1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ÔN THI MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

29 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 38,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠ..........ỷ đã dẫn tới sự dư thừa tương đối của cải xã hội .Theo quan điểm của học thuyết Mác Lênin, nhà nước có năm đặc trưng cơ bản sau đây:Nhà .................ính ý chí, nhưng tính xã hội vẫn là một đặc trưng cơ bản không thể coi nhẹ. Như đã phân tích trong mục 1 , muốn cho pháp luật phát huy được hiệu lực thì nó phải phù hợp với những điều kiện cụ thể của xã hội Ơ thời điểm tồn tại của nó, nghĩa là pháp luật phải phản ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã hội. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của các mối quan hệ xã hội, pháp luật chỉ có khả năng mô hình hóa những nhu cầu xã hội khách quan đã mang tính điển hình, phổ biến và thông qua đó để tác động tới các quan hệ xã hội khác hướng các quan hệ đó phát triển theo hướng đã được nhà nước xác định. Như vậy ở đặc trưng này nét khác biệt của pháp luật so với các quy phạm xã hội khác thể hiện ở tính toàn diện và tính điển hình (phổ biến) của các mối quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh.........................

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN PHÁP LUẬT

Nguồn gốc của nhà nước Các đặc trưng cơ bản của nhà nước

Nguồn gốc Nhà nước:

Nhà nước là một phạm trù lịch sử , chỉ ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội và cũng sẽ mất đi với các cơ sở tồn tại của nó Nhà nước ra đời từ các nguyên nhân sau : + Sự phát triển của sản xuất cuối xã hội nguyên thuỷ

đã dẫn tới sự dư thừa tương đối của cải xã hội

Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin, nhà nước có năm đặc trưng cơ bản sau đây:

 Nhà nước có quyền lực chính trị công cộng đặc biệt; có bộ máy cưỡng chế, quản lý những công việc chung của xã hội

 Nhà nước có quyền quản lý dân cư, phân chia lãnh thổ

thành các đơn vị hành chính

 Nhà nước có chủ quyền quốc gia

 Nhà nước có quyền xây dựng, sáng tạo pháp luật và có quyền điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật

 Nhà nước có quyền ban hành các sắc thuế và thu thuế

Đặc trưng cơ bản của pháp luật

Những đặc trưng cơ bản của pháp luật:

Nhìn một cách tổng quát, pháp luật có những đặc trưng cơ bảnsau:

Trang 2

 Tính quyền lực của pháp luật (tính nhà nước, tính cưỡngchế):

Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Nói mộtcách khác, pháp luật được hình thành và phát triển bằng conđường nhà nước chứ không thể bằng bất kỳ một con đường nàokhác Với tư cách của mình, nhà nước là một tổ chức hợp pháp,công khai và có quyền lực bao trùm loàn xã hội Vì vậy, khipháp luật được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nó sẽ

có sức mạnh của quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất

cả mọi người Đặc trưng này chỉ có ở pháp luật Các loại quy tắc

xử sự khác chỉ có thể tác động trong một phạm vi hẹp, dướinhững phương thức "nhẹ nhàng” hơn và được bảo đảm bằng dưluận xã hội, chứ không phải bằng quyền lực nhà nước như đốivới pháp luật (trừ những trường hợp đặc biệt được nhà nướcquan tâm)

 Tính quy phạm của pháp luật:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự đó là những khuôn mẫu,những mực thước được xác định cụ thể, không trừu tượng,chung chung Tính quy phạm của pháp luật nói lên giới hạn cầnthiết mà nhà nước quy định để mọi người (chủ thể) có thể xử sựmột cách tự do trong khuôn khổ cho phép Vượt quá giới hạn đó

là trái luật Giới hạn đó được xác định ở nhiều khía cạnh khácnhau như cho phép, cấm đoán, bắt buộc Về nguyên tắc, phápluật phải cụ thể, khuôn phép, mực thước, không thể lạm dụnghoặc tùy tiện Vì vậy, nói đến pháp luật suy cho cùng là phải xét

Trang 3

đến các quy phạm cụ thể Nếu không có quy phạm pháp luậtđược đặt ra thì cũng không thể quy kết một hành vi nào là viphạm, là trái pháp luật Những nguyên tắc: "Mọi người đượclàm tất cả mọi việc trừ những điều mà pháp luật nghiêm cấm",

"mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được hình thành làdựa trên cơ sở của đặc trưng về tính quy phạm của pháp luật.Chính đặc trưng cơ bản này đã làm cho pháp luật ngày càng có

"tính trội", hơn hẳn đối với các loại quy phạm xã hội trong xãhội văn minh, hiện đại

 Tính ý chí của pháp luật:

Pháp luật bao giờ cũng là hiện tượng ý chí, không phải là kếtquả của sự tự phát hay cảm tính Xét về bản chất, ý chí trongpháp luật là ý chí của giai cấp, lực lượng cầm quyền Y chí đóthể hiện rõ Ơ mục đích xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật

và dự kiến hiệu ứng của pháp luật khi triển khai vào thực tế đờisống xã hội

Trên thực tế chỉ có lực lượng nào nắm được nhà nước mới cókhả năng thể hiện ý chí và lợi ích của mình một cách tối đa trongpháp luật Một khi ý chí và lợi ích đã được hợp pháp hóa thànhpháp luật thì nó được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhànước Vì vậy mọi quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo

vệ pháp luật đều được diễn ra dưới những hình thức cụ thể, theonhững nguyên tắc và thủ tục chặt chẽ Đó là kết quả của sự tưduy chủ động, tự giác của những nhà tư tưởng, những nhà chứctrách Điều này cũng cho thấy rõ sự khác biệt giữa pháp luật vớicác hệ thống quy phạm khác

Trang 4

 Tính xã hội của pháp luật:

Mặc dù pháp luật có tính nhà nước, tính ý chí, nhưng tính xã hộivẫn là một đặc trưng cơ bản không thể coi nhẹ Như đã phân tíchtrong mục 1 , muốn cho pháp luật phát huy được hiệu lực thì nóphải phù hợp với những điều kiện cụ thể của xã hội Ơ thời điểmtồn tại của nó, nghĩa là pháp luật phải phản ánh đúng những nhucầu khách quan của xã hội Tuy nhiên, do tính chất phức tạp củacác mối quan hệ xã hội, pháp luật chỉ có khả năng mô hình hóanhững nhu cầu xã hội khách quan đã mang tính điển hình, phổbiến và thông qua đó để tác động tới các quan hệ xã hội kháchướng các quan hệ đó phát triển theo hướng đã được nhà nướcxác định Như vậy ở đặc trưng này nét khác biệt của pháp luật sovới các quy phạm xã hội khác thể hiện ở tính toàn diện và tínhđiển hình (phổ biến) của các mối quan hệ xã hội được pháp luậtđiều chỉnh

Xem xét những đặc trưng cơ bản nói trên của pháp luật càng chothấy rõ bản chất và sự khác biệt giữa pháp luật với các hiệntượng khác Cả bốn đặc trưng cơ bản đó đều có ý nghĩa quantrọng và nằm trong mối quan hệ bản chất với nhau, không thểchỉ chú trọng điểm này mà coi nhẹ điểm kia

Tuy nhiên, những đặc trưng đã nêu chỉ là những đặc trưng cơbản, bên cạnh chúng còn có những đặc trưng khác Tùy thuộcvào yêu cầu xem xét kỹ về một kiểu pháp luật, một hệ thốngpháp luật điển hình của một khu vực hoặc một quốc gia nhất

Trang 5

định, chúng ta sẽ đề cập một cách cụ thể hơn Ví dụ: tính kháiquát và cụ thể, thành văn và không thành văn, tính nghiêm khắc

Đặc điểm

Thể hiện ý chí của nhà nước

– Mang tính bắt buộc chung

– Được nhà nước ban hành hoặc thừa nhận

– Được nhà nước bảo đảm thực hiện

Cơ cấu của quy phạm pháp luật

2.1 Giả định

Giả định thường nói về địa điểm, thời gian, các chủ thể, các hoàn cảnh thực tế mà trong đó mệnh lệnh của quy phạm được thực hiện tức là xác định môi trường cho sự tác động của quy phạm pháp luật

Ví dụ: Điều 161 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trốn thuế với số tiền từ 50 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng …”.

Trang 6

Trong quy phạm pháp luật trên bộ phận giả định là “ Người nào trốn thuế …” – nói đến yếu tố chủ thể.

– Bộ phận giả định thường trả lời cho câu hỏi chủ thể nào? khi nào? trong hoàn cảnh, điều kiện nào?

– Để áp dụng các quy phạm pháp luật một cách chính xác, nhất quán phần giả định phải mô tả rõ ràng những điều kiện, hoàn cảnh nêu ra phải sát hợp với thực tế Do đó tính xác định là tiêu chuẩn hàng đầu của một giả định

2.2 Quy định

Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu quy tắc xử sự buộc mọi chủ thể phải xử sự theo khi ở vào hoàn cảnh

đã nêu trong phần giả định của quy phạm

Ví dụ: Điều 4 Thể lệ Bưu phẩm bưu kiện 1999 quy định: “Bưu phẩm bưu kiện chỉ được mở kiểm tra trong các trường hợp: Hội đồng xử lý bưu phẩm bưu kiện vô thừa nhận xác định là bưu phẩm bưu kiện vô thừa nhận …” Trong quy phạm pháp luật này phần quy định là “BPBK chỉ được mở kiểm tra khi đã có xác nhận của Hội đồng xử lý BPBK vô thừa nhận …”.

– Quy định là yếu tố trung tâm của quy phạm pháp luật bởi vì trong quy định trình bày ý chí và lợi ích của nhà nước, xã hội và

cá nhân con người trong việc điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định

– Bộ phận quy định trả lời cho câu hỏi phải làm gì? được làm gì? làm như thế nào?

2.3 Chế tài

Trang 7

Là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tácđộng mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.

Ví dụ: Điều 97 Bộ luật hình sự quy định “Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm” Ở quy phạm pháp luật này bộ phận chế tài là “thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm”.

– Chế tài là một trong những phương tiện đảm bảo thực hiện bộ phận quy định của quy phạm pháp luật Chế tài chính là những hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật

Các hình thức thực hiện pháp luật

Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật

không thực hiện các hành vi xử sự mà pháp luật cấm

Ví dụ: Pháp luật cấm vượt đèn đỏ à không vượt à tuân thủ pháp

luật

Thi hành pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật chủ

động thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật quy định

Ví dụ: Pháp luật quy định đến tuổi phải thực hiện nghĩa vụ quân

sự à đi nghĩa vụ à thi hành pháp luật

Sử dụng pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật thực

hiện các quyền của mình do pháp luật quy định

Ví dụ: Pháp luật quy định công dân có quyền kết hôn à đi đăng

ký kết hôn à sử dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật là việc các cơ quan nhà nước, cán bộ, công

chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn do pháp luật quy định

Trang 8

Ví dụ: Công dân đến UBND để đăng ký kết hôn à cán bộ UBND

xem xét cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn à áp dụng pháp luật

Luật hiến pháp

Luật Hiến pháp là một ngành luật gồm tổng thể các quy

phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ cơ bản về tổ chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ của công dân, về quốc tịch [1] Đây là ngành luật chủ đạo, cơ bản nhất trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, nó điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất, cơ bản nhất và tất cả những ngành luật khác đề hình thành trên những nguyên tắc của hiến pháp Nguyên thủy của Luật Hiến pháp chỉ điều chỉnh hai vấn đề cơ bản là cách thức tổ chức bộ máy nhà nước và quyền công dân.[2] Qua quá trình phát triển của lịch sử, cùng với việc nhà nước ngày càng can thiệp sâu vào đời sống kinh tế - xã hội - văn hóa, phạm vi điều chỉnh của Luật Hiến pháp ngày càng rộng rãi, bao gồm tất

cả những quan hệ cơ bản, quan trọng của một quốc gia bên cạnh lĩnh vực tổ chức nhà nước như cơ sở kinh tế, chính trị, cơ sở vănhóa đây cũng là một điểm đặc trưng của Luật Hiến pháp theo trường phái Xã hội chủ nghĩa

Sự ra đời

Nếu xét về mặt thuật ngữ "Hiến pháp" đã tồn tại rất lâu với ý nghĩa là xác định, quy định Các Hoàng đế La Mã cổ đại dung từ

"Constitutio" để gọi các văn bản quy định của nhà nước Từ

"Hiến" được sử dụng trong Kinh Thi với ý nghĩa khuôn phép cho vua, chúa Luật Hiến pháp ra đời cùng với sự ra đời của

Trang 9

Hiến pháp Hiến pháp ra đời muộn so với các luật khác nhưng ngay từ khi xuất hiện nó bắt tất cả các văn bản khác phải suy tôn

nó Hiến pháp đầu tiên trên thế giới ra đời là Hiến pháp của Hợpchủng quốc Hoa Kỳ (1787) Qua nhiều lần sửa đổi, hiện nay hiến pháp Hoa Kỳ là một trong số hiến pháp hoàn thiện nhất trênthế giới với các bộ phận là Hiến pháp (1787) và các Tu chính án.Hiến pháp Hoa Kỳ gồm hai nội dung chính đó là: Sự phân chia quyền lực Nhà nước thông qua tổ chức hoạt động bộ máy Nhà nước và các quyền tự nhiên của con người Mục đích của việc quy định hai nội dung trên là để giới hạn quyền lực Nhà nước vàbảo vệ các quyền tự nhiên của con người tránh sự lạm quyền từ phía các cơ quan Nhà nước

Các giai đoạn phát triển của Luật Hiến pháp

Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn này được tính từ năm 1787

đến năm 1917 Đây là giai đoạn phát triển đầu tiên của Luật Hiến pháp với hai đặc điểm chủ yếu là: phạm vi các nước có Hiến pháp rất hẹp, chủ yếu là các nước có chính thể dân

chủ hoặc quân chủ lập hiến như Hoa

Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản và hiến pháp trong giai đoạn này cũng chỉ quy định hai nội dung cơ bản là tổ chức bộ máy Nhà nước và một số quyền cơ bản của công dân (các quyền tự

do, dân chủ), việc nghiên cứu, học tập về Luật Hiến pháp cũng chỉ nằm ở một phạm vi nhất định

Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn này được tính từ năm 1917

đến năm 1945 Sự phát triển của Luật Hiến pháp trong giai đoạn này có 2 đặc điểm là: Bên cạnh Luật Hiến pháp các

nước theo hệ tư tưởng tư sản còn xuất hiện thêm Luật Hiến pháp của các nước theo chính thể Xã hội chủ nghĩa (do ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sự

Trang 10

hình thành nhà nước Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ

nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô) Luật Hiến pháp xã hội chủnghĩa có 3 đặc trưng cơ bản là: Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa

có khuynh hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, Giáo dục; không thừa nhận sự phân chia quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc "Tam quyền phân lập" của học giả người Pháp Montesquieu (tên thật là Charles-Louis de Secondat) mà áp dụng nguyên tắc tập quyền

Xã hội chủ nghĩa; không thừa nhận khái niệm "Quyền tự

nhiên" của con người mà thay vào đó là các "Quyền công dân"

Giai đoạn thứ ba: Giai đoạn này được tính từ năm 1946

đến năm 1989 Đây là giai đoạn mà Luật Hiến pháp bước đầu được toàn cầu hóa Thời kỳ đánh dấu sự thắng lợi của phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước Châu Phi kéo theo một loạt nhà nước dân chủ ra đời nên việc ban hành hiến phápmang tính toàn cầu vì vậy Luật Hiến pháp cũng phát triển rộng rãi, việc nghiên cứu, học tập về Luật hiến pháp ngày càng được quan tâm

Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn này được tính từ năm 1990

đến nay Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự đa dạng trong đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp Sau khi Liên Xô vàcác nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ các nước theo chính thể Xã hội chủ nghĩa ở châu Á và Mĩ la tinh như Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, Cuba, Lào,…) vẫn nỗ lực theo đuổi con đường Xã hội chủ nghĩa thông qua hàng loạt cuộc cải cách, đổi mới và đã có những sự điều chỉnh Hiến pháp củamình cho phù hợp với tình hình mới Nội dung của Hiến phápngày càng đa dạng hơn.[6]

Trang 11

Xu hướng phát triển của Luật Hiến pháp

Kể từ khi bản Hiến pháp đầu tiên của nhân loại ra đời cho đến nay (Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787), lịch sử lập hiến của toàn thế giới đã có những bước phát triển vươt bậc gắn với sự phát triển của đời sống kinh tế chính trị của từng xã hội

cụ thể Theo Giáo sư B.A Xtraun, nhà Hiến pháp học

người Nga thì có ba xu thế phát triển cơ bản là: Xu thế xã hội hóa Hiến pháp nói riêng và Luật Hiến pháp nói chung, theo đó, các nước đều đưa những quan hệ về kinh tế, văn hóa - xã hội cơ bản cùng với những quan hệ chính trị truyền thống vào phạm vi đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp Xu thế dân chủ hóa Luật Hiến pháp, biểu hiện thông qua sự thay thế chế độ bầu cử hạn chế bằng chế độ bầu cử phổ thông, sự mở rộng các quyền tự do, dân chủ cá nhân, hình thức trưng cầu dân ý và các chế định dân chủ mới như tư pháp hành chính, giám sát hiến pháp Xu thế quốc tế hóa (hay toàn cầu hóa) Luật Hiến pháp, biểu hiện bằng mối quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa Luật Hiến pháp của các nước và luật pháp quốc tế.[7]

Vị trí của Luật Hiến pháp trong hệ thống pháp luật

Trong hệ thống pháp luật của mỗi nước, Luật Hiến pháp giữ vị trí chủ đạo vì nó có đối tượng điều chỉnh đặc biệt và là cơ sở để liên kết các ngành Luật khác Ví dụ: Luật Hiến pháp quy định cơcấu tổ chức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, xác định nguyên tắc của mối quan hệ giữa công dân và nhà nước, đó chính là những nguyên tắc chủ đạo để xây dựng ngành luật hành chính,[8] hay là Luật Hiến pháp xác lập những nguyên tắc cơ bản trong những quan hệ kinh tế, xác lập nền tảng cơ bản cho việc xây dựng ngành luật dân sự,

[9] thương mại,[10] kinh tế[11]

Trang 12

Nói cách khác, đó là những quy định làm nền tảng cho các điều luật về tổ chức quyền lực nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và mối liên hệ giữa nhà nước với xã hội dân sự trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Với nội dung như vậy, Luật Hiến pháp là ngành luật chủ đạo, làm cơ sở pháp lý cao nhất trong quốc gia, đề ra những quy tắc căn bản nhất, ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật cho các ngành luật khác.[12]

Vị trí trung tâm của Luật Hiến pháp không có nghĩa là Luật

Hiến pháp sẽ bao trùm và thống nhất tất cả các ngành luật Luật Hiến pháp chỉ xác lập những nguyên tắc cơ bản cho các ngành luật khác Luật Hiến pháp còn quy định cả trình tự, thông qua, sửa đổi quy phạm của các ngành luật khác.[13]

Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp là những quan hệ xã hội nảy sinh trong hoạt động của con người bao gồm những hoạtđộng phổ biến nhất, cơ bản và quan trọng nhất của Nhà nước và các quyền cơ bản của công dân Phương pháp điều chỉnh của Luật Hiến pháp gồm 03 phương pháp cơ bản là phương pháp bắtbuộc, phương pháp cho phép và phương pháp cấm.[14]

Nguồn của Luật Hiến pháp

Nguồn cơ bản của luật Hiến pháp là những văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng quy phạm pháp luật hiến pháp gồm Hiếnpháp, đây là nguồn quan trọng, chủ yếu và phổ biến nhất; các văn bản do cơ quan lập pháp, hành pháp, giám sát ban hành; các văn bản pháp luật do cơ quan địa phương ban hành Ngoài ra, ở một số nước như các nước theo Hệ thống pháp luật Anglo-Saxonnhư Anh, Hoa Kỳ, Ấn Độ,…, nguồn của Luật Hiến pháp còn bao gồm cả án lệ (tiền lệ pháp) Một số nước khác còn bao gồm

cả những tập quán pháp, ví dụ ở Vương quốc Anh có tồn tại tập

Trang 13

quán sau: "Nhà Vua phải đồng ý với những sửa đổi do Nghị Viện Anh thông qua" hoặc "Thượng Nghị viện không có quyền trình dự án về tài chính" Ở Iran, bộ kinh thánh Coran là nguồn của Luật Hiến pháp Ngày nay, các điều ước quốc tế cũng đã trở thành nguồn của Luật Hiến pháp của đa số các nước trên thế giới.[15]

Các hình thức xử lí vi phạm hành chính

Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng với các tổ

chức, cá nhân vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Các hình thức xử phạt vi phạm hành chínhbao gồm các hình thức xử phạt chính (cảnh cáo; phạt tiền) và các hình thức xử phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng đẻ vi phạm hành chính; trục xuất)

Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân tổ chức vi phạm chỉ phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính Tùy theo tính chất,mức độ vi phạm, cá nhân tổ chức vi phạm hành chính còn

Trang 14

mức độ vi phạm, tối thiểu là 5.000 đồng và tối đa là 500.000.000đồng Tiền xử phạt vi phạm hành chính được đưa vào ngân sách nhà nước.

+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề được áp dụng có thời hạn hoặc không có thời hạn đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm nghiêm trọng quy tắc sử dụng giấy phép

+ Tịch thu tang vật, phương tiện được dùng để vi phạm hành chính Người có thẩm quyền xử phạt quyết định biện pháp tịch thu để sung vào công quỹ nhà nước các tài sản, vật dụng, hàng hóa, tiền bạc… dùng để thực hiện vi phạm hành chính hoặc do

vi phạm kèm theo hình thức mà có

+ Trục xuất được áp dụng với người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam, buộc họ phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam Trục xuất có thể áp dụng như một biện pháp xử phạt chínhhoặc như một biện pháp xử phạt bổ sung khi được áp dụng kèm theo hình thức phạt chính khác.Đi kèm theo các hình thức xử phạt hành chính, đối với cá nhân tổ chức vi phạm hành chính, cơquan có thẩm quyền xử phạt hành chính còn có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như sau:

– Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép

– Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra

Ngày đăng: 20/03/2021, 11:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w