác, bất bình đẳng giới có quan hệ mật thiết với cách thức phụ nữ và nam giới ứng phó với BĐKH BĐKH tác động không nhỏ đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa phương, và do phân công lao động theo giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp,
Trang 17phụ nữ và nam giới đang ứng phó với cách thức và khối lượng công việc khác nhau
Sự tác động đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến khối lượng công việc, nguồn thu nhập, thời gian dành cho sản xuất và các hoạt động tham gia khác của cộng đồng Đây chính là yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến địa vị kinh
tế và xã hội phụ nữ và nam giới trong cộng đồng và xã hội Chính sự phân công lao động theo giới hiện nay cũng ảnh hưởng đến các hoạt động ứng phó phi sản xuất của phụ nữ, bao gồm cả các hoạt động ứng phó trong cộng đồng Việc tìm hiểu các khác biệt giới này không chỉ có ý nghĩa mà còn quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả xã hội của các can thiệp ứng phó Trong bối cảnh tác động của BĐKH càng rõ nét và gia tăng, các phát hiện của nghiên cứu sẽ giúp đưa ra các gợi ý chính sách nhằm giảm thiểu bất BĐG từ các can thiệp đối với tác động của BĐKH thông qua việc lồng ghép giới
Nghiên cứu có thể được sử dụng như một nguồn tư liệu tham khảo cho các nhà hoạt động thực tiễn, các tổ chức dân sự xã hội hoạt động trong lĩnh vực BĐG, trao quyền cho phụ nữ, môi trường và BĐKH nhằm thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá các tác động xã hội tập trung vào các vấn đề BĐG trong các can thiệp về ứng phó với BĐKH, trao quyền phụ nữ, lồng ghép giới trong các chương trình phát triển nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH thông qua các chương trình giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Nam Định và do đó có thể được
sử dụng như tài liệu tham khảo đối với cơ quan ban ngành tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và các cơ quan của tỉnh như Sở Lao động - thương binh
và Xã hội, Ban phòng chống lụt bão của Tỉnh, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Nam Định, Sở Tài nguyên và Môi trường để thúc đẩy bình đẳng giới thông qua các can thiệp đến tác động của BĐKH
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Sự phân công lao động trong hoạt động sản xuất của phụ nữ và nam giới thay
đổi như thế nào dưới tác động của BĐKH?
Trang 18 Phụ nữ và nam giới đã và đang ứng phó như thế nào với các tác động của
BĐKH ở địa phương trong các hoạt động phi sản xuất trong gia đình?
Sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động ứng phó với BĐKH
ở cấp cộng đồng diễn ra như thế nào?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu đặt ra các giả thuyết sau liên quan đến ba câu hỏi nghiên cứu chính
Phụ nữ và nam giới có trải nghiệm khác nhau trong hoạt động sản xuất nông nghiệp dưới tác động của BĐKH do quan niệm xã hội về phân công lao động cho phụ nữ và nam giới và sự bất bình đẳng hiện hữu trong cộng đồng Phụ nữ có vai trò quan trọng trong hoạt động trồng trọt và chăn nuôi vì vậy là nhóm dễ bị thiệt thòi hơn so với nam giới khi bị tác động của BĐKH
BĐKH có khả năng làm tăng khối lượng công việc phụ nữ nhiều hơn nam giới Do tác động của mối quan hệ bất bình đẳng giới hiện hữu, phụ nữ thường gặp nhiều khó khăn hơn so với nam giới vì họ được mong đợi đảm nhiệm công việc nội trợ và các hoạt động tái sản xuất khác trong gia đình
Phụ nữ phải dành nhiều thời gian hơn trong các hoạt động ứng phó với BĐKH trong khi không có sự thay đổi của nam giới trong các công việc nhà của gia đình và điều này ảnh hưởng đến sự tham gia các hoạt động ứng phó nói chung của phụ nữ trong các hoạt động dự án liên quan đến BĐKH ở cộng đồng
Trong quá trình ứng phó và đưa ra các quyết định ứng phó, tỉ lệ đại diện của phụ nữ trong các cơ chế ra quyết định ở cộng đồng còn thấp, điều này là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng việc đảm bảo đưa tiếng nói và kinh nghiệm của phụ
nữ tham gia vào việc xây dựng và thực hiện các ứng phó với BĐKH và dễ làm sâu
sắc thêm mối quan hệ bất bình đẳng giới
6 Khung phân tích
Trong nghiên cứu này, các biến số tác động đến quan hệ bất bình đẳng/bình đẳng đối với phụ nữ và nam giới bao gồm:
- Bối cảnh dễ bị tổn thương: Bao gồm bối cảnh phát triển kinh tế xã hội ở
địa phương, trong đó các hoạt động sinh kế gắn chặt với điều kiện khí hậu; Quản trị
Trang 19nhà nước, các tổ chức thể chế , ở các quy mô khác nhau và mức độ phối hợp hành
đô ̣ng khác nhau ; Nhiều nguyên nhân gây căng thẳng cho cô ̣ng đồng dân cư nông thôn như toàn cầu hóa kinh tế , suy thoái môi trường ta ̣i đi ̣a phương , xung đô ̣t và biến đổi khí hậu ngày một gia tăng Sự biến đổi này có thể diễn ra nhanh hoặc diễn
ra chậm
- Cấu trúc/khuôn khổ văn hóa về các vai trò và quan hê ̣ giới : Các quan
hệ giới bất bình đẳng hay bình đẳng này có thể được duy trì và củng cố bởi những cấu trúc văn hóa Có ba yếu tố cần được quan tâm khi xem xét về vai trò và mối quan hệ giới, những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của phụ nữ và nam giới đến BĐKH Thứ nhất, đó là sự tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, bao gồm cả các nguồn lực sinh kế cho phụ nữ và nam giới Thứ hai đó là các quan niệm
về giới và sự phân chia lao động: bao gồm sự phân công lao động trong gia đình giữa phụ nữ và nam giới, các quan niệm về vai trò được mong đợi đối với phụ nữ và nam giới, điều này cũng tác động không nhỏ đến việc lựa chọn sinh kế của phụ nữ
và nam giới Thứ ba đó chính là các quan niệm về phụ nữ và nam giới về các rủi ro liên quan đến môi trường
- Điều kiện kinh tế xã hội ở địa phương: trong đó bao gồm các chính sách
chương trình hoạt động nói chung liên quan đến định hướng, việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, cùng với các điều kiện thực tế về các sinh kế và yếu tố đặc điểm xã hội của dân cư, chuẩn mực xã hội tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội
- Chính sách phát triển chung và các chính sách, chương trình và dự án
cụ thể về BĐKH: trong đó sẽ xem xét các yếu tố bất bình đẳng giới thường gắn
trong các tổ chức và nhà hoạch định chính sách và chương trình giảm thiểu các tác hại và thích ứng với BĐKH mà trong đó còn thiếu nhạy cảm giới và những biện pháp cụ thể thúc đẩy bình đẳng giới
Trang 20Hình 1.1 Khung phân tích cho nghiên cứu
7 Đóng góp của luận án
Thứ nhất, luận án sử dụng cách tiếp cận giới để xác định và phân tích các ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, qua đó phân tích và chỉ
ra sự thay đổi các mối quan hệ giới trong bối cảnh của BĐKH
Thứ hai, luận án nhận diện và phân tích các yếu tố giới liên quan và ảnh hưởng đến cách thức và chiến lược ứng phó của người dân qua một số hoạt động phi sản xuất và sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động ứng phó với BĐKH ở cấp cộng đồng
Thứ ba, luận án lý giải mối quan hệ nhân quả giữa BĐG và BĐKH tại một địa bàn nghiên cứu, và kiểm chứng các luận điểm xã hội học về sự biến đổi mối quan hệ giới trong bối cảnh BĐKH ở Việt Nam, qua đó đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn vào kiến thức xã hội học về giới và BĐKH
Mối quan hệ
giới trong hoạt
động sản xuất
Tham gia và lãnh đạo của phụ nữ và nam giới cấp cộng đồng trong các hoạt động ứng phó BĐKH
Mối quan hệ bình đẳng giới và khả năng thích ứng của
phụ nữ và nam giới đối với BĐKH
Bối cảnh môi trường bị ảnh hưởng bởi BĐKH
Cấu trúc văn hóa về quan hệ giới
Điều kiện kinh tế xã hội ở địa phương
Chính sách chương trình can thiệp về BĐKH và Bình đẳng giới
Mối quan hệ giới trong hoạt động phi sản xuất trong gia đình
Trang 218 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và phụ lục, luận án bao gồm năm chương nội dung, cụ thể là:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương này tập trung trình bày
kết quả của các công trình nghiên cứu đi trước trên thế giới và Việt Nam về giới và biến đổi khí hậu, từ đó tìm ra các khoảng trống lý thuyết và thực tiễn mà các công trình nghiên cứu trước chưa giải quyết để tập trung phân tích ở luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày
các khái niệm công cụ và lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu xã hội học được sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Chương 3: BĐKH và quan hệ giới trong sản xuất nông nghiệp Chương này
tập trung phân tích về sự phân công lao động theo giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương, qua đó nhận diện tác động cụ thể của BĐKH đến sự thay đổi trong phân công lao động theo giới và hoạt động sản xuất nông nghiệp của phụ nữ và nam giới và giải thích các yếu tố phân công lao động theo giới và thực trạng bất BĐG ảnh hưởng thế nào đến việc phụ nữ và nam giới ứng phó với BĐKH trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương
Chương 4: BĐKH và quan hệ giới trong các hoạt động phi sản xuất Chương
này xem xét các khác biệt giới trong việc ứng phó với BĐKH trong các hoạt động phi sản xuất và sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động ứng phó với BĐKH ở cộng đồng, bao gồm sự tham gia của Hội phụ nữ trong quá trình ra các quyết định liên quan đến ứng phó với BĐKH
Trang 22CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ thập kỉ 80 và 90 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã
có nhiều nghiên cứu về phụ nữ, môi trường và phát triển xã hội ở những chiều cạnh khác nhau và đây chính là tiền đề cho các nghiên cứu giới và môi trường, giới và BĐKH Trong chương này, tác giả sẽ rà soát, phân tích và xem xét các công trình nghiên cứu đi trước đã liên quan và gợi mở các vấn đề liên quan đến chủ đề của luận án: giới và BĐKH; giới và môi trường
1.1 Các quan điểm và cách tiếp cận về giới và biến đổi khí hậu
Các nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa quá trình sinh thái học và xã hội
đã được thực hiện từ cuối thể kỉ 19, trong đó làm nổi bật mối quan hệ xã hội và môi trường được duy trì thông qua quá trình và ảnh hưởng của thiên nhiên lên con người
và sự nỗ lực của chính loài người [Irena Dankemanl, 2008] Một số nghiên cứu đưa
ra lập luận rằng có sự tồn tại song song giữa sự thoái hóa của tự nhiên và sự đàn áp đối với phụ nữ và điều này có liên quan chặt chẽ đến địa vị của người phụ nữ trong cộng đồng và xã hội Người phụ nữ được xem là thứ bậc thấp hơn nam giới và đóng vai trò phục vụ trong cộng đồng và trong gia đình, nguyên do là vì phụ nữ đảm nhiệm vai trò sinh sản và chăm sóc trong gia đình và cộng đồng Khái niệm về phụ
nữ và vị trí tự nhiên trong xã hội đã được phân tích nhiều trong trường phái nữ quyền sinh thái Theo phân tích này, sự đơn giản hóa về mối quan hệ phụ nữ, so sánh cơ thể của người phụ nữ với bà mẹ tự nhiên đã tạo nên những mối quan hệ bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới khi xem xét những tác động của môi trường đối với tự nhiên [dẫn theo Braidotti và cộng sự, 1993] Thực tế chỉ ra phụ nữ và nam giới đã đóng vai trò, trách nhiệm khác nhau trong việc quản lý và duy trì môi trường vật chất tự nhiên và điều này ảnh hưởng đến quá trình ra các quyết định quan trọng của cộng đồng về môi trường Tuy nhiên, trong quá trình can thiệp bảo tồn và quản
lý bền vững các nguồn lực thiên nhiên và hoạt động đặt nền móng cho các hoạt động khoa học và nghiên cứu môi trường, việc nghiên cứu vai trò và vị trí của phụ
nữ đã bị nhiều ngành khoa học bỏ qua một cách nghiêm trọng [Irena Dankemanl, 2008]
Trang 23Trong các nghiên cứu về môi trường đã có sự tập trung nghiên cứu về địa vị thấp hơn của người phụ nữ trong xã hội so với nam giới như một hiện tượng mang tính phổ thông, điều này được lý giải từ nguyên nhân văn hóa đa thần và người phụ
nữ gần gũi với tự nhiên hơn nam giới [Sherry Ortner, 1974] Trong các nghiên cứu sâu hơn của nữ quyền trong vấn đề môi trường, vấn đề khác biệt sinh học của phụ
nữ so với nam giới và tinh thần của phụ nữ cũng đã được đưa vào tranh luận và điều này đưa ra một bức tranh tổng thể hơn về sự thống trị với vai trò mạnh mẽ của người phụ nữ trong xã hội [Ortner, 1996] Tuy nhiên, trong các trường phái này, tiêu biểu là nghiên cứu của Ortner đã tập trung phân tích về sự phụ thuộc của phụ
nữ trong xã hội nhưng không đặt ra câu hỏi về thái độ xã hội đối với môi trường
Vấn đề phụ nữ và môi trường chỉ thực sự trở thành mối quan tâm trong các nghiên cứu về môi trường và BĐKH trong thế kỉ 20 [Irena Dankeman, 2012] Sự tham gia của phụ nữ vào các hành động BĐKH liên quan đến việc lập kế hoạch và quyết định, đóng góp của họ về những kiến thức, kinh nghiệm và quan điểm của mình một cách có giá trị, cũng như vai trò lãnh đạo quan trọng của họ trong lĩnh vực này đã được nhấn mạnh Những nghiên cứu này chỉ ra rằng các chính sách phát triển cần phải có sự hiểu biết thực tiễn về giới, BĐKH và phát triển bền vững
Dựa trên các kinh nghiệm quốc tế, khung phân tích về giới, BĐKH, và an ninh con người đã được xây dựng vào cuối thế kỉ 20 [Irena Dankeman, 2012] Trong khung phân tích này, an ninh con người được định nghĩa là (i) an ninh để tồn tại, (ii) an ninh sinh kế, (iii) nhân phẩm, an ninh để tồn tại biểu thị về các mức độ
về đạo đức hay bị thương và cái chết của con người, an ninh về sinh kế liên quan đến những an ninh về lương thực, nước, năng lượng, an ninh môi trường, an ninh về nơi cư trú và an ninh kinh tế Trong bối cảnh này “nhân phẩm” có thể được chia ra theo các khía cạnh quyền cơ bản của con người, năng lực và sự tham gia Theo đó, những ảnh hưởng cụ thể của BĐKH lên những khía cạnh về an ninh và giới được xác định cụ thể Khung này chỉ ra các chiến lược mà cộng đồng sử dụng trong việc ứng phó với BĐKH và xác định các chính sách và lựa chọn về an ninh con người trong những lĩnh vực này Cụ thể là BĐKH biểu hiện qua nhiều hình thức khí hậu
và thiên tai khắc nghiệt khác nhau, xét về khía cạnh an ninh, điều này sẽ gây ảnh hưởng nặng nề như chết hoặc bị thương, tăng các bệnh truyền nhiễm và ảnh hưởng
Trang 24đến các vấn đề sức khỏe, mất các loại sinh vật quý như các loài thuốc, giảm đa dạng sinh học và làm thay đổi hệ thống sinh vật học Tại nhiều nơi trên thế giới, phụ nữ
và nam giới cũng có chiến lược khác nhau nhằm đối phó với các vấn đề này như phải tăng khối tượng công việc của mình để đảm bảo việc chuẩn bị đối phó với thiên tai, tìm các loài cây/thuốc thay thế cho gia đình, thích ứng với các cách thức làm nông/thay đổi sang vụ mùa hay/nuôi động vật, tiết kiệm thức ăn, hạt giống và con giống và thậm chí là phải thay đổi chế độ ăn uống mới, đa dạng con giống, tìm kiếm các nguồn nước sạch mới hoặc dành nhiều thời gian trong việc đảm bảo nước sạch cho gia đình
Phụ nữ và nam giới có những vai trò và trách nhiệm khác nhau trong sử dụng đất, quản lý nước, sử dụng rừng, việc cung cấp và sử dụng năng lượng, xây dựng và bảo tồn đô thị [Dankelman và Davidson, 1998] Sự khác biệt này ảnh hưởng không nhỏ bởi các vai trò giới Với phụ nữ, đó là vai trò tái sản xuất và sản xuất đa dạng trong gia đình và trong cộng đồng Lũ lụt, hạn hán, lạnh và khí nóng theo đợi, lốc, cuồng phong, nhiệt độ cao hơn trung bình, cháy rừng tự nhiên, và mực nước biển dâng: Tất cả những vấn đề này có ảnh hưởng lớn với cuộc sống và sinh kế của con người và đặc biệt những công việc và phụ nữ đang phải đảm nhận Trong hầu hết các trường hợp, khi nguồn lực trở nên hạn hẹp, việc sản xuất đi xuống, giá cả tăng lên và có mâu thuẫn trong việc sử dụng các nguồn lực, các hiện tượng này tác động rất lớn đến với phụ nữ và sự an ninh của loài người
Như nhiều thảm họa, những đe dọa về BĐKH có thể làm tăng bất bình đẳng đang hiện hữu [UNDP, 2010], bất BĐG là một trong những bất bình đẳng mạnh nhất từ những bài học quan trọng có thể thấy được trong quá khứ liên quan đến tự nhiên Tính dễn bị tổn thương cũng xem xét trong bối xã hội văn hóa cụ thể cho thấy tỉ lệ phụ nữ bị chết trong các sự kiện thiên tai nhiều hơn so với tỉ lệ này ở nam giới [Newmayer và Plumper, 2007]
Trong vị trí bất lợi, phụ nữ phải đối mặt với những khó khăn đặc thù trong việc đối phó với thiên tai Ví dụ, việc phụ nữ có học vấn thấp và được đào tạo ít hơn
có thể giảm khả năng của họ trong việc tiếp cận những thông tin cần thiết trước, trong và sau khi thảm họa Và khi người nghèo - trong đó có nhiều người là phụ nữ
- mất kế sinh nhai, họ sẽ rơi vào tình trạng nghèo đói Và khi BĐKH không mang
Trang 25tính trung tính giới, những ảnh hưởng cụ thể về an ninh đều có những yếu tố giới trong đó cũng đã được quan sát ở nhiều địa phương nơi biến đổi khí hậu tác động
Một cách thường xuyên, phụ nữ thường được nhìn nhận là nạn nhân của BĐKH, trong đó nam giới là các tác nhân Tuy nhiên, có nhiều trường hợp có thể thấy là nam giới là nạn nhân và phụ nữ là tác nhân Bởi vì công việc của họ phụ thuộc vào đất đai và phụ thuộc nhiều vào nguồn thiên nhiên, nhiều phụ nữ có những kiến thức đặc thù của hoàn cảnh và sự thay đổi của địa phương Có rất nhiều nhà xây dựng kế hoạch và những người ra quyết định, mà đa phần là nam giới đã không cân nhắc những đóng góp này một cách đầy đủ [WEDO, 2007]
Thảm họa tự nhiên, bao gồm BĐKH, sẽ mang đến cho phụ nữ những thách thức trong việc thay đổi địa vị (có yếu tố giới) trong xã hội của họ [Enarson, 2000]
Có những trường hợp cho thấy rõ ràng là phụ nữ rất hiệu quả trong việc huy động cộng đồng đối phó lại BĐKH Nhiều phụ nữ trên khắp thế giới có những ý tưởng về việc giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, và họ tự tổ chức thành các hiệp hội đưa lên tiếng nói của mình đến các bên liên quan Điều này đã tạo nên các phong trào quốc gia và địa phương của phụ nữ trong đối phó với môi trường và BĐKH trong những năm gần đây, nhờ đó có nhiều sự thay đổi tích cực, một trong các kết quả tích cực
đó là đã có nhiều tổ chức tham gia vào làm việc trong lĩnh vực BĐG và công bằng khí hậu ở cấp toàn cầu
Nhiều yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến vấn đề môi trường, giới, và trẻ
em Môi trường có ảnh hưởng đến khối lượng công việc, sức ép về thể chất và tinh thần cũng như sự tự chủ của họ Ngoài việc phân công lao động, nhiệm vụ và trách nhiệm, những yếu tố quan trọng bao gồm:
Tiếp cận và kiểm soát đến các nguồn lực tự nhiên có chất lượng tốt , như là đất, nước và cây cối
Tiếp cận và kiểm soát đến các phương tiện sản xuất, như thu nhập, tín dụng
và những công nghệ thích hợp
Tiếp cận đến giáo dục và đào tạo
Địa vị xã hội và quyền ra quyết định, liên quan đến quản lý và sử dụng nguồn lực, hàng hóa và sản xuất
Sự tham gia và liên quan đến các quá trình xã hội và tự do của tổ chức
Trang 26Những yếu tố này không chỉ quan trọng ở cấp vi mô là cấp hộ gia đình và cộng đồng mà còn quan trọng ở cả cấp trung gian và cấp vĩ mô Ngoài hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, công nghệ và cấu trúc quyền lực, điều kiện môi trường cũng có ảnh hưởng đến công việc và đời sống của phụ nữ và nam giới Điều này rất đúng trong bối cảnh nông thôn, nhưng những khía cạnh này cũng có thể nhìn thấy trong môi trường đô thị [Dankelman, 2012]
1.2 Các quan điểm về thích ứng với biến đổi khí hậu
Phân tích sự thích ứng với BĐKH, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra một số nhân
tố tác động đến việc các cá nhân, cộng đồng, quốc gia hay các tổ chức quốc tế lựa chọn các chiến lược thích ứng phù hợp Việc lựa chọn một chiến lược thích ứng phụ thuộc đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có khả năng tiếp cận thông tin, kiến thức và sự sẵn có của nguồn lực bao gồm ngân sách và quyền lực của xã hội
Một trong những điểm nổi bật khi thực hiện các biện pháp ứng phó với rủi ro thời tiết là sự phân công lao động chuyên môn hóa gắn với quan hệ giới [Siri Erisksen và cộng sự, 2005] Nói cách khác, sự thích ứng với BĐKH có quan hệ với
sự phân công lao động theo giới trong gia đình Sự phân công một thành viên của
hộ gia đình tham gia vào một hoạt động hoặc một số các hoạt động kiếm tiền chính
có thể giúp hộ gia đình kiếm được thu nhập cao hơn việc các thành viên trong gia đình đều tham gia vào một số hoạt động hỗ trợ Các tác giả cho rằng nam giới có ưu thế hơn phụ nữ khi chuyên môn hóa lao động vì nam giới có khả năng dành thời gian liên tục cho một công việc Trong khi đó, trách nhiệm đối với công việc tái sản xuất bao gồm cả chăm sóc con cái và nấu ăn khiến cho hầu hết phụ nữ không thể dành nhiều thời gian cần thiết để thực hiện một số công việc nhất định như chủ cửa hàng, di chuyển xa để buôn bán hoặc làm các việc làm được trả công Vì vậy, nam giới thường là người kiếm thu nhập chủ yếu cho gia đình trong khi thu nhập của phụ nữ qua một số hoạt động có vai trò hỗ trợ thêm là một chiến lược phổ biến thể hiện sự phân công lao động trong một số gia đình ở cả Kenya và Tanzania Nếu nam giới làm lao động phổ thông toàn thời gian hoặc làm trong hầm mỏ sẽ mang lại thu nhập ổn định cho hộ gia đình trong khi phụ nữ chỉ thỉnh thoảng làm thêm một vài việc phổ thông và có thu nhập ít Gia đình càng có nhiều thành viên có thể làm
Trang 27việc tập trung càng có nhiều cơ hội hơn khi đương đầu với những khó khăn trong BĐKH [Siri Erisksen và cộng sự, 2014]
Câu hỏi đặt ra là liệu các biện pháp thích ứng có hoàn toàn vì BĐKH? Các chiến lược thích ứng có mối liên hệ trực tiếp với những BĐKH nhưng mối liên hệ này dường như yếu hơn tác động của các nhân tố kinh tế, chính trị và xã hội tới các chiến lược sinh kế ở nông thôn Việc di cư ra đô thị tìm việc làm là một ví dụ Di cư được xem như một biện pháp của hộ gia đình nhằm đảm bảo có nguồn thu nhập ổn định từ công việc ở đô thị và giảm bớt những khó khăn về kinh tế do BĐKH trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra Thử nghiệm các loại cây trồng mới cũng được xem là một biện pháp thích ứng với BĐKH Tuy nhiên, biện pháp này cũng nhằm đa dạng hóa và ổn định nguồn thu nhập của hộ gia đình và cả hai lý do này đều liên quan gián tiếp đến BĐKH [Ole Mertz và cộng sự, 2009] Như vậy, các biện pháp thích ứng (nếu có) là kết quả tác động tổng hợp của nhiều nhân tố từ kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá hơn là tác động đơn lẻ của BĐKH, mà theo đó khả năng tiếp cận đến nguồn lực sản xuất cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố giới tính và tình trạng bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong một cộng động xác định Do đó, việc phân tích tác động của từng nhân tố đến các biện pháp thích ứng là vô cùng quan trọng nhưng không phải việc dễ dàng
Để thích ứng với BĐKH, hai loại chiến lược thích ứng cơ bản về mặt sinh kế của người dân gồm đa dạng hóa nguồn thu nhập và cải tạo công việc hiện tại Ở một
số nơi, cải tạo công việc hiện tại là biện pháp chính nhưng ở một vài nơi khác, đa dạng hóa nguồn thu nhập, thoát khỏi sự lệ thuộc vào hoạt động nông nghiệp là xu hướng được ưu tiên hơn Việc lựa chọn chiến lược nào phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương Đa dạng hóa nguồn thu nhập, cụ thể là tìm kiếm các việc làm phi nông nghiệp được trả công được xem là một biện pháp thích ứng với BĐKH được sử dụng phổ biến ở nhiều nơi Thậm chí, đối với những hộ gia đình nông dân nghèo ở Nepal và Ấn Độ, đây được xem là chiến lược quan trọng nhất để thích ứng với những BĐKH và nông nghiệp thông qua việc nam giới tăng cường tìm kiếm các công việc phi nông nghiệp có được trả công Tuy nhiên, việc tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp không phải dễ dàng do tính cạnh tranh trong công việc cao hoặc do ít việc [Fraser Sugden và cộng sự, 2014] Việc tìm kiếm việc làm phi
Trang 28nông cũng phụ thuộc nhiều vào độ tuổi và trình độ học vấn, và xu thế là người trẻ
và có trình độ học vấn cao hơn dành thời gian tìm việc phi nông nhiều hơn các nhóm còn lại
Trong thực tế do tác động của BĐKH, người dân có thể dừng hoàn toàn các hoạt động nông nghiệp và trở thành những người công nhân di cư hoặc làm thuê Khi đó, sản xuất nông nghiệp sẽ bị ngừng trệ Bên cạnh đó, một số người dân vừa giảm một phần hoạt động nông nghiệp, vừa tìm kiếm các công việc phi nông Di cư cũng là một giải pháp quan trọng để ứng phó với sự biến thiên của thời tiết Di cư, bao gồm cả di cư ra đô thi, đóng vai trò quan trọng trong sự hồi phục sinh kế ở nhiều nước đang phát triển Có những bằng chứng cho thấy ở một số nước, những người dân di cư đã sử dụng kiến thức về môi trường của địa phương và thúc đẩy việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên Vì vậy, di cư cũng được xem là một chiến lược thích ứng khả thi đối với BĐKH trong một số hoàn cảnh nhất định [LHQVN, 2008] Đối với nhiều gia đình có người di cư, đặc biệt là xuất khẩu lao động, khoản tiền gửi về đã giúp họ đương đầu với hạn hán cũng như những biến động thời tiết khác Tất nhiên, việc di cư tìm việc làm đã có lịch sử lâu đời và chịu tác động của nhiều yếu tố nhưng chính áp lực từ sự BĐKH đã làm tăng dòng người
di cư bao gồm cả di cư theo mùa, di cư lâu dài và xuất khẩu lao động [LHQVN, 2010] Nếu thời tiết thuận lợi và mùa vụ thu hoạch tốt, người dân sẽ di cư đến các thành phố ở Ấn Độ tìm việc vài tháng trong một năm nhưng nếu sản xuất không tốt, thời gian di cư sẽ dài hơn Các gia đình nghèo có xu hướng phụ thuộc vào lao động
di cư cao hơn nên thường có nhiều lao động di cư hơn Tuy nhiên, ở Nepal và Ấn
Độ, phần lớn người di cư là nam giới trong độ tuổi lao động và thậm chí có cả trẻ vị thành niên và điều này đã đổ gánh nặng việc nhà và công việc sản xuất của gia đình lên vai người phụ nữ Đáng chú ý là trong nhiều gia đình, khi nam giới di cư lao động, khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính của phụ nữ vẫn không được cải thiện Phụ nữ không tiếp cận được tiền chồng họ gửi về Ở Dhnusha và Morang, Nepal, người chồng đi xuất khẩu lao động gửi tiền về qua ngân hàng và trong một số trường hợp, gia đình nhà chồng đi nhận tiền và có quyền kiểm soát nguồn tiền này, chứ không phải người vợ [Fraser Sugden và cộng sự, 2014]
Trang 29Cũng có các ý kiến cho rằng di cư không phải là một biện pháp thích ứng lâu dài mà chỉ là một sự điều chỉnh ngắn hạn nhằm ứng phó lại những trở ngại như một chiến lược ứng phó trong trong khi sự thích ứng là những thay đổi diễn ra lâu dài trong các chiến lược của hộ gia đình, chiến lược ứng phó mang tính ngắn hạn và dễ thay đổi
Nhìn chung, người dân đã áp dụng đồng thời nhiều biện pháp thích ứng và việc lựa chọn các biện pháp này rất linh hoạt Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện,
hộ gia đình có thể chuyển đổi linh hoạt giữa các loại hoạt động này Hộ gia đình có
xu hướng tìm kiếm một việc làm chính có thể thay thế cho hoạt động nông nghiệp
và trở thành nguồn thu nhập chính, đều đặn, đáp ứng được nhu cầu lương thực và các chi phí khác Nếu việc làm này thất bại, hộ gia đình có thể chuyển sang các hoạt động hỗ trợ khác Các chiến lược ứng phó hỗ trợ thường là những hoạt động mang tính cơ hội, không thường xuyên, mang lại nguồn thu nhập hoặc thực phẩm trong thời gian ngắn Việc xác định một chiến lược ứng phó mang tính cơ bản hay hỗ trợ phụ thuộc vào nhiều nhân tố cũng như những cơ hội và trở ngại một hộ gia đình phải đương đầu và trong đó, năng lực của các thành viên cũng là yếu tố quan trọng Trong quá trình này, khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất, vị trí xã hội của họ - các
cá nhân trong cộng đồng và xã hội có thể ảnh hưởng đến việc họ đương đầu với các hoạt động ứng phó với BĐKH như thế nào Điều này ngược lại, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố quan hệ giới, địa vị của phụ nữ và nam giới trong gia đìng, cộng đồng và
xã hội Do sự phân công lao động theo giới, khả năng tiếp cận đến các nguồn lực kinh tế và xã hội giữa phụ nữ và nam giới thường khác nhau, phụ nữ và nam giới cũng đóng các vai trò ra quyết định khác nhau trong cộng đồng, chính điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc họ thực hiện và cách thức ứng phó với BĐKH trong gia đình và cộng đồng [LHQVN, 2010]
1.3 Khung luật pháp quốc tế liên quan đến giới và biến đổi khí hậu
Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) là văn bản kết quả của Hội nghị LHQ
về Môi trường và Phát triển năm 1992, tại Rio de Janeiro đã đưa ra lộ trình hướng tới phát triển bền vững Chương trình nghị sự 21 không phải là văn bản ràng buộc
về pháp lý, nhưng đã thôi thúc nhiều sáng kiến quốc gia và địa phương trên thế giới
Trang 30trong lĩnh vực môi trường và phát triển Trong văn bản này, Chương 24 về “Hành động toàn cầu vì Phụ nữ hướng tới phát triển bền vững” kêu gọi chính phủ các nước loại bỏ mọi trở ngại ảnh hưởng với việc tham gia đầy đủ của phụ nữ trong phát triển bền vững và đảm bảo đạt được BĐG trong mọi phương diện xã hội
Tuy nhiên đáng chú ý là Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC) – là một trong ba công ước được thoả thuận ở Rio de Janeiro – và Nghị định thư Kyoto kèm theo Công ước, thoả thuận năm 1997, lại không thừa nhận các khía cạnh giới của BĐKH và bỏ sót các vấn đề BĐG và sự tham gia của phụ nữ Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển bền vững năm đã đưa ra văn kiện
Kế hoạch hành động Johannesburg 2002 và theo đó khẳng định “nhu cầu lồng ghép các vấn đề giới trong các chính sách và các chiến lược, loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và cải thiện địa vị, sức khoẻ và phúc lợi kinh tế của phụ nữ
và em gái thông qua quyền được sử dụng đầy đủ và bình đẳng đất đai, các cơ hội kinh tế, tín dụng, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ”
Từ Hội nghị các bên lần thứ 11 (COP11) của Công ước tại Montreal (2005), các nhóm vận động về vấn đề Phụ nữ đã ủng hộ mạnh mẽ cách tiếp cận giới trong tất cả các lĩnh vực quan trọng và các cơ chế liên quan về giảm thiểu khí nhà kính, thích ứng BĐKH, chuyển giao công nghệ và tài trợ Các nhóm phụ nữ này đã tổ chức nhiều hoạt động vận động hành lang mạnh mẽ với các bên liên quan để đảm bảo kết quả có nhạy cảm giới Do đó, trong “Hội nghị bàn tròn về Giới và BĐKH”
do Tổ chức Môi trường và Phát triển của phụ nữ (WEDO) và Hội đồng các nhà lãnh đạo nữ thế giới tổ chức theo chuỗi hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh
an ninh toàn cầu các nhà lãnh đạo nữ quốc tế ở thành phố New York, Mỹ tháng 11 năm 2007 đã thừa nhận BĐKH gây ra những rủi ro an ninh đáng kể, nhất là đối với phụ nữ và thừa nhận rằng phụ nữ phải có sự đại diện và được tham gia một cách bình đẳng vào quá trình ra quyết định ở mọi cấp độ
Ngoài ra cần nói đến một số khung lụật pháp và chính sách quốc tế quan trọng nhấn mạnh đến BĐG và việc phải lồng ghép giới với phát triển và trong các chính sách và hành động liên quan bao gồm những chính sách và hành động, đây
Trang 31cũng chính là những văn kiện quốc tế mà Việt Nam, với tư cách là một thành viên của LHQ đã thông qua và đang thực hiện tại quốc gia
Công ước của LHQ về Chấm dứt mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW) được LHQ thông qua năm 1979 được coi là luật toàn cầu về các quyền dành cho phụ nữ Việt Nam cũng là một trong những quốc gia thành viên đầu tiên của LHQ ký công ước CEDAW năm 1980 Công ước này yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo phụ nữ và nam giới có các cơ hội bình đẳng về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá Và nhà nước phải có các biện pháp nhằm đưa nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào hiến pháp quốc gia và/hoặc vào việc xây dựng luật pháp Công ước buộc các bên áp dụng các biện pháp thích hợp
để xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ để đảm bảo sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động cộng đồng Các nguyên tắc quan trọng của công ước này đó chính là đảm bảo bình đẳng thực chất
và không phân biệt đối xử bảo vệ về mặt pháp lý cho phụ nữ, các thể chế phù hợp
và điều phối, cũng như các biện pháp nhằm chấm dứt bạo lực trên cơ sở giới
Văn bản kết quả của Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ 4 năm 1995 là Tuyên
bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh đã đưa ra những cam kết cụ thể về 12 lĩnh vực trọng tâm liên quan đến sự phát triên của phụ nữ trong đó môi trường là một trong những lĩnh vực – mục K về Phụ nữ và môi trường Mục này nhấn mạnh việc đảm bảo sự tham gia tích cực của phụ nữ trong quá trình ra quyết định đến các vấn
đề môi trường; lồng ghép các mối quan tâm và phân tích giới vào các chính sách và các chương trình phát triển bền vững; cũng như tăng cường hoặc thiết lập các cơ chế ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, để đánh giá ảnh hưởng của các chính sách phát triển và môi trường đến phụ nữ
Phiên họp lần thứ 52 của Uỷ ban về Địa vị của Phụ nữ (tên tiếng Anh là Commission on the Status of Women – CSW) năm 2008 của LHQ đã xác định các triển vọng giới trong BĐKH là một vấn đề mới nảy sinh Trong Nghị quyết LHQ số E/CN.6/2008/L.8 21 đã nhất trí về tài trợ cho Bình đẳng giới và Môi trường của Phụ
nữ, chính phủ các nước phải đẩy mạnh lồng ghép quan điểm giới trong thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá và lập báo cáo về các chính sách môi trường quốc
Trang 32gia, tăng cường các cơ chế và cung cấp thoả đáng các nguồn lực để đảm bảo sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ trong việc ra quyết định ở mọi cấp về các vấn đề môi trường, nhất là các chiến lược liên quan đến BĐKH và cuộc sống của phụ nữ và em gái
Trong một số khuôn khổ luật pháp quốc tế khác cũng đã có nhiều văn kiện liên chính phủ quốc tế, trong đó Việt Nam đã cam kết, ghi cụ thể về tầm quan trọng đối với những can thiệp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, cụ thể như:
- Hiệp ước Cancun (là kết quả của Hội nghị LHQ về BĐKH lần thứ 16 – COP
16, tháng 10 năm 2010) khẳng định các can thiệp thích ứng với BĐKH cần tuân thủ những nhu cầu của quốc gia, đảm bảo nhạy cảm giới và sự tham gia cũng như nguyên tắc minh bạch và những can thiệp giảm thiểu các tác động của BĐKH cần phải xem xét các nhóm tổn thương, đặc biệt là nhóm phụ nữ và trẻ em [LHQ, 2010]
- Quyết định 1/COP 16 cũng đưa ra một tầm nhìn chung rằng bình đẳng giới
và sự tham gia hiệu quả của phụ nữ là vô cùng quan trọng cho các hành động hiệu quả liên quan đến mọi khía cạnh của BĐKH [LHQ, 2012]
- Quyết định 23/CP.18 vào tháng 12 năm 2012 về thúc đẩy cân bằng giới và cải thiện sự tham gia của phụ nữ trong các đàm phán liên quan đến Công ước Khung của LHQ về BĐKH (UNFCCC) đã đưa ra như một chương trình nghị sự thường niên của các cuộc họp Hội nghị quốc tế chống BĐKH của LHQ
- Trong quyết định số 18/COP 20 tháng 12 năm 2014), các bên liên quan, trong đó có chính phủ Việt Nam đã thông qua Chương trình LIMA về giới, trong đó yêu cầu các bên liên quan thúc đẩy nhạy cảm giới trong quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách về khí hậu và phải đạt được việc xây dựng các chính sách có nhạy cảm giới về khí hậu trong tất cả các hoạt động liên quan đến Công ước Khung của LHQ về BĐKH
Gần đây nhất, trong chương trình nghị sự 2030, các thành viên của LHQ trong đó có Việt Nam đã thông qua 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) Đây là một khung phát triển mới thay cho các mục tiêu thiên niên kỉ MDGs khi MDGs kết thúc vào tháng 12 năm 2015 Trong tuyên bố thông qua chương trình nghị sự, đoạn
20 có nhấn mạnh rằng “những lồng ghép quan điểm giới một cách có hệ thống trong việc thực hiện SDG là một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua” BĐG không chỉ là một mục tiêu độc lập trong 17 mục tiêu SDGs mà nó còn là một nguyên tắc xuyên
Trang 33suốt cho các mục tiêu còn lại, có nghĩa là vấn đề giới đã được lồng ghép trong các chỉ tiêu cụ thể của các mục tiêu
Như vậy, có thể thấy rằng đối với các khung luật pháp quốc tế về BĐKH, vấn đề lồng ghép giới nhằm đảm bảo các can thiệp BĐKH là nhạy cảm giới, đảm bảo thúc đẩy BĐG qua các can thiệp BĐKH là một trong những nguyên tắc quan trọng, là kết quả của những nỗ lực vận động luật pháp dựa trên bằng chứng của nhiều tổ chức bảo vệ và thúc đẩy BĐG và trao quyền cho phụ nữ Trong bối cảnh các hiệp ước về BĐKH đang được thực hiện, các chính sách, hành động và các cơ chế liên quốc tế đã và đang hưởng đến các quốc gia trong việc có các biện pháp cụ thể nhằm có các biện pháp cụ thể bảo đảm thực hiện trách nhiệm giới để các biện pháp này có thể đóng góp một cách chủ động và tích cực vào BĐG và chấm dứt phân biệt đối xử đối với phụ nữ Tuy nhiên thực tế ở các quốc gia cho thấy, hầu hết các can thiệp chủ yếu tập trung vào nâng cao nhận thức, những biện pháp cụ thể can thiệp về chương trình còn chưa mạnh mẽ [LHQ, 2010] Điều này có thể thấy rất rõ qua việc sự tham gia của phụ nữ trong quá trình ra quyết định liên quan đến BĐKH, đặc biệt là các vấn đề như ngân sách, phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ
và xây dựng năng lực liên quan đến BĐKH; thiếu đầu tư vào xây dựng hệ thống số liệu tách biệt giới trong quá trình báo cáo liên quan đến BĐKH và các cam kết tài chính cho việc thúc đẩy lồng ghép giới và trao quyền cho phụ nữ, đặc biệt là các sáng kiến do các tổ chức phụ nữ và môi trường khởi xướng [UN Women, 2015]
1.4 Chính sách và nghiên cứu về giới và biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Tổng hợp các chính sách, nghiên cứu của các công trình đi trước có thể thấy
ở Việt Nam nhìn chung các nghiên cứu về giới và BĐKH chưa mang tính hệ thống Mặc dù vậy những thông tin này là quan trọng và giúp xem xét các khía cạnh khác nhau liên quan đến giới và BĐKH trong các lĩnh vực cụ thể như sinh kế, sức khỏe,
di cư trong nước và những nghiên cứu này giúp gợi mở những vấn đề giới và BĐKH cần được quan tâm hơn nữa ở Việt Nam
1.4.1 Các chính sách về giới và biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Các chính sách định hướng cho việc ứng phó với BĐKH ở Việt Nam gần như không thể hiện rõ ràng cách tiếp cận cũng như sự ưu tiên ngân sách cho việc lồng ghép giới trong các can thiệp, trong đó có phân tách giới và nâng cao năng lực
Trang 34cho đội ngũ cán bộ xây dựng và can thiệp ứng phó với BĐKH Trong các chiến lược và chương trình quốc gia về BĐG cho giai đoạn 2011-2020 hay trong chương trình quốc gia về BĐG giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020 cũng không nhắc đến vấn đề BĐKH Những luật quan trọng liên quan đến vấn đề giới như Luật bình đẳng giới ra đời năm 2006 và Luật phòng chống bạo lực gia đình ra đời năm 2007 cũng không nói đến BĐKH có khả năng ảnh hưởng như thế nào đến các vấn đề bình đẳng giới trong khi BĐKH luôn được coi là một trong những thách thức lớn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của một quốc gia
Trong báo cáo gần đây nhất của chính phủ Việt Nam về rà soát 20 năm thực hiện Tuyên bố và cương lĩnh hành động Bắc Kinh giai đoạn 1995 – 2015 đã đệ trình cho LHQ đã xác nhận rằng BĐKH đã có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người phụ nữ Việt Nam Báo cáo này cho rằng Việt Nam đã có những nỗ lực nhất định trong quá trình tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động giảm thiểu tác hại và thích ứng với BĐKH thông qua tăng cường kiến thức và kĩ năng trong văn hóa phòng ngừa, ứng phó và giảm thiểu các tác động của thiên tai trong cộng đồng Báo cáo cũng đưa ra các thông tin về việc Trung ương Hội liên hiệp phụ
nữ Việt Nam đã thực hiện các dự án thí điểm nhằm tăng cường năng lực cho phụ nữ trong thích ứng với BĐKH Từ năm 2012 đến nay, trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã có những thí điểm thành công ở cộng đồng về tăng cường vai trò của phụ nữ thông qua việc nâng cao nhận thức, kĩ năng, và phòng ngừa thảm họa thiên tai, cung cấp những thông tin về cảnh báo sớm cho cộng đồng một cách hiệu quả hơn và tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quá trình ra quyết định liên quan đến thích ứng với và giảm thiểu những tác động của BĐKH
Trong Chiến lược quốc gia về phòng chống thiên tai được phê duyệt năm
2007 đã chỉ ra rằng thiên tai gây ra những tác động tiêu cực lên các nhóm dễ bị tổn thương, như người già người khuyết tật, phụ nữ và trẻ em Tuy nhiên theo nhiều chuyên gia, cách đặt vấn đề như thế mới chỉ nhấn mạnh rằng phụ nữ là nhóm dễ bị tổn thương mà không đặt họ là nhóm tác nhân có khả năng lãnh đạo và thay đổi cũng như có đóng góp tích cực trong quá trình thích ứng và giảm thiểu rủi ro thiên tai [UN Women, 2012]
Trang 35Năm 2013, Luật phòng chống thiên tai đã bốn lần nhắc đến phụ nữ trong nội dung chi tiết của Luật này Luật nhấn mạnh một trong những nguyên tắc căn bản đối với việc quản lý rủi ro thiên tai đó là đảm bảo BĐG, cụ thể nói đến phụ nữ với
tư cách là nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt do phụ nữ mang thai và chăm con nhỏ nên đặc biệt phải chú trọng đến việc đảm bảo an toàn cho họ trong quá trình di tản đến nơi an toàn trong khi thiên tai xảy ra Điểm cuối cùng khi Luật nói đến phụ nữ
đó là việc thực hiện các biện pháp để giúp đỡ phụ nữ (cũng như các nhóm yếu thế khác) trong quá trình chống chọi với thời tiết lạnh cực đoan Các quyết định hướng dẫn việc thực hiện luật đã chú trọng vào các chính sách hỗ trợ cây trồng vật nuôi và sản xuất, tuy nhiên không đặt ra và nói đến vấn đề giới nào trong quá trình này
Trong Chương trình mục tiêu quốc gia để ứng phó với BĐKH năm 2008 đã nói đến tầm quan trọng của BĐG như một nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình thực hiện Chiến lược quốc gia về ứng phó với BĐKH Trong văn bản quan trọng này, có hai điểm nói đến BĐG, điểm đầu tiên nói đến những mục tiêu cụ thể của chiến lược đó là việc phải đảm bảo bình đẳng giới trong bối cảnh BĐKH và yêu cầu đảm bảo việc xem xét các vấn đề sức khỏe và coi phụ nữ như một nhóm dễ bị tổn thương
Trong tài liệu tập huấn quốc gia về Giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và UNDP - Chương trình phát triển của LHQ xây dựng năm 2012, đã nhắc đến các ví dụ từ các chương trình của tổ chức phi chính phủ quốc tế Oxfam tại Việt Nam về sự khác biệt giới và tính
dễ bị tổn thương của phụ nữ và nam giới Những đánh giá về mức độ rủi ro thiên tai
đã yêu cầu số liệu tách biệt giới và việc đảm bảo có sự tham gia bình đẳng của phụ
nữ và nam giới trong các can thiệp ở Việt Nam Những phân tích về rủi ro thiên tai
và thích ứng với BĐKH cũng có những hướng dẫn về đánh giá giới, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc tiến hành phân tích giới trong bối cảnh bất BĐG trong tiếp cận các nguồn lực, sức ép về khối lượng công việc mà phụ nữ phải đảm nhận, vai trò giới Một điều quan trọng trong tài liệu hướng dẫn này là xác định nhóm phụ nữ khuyết tật là nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương Một trong những chính sách quan trọng nhất có tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động ứng phó với BĐKH chính là quyết định của Ban phòng chống lụt bão Trung ương
Trang 36số 216/QD-PCLBTW năm 2013, trong đó quyết định Trung ương Hội liên hiệp phụ
nữ Việt nam là một thành viên chính thức trong Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương và các cấp địa phương từ tháng 9 năm 2013 Đây là kết quả của hàng loạt nỗ lực vận động chính sách từ các tổ chức quốc tế phát triển ở Việt Nam và Trung ương hội liên hiệp phụ nữ trong việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các cấp từ địa phương đến trung ương trong việc xây dựng, thực hiện và giám sát các chính sách ứng phó với BĐKH có trách nhiệm giới ở Việt Nam thông qua việc cân nhắc và xem xét những kinh nghiệm và tác động khác biệt của BĐKH vào nhóm phụ nữ
1.4.2 Giới và biến đổi khí hậu từ góc nhìn sinh kế
Các nghiên cứu ở Việt Nam chỉ ra rằng đất nông nghiệp ở lưu vực sông và phải phụ thuộc vào hệ thống tưới tiêu, sẽ dễ bị tác động nhiều nhất do sự thay đổi thất thường của mực nước, và điều này có thể tăng lên do BĐKH [LHQVN, 2012] Tác động của BĐKH dẫn đến sản lượng mùa màng và tăng trưởng giảm, hoạt động của loài gây hại và virút sẽ tăng lên và mất sự phì nhiêu của đất Mực nước biển dâng sẽ là nguyên nhân gây làm mất đất, tăng tính tổn thương do lụt lột và bão, làm tăng nhanh việc xâm lấn của nước mặn vào các bờ biển, cửa sông, và làm tăng sự tạo thành muối Nếu không có những biện pháp bảo vệ có tính hệ thống được triển khai, hệ quả của BĐKH sẽ tạo ra nhiều khó khăn trong việc hoạt động sản xuất trồng trọt [Raksakulthai, 2002]
Phụ nữ và nam giới ở nông thôn đã và đang đóng vai trò khác nhau trong sản xuất nông nghiệp nhưng phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo dinh dưỡng [FAO, 2005] Ở Việt Nam phụ nữ có vai trò lớn trong việc trồng trọt, thực hiện, quản lý và mua bán thực phẩm cũng như lấy nước
và thu lượm chất đốt để sử dụng trong gia đình trong khi nam giới chịu trách nhiệm
về vụ mùa và những nuôi trồng với quy mô lớn hơn Sự phụ thuộc lớn vào đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo sinh kế chính là nguyên nhân làm cho phụ
nữ dễ bị tổn thương hơn nam giới
Trang 37Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về BĐKH được thực hiện tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định – đây cũng chính là địa bàn nghiên cứu của luận án này và các nghiên cứu tại đây chỉ ra rằng một tỉ lệ hoạt động sinh kế rất cao phụ thuộc vào hoạt động nông nghiệp Tuy năng suất lao động thấp nhưng hoạt động nông nghiệp vẫn mang lại thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình, ví dụ như việc trồng lúa đảm bảo cho an toàn lương thực, vật nuôi và gia cầm cũng cung cấp thu nhập phụ trợ Vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp là quan trọng Nam giới thường làm công việc làm đất, vận chuyển, phun thuốc trừ sâu, phụ nữ thường làm cỏ, trồng trọt, chăm sóc, tưới nước, và bán sản phẩm Họ đều chia sẻ công việc khi gặt hái và cất trữ sản phẩm Trong gia đình, người chồng thường có xu hướng đi ra ngoài làm các công việc trả công, trong khi đó phụ nữ thường phải làm công việc nhà nông một mình Về hoạt động chăn nuôi, trong đó gồm nuôi lợn, gà, vịt thì đây chủ yếu là công việc mà phụ nữ phải chịu trách nhiệm trong mọi công đoạn Sự phân công lao động theo giới trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chỉ ra rằng các công việc do phụ
nữ đảm nhiệm thường mất nhiều thời gian Tuy nhiên, giá trị cho công việc của nam giới lại được coi trọng hơn và đòi hỏi nhiều công sức hơn [MCD, 2008] Tuy nhiên
do tác động của BĐKH, vụ mùa thay đổi đã ảnh hưởng đến việc phân công lao động theo giới và có thể cả nguồn thu nhập [MCD, 2008] Phụ nữ và trẻ em gái bị ảnh hưởng nặng nề và họ trở thành nạn nhân của sự thay đổi môi trường do có ít cơ hội
và tiếp cận các nguồn lực ít hơn nam giới Các nguồn lực ở đây là tín dụng, các dịch
vụ phát triển kinh tế, đất đai và các tài sản quan trọng Các nghiên cứu này chỉ ra rằng những ảnh hưởng ngắn hạn của BĐKH sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp và hệ thống sinh thái, và làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người nông dân, và khi phụ nữ chiếm nhóm đông trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, họ là nhóm chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới
Các nghiên cứu ở vùng miền núi Việt Nam cho thấy phụ nữ thường phụ thuộc nhiều nguồn lực rừng cho sinh kế gia đình và các năng lượng, và biến đổi khí hậu có thể làm giảm khả năng của phụ nữ trong việc tìm kiếm các nguồn lực tự nhiên cần thiết [Ireson-Doolittle Carol và Ireson Randal, 1999] Việc giảm diện tích
và sự đa dạng rừng ở phía miền Bắc ở Việt Nam do suy thoái môi trường và tác động của BĐKH đã buộc phụ nữ phải dành nhiều thời gian hơn để lấy cỏ nuôi gia
Trang 38súc vì họ phải đi xa hơn hay phải dành thời gian nhiều hơn cho công tác trồng trọt
để sản xuất nguồn thay thế cho nguồn lợi từ rừng Sự thay đổi diện tích và sản phẩm
từ rừng là nguyên nhân chính gây ra cạn kiệt nước ở các con suối, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực lên những cánh đồng hai vụ và buộc phụ nữ phải dành thời gian cho lao động sản xuất dài hơn để đảm bảo an ninh lương thực cho gia đình Việc tăng cường độ thời tiết khắc nghiệt do tác động của BĐKH là nguyên nhân làm giảm các loại động vật mà cộng đồng có thể đánh bắt Sự mất mát này có thể được bù đắp thông qua việc tăng chăn nuôi gia súc ở các cộng đồng Tuy nhiên, điều đó đòi hỏi nhiều sức lao động từ phụ nữ và trẻ em trong gia đình vì họ thường chịu trách nhiệm về chăm sóc vật nuôi trong gia đình, trong khi nam giới chủ yếu chịu trách
nhiệm cho việc sử dụng và bán những động vật nuôi lớn [MCD, 2011]
1.4.3 Tác động của BĐKH đối với lao động trả lương, lao động tự chủ
trong lĩnh vực phi nông nghiệp và di cư
Theo báo cáo Xu hướng lao động Việt Nam năm 2013 do Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Bộ LĐ-TB và XH thực hiện đã chỉ ra rằng ở Việt Nam có nhiều phụ nữ hơn nam giới làm việc tại kinh doanh hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngoài lĩnh vực nông nghiệp, phụ nữ chủ yếu là lao động tự chủ (26% trong khi con
số này ở nam giới là 19%), trong khi nam giới thường có xu hướng có công việc có lương hoặc được trả công (41%, trong khi con số này ở phụ nữ là 24%) Ở khu vực thành thị, khoảng 15% lao động nữ tự chủ trong lĩnh vực phi nông nghiệp tập trung chủ yếu trong khu vực bán hàng và dịch vụ, trong khi con số này ở nam giới chỉ là 8% [Ngân hàng thế giới, 2012] Thiên tai là một trong những nguyên nhân làm cho phụ nữ mất việc làm, phải làm việc lâu hơn và điều kiện làm việc và kiếm tiền trở nên xấu hơn, điều này gây nên nhiều khó khăn cho phụ nữ trong tiếp cận một cách không bình đẳng đến các nguồn lực và làm hạn chế năng lực của họ trong việc đối mặt với những sự kiện không mong đợi/thiên tai hoặc thích ứng với những thay đổi [Brigde, 2012] Lao động tự chủ nữ và nữ lao động trong doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ thường có thu nhập thấp hơn nam giới Tính dễ bị tổn thương hiện có của người phụ nữ sẽ còn tăng lên do sự độc hại của thiên nhiên và những thiên tai liên quan đến BĐKH [Bộ LĐTB và XH, 2013]
Trang 39Trong những nghiên cứu về an ninh con người của Viện nghiên cứu Môi trường và an ninh con người của LHQ (UNU-EHS), BĐKH và những yếu tố môi trường tác động đến di cư chỉ ra rằng sự suy thoái môi trường là một trong những áp lực lên vấn đề di cư tại đồng bằng sông Mêkông ở Việt Nam [UNU-EHS, 2008] Nghiên cứu này phát hiện những mối liên hệ sau giữa lũ lụt và di cư:
Vào mùa lũ, mọi người thường di cư theo vụ và chuyển lên các trung tâm thành thị để kiếm việc làm Đối với những người mà sinh kế của họ phụ thuộc trực tiếp vào nông nghiệp (chủ yếu là nông dân trồng lúa), những cơn lũ lớn thường phá huỷ mùa màng và hơn nữa thường đẩy mọi người di cư đến những nơi khác để tìm kiếm sinh kế thay thế Trong nhiều nghiên cứu về phụ nữ di cư theo mùa vụ tới Hà Nội năm 2007 ở đồng bằng sông Hồng chỉ ra rằng phụ nữ và nam giới dù có hoạt động di cư lên Hà Nội theo mùa nhưng họ không có ý định thay đổi phân công lao động trong gia đình khi họ trở về gia đình vì quan niệm rằng công việc tái sản xuất luôn được coi là việc của phụ nữ và nam giới chỉ có thể làm giúp nếu phụ nữ đi vắng một thời gian và nếu nam giới di cư Trong quá trình di cư, cả phụ nữ và nam giới đều tích cực tham gia vào việc phát triển quan niệm về giới và phân công lao động trong gia đình để có thể thỏa thuận với nhau trong sắp xếp công việc để tạo thuận lợi cho việc di cư, di chuyển và sự tồn tại của gia đình [Hà Thị Vân Khánh và Resurreccion, 2007]
1.4.4 BĐKH và sức khỏe phụ nữ với tư cách là người chăm sóc
Tổ chức Sức khoẻ thế giới (WHO) đã tuyên bố rằng hầu hết những hậu quả sức khoẻ do tác động của BĐKH là bất lợi Chỉ ước tính riêng năm 2000, sự biến đổi khí hậu là nguyên nhân gây nên 2,4% các trường hợp bệnh tiêu chảy và 6% bệnh sốt rét trên hoàn thế giới BĐKH sẽ gây nên ba ảnh hưởng chính đối với sức khoẻ, đó là 1) ảnh hưởng trực tiếp do những sự kiện khí hậu khắc nghiệt; 2) những hậu quả về sức khoẻ do môi trường rối loạn vì bị tác động biến đổi khí hậu; 3) những hậu quả sức khoẻ khác (ví dụ như chấn thương, nhiễm trùng, bệnh tâm lý và những ảnh hưởng tiêu cực lên an toàn thực phẩm…) gây ra do nhóm dân buộc phải
di chuyển vì những vấn đề kinh tế, suy thoái môi trường hay những mâu thuẫn phát sinh do biến đổi khí hậu [UNDP, 2010] Ở Việt Nam, môi trường nóng và ẩm đã tạo
Trang 40điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều vi khuẩn, côn trùng và những động vật mang mầm bệnh như ruồi và chuột Một vài bệnh dịch, như bệnh sởi, sốt xuất huyết và viêm gan B, xuất hiện và phát triển cùng với muỗi và những côn trùng khác Loại khí hậu này cũng dễ gây nên những bệnh đường tiêu hoá như tiêu chảy
và bệnh lỵ [Raksakulthai, 2002]
Trẻ em và phụ nữ mang thai dễ bị ảnh hưởng bởi các bệnh liên quan đến nguồn nước như tiêu chảy và bệnh tả Số lượng các trường hợp bị bệnh tiêu chảy ở trẻ em ở Ninh Thuận trong năm 2004 tăng 4,9% so với mức bình thường do cạn kiệt nước và điều kiện kém vệ sinh Ở những vùng đang trong quá trình đô thị hoá có thể còn có những vấn đề nghiêm trọng như là nước tù đọng, muỗi và những nguy cơ cao của bệnh sốt xuất huyết [LHQVN, 2012]
Người già phải chịu nguy cơ lớn nhất do những ảnh hưởng về sức khoẻ liên quan đến BĐKH như căng thẳng do nắng nóng hoặc kém dinh dưỡng Tuy nhiên phụ nữ lớn tuổi thực tế rất ít tiếp cận được các dịch vụ sức khoẻ vì họ không có đủ tiền chi trả cho chi phí khám bệnh và tiền thuốc hoặc việc đi lại gặp khó khăn Nam giới lớn tuổi lại khác, họ đặc biệt dễ bị tổn thương hơn phụ nữ vì thường ít gắn với những mạng lưới xã hội so với phụ nữ [BRIDGE, 2008]
1.4.5 Giới, sự thích ứng và khả năng chống chịu và phục hồi đối với biến đổi
khí hậu
Còn ít nghiên cứu về chiến lược thích ứng với BĐKH, đặc biệt từ lăng kính giới, cũng như mối quan hệ giữa giới và chiến lược thích ứng ở Việt Nam Tuy nhiên các những nghiên cứu hiện đã có chỉ ra rằng nhiều phụ nữ đã thích ứng với BĐKH và họ hiểu rất rõ ràng về nhu cầu và những ưu tiên của mình và gia đình mình như thay đổi các hình thức cây giống và cây trồng, chu kì mùa vụ để thích hợp với thời tiết Một nghiên cứu ở Ninh Thuận cho thấy trong khi nhiều cộng đồng duyên hải và miền núi thích sự hỗ trợ tài chính hơn các hình thức hỗ trợ khác nhằm giảm tính dễ bị tổn thương khi có sự kiện khí hậu khắc nghiệt xảy ra thì nhiều phụ
nữ lại tin rằng việc hỗ trợ làm đa dạng nguồn thu nhập tốt hơn sự hỗ trợ tài chính trực tiếp Các tác giả này giải thích điều này là do những cơ hội tạo thu nhập ở vùng