Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em đã được các cấp, các ngành tổ chức thực hiện tích cực, đã làm được nhiều việc theo chương trình đề ra, bước đầu đạt đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN LAI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC PHÒNG
CHỐNG
BUÔN BÁN NGƯỜI Ở VIỆT NAM
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN LAI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC PHÒNG
CHỐNG
BUÔN BÁN NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế
Hµ néi - 2007
Trang 3Mục Lục
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về buôn bán
ng-ời, quản lý nhà n-ớc và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời
9
1.1 Khái niệm, chu trình, mục đích, nguyên nhân và hậu quả của
buôn bán ng-ời
9
1.1.2 Chu trình của hoạt động buôn bán ng-ời 14
1.2 Quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn bán ng-ời 24 1.2.1 Khái niệm quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn bán ng-ời 24 1.2.2 Mục tiêu, đặc điểm của quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn
bán ng-ời
26
1.2.3 Nội dung quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn bán ng-ời 27 1.2.4 Các hình thức quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn bán ng-ời 27 1.2.5 Ph-ơng pháp quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn bán ng-ời 28 1.2.6 Hệ thống các cơ quan nhà n-ớc phòng chống buôn bán ng-ời 29 1.3 Sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời 31 1.3.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của cộng đồng trong phòng 31
Trang 41.3.2 Vai trò của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời 33 1.3.3 Nội dung hoạt động của cộng đồng trong phòng chống buôn
bán ng-ời
35
Ch-ơng 2: thực trạng buôn bán ng-ời, quản lý nhà n-ớc
và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
36
2.1 Thực trạng tình hình buôn bán ng-ời trên thế giới, ở khu vực
Châu á và Việt Nam trong những năm gần đây
36
2.1.1 Tình hình buôn bán ng-ời trên thế giới và sự tác động của nó
tới khu vực Châu á, các n-ớc ASEAN và Việt Nam
36
2.1.2 Tình hình buôn bán ng-ời ở các n-ớc ASEAN và sự tác động của
nó đối với Việt Nam
41
2.1.3 Tình hình buôn bán ng-ời ở Việt Nam trong những năm gần đây 44 2.2 Thực trạng quản lý nhà n-ớc trong phòng chống buôn bán ng-ời 55 2.2.1 Chính sách hiện hành về phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam 55 2.2.2 Hệ thống pháp luật hiện hành về phòng chống buôn bán ng-ời
ở Việt Nam, pháp luật quốc tế về phòng chống buôn bán ng-ời
và tiến trình tham gia của Việt Nam
61
2.2.3 Thực trạng hệ thống các cơ quan nhà n-ớc phòng chống buôn
bán ng-ời ở Việt Nam
74
2.2.4 Thực trạng nguồn nhân lực và tài chính trong phòng chống buôn
bán ng-ời ở Việt Nam
76
2.2.5 Hợp tác quốc tế tr-ớc đây và hiện nay về phòng chống buôn
bán ng-ời ở Việt Nam
78
2.3 Thực trạng tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn
bán ng-ời ở Việt Nam
87
Trang 52.3.4 Hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam 94 2.3.5 Hoạt động của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam 96 2.3.6 Hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp 96 2.3.7 Hoạt động của các Trung tâm bảo trợ xã hội 97 2.3.8 Sự tham gia của gia đình trong phòng chống buôn bán ng-ời 98
Ch-ơng 3: ph-ơng h-ớng và các giải pháp cơ bản hoàn
thiện hoạt động quản lý nhà n-ớc và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
99
3.1 Cơ sở của việc hoàn thiện hoạt động quản lý nhà n-ớc và sự
tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời ở
Việt Nam
99
3.2 Ph-ơng h-ớng hoàn thiện và các giải pháp cơ bản đối với hoạt
động quản lý nhà n-ớc trong phòng chống buôn bán ng-ời ở
Việt Nam
105
3.2.1 Ph-ơng h-ớng hoàn thiện hoạt động quản lý nhà n-ớc trong
phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
105
3.2.2 Các giải pháp cơ bản đối với hoạt động quản lý nhà n-ớc
trong phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
106
3.3 Ph-ơng h-ớng hoàn thiện và các giải pháp cơ bản đối với các
hoạt động của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời ở
Việt Nam
119
3.3.1 Ph-ơng h-ớng hoàn thiện hoạt động của cộng đồng trong
phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
119
3.3.2 Các giải pháp cơ bản đối với hoạt động của cộng đồng trong
phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
119
Trang 6MỞ ĐẦU
Hiện nay, pháp luật quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
sử dụng khái niệm "buôn bán người" để chỉ hành vi phạm tội buôn bán phụ
nữ, trẻ em và nam giới Pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn sử dụng khái niệm "mua bán phụ nữ" và "mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em" Trong các văn bản có liên quan của Nhà nước thường dùng khái niệm "buôn bán phụ nữ, trẻ em" tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều văn bản đã dùng khái niệm "buôn bán người"
Tuy dùng các khái niệm khác nhau, nhưng người viết và sử dụng đều hiểu đó là các hành vi "mua bán phụ nữ" và "mua bán trẻ em" Khái niệm
"buôn bán người" được hiểu rộng hơn bao gồm các hành vi "mua bán phụ nữ", "mua bán trẻ em" và "mua bán nam giới"
Thật là khó cho tác giả khi thực hiện luận văn này nếu sử dụng tất cả các khái niệm nói trên, do vậy tác giả xin phép được dùng khái niệm "buôn bán người" theo chuẩn mực quốc tế trong suốt quá trình trình bày luận văn này Riêng phần trích dẫn, xin được giữ nguyên các khái niệm mà các tác giả
đã sử dụng
Tác giả xin chân thành cảm ơn độc giả về sự cho phép này!
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tình hình buôn bán phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn biến phức tạp Hơn 10 năm qua, đã có hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ em bị lừa gạt bán ra nước ngoài Từ năm 1998 tới nay, có tới 1.434 vụ đã
bị khởi tố và 2.488 đối tượng đã bị bắt giữ về tội mua bán phụ nữ và trẻ em, trong đó có 1.112 vụ và 1.991 đối tượng bị truy tố về tội mua bán phụ nữ và
322 vụ và 497 đối tượng bị truy tố về tội mua bán trẻ em và hàng ngàn phụ nữ
Trang 7Khảo sát gần đây cho thấy, hiện nay ở Campuchia có khoảng 18.000 người làm việc trong lĩnh vực tình dục, trong đó có 66% là người Khơ-me, 33% là người Việt Nam và 1% là người nước khác gần 5.000 phụ nữ và trẻ em Việt Nam đang bị khai thác và bóc lột tình dục tại Campuchia Một số phụ
nữ và trẻ em Việt Nam được đưa qua biên giới Việt Nam vào Campuchia rồi vượt biên vào Thái Lan, sau đó được tiếp tục bán cho các nhà chứa ở Malaysia [11]
Trước tình hình nói trên, Chính phủ đã phê chuẩn "Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2010" và thành lập Ban chỉ đạo của Chính phủ để triển khai Chương
trình trên phạm vi toàn quốc
Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ
em đã được các cấp, các ngành tổ chức thực hiện tích cực, đã làm được nhiều việc theo chương trình đề ra, bước đầu đạt được một số kết quả tốt, góp phần hạn chế tình hình phức tạp của hoạt động tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em, tạo chỗ dựa cho quần chúng chủ động phòng ngừa và tích cực tham gia đấu tranh chống tội phạm… Các hạn chế là: 1) Công tác phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em mang tính xã hội sâu sắc, song sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cơ sở và vai trò hoạt động của các ngành chức năng làm chưa hết trách nhiệm, chưa tạo ra được phong trào rộng khắp và chưa thu hút được các tầng lớp nhân dân tham gia, nâng cao cảnh giác, tích cực chủ động phòng ngừa, tham gia đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em nên hiệu quả còn chưa cao 2) Tình hình hoạt động của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em vẫn còn diễn biến phức tạp, có xu hướng tăng và quốc tế hóa, trong nước còn tiềm ẩn nhiều đường dây, băng ổ nhóm hoạt động ngầm mà ta chưa có điều kiện khám phá, bóc gỡ Trong khi
đó, lực lượng chuyên trách để đấu tranh chống loại tội phạm này vừa thiếu, vừa yếu Đến nay, Bộ Công an mới thành lập một phòng đấu tranh gồm 20 cán bộ, chiến sĩ thuộc Cục Cảnh sát điều tra tội phạm hình sự, còn lực lượng
Trang 8Biên phòng và tất cả Công an các địa phương đều không có lực lượng chuyên trách, chỉ hoạt động kiêm nhiệm 3) Công tác truyền thông để mọi người dân, mọi gia đình, tổ chức đoàn thể chủ động phòng ngừa và tích cực tham gia đấu tranh chưa đủ mạnh, chưa chú ý nhân rộng, phổ biến các kinh nghiệm, mô hình tốt trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em 4) Công tác tiếp nhận nạn nhân, hỗ trợ giáo dục, tạo việc làm, tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trở về còn bị động, lúng túng, thiếu kinh nghiệm, thiếu quy trình, thiếu các chính sách đảm bảo như: xem xét đề xuất thành lập các trung tâm tiếp nhận nạn nhân, tư vấn về tâm lý, tinh thần, sức khỏe, chữa bệnh, hỗ trợ ăn ở, đi lại, đào tạo, tái hòa nhập cho nạn nhân 5) Công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật còn chậm Nhiều văn bản pháp luật về phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em còn phân tán, chưa tập trung vào một đầu mối nên quá trình vận dụng thực hiện gặp nhiều khó khăn và thiếu thống nhất Đặc biệt, đến nay ta chưa có một đạo luật riêng trong khi đó các nước Tiểu vùng sông Mê Kông như Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia đã có luật về phòng chống buôn bán người và đã thành lập Cục phòng chống buôn bán người và Bảo vệ vị thành niên để có điều kiện chỉ đạo chuyên sâu 6) Công tác hợp tác quốc tế về phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em còn nhiều hạn chế Đặc biệt
là thiếu các hiệp định tương trợ tư pháp phòng chống buôn bán người nên rất khó khăn trong phối hợp, trao đổi thông tin, hỗ trợ điều tra xác minh, truy bắt, dẫn độ tội phạm cũng như tiếp nhận nạn nhân bị buôn bán trở về 7) Các ngành Trung ương tham mưu, tư vấn cho Chính phủ trong chỉ đạo thực hiện Chương trình 130/CP phối hợp chưa chặt chẽ và chưa làm hết trách nhiệm, phân công, phân cấp có lúc, có nơi bị chia cắt và trùng giẫm Đặc biệt tiến độ xây dựng để trình Chính phủ phê duyệt 4 đề án để cụ thể hóa Chương trình 130/CP còn chậm (đến ngày 30/11/2005, Thủ tướng Chính phủ mới phê duyệt) đã gây ảnh hưởng đến việc triển khai ở địa phương [3]
Xuất phát từ tình hình trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Quản lý nhà
Trang 9người ở Việt Nam" với mục đích làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận
và thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị về phương hướng cũng như các giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hoạt động của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Buôn bán người, trên nhiều phương diện khác nhau ở cấp độ quốc tế và quốc gia đã có nhiều công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả và cá nhân có giá trị đã đóng góp đáng kể cho kho tàng lý luận về phòng chống buôn bán người
Đề tài "Quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực phòng chống buôn bán người ở Việt Nam", chỉ đề cập tới vấn đề quản
lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng ở cấp độ quốc gia hay cụ thể hơn
là ở Việt Nam, nên chúng tôi xin phép không trình bày các kết quả nghiên cứu
ở cấp độ quốc tế và ở các quốc gia khác, mà chỉ tóm lược tình hình nghiên cứu đã được thực hiện ở Việt Nam
Từ những năm 90 của thập kỷ, tình hình buôn bán người ở Việt Nam
có xu hướng gia tăng Trong bối cảnh đó, cả về lý luận và thực tiễn đã đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ cần phải được giải quyết Về lý luận đã có một số công trình nghiên cứu mang tính khoa học do các cơ quan, tổ chức trong nước, Tổ chức quốc tế hoặc các cá nhân thực hiện Các công trình nghiên cứu đó có thể được tóm lược và phân loại thành các nhóm dưới đây:
Các báo cáo kết quả khảo sát đánh giá tình hình buôn bán người của các cơ quan, tổ chức trong nước và các Tổ chức quốc tế
Về thể loại này, có rất nhiều báo cáo được thực hiện, đề cập tới các lĩnh vực khác nhau, không thể liệt kê hết được tên và nội dung cụ thể của các báo cáo, tác giả xin được nêu tên các cơ quan, tổ chức đã thực hiện Các cơ quan đó là: Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ
em, Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm
Trang 10sát nhân dân tối cao Các tổ chức quốc tế bao gồm: Quỹ nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức di cư quốc tế (IOM), Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) và một số Tổ chức phi chính phủ như: Quỹ nhi đồng Anh (Save Children UK), Tổ chức cứu trợ trẻ em của Thụy Điển (Radda Barnen) v.v
Các báo cáo nghiên cứu, đánh giá về hoạt động chuyên môn của các
cơ quan tư pháp và hành pháp về phòng chống buôn bán người ở Việt Nam
Các cơ quan chuyên môn đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá bao gồm:
Bộ Công an, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Các báo cáo đánh giá về hệ thống pháp luật của Việt Nam về phòng chống buôn bán người
Hoạt động này lần đầu tiên được tiến hành tại Việt Nam do Bộ Tư pháp chủ trì với sự phối hợp và hỗ trợ chuyên môn của Cơ quan Phòng chống
Ma túy và Tội phạm của Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNODC) Đã có 03 bản báo cáo nghiên cứu đánh giá hệ thống pháp luật của Việt Nam về phòng chống buôn bán người trên tinh thần Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (TOC), Nghị định thư về Phòng ngừa, Trấn áp và Trừng trị tội phạm buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em và Nghị định thư về Chống đưa người di cư trái phép bằng Đường bộ, Đường biển và Đường hàng không bổ sung cho Công ước TOC được hoàn thành
Một số đề tài, công trình nghiên cứu của nhóm các tác giả, cá nhân là người Việt Nam hoặc người nước ngoài
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam bao gồm: Nguyễn
Xuân Yêm: Tội phạm quốc tế những bàn tay bạch tuộc (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Hoàng Văn Uẩn: Hoạt động xuất cảnh,
nhập cảnh trái phép qua biên giới Việt - Lào và công tác đấu tranh của Bộ
Trang 11Dũng: Tổ chức tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu các vụ án mua bán
phụ nữ qua biên giới Việt - Trung, Hà Nội, Đề tài nghiên cứu khoa học, 1996;
Phạm Đăng Quyền: Điều tra tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên
giới của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1999, Đề tài nghiên cứu khoa
học; Trần Văn Thảo: Tội phạm có tổ chức và phòng ngừa tội phạm có tổ
chức, Hà Nội, 2003, Đề tài nghiên cứu khoa học; Phạm Hỗ: Tội phạm xuyên quốc gia liên quan đến Việt Nam, Hà Nội, 2003, Đề tài nghiên cứu khoa học;
Đặng Xuân Khang: Tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới Việt Nam
- Thực trạng và các giải pháp phòng ngừa, Hà Nội, 2005, Luận văn thạc sĩ
luật học
Các đề tài nghiên cứu nói trên đề cập tới hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm buôn bán người, chưa có đề tài nào đề cập tới hoạt động quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thứ nhất: Nghiên cứu khái quát, mang tính hệ thống các vấn đề liên
quan tới quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người góp phần làm sáng tỏ hơn vai trò và hoạt động quản lý của Nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực này ở Việt Nam
Thứ hai: Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và sự tham gia của
cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam trong những năm qua, làm rõ những bất cập, những tồn tại cần được điều chỉnh trong lĩnh vực này
Thứ ba: Đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản hoàn thiện
hoạt động quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam
4 Nhiệm vụ của luận văn
Trang 12 Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về buôn bán người bao gồm phân tích khái niệm, chu trình hoạt động, mục đích, nguyên nhân và hậu quả của buôn bán người
Làm sáng tỏ các nguyên lý về quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng
đồng trong phòng chống buôn bán người
Phân tích làm rõ thực trạng quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam, từ đó phát hiện những
hạn chế để đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện
Đề xuất phương hướng và các giải pháp để hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam
5 Phạm vi nghiên cứu
Phòng chống buôn bán người bao gồm rất nhiều nội dung ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế như: hoạch định chiến lược toàn cầu, chiến lược và chính sách quốc gia; xây dựng bộ máy các cơ quan điều phối, quản lý quốc tế và quốc gia; xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp và hành pháp,
hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia; tăng cường năng lực điều tra, truy tố
và xét xử tội phạm buôn bán người cho các cơ quan tư pháp và hành pháp; hồi hương, tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân; đào tạo nguồn nhân lực có trình
độ chuyên môn cao cho hoạt động tư pháp, hành pháp, tư vấn về pháp lý, tâm
lý, sức khỏe cho nạn nhân; trang bị phương tiện kỹ thuật cho hoạt động phòng ngừa và đấu tranh; xây dựng chính sách tài chính quốc gia cho hoạt động phòng chống buôn bán người v.v
Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phòng chống buôn bán người, thực trạng quản lý nhà nước và
sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam, phương hướng và các giải pháp hoàn thiện
Trang 136 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận được sử dụng để nghiên cứu và thực hiện đề tài là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể được sử dụng để nghiên cứu bao gồm: Thống kê, hệ thống hóa, phân tích, đối chiếu, so sánh và tổng hợp
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về buôn bán người, quản lý
nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người
Chương 2: Thực trạng buôn bán người, quản lý nhà nước và sự
tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp cơ bản hoàn thiện hoạt
động quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam
Trang 14Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BUÔN BÁN NGƯỜI, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
TRONG PHÒNG CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI
1.1 KHÁI NIỆM, CHU TRÌNH, MỤC ĐÍCH, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA BUÔN BÁN NGƯỜI
1.1.1 Khái niệm buôn bán người
Khái niệm buôn bán người đã có từ rất lâu trong lịch sử của xã hội loài người Từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, thân phận của người lao động, đặc biệt là người da đen đã bị giới chủ coi rẻ, họ đã bị mua đi bán lại như một thứ hàng hóa thông thường Khái niệm "buôn bán nô lệ" đã hình thành từ đó và tồn tại trong suốt quá trình phát triển của Chủ nghĩa tư bản ở thời kỳ tự do cạnh tranh và thời
kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền Khái niệm "buôn bán nô lệ" có nội hàm hẹp để chỉ quan hệ cung cầu lao động nô lệ với mục đích bóc lột sức lao động, nó không hàm chứa nội dung như khái niệm "buôn bán người" đang được sử dụng hiện nay
Với nhiều nguyên nhân khác nhau, không phải chỉ có nô lệ da đen bị buôn bán, mà con người nói chung bao gồm phụ nữ, trẻ em và nam giới từ lâu
đã bị mua đi bán lại với nhiều mục đích khác nhau như một thứ hàng hóa, họ
đã bị tước đi các quyền cơ bản của con người Ngày nay buôn bán người đã trở thành một vấn nạn toàn cầu Con người bị buôn bán với mục đích phi nhân tính như: để bóc lột mại dâm, sức lao động và lấy đi các cơ quan nội tạng của
cơ thể, sử dụng vào các hoạt động phạm tội v.v Buôn bán người ngày nay bị coi là hoạt động phạm tội
Từ lâu, người ta đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về buôn bán người Năm 2000, Liên hợp quốc đã phê chuẩn Nghị định thư về Phòng ngừa, Trấn
áp và Trừng trị tội phạm buôn bán người Định nghĩa về buôn bán người
Trang 15a) "buôn bán người" là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe dọa, sử dụng vũ lực hoặc các hình thức cưỡng bức khác, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương của người khác hay bằng cách đưa hoặc nhận tiền hay các lợi ích khác để đạt được sự đồng ý của một người để kiểm soát đối với người khác Hành vi bóc lột ở đây bao gồm ít nhất là bóc lột mại dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay tương tự nô lệ, khổ sai hay lấy đi các cơ quan nội tạng;
b) Sự ưng thuận của nạn nhân trong hoạt động buôn bán người đối với việc bóc lột đã được dự định được nêu ở mục (a) của điều khoản này sẽ không được tính đến nếu bất kỳ một thủ đoạn nào được nêu trong khoản (a) đã được sử dụng;
c) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay tiếp nhận trẻ em nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là "buôn bán người" ngay cả khi hành vi này được thực hiện mà không sử dụng tới bất
kỳ một thủ đoạn nào được nêu trong mục (a) của điều khoản này;
d) "Trẻ em" có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi [18] Định nghĩa nói trên là định nghĩa đầy đủ, toàn diện và khoa học nhất
từ trước tới nay bởi vì nó phản ánh được bản chất của hoạt động buôn bán người Xét về mặt nạn nhân, đối tượng bị buôn bán không chỉ là phụ nữ và trẻ
em gái bị buôn bán mà trên thực tế nam giới bao gồm cả trẻ em trai cũng bị buôn bán Về mặt hành vi buôn bán người được đề cập tương đối khái quát nhưng lại rất cụ thể, dễ nhận biết trong quá trình xử lý các vụ án buôn bán người Phương thức thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm được khái quát hóa rất cao, phản ánh đầy đủ các khía cạnh trong hoạt động của loại tội phạm này
Điểm nổi bật trong định nghĩa này là làm rõ được mục đích của hoạt động buôn bán người đó là để bóc lột nạn nhân, nó khác với hành vi đưa
Trang 16người di cư trái phép chỉ để thu lợi bất chính thông qua đưa người qua biên giới, nó không hàm chứa hành vi bóc lột sau đó Còn buôn bán người sau khi đưa nạn nhân ra nước ngoài bao giờ cũng kèm theo hành vi bóc lột nạn nhân
Mặc dù có những điểm giống nhau, nhưng giữa buôn bán người và đưa người di cư trái phép cũng có những điểm khác nhau dựa trên ba yếu tố
cơ bản dưới đây:
- Sự đồng ý hay ưng thuận
Đưa người di cư trái phép mặc dù được thực hiện trong các điều kiện nguy hiểm, tồi tệ và mất cả thanh danh nhưng vẫn có sự đồng ý của người di
cư để được đưa ra nước ngoài trái phép
Trong hoạt động buôn bán người, thường nạn nhân không đồng ý Nói một cách chính xác, họ không đồng ý và trong trường hợp có sự đồng ý của nạn nhân thì điều đó cũng chẳng có ý nghĩa gì vì họ đồng ý ban đầu nhưng sau đó lại bị lừa gạt, cưỡng ép v.v
- Hành vi bóc lột
Hành vi đưa người di cư trái phép được kết thúc khi người nhập cư
đến được địa điểm đã được thỏa thuận, quá trình bóc lột không diễn ra sau đó
Ngược lại, trong hoạt động buôn bán người, tiếp theo giai đoạn đưa người di cư trái phép, bao giờ cũng kèm theo hành vi bóc lột nạn nhân sau đó
để kiếm lời bất chính như bóc lột mại dâm, sức lao động và lấy đi bất hợp pháp các cơ quan nội tạng của cơ thể người
- Tính chất xuyên quốc gia
Đưa người di cư trái phép có mục đích đưa người qua biên giới, quá trình này có thể phải quá cảnh nhiều nước, do đó tính chất xuyên quốc gia là đặc trưng của hoạt động bất hợp pháp này
Trang 17Trái lại, buôn bán người có thể diễn ra ở tuyến trong nước hay nội địa
và tuyến quốc tế Do đó tính chất xuyên quốc gia không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với hành vi này
Các hình thức bóc lột của hành vi buôn bán người có thể được nhóm lại thành các nhóm cơ bản bao gồm: bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động và lấy đi các cơ quan nội tạng của cơ thể người
Bóc lột sức lao động được đề cập khá đầy đủ như lao động cưỡng bức, khổ sai, nô lệ và các hình thức tương tự như nô lệ Các hình thức này đã được pháp luật quốc tế quy định
Tuy nhiên, khái niệm "bóc lột mại dâm" và "bóc lột tình dục" vẫn còn
bị bỏ ngỏ chưa được định nghĩa trong Nghị định thư bởi vì hiện nay vẫn còn các quan niệm khác về mại dâm đặc biệt là quan điểm của các quốc gia về vấn đề này Do đó, các khái niệm này không được đưa vào Nghị định thư để đảm bảo sự đồng thuận và tạo ra khả năng để nhiều quốc gia có thể tham gia Nghị định thư Theo đó, các nước có quyền đưa ra định nghĩa phù hợp theo quan điểm của mình về "bóc lột tình dục" và "bóc lột mại dâm"
Trong định nghĩa này, bảo vệ quyền trẻ em được đề cao Khoản (c) quy định sự đồng ý của trẻ em dưới 18 tuổi là vô hiệu, và bất kỳ sự tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận trẻ em để bóc lột đều cấu thành tội buôn bán người, cho dù không sử dụng vũ lực, cưỡng ép, man trá, lừa gạt v.v
Khái niệm "buôn bán người"chưa được đề cập trong các văn bản pháp
lý của Việt Nam Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản là trong những năm trước đây, buôn bán trẻ em thường là trẻ em gái và buôn bán nam giới gần như không diễn ra Tuy nhiên, thực tế trong những năm gần đây, trẻ
em trai đã bị buôn bán và hiện tượng nam giới bị buôn bán cũng đã xuất hiện
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng nói trên như nhu cầu cho nhận con nuôi ngày càng cao, tư tưởng muốn có con trai vẫn tồn tại ở nhiều
Trang 18nước, lạm dụng tỡnh dục đồng giới cú xu hướng ngày càng gia tăng, nhu cầu ghộp tạng ngày càng cao, cơ cấu lao động ở nhiều nước bị mất cõn đối v.v Tỡnh hỡnh núi trờn cho thấy cần phải cú cỏc biện phỏp đồng bộ để phũng ngừa
và loại trừ cỏc hoạt động phi phỏp cũng như xu hướng núi trờn
Ở Việt Nam vẫn có sự thiếu thống nhất trong sử dụng các các khái niệm liên quan tới hành vi buôn bán ng-ời Trong Bộ luật Hình sự, sử dụng khái niệm "mua bán phụ nữ" và "mua bán trẻ em" Trong nhiều văn bản khác của Nhà n-ớc, trên báo chí và các ph-ơng tiện thông tin đại chúng và thậm chí
ở cả các các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học vẫn dùng khái niệm
"buôn bán phụ nữ, trẻ em"
Bộ luật Hình sự của Việt Nam năm 1999 quy định hai tội đó là "Tội mua bán phụ nữ" (Điều 119) và "Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em" (Điều 120), tuy nhiên hai điều luật này cũng không đ-a ra định nghĩa về các hành vi này
Cho tới nay, mới chỉ có một văn bản pháp lý của Việt Nam đề cập tới
định nghĩa về mua bán trẻ em, đó là Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao h-ớng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự
Theo Nghị quyết 04/HĐTP thì "mua bán trẻ em" đ-ợc hiểu là "việc mua hoặc bán trẻ em vì mục đích t- lợi, dù là mua của kẻ đã bắt trộm hay mua của chính ng-ời có con đem bán Hành vi mua trẻ em khi biết rõ là đứa trẻ bị bắt trộm cũng bị xử lý về tội mua bán trẻ em" [1]
Với sự phân tích nói trên, có thể nói cần phải sớm đ-a ra định nghĩa
"buôn bán ng-ời" trong hệ thống pháp luật của Việt Nam
Định nghĩa về "buôn bán ng-ời" sẽ đ-ợc đ-a ra cần phải đủ rộng, và
đầy đủ bao gồm các yếu tố về: hành vi; ph-ơng thức thủ đoạn để đạt đ-ợc hành vi; và mục đích của hành vi Cần phải nói thêm rằng, định nghĩa về buôn bán ng-ời phải phản ánh đ-ợc các nhân tố nh- đối t-ợng bị buôn bán bao gồm
Trang 19cả phụ nữ, trẻ em và nam giới Đối t-ợng trẻ em cần đ-ợc đặc biệt -u tiên bảo
vệ, điều đó hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam và các văn kiện pháp lý quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên Vấn đề độ tuổi của trẻ
em cũng phải đ-ợc xem xét và quy định hợp lý nếu không, các đối t-ợng bị buôn bán nằm trong khoảng từ 16 đến 18 tuổi không đ-ợc -u tiên bảo vệ (vị thành niên) Khái niệm bóc lột trong buôn bán ng-ời cũng cần đ-ợc định nghĩa rõ ràng Điểm quan trọng nữa là buôn bán ng-ời và đ-a ng-ời di c- trái phép là hai hành vi khác nhau nh-ng có nhiều điểm t-ơng đồng cần phải đ-ợc phân biệt rõ ràng Điều này có ý nghĩa rất lớn trên cả ph-ơng diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật ở n-ớc ta
1.1.2 Chu trình của hoạt động buôn bán ng-ời
Hoạt động buôn bán ng-ời diễn ra ở hai tuyến:
- Tuyến trong n-ớc
- Tuyến quốc tế
Tuyến trong n-ớc, th-ờng nạn nhân bị buôn bán từ các vùng nông thôn nghèo tới các khu vực đô thị đặc biệt là các thành phố lớn hoặc các tỉnh, thành phố, ở đó tập trung nhiều các hoạt động dịch vụ nh- du lịch, nghỉ mát, vui chơi giải trí Mục đích chính của buôn bán ng-ời tới các khu vực này là để khai thác mại dâm hoặc các dịch vụ lạm dụng tình dục khác
Các tuyến buôn bán ng-ời
Tuyến trong nước:
- Từ nụng thụn ra thành thị
- Từ nụng thụn/ cỏc tỉnh tới cỏc trung tõm kinh tế, du lịch, vui chơi, giải trớ
Buụn bỏn người:
Bao gồm hai tuyến, cú mối
quan hệ với nhau:
- Tuyến trong nước
- Tuyến quốc tế
Tuyến quốc tế:
- Qua biờn giới quốc gia
- Xuyờn quốc gia (qua
Trang 20Buôn bán người ra nước ngoài có liên quan tới ba loại nước: nước xuất phát, nước trung chuyển và nước tiếp nhận Các nước có đường biên giới tiếp giáp, hoạt động này diễn ra trực tiếp giữa nước xuất phát và nước tiếp nhận
Các nước và các hành vi liên quan trong chu trình của hoạt động BBN
Chu trình buôn bán người bao gồm bốn giai đoạn: Tuyển chọn; vận chuyển, đưa người xuất - nhập cảnh trái phép (nếu buôn bán ra nước ngoài); chuyển giao người; bóc lột; và chuyển hóa nguồn tiền, tài sản bất hợp pháp có được từ hoạt động phạm tội
Giai đoạn tuyển chọn
Đó là giai đoạn bọn tội phạm tìm cách tiếp xúc bằng các phương thức thủ đoạn khác nhau để chiếm đoạt nạn nhân Giai đoạn này được bắt đầu từ khi hoạt động tiếp xúc với nạn nhân được thực hiện và kết thúc khi nạn nhân được đưa về địa điểm tập kết để chuẩn bị đem bán
Giai đoạn vận chuyển và chuyển giao
Đó là giai đoạn bọn tội phạm sử dụng các phương tiện giao thông khác nhau để đưa nạn nhân từ địa điểm tập kết tới địa điểm bán Quá trình này
Tuyến buôn bán người
(xuyên quốc gia)
Trang 21được bọn tội phạm chuẩn bị rất kỹ càng, qua nhiều công đoạn đặc biệt là để đưa nạn nhân ra nước ngoài Hoạt động chuyển giao được diễn ra ngay sau khi nạn nhân được đưa tới địa điểm bán
Giai đoạn bóc lột
Là giai đoạn nạn nhân bị ép buộc làm các công việc mà họ không mong muốn chủ yếu trong lĩnh vực bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động và lấy đi một cách bất hợp pháp các cơ quan nội tạng của cơ thể Đây là giai đoạn mà nạn nhân gặp nhiều rủi ro nhất và hành vi buôn bán người được bộc
lộ một cách đầy đủ nhất
Giai đoạn chuyển hóa nguồn tiền và tài sản bất hợp pháp có được
từ hoạt động buôn bán người
Đây là giai đoạn rửa tiền để hợp pháp hóa nguồn tiền và tài sản có được từ hoạt động phạm tội, đồng thời tiếp tục đầu tư cho hoạt động phạm tội
ở giai đoạn tiếp theo
Bốn giai đoạn nói trên nằm trong một chu trình khép kín của hoạt động buôn bán người Nghiên cứu và làm sáng tỏ các giai đoạn nói trên có ý nghĩa rất lớn đối với việc hoạch định chính sách cũng như hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm buôn bán người
Các giai đoạn của hoạt động buôn bán người
GIAI ĐOẠN VẬN CHUYỂN
Các phương tiện được sử dụng:
- Đường bộ: Ô tô (xe con, xe côngtennơ), Tàu hoả, đi bộ
- Đường hàng không: Máy bay
- Đường thuỷ: Tàu, thuyền, phà, ca nô…
GIAI ĐOẠN TUYỂN MỘ
Các phương thức thủ đoạn được
Trang 221.1.3 Mục đích của buôn bán người
Buôn bán người có mục đích để bóc lột nạn nhân Các hình thức bóc lột chủ yếu là: Bóc lột tình dục; bóc lột sức lao động; và lấy đi một cách bất hợp pháp các cơ quan nội tạng của cơ thể người
Phụ nữ bị buôn bán chủ yếu để bóc lột tình dục Ở trong nước, phụ nữ thường phải làm việc ở các nhà nghỉ, nhà hàng, khách sạn, các trung tâm massage, các cơ sở vật lý trị liệu trá hình Để tránh bị phát hiện bọn buôn bán người còn bóc lột tình dục phụ nữ bằng con đường gái gọi Họ được tập hợp lại ở các khu tập kết, thông qua mạng lưới "marketing" phụ nữ được đưa tới các điểm hẹn để bán dâm Phụ nữ bị đưa ra nước ngoài cũng bị chủ chứa bóc lột theo kiểu tương tự Lúc đầu ra nước ngoài, họ thường làm việc ở các trung tâm dịch vụ như ăn uống, giải trí sau đó bị đưa vào làm việc trong "ngành công nghiệp tình dục" Nhiều phụ nữ Việt Nam bị buôn bán sang Đài Loan, Trung Quốc còn phải làm nô lệ tình dục cho nhiều thế hệ trong một gia đình sau đó họ bị bán cho các nhà thổ
Mang thai ngoài ý muốn cũng khá phổ biến đối với phụ nữ và trẻ em
bị buôn bán ra nước ngoài Hiện tượng này chủ yếu diễn ra ở Trung Quốc
Phụ nữ bị buôn bán ra nước ngoài còn với mục đích để bóc lột sức lao động Họ phải làm các công việc như lao động khổ sai trong các trang trại, nhà máy, các ngành dịch vụ cần lao động giản đơn và làm việc tại các gia đình
Trẻ em bị buôn bán cũng chủ yếu để bóc lột tình dục, tương đương với
tỷ lệ phụ nữ bị bóc lột dưới hình thức này Trẻ em còn là nạn nhân bị bóc lột sức lao động Chúng phải làm việc như nô lệ trong các gia đình giàu có, tại các công trường xây dựng, trong các nhà máy, xí nghiệp nhỏ hoặc trong các
Trang 23xí nghiệp may mặc, nhà máy sản xuất bình ngưng, nhà máy sản xuất thép, nhà máy cá muối, các doanh nghiệp vận tải nặng, các nhà máy gốm và lao động tại các quán ăn Trẻ em còn bị bóc lột dưới hình thức đi ăn xin Đi ăn xin có tổ chức và qua đó để bóc lột sức lao động trẻ em không còn là hiện tượng hiếm
có trên thế giới
Trẻ em còn bị bán cho các băng nhóm tội phạm để thực hiện các hành
vi phạm tội như sản xuất hoặc vận chuyển ma túy, tham gia vào các băng nhóm tội phạm trên đường phố, điều khiển các con vật trong các cuộc đua v.v
Nam giới bị buôn bán chủ yếu để bóc lột sức lao động và lấy đi một cách bất hợp pháp các cơ quan nội tạng của cơ thể, họ cũng bị bóc lột tình dục nhưng không mang tính phổ biến như phụ nữ và trẻ em
1.1.4 Nguyên nhân của buôn bán người
Nguyên nhân của hoạt động buôn bán người rất đa dạng và khác nhau
ở mỗi quốc gia Kết quả nghiên cứu về việc tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn ở nơi khác cho thấy, những người có hoàn cảnh khó khăn thường bị bọn tội phạm lôi kéo, khống chế để buôn bán Khó khăn về kinh tế, xung đột (bao gồm xung đột vũ trang giữa các nước, xung đột sắc tộc và nội chiến), tội phạm, bạo lực xã hội, bạo lực gia đình, thiên tai và nhiều nguyên nhân khác là sức ép tạo nên hoàn cảnh cực kỳ khó khăn đối với hàng triệu triệu người, đẩy
họ vào hoàn cảnh dễ bị tổn thương đối với các dạng bóc lột và nô dịch Trong nhiều xã hội, trẻ em gái không được bình đẳng với trẻ em trai và mong muốn
hy sinh việc học hành và có trách nhiệm đối với gia đình như chăm sóc cha
mẹ và anh chị em, sự phân biệt này về giới tính cũng tạo cho phụ nữ và trẻ em gái dễ bị buôn bán
Sơ hở trong hoạt động kiểm soát tại biên giới, tham nhũng của các quan chức của Chính phủ, sự câu kết của các băng nhóm tội phạm có tổ chức,
sự hạn chế về năng lực hoặc thiếu tận tụy của các sĩ quan hành pháp trong
Trang 24hoạt động kiểm soát tại biên giới, sự không đầy đủ của hệ thống pháp luật, các cam kết cũng như mong muốn chính trị để thực thi pháp luật hoặc hạn chế
về thẩm quyền là các nhân tố tạo điều kiện cho hoạt động buôn bán người
Ở Việt Nam, hoạt động buôn bán người diễn ra do những nguyên nhân
cơ bản dưới đây:
Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân về kinh tế
Nghèo đói, thất nghiệp vừa là nguyên nhân cơ bản dẫn tới nạn buôn bán người vừa là môi trường thuận lợi để bọn tội phạm lợi dụng hoạt động
Về phía nạn nhân, nghèo đói, thất nghiệp đã thúc đẩy họ phải bươn chải kiếm sống bất chấp rủi ro, trong khi đó bọn tội phạm lại tìm mọi cách để kiếm được thật nhiều tiền từ hoạt động phạm tội Hoàn cảnh và môi trường đó đã làm cho nạn buôn bán người ngày càng gia tăng
Trong xã hội hiện đại, các lĩnh vực dịch vụ và giải trí ngày càng phát triển Có rất nhiều lĩnh vực dịch vụ đã và đang bị lạm dụng để "kinh doanh tình dục" kiếm lời bất chính khá phổ biến như nhà hàng, khách sạn, vũ trường, Karaoke, massage, vật lý trị liệu, du lịch v.v…, thêm nữa nhiều quốc gia lại cho phép kinh doanh tình dục công khai đã làm tăng cầu đối với phụ
nữ và trẻ em làm việc trong lĩnh vực này Đây cũng là một trong những nhân
tố chính làm gia tăng nạn buôn bán người
Nhu cầu ghép tạng, sử dụng lao động rẻ mạt và lao động trẻ em ngày càng tăng cũng là những nhân tố tác động trực tiếp tới quá trình buôn bán người Bọn tội phạm có thể kiếm lời bất chính từ hoạt động này mà không cần đầu tư lớn Xu hướng này ngày nay diễn ra khá phổ biến trên thế giới mà nạn nhân thường là ở các nước nghèo, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn bị buôn bán tới các nước giàu có
Nguyên nhân về văn hóa
Trang 25Tư tưởng trọng nam khinh nữ, phân biệt đẳng cấp trong xã hội, sự thay đổi về lối sống, hôn nhân, gia đình, sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc đặc biệt là về giới tính, tư tưởng muốn có con trai nối dõi tông đường là những tác nhân văn hóa cơ bản tác động làm gia tăng nạn buôn bán người
Nguyên nhân về xã hội
Sự đua đòi trong lối sống, ham muốn hưởng thụ, sự đổ vỡ trong hạnh phúc gia đình, trong tình cảm riêng tư, sự thất bại trong công việc, kinh doanh, sự gia tăng của trẻ em lang thang cơ nhỡ, các tệ nạn xã hội không được ngăn chặn và giải quyết, phúc lợi xã hội thấp v.v là điều kiện và môi trường thuận lợi để bọn tội phạm buôn bán người hoạt động và số lượng nạn nhân bị buôn bán ngày càng tăng
Nguyên nhân chủ quan
Đó là sự thiếu hụt về chính sách và pháp luật về phòng chống buôn bán người Công tác chỉ đạo, thực thi chính sách, pháp luật còn mang tính hình thức, không liên tục, thiếu đồng bộ Hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chưa đủ mạnh để trấn áp tội phạm và bảo vệ nạn nhân Những nguyên nhân chủ quan nói trên biểu hiện ở những nội dung cơ bản dưới đây:
- Trong nhiều năm, chúng ta không có chương trình quốc gia về phòng chống buôn bán người Các chính sách về kinh tế - xã hội chưa đề cập một cách đầy đủ tới các nội dung và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn nạn buôn bán người
- Hệ thống pháp luật còn rất chung chung, thiếu cụ thể, đặc biệt là chưa ban hành Luật về phòng chống buôn bán người
- Công tác chỉ đạo, thực thi chính sách, pháp luật còn mang tính hình thức, nặng về phong trào, không thường xuyên, liên tục, do đó không giải quyết được tận gốc các vấn đề về tội phạm, các tệ nạn xã hội song hành cũng như các vấn đề liên quan tới nạn nhân
Trang 26- Bộ máy và hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực phòng chống buôn bán người không mang tính chuyên trách, thiếu cơ chế điều phối, chỉ đạo từ cơ quan trung ương và cơ chế hợp tác giữa các cơ quan liên quan
- Các cơ quan tư pháp và hành pháp bao gồm Công an, Bộ đội Biên phòng, Tòa án và Viện kiểm sát là các lực lượng trực tiếp đấu tranh chống tội phạm buôn bán người nhưng chưa có các đơn vị chuyên trách, cán bộ không được đào tạo chuyên sâu đã làm hạn chế hoạt động phòng ngừa và đấu tranh
1.1.5 Hậu quả của buôn bán người
Đối với nạn nhân
Về quyền, nạn nhân bị mất đi các quyền cơ bản của con người như quyền dự do, bình đẳng Tự do là quyền cơ bản vốn có của con người và được pháp luật bảo vệ nhưng bọn tội phạm đã tước đi quyền này đối với phụ nữ, trẻ
em và cả nam giới Quyền tự do bị mất đi trên nhiều phương diện khác nhau Khi đã bị buôn bán, nạn nhân luôn bị kiểm soát và bị khống chế về cả thể chất
và tinh thần Họ bị ép buộc phải làm những việc mà họ không muốn như bị cưỡng bức về tình dục, lao động khổ sai, bị đối xử như nô lệ, thậm chí còn bị đánh đập Để khống chế nạn nhân và an toàn cho bọn tội phạm, chúng thường cấm nạn nhân không được tự do đi lại, giao tiếp với xã hội kể cả đối với người thân Thư tín, điện thoại đều bị kiểm soát Giấy tờ tùy thân cũng bị thu giữ Sự đe dọa và tai họa luôn luôn rình rập nạn nhân Nhiều nạn nhân không chịu nổi sức ép, họ đã nhảy lầu tự tử hoặc tìm cách khác để tự kết thúc cuộc đời
Trên phương diện giá trị của con người, họ bị chà đạp lên danh dự và nhân phẩm Họ luôn mặc cảm về đời tư, cảm thấy thân phận thấp hèn, nhục nhã
ê chề, xa lánh, không muốn tiếp xúc với mọi người, trầm cảm, phó mặc cho thân phận và cuộc đời Thường phụ nữ bị buôn bán, ít có khả năng lấy chồng, hậu quả là họ bị mất đi quyền làm vợ, làm mẹ và quyền có hạnh phúc riêng tư Có thể nói đó là hậu quả của một tội ác do chính bọn buôn bán người gây ra
Trang 27Về sức khỏe, nạn nhân bị mắc nhiều căn bệnh như các bệnh về tâm
lý, xã hội và đặc biệt là họ bị lây nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS Trẻ em
do sợ hãi kéo dài, dẫn tới bệnh trầm cảm Do điều kiện sinh hoạt không đảm bảo, trẻ em bị suy dinh dưỡng và mắc nhiều bệnh về đường ruột và đường hô hấp
Khả năng lao động, với cả phụ nữ, trẻ em và nam giới không còn, họ
bị suy sụp về thể lực, ít có khả năng phục hồi như người lao động bình thường, điều đó sẽ tạo ra sự bất ổn trong cuộc sống lâu dài của nạn nhân
Quyền hạnh phúc gần như họ bị tước đi một cách vĩnh viễn đặc biệt là đối với phụ nữ
Đối với xã hội
Buôn bán người để lại nhiều hậu quả về mặt xã hội Trộm cắp, cướp giật, cờ bạc, nghiện hút và mại dâm luôn là các tệ nạn song hành cùng tồn tại
và phát triển với nạn buôn bán người
Sự gia tăng của nạn buôn bán người chứng tỏ các nhu cầu xã hội không lành mạnh có xu hướng tăng lên Tệ nạn mại dâm, các dịch vụ mại dâm trá hình phát triển gây mất trật tự xã hội, làm suy đồi đạo đức, lối sống
và thuần phong mỹ tục của người Việt được xây dựng từ ngàn đời Tính ổn định và hạnh phúc gia đình cũng có nguy cơ bị phá vỡ Vấn đề con ngoài giá thú và con lai cũng đang là vấn đề bức xúc Nhiều phụ nữ bị buôn bán ra nước ngoài khi trở về mang theo con riêng đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc khai sinh và đăng ký quốc tịch cho đứa trẻ Vấn đề này còn để lại những hậu quả lâu dài về nòi giống, dân tộc và các vấn đề xã hội khác
Vấn đề kết hôn không xuất phát từ tình cảm giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài và cho nhận con nuôi cũng bị lạm dụng để buôn bán người
và trở nên ngày càng phức tạp Lấy chồng người nước ngoài trở thành một trào lưu ồ ạt đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam Có nhiều dấu hiệu cho thấy, đây là hoạt động buôn bán người trá hình vì kết hôn được thực hiện qua môi giới, không dựa
Trang 28trên cơ sở của tình yêu Phụ nữ được tuyển chọn để kết hôn giống như mua hàng hóa Họ được tập trung lại tại một địa điểm để xem mặt và chọn cô dâu Thực tế,
đã có nhiều phụ nữ trở về Việt Nam, họ cho biết đó không phải là một cuộc hôn thú bình thường mà họ đã bị lạm dụng dưới nhiều hình thức khác nhau
Tất cả những hậu quả nói trên phát sinh từ nạn buôn bán người, nó làm đảo lộn trật tự xã hội, phá vỡ cấu trúc gia đình truyền thống và cấu trúc
xã hội
Về mặt kinh tế
Tài liệu tập huấn về phòng chống buôn bán người của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc năm 2005 cho biết, ước tính hàng năm trên thế giới, lợi nhuận bất hợp pháp của bọn tội phạm thu được từ hoạt động buôn bán người là 9 tỷ USD [43] Lợi nhuận này chỉ đứng sau lợi nhuận thu được của bọn tội phạm buôn lậu ma túy.Nguồn tiền bất hợp pháp này sẽ được bọn tội phạm chuyển hóa, ngụy trang dưới hình thức tiền hợp pháp thông qua hoạt động rửa tiền Rửa tiền sẽ phá vỡ sự phát triển ổn định của nền tài chính quốc gia và tạo nên sự phát triển ảo của nền kinh tế Buôn bán người còn làm mất đi nguồn lao động tiềm tàng của một quốc gia, làm giảm sút sức phát triển sản xuất xã hội và về lâu dài để lại một lực lượng lao động dư thừa không được đào tạo Hàng năm, Nhà nước phải chi cho lĩnh vực này một khoản tiền khá lớn Theo báo cáo kết quả thực hiện Chương trình hành động phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2010 của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư ngày 7/11/2005, riêng năm 2005, ngân sách của Nhà nước đã chi cho hoạt động này là 15 tỷ đồng [9] Bên cạnh đó trong nhiều năm qua, các tổ chức quốc tế đã hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam nhiều tỷ đồng cho hoạt động phòng ngừa, đấu tranh, hồi hương và tái hòa nhập cho nạn nhân bị buôn bán
Về an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội
Tội phạm buôn bán người không hoạt động độc lập mà có mối liên hệ với nhiều loại tội phạm khác Để đưa người ra nước ngoài bất hợp pháp,
Trang 29chúng phải sử dụng nhiều phương thức thủ đoạn khác nhau như làm giấy tờ giả, hối lộ các quan chức trong lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh, kiểm soát biên giới, quản lý hộ khẩu, quản lý các lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, các công ty du lịch, các công ty vận tải hành khách bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không, những người làm việc ở các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi, lang thang, cơ nhỡ, các nhân viên của các bệnh viện và những người làm công tác cấp, sao giấy khai sinh và các loại giấy tờ về nhân thân của công dân v.v Bên cạnh đó, bọn tội phạm còn móc nối với các cán bộ, nhân viên bị thoái hóa biến chất của các ngành như du lịch, xuất khẩu lao động, đi du học để đưa người ra nước ngoài Để trốn tránh các cơ quan thi hành pháp luật, bọn tội phạm phải tẩy rửa nguồn tiền và tài sản bất hợp pháp có được từ hoạt động phạm tội Sau khi được tẩy rửa, tiền lại được chi cho các hoạt động phạm tội theo một chu trình khép kín
Các hoạt động nói trên sẽ kéo theo một loạt các hành vi phạm tội phạm khác như: Sử dụng người như nô lệ; các hoạt động tương tự như nô lệ; lao động khổ sai ngoài ý muốn; lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; tạo ra lệ thuộc về nợ nần; cưỡng hôn; cưỡng ép phá thai; cưỡng ép mang thai; tra tấn; đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, phi nhân phẩm; hiếp dâm; xâm hại tình dục; hành hung; gây thương tích; giết người; bắt cóc; giam giữ trái pháp luật; bóc lột sức lao động; thu giữ giấy căn cước; và tham nhũng [45]
Nghị định thư của Liên hợp quốc về Phòng ngừa, Trấn áp và Trừng trị tội phạm buôn bán người khuyến khích các quốc gia trong trường hợp không trừng trị được đối tượng phạm tội với tội danh buôn bán người thì có thể trừng trị tội phạm với các tội danh nói trên
Bộ luật Hình sự của Việt Nam bên cạnh việc quy định "Tội mua bán
phụ nữ" (Điều 119), "Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em" (Điều 120)
còn quy định các tội phạm liên quan tới làm và lưu hành giấy tờ giả; Các tội phạm về chức vụ; Các tội phạm về tham nhũng; Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính; Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; Các
Trang 30tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Các tội danh nói trên hoàn toàn có thể áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng phạm tội trong trường hợp không truy cứu trách nhiệm hình sự được với các tội danh quy định ở Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật này
Các tội phạm nói trên phát triển gây mất trật tự, an toàn xã hội Tội phạm tham nhũng hình thành và phát triển sẽ làm suy yếu các cơ quan công quyền, làm tha hóa cán bộ, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với bộ máy các cơ quan nhà nước, làm suy yếu chế độ chính trị của quốc gia
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người
Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước [29]
Quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội [35]
Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự gồm hai lĩnh vực: quản lý nhà nước về an ninh quốc gia và quản lý nhà nước về trật tự an tòa xã hội
Quản lý nhà nước về an ninh quốc gia là quản lý trên các lĩnh vực an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng, an ninh trong lĩnh vực dân tộc và tôn giáo, quản lý xuất nhập cảnh, quản lý an ninh biên giới, bảo vệ lãnh tụ và các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước [35]
Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực phòng chống tội phạm; phòng chống tệ nạn xã hội, trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, trật tự công cộng; phòng cháy chữa cháy; giáo
Trang 31Như vậy, phòng chống tội phạm là một trong những nội dung của quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội Nhà nước ta đã xác định rõ quản lý nhà nước về phòng chống tội phạm luôn luôn được đặt lên hàng đầu trong quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội vì tội phạm là nhân tố nguy hiểm gây mất ổn định xã hội
Phòng chống buôn bán người là một lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, cần phải có sự quản lý của Nhà nước trên nhiều phương diện và bằng các công cụ quản lý khác nhau nhằm giữ gìn trật tự an tòa xã hội
Vậy quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người là gì? Về mặt khoa học, bằng các cách tiếp cận khác nhau, chúng ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau về quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người
Tiếp cận trên phương diện thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người như sau:
Quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người là hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, điều hành và tổ chức thực hiện các hoạt động về phòng chống buôn bán người theo chức năng nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước bằng các công cụ quản lý mà chủ yếu là pháp luật nhằm xoá bỏ nạn buôn bán người góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội
1.2.2 Mục tiêu, đặc điểm của quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người
Mục tiêu của phòng chống buôn bán người
Mục tiêu của phòng chống buôn bán người là xóa bỏ tội phạm buôn bán người và các tội phạm có liên quan, loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh nạn buôn bán người, phòng ngừa, bảo vệ các đối tượng có nguy
cơ bị buôn bán, giải cứu, hồi hương, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho các nạn nhân bị buôn bán trở về, bảo vệ quyền con người và góp phần giữ vững trật tự an toàn xã hội
Đặc điểm của quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người
Trang 32Quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người có các đặc điểm dưới đây:
- Quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người mang tính quyền lực, tính tổ chức và tính mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước Khách thể quản lý phải phục tùng chủ thể quản lý, nếu có hành vi vi phạm pháp luật sẽ
bị xử lý theo quy định của pháp luật
- Quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người là hoạt động có mục đích và kế hoạch Đặc điểm này đòi hỏi hoạt động quản lý của Nhà nước phải có mục tiêu, chương trình, kế hoạch hành động và các biện pháp tổ chức
thực hiện chương trình và kế hoạch đã được đặt ra
- Quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người là hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt Đặc điểm này phải được quán triệt, vận dụng trong hoạt động điều hành và phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ
để huy động sức mạnh tổng hợp và khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực
- Quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người mang tính xã hội hóa và không có sự cách biệt về mặt xã hội giữa người quản lý với người bị quản lý Cán bộ quản lý của Nhà nước phải gần gũi với nhân dân, có mối liên
hệ chặt chẽ với quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng và vận động quần chúng tham gia phong trào mới có thể làm tốt công tác phòng ngừa và
đấu tranh phòng chống buôn bán người
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người
- Xây dựng, ban hành chính sách, kế hoạch và chương trình hành động
quốc gia về phòng chống buôn bán người
- Đề xuất với cơ quan lập pháp xây dựng, sửa đổi và thông qua luật và
các văn bản pháp lý liên quan tới phòng chống buôn bán người
- Chỉ đạo các bộ, ngành, chính quyền địa phương tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch hành động quốc gia phòng
chống buôn bán người
Trang 33- Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động quản lý, tư pháp và hành
pháp phòng chống buôn bán người
- Điều phối và thúc đẩy hợp tác quốc tế về xây dựng chính sách, hoạt
động tư pháp và hành pháp phòng chống tội phạm buôn bán người
- Hỗ trợ kinh phí từ ngân sách quốc gia, huy động nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ cho hoạt động đấu tranh phòng chống buôn bán người
1.2.4 Các hình thức quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người
Có 3 hình thức quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người đó là: Hình thức ban hành chính sách, pháp luật, phê duyệt chương trình,
kế hoạch hành động và ra các quyết định thi hành
Hình thức này trực tiếp liên quan đến việc sử dụng quyền lực của Nhà nước và thẩm quyền của từng cơ quan quản lý nhà nước Nó biểu hiện sự nghiêm ngặt về thẩm quyền, trình tự và thủ tục thực hiện các hoạt động nói trên
Hình thức hội nghị
Trong hoạt động quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người, hội nghị là hình thức trao đổi, bàn bạc về các công việc cần hợp tác, phối hợp thực hiện hoặc thống nhất ra các nghị quyết tổ chức thực hiện Nghị quyết của hội nghị là căn cứ, cơ sở để cấp có thẩm quyền đưa ra các quyết định quản lý
cụ thể về một lĩnh vực hay công việc nào đó
Hình thức tổ chức điều hành và xử lý công việc thường nhật
Đây là hình thức hoạt động trực tiếp tác động đến đối tượng quản lý
và đưa đến kết quả mong muốn hoặc ngược lại Điều hành và xử lý công việc hàng ngày có ảnh hưởng và quyết định tới chủ trương, kế hoạch đã đề ra Chủ trương và kế hoạch khả thi nhưng điều hành và xử lý kém sẽ không có được kết quả tốt và thậm chí phá vỡ kế hoạch đã để ra Tuy nhiên, tổ chức điều hành và xử lý công việc thường nhật không thể thay thế và quyết định hoàn
Trang 34toàn đối với chủ trương và kế hoạch Chủ trương và kế hoặc đúng là cội nguồn của sự thành công
1.2.5 Phương pháp quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người
Hoạt động quản lý của nhà nước về phòng chống buôn bán người sử dụng tổng hợp các phương pháp của khoa học quản lý nhưng có 4 phương pháp cơ bản đó là:
- Phương pháp giáo dục, thuyết phục;
Phương pháp kinh tế là phương pháp sử dụng lợi ích kinh tế, vật chất để tác động trực tiếp tới đối tượng quản lý, đồng thời là nhân tố không thể thiếu được trong hoạt động quản lý của nhà nước về phòng chống buôn bán người Phương pháp này không những tác động trực tiếp tới các đối tượng quản lý mà còn tác động rất lớn đối với các phương pháp khác, do đó trong hoạt động quản lý của Nhà nước về phòng chống buôn bán người phải chú trọng tới phương pháp này
Phương pháp hành chính là phương pháp mệnh lệnh mang tính đơn phương của các cơ quan quản lý nhà nước về phòng chống buôn bán người với các đối tượng bị quản lý, buộc các đối tượng phải thực hiện vô điều kiện các quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đưa ra Phương pháp này trong trường hợp cần thiết phải được áp dụng để nâng cao hiệu quả của hai phương pháp trên
Phương pháp pháp luật là phương pháp bắt buộc mang tính cưỡng chế
Trang 35người đặc biệt là hoạt động đấu tranh với các đối tượng phạm tội, thì phương pháp này luôn được đặt ra Phương pháp này có giá trị và hiệu quả đối với cả hoạt động phòng ngừa và đấu tranh Có thể nói, đây là phương pháp được áp dụng khá phổ biến và trong tất cả các hoạt động phòng chống buôn bán người
1.2.6 Hệ thống các cơ quan nhà nước phòng chống buôn bán người
Hiện nay, các cơ quan quản lý nhà nước về an ninh quốc gia và trật tự
an toàn xã hội, trong đó có lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phòng chống buôn bán người nói riêng ở nước ta bao gồm hai hệ thống các cơ quan sau:
Các cơ quan quản lý có thẩm quyền chung
Theo Hiến pháp 1992, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội bao gồm:
- Ở trung ương: Chính phủ, Thủ tướng; các bộ, các cơ quan ngang bộ, các ỦY ban nhà nước và các cơ quan khác thuộc Chính phủ
- Ở địa phương: ỦY ban nhân dân các cấp; Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp; các cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân (các sở, phòng, ban) trong đó có cơ quan công an địa phương; Ban lãnh đạo các xí nghiệp, cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước trực thuộc chính quyền địa phương hay trực thuộc Trung ương ở địa phương, trong đó có đơn vị công an
hệ thống các tổ chức, các cơ quan quản lý nhà nước; quyền hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân
Trong khi thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước, đối với ngành hoặc lĩnh vực của mình, các bộ có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp: "Cơ quan nhà
Trang 36nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật qui định (Điều 44 Hiến pháp 1992)
Cũng theo Hiến pháp 1992, ủy ban nhân dân là cơ quan quản lý thẩm quyền chung đứng đầu bộ máy quản lý thuộc đơn vị hành chính- lãnh thổ của mình ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội thuộc địa phương mình, bảo vệ việc thi hành pháp luật, văn bản của cấp trên và của Hội đồng nhân dân của cấp mình ở địa phương, giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan cấp trên đóng ở địa bàn trong phạm vi những vấn đề thuộc quyền quản lý của Nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội theo lãnh thổ, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa
Cơ quan quản lý có thẩm quyền riêng
Là cơ quan của Chính phủ, Bộ Công an (tên gọi cũ là Nha Công an, Thứ Bộ Công an, Bộ Công an, Bộ Nội vụ), cơ quan trung ương của lực lượng Công an nhân dân có nhiệm vụ lãnh đạo và quản lý công tác bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong cả nước
Bộ Công an có nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang bộ quy định tại Nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ
Ngày 9/6/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 37/1998/NĐ-CP quy định "về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Công an" Nghị định 37/CP của Chính phủ quy định tổ chức của Công an nhân dân ở địa phương chia làm 3 cấp: Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Đồn công an nhân dân là đơn vị cơ sở của tổ chức công an trực thuộc Công an quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Công an phường
Bên cạnh Bộ Công an, còn có các Bộ chủ quản trực tiếp chỉ đạo hoạt động phòng chống buôn bán người bao gồm: Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 371.3 SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÒNG CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI
1.3.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người
Bản chất của cộng đồng đã hàm chứa và mang trong nó sự gắn bó của các cá nhân trong một tập thể để tham gia các hoạt động xã hội
Theo từ điển tiếng Việt, "Cộng đồng là toàn thể những người cùng sống,
có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội" Những đặc điểm trên của cộng đồng cho thấy nó có vai trò rất lớn đối với các hoạt động
xã hội trong đó có lĩnh vực phòng chống buôn bán người Sức mạnh của cộng đồng được sử dụng và phát huy, có thể đẩy lùi và từng bước loại bỏ được tệ nạn
Nhân dân là động lực cơ bản của các cuộc cách mạng xã hội Sự phát triển của xã hội luôn luôn gắn liền với các nhu cầu và lợi ích của quần chúng Các lợi ích, quyền và nghĩa vụ của công dân bị vi phạm, quần chúng nhân dân sẽ đấu tranh xóa bỏ Đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phòng chống buôn bán người nó riêng là mong muốn và là nhu cầu bức xúc của quần chúng nhân dân trong xã hội
Con người là trung tâm, mục đích của quản lý và hoạt động xã hội
Quản lý xã hội là quản lý một nhóm hay một tập hợp con người, bởi con người luôn luôn tồn tại và hoạt động trong các nhóm như trong một tổ chức của một xã hội nhất định
Trang 38Do vậy, cơ sở đầu tiên để quản lý và duy trì hoạt động của cộng đồng tham gia các công tác xã hội trong đó có lĩnh vực phòng chống buôn bán người là phải coi con người là trung tâm, như là đích hướng tới Cộng đồng và hẹp hơn là các tổ chức xã hội luôn phải tạo ra các điều kiện thuận lợi về mọi mặt để các thành viên trong cộng đồng, trong các tổ chức xã hội có thể tiếp cận được với các hoạt động xã hội để phát huy được vai trò của các cá nhân trong cộng đồng
Từ yêu cầu thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước
Một trong những chức năng cơ bản thể hiện nghĩa vụ của Nhà nước là đảm bảo, duy trì trật tự an toàn xã hội Trong quá trình thực hiện chức năng đó của Nhà nước, việc xã hội hóa các hoạt động xã hội trong đó có lĩnh vực phòng chống buôn bán người diễn ra như một tất yếu khách quan Chỉ huy động sức mạnh của cộng đồng thì Nhà nước mới có thể thực hiện được chức năng đó của mình
Do tổ chức của hệ thống chính trị ở Việt Nam quy định
Trong các tổ chức chính trị của xã hội có giai cấp, các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng, tùy thuộc vào tính chất, quy mô của tổ chức đó Trong số đó, quan trọng nhất là các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, các Tổ chức kinh tế tập thể và Hội phụ nữ
Ở Việt Nam, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống chính trị là các tổ chức: Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Mặt trận tổ quốc Việt Nam Các tổ chức xã hội thực hiện những nhiệm vụ, chức năng khác nhau dưới sự lãnh đạo của các đảng chính trị và phụ thuộc vào điều đó, nên nó có vai trò khác nhau trong đời sống chính trị Trong hoạt động của mình, các tổ chức này có quan hệ chặt chẽ với Nhà nước theo nguyên tắc hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau Trong lĩnh vực giữ gìn trật tự an toàn xã hội, trong đó có lĩnh vực phòng chống buôn bán người, các tổ chức nói trên có vai trò quan trọng và là lực lượng nòng cốt đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội
1.3.2 Vai trò của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người
Trang 39Tham gia phòng chống buôn bán người, cộng đồng có những vai trò
cơ bản dưới đây:
Đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng và phát huy tính năng động, tích cực của các thành viên trong xã hội
Cộng đồng hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở lợi ích hay nói một cách chính xác hơn là trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội
Cùng với các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng ở phạm vi tổ chức rộng lớn hơn là một trong những hình thức tập hợp, giác ngộ, động viên nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng phát triển xã hội nói chung và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, trong đó có phòng chống buôn bán người nói riêng Thông qua hoạt động của cộng đồng, tính năng động, tính tích cực xã hội của mỗi công dân sẽ được phát huy mạnh mẽ
Tạo ra nguồn lực góp phần giữ vững trật tự an toàn xã hội
Muốn giữ vững trật tự an toàn xã hội, đấu tranh có hiệu quả với tội
phạm và loại bỏ các tệ nạn xã hội trong đó có phòng chống buôn bán người, Nhà nước cần phải tìm mọi biện pháp, mọi cách thức để huy động nguồn lực
và sự tham gia của cộng đồng Đây là một nhu cầu tất yếu khách quan có tính phổ biến của bất cứ quốc gia nào kể cả các quốc gia phát triển, đang phát triển
và chậm phát triển Đặc biệt, đối với các nước chậm và đang phát triển, Nhà nước chưa có đủ điều kiện về mọi mặt nhất là về tài chính để thực hiện nhiệm
vụ nói trên thì huy động nguồn lực và sức mạnh của cộng đồng lại càng cần thiết, có vai trò và ý nghĩa quan trọng
Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước
Cộng đồng là một trong những phương thức để Nhà nước tập hợp sức
mạnh thực hiện các mục tiêu phòng chống buôn bán người, góp phần giữ vững trật tự an toàn xã hội Vai trò đó được thể hiện trên các phương diện dưới đây:
Trang 40- Thông qua hoạt động của mình, cộng đồng phản ánh trung thành các nhu cầu, nguyện vọng của các thành viên với Nhà nước, để Nhà nước có chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn phù hợp với thực tiễn phòng chống buôn bán người
- Cộng đồng thông qua các thành viên của mình, thực hiện tốt đường lối, chính sách, pháp luật về phòng chống buôn bán người sẽ góp phần củng
cố, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội
- Các thành viên trong cộng đồng vừa là người thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa là người giám sát rộng rãi, tốt nhất hoạt động quản lý của Nhà nước trong phòng chống buôn bán người
Xã hội hóa hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực phòng chống buôn bán người
Nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình trong phòng chống buôn bán người thông qua bộ máy nhà nước, công cụ quản lý và các tổ chức xã hội Với sự phát triển của xã hội ngày nay, Nhà nước không thể trực tiếp tổ chức thực hiện tất cả các hoạt động liên quan tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Sự tham gia rộng rãi của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người đã góp phần xã hội hóa hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này và giảm tải hoạt động quản lý nói chung của Nhà nước Đây là một xu hướng phổ biến đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong quản lý của Nhà
nước hiện đại
Giáo dục, rèn luyện ý thức và năng lực thực hành cho các thành viên trong xã hội
Cộng đồng có vai trò lớn lao trong việc phát huy tính tích cực xã hội
của quần chúng Tính tích cực xã hội là biểu hiện của sự hoạt động có ích về mặt xã hội của con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong
đó có lĩnh vực phòng chống buôn bán người Tương ứng đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, cộng đồng có vai trò rất to lớn trong việc phát triển tính tích cực xã hội của từng công dân Có thể nói, cộng đồng là môi trường xã hội