Xu thế nghiên cứu điển cố với tư cách là một hình thức liên văn bản intertextuality, đồng thời nhìn điển cố như là một nhân tố cấu trúc nội văn bản trong hệ thống ngôn từ của tác phẩm, v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
NGUYỄN ĐÀO NGUYÊN
ĐIỂN CỐ TRONG THƠ CA PHẬT GIÁO THỜI
LÝ TRẦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
140tr, bìa mận chín, 6 quyển
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
NGUYỄN ĐÀO NGUYÊN
ĐIỂN CỐ TRONG THƠ CA PHẬT GIÁO THỜI
LÝ TRẦN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NGỌC VƯƠNG
HÀ NỘI - 2011
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Học viên xin chân thành cảm ơn PGS TS Trần Ngọc Vương, người đã hướng dẫn, động viên và đọc sửa tận tình để luận văn được hoàn thành Học viên cũng gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến các anh chị trong Phòng văn học Việt Nam cổ trung đại - Viện văn học
đã cung cấp tư liệu cũng như cho học viên nhiều góp ý quý giá
Cuối cùng, cảm ơn gia đình vì những hỗ trợ tinh thần trong quá trình thực hiện công trình khó khăn này
Hà Nội 1/8/2011
Học viên
Nguyễn Đào Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
1.Lý do chọn đề tài……… 1
2.Lịch sử vấn đề……… …2
3.Định hướng của luận văn……… 12
4.Phương pháp nghiên cứu và phạm vi tư liệu……… ….13
5.Cấu trúc của luận văn……… …13
PHẦN NỘI DUNG……… 15
CHƯƠNG 1: Quan niệm về dụng điển trong truyền thống và trong các nghiên cứu chịu ảnh hưởng phương Tây……… 15
1.1.Điển cố nhìn từ truyền thống……… 15
1.1.1.Khái niệm và tên gọi……….…15
1.1.2.Điển cố với truyền thống trọng lịch sử và học vấn sách vở……….….19
1.1.3.Động lực và hiệu quả của việc dụng điển……….……22
1.1.4.Yêu cầu và phương thức dụng điển……… ….24
1.2.Điển cố nhìn từ các nghiên cứu chịu ảnh hưởng phương Tây………… …….…29
1.2.1.Khái niệm và phân loại điển cố……….…29
1.2.2.Điển cố và liên văn bản……….……34
1.2.3.Điển cố và ẩn dụ……… 43
CHƯƠNG 2: Diện mạo chung của điển cố trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần 48
2.1.Thái độ của Thiền đối với kinh điển……… …… ….48
2.2.Nguồn điển, dấu hiệu nhận diện điển và phương thức dụng điển trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần……… ……….…… 51
2.2.1.Nguồn điển……… 51
2.2.2.Dấu hiệu nhận diện điển……… 54
Trang 52.2.3.Phương thức dụng điển……….…57
2.3.Điển cố trong tương quan với văn cảnh của các bài thơ Thiền Lý Trần…… 58
2.4.Đặc trưng ẩn dụ của điển cố Thiền……….…… 65
CHƯƠNG 3: Dụng điển trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần nhìn qua trước tác của Tuệ Trung thượng sĩ……….71
3.1.Điển cố và sự thể nghiệm của bản ngã đối với chân lý Thiền……….…….73
3.2.Điển cố và sự thể hiện cái nhìn nhân sinh………89
KẾT LUẬN……… ……101
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… 104
PHỤ LỤC……….…110
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nằm trong hệ thống thi liệu văn liệu Hán học, điển cố là một trong những biện pháp tu từ then chốt và được sử dụng thường xuyên trong trước tác thời trung đại Điển
cố không chỉ là phương tiện tu từ học mà còn phản ánh tư duy sáng tác đặc thù của văn
nhân ngày xưa
Hiện tại việc nhận diện điển cố ở Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu hưởng ứng Không ít các nhà nghiên cứu đã nêu lên một quan niệm khái quát của mình về điển cố Ấn tượng chung là các quan niệm này hầu hết đều bắt nguồn từ truyền thống
tu từ học Trung Hoa, vốn chỉ nhấn mạnh kĩ năng dụng điển Trong cái nhìn chung, nghiên cứu điển cố được hình dung là một công việc thực chứng nhằm tìm hiểu nguồn gốc ngữ nguyên học của từ ngữ Một số tác giả đã chú tâm hơn vào giá trị biểu trưng,
kí hiệu, ẩn dụ của điển, đem lại một cái nhìn hiện đại hơn đối với điển Song có thể thấy hầu như chưa xuất hiện việc dẫn nhập các quan niệm về điển của các học giả chịu ảnh hưởng của phương Tây Xu thế nghiên cứu điển cố với tư cách là một hình thức liên văn bản (intertextuality), đồng thời nhìn điển cố như là một nhân tố cấu trúc nội văn bản trong hệ thống ngôn từ của tác phẩm, vốn được vận dụng rộng rãi ở phương Tây vài mươi năm lại đây, chưa thực sự được nhắc đến Luận văn của chúng tôi sẽ phần nào bổ sung hướng tiếp cận này để có một cái nhìn đa dạng hơn về điển cố, bên cạnh quan niệm truyền thống về điển vốn chịu ảnh hưởng của tu từ học Trung Hoa Trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần, điển cố có vai trò quan trọng trong việc truyền tải các hàm ý triết học – tôn giáo nhà Phật Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đề cập đến điều này, nhưng hiện vẫn chưa có công trình nào đi sâu bàn giải Nhìn từ góc
độ liên văn bản, đâu là đặc trưng của điển cố Thiền trong nguồn điển? Đặc trưng đó được phát huy như thế nào trong văn cảnh của mỗi bài thơ Thiền và đưa lại hiệu quả gì cho ý nghĩa mỗi tác phẩm? Những vấn đề còn bỏ ngỏ đó là lí do để chúng tôi lựa chọn
Trang 7đề tài luận văn của mình, với hy vọng đặt một góc nhìn khác vào điển cố trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần
2 Lịch sử vấn đề
2.1.Nghiên cứu điển cố văn học trung đại Việt Nam
Điển cố trong thơ văn dân tộc đã xuất hiện từ lâu nhưng việc nghiên cứu về điển thì chỉ mới xuất hiện trong thế kỷ XX Thời trung đại, trong môi trường sáng tác đòi hỏi viện dẫn điển là điều quá ư hiển nhiên, các nhà văn nhà thơ ít chú ý đến việc nghiên cứu và làm chú thích về điển cố, chỉ bình phẩm, thưởng ngoạn về điển một cách
ít ỏi trong các lời bàn luận về văn chương
Sang thế kỉ XX, khi nền Hán học suy tàn, văn học chuyển sang dùng chữ quốc ngữ làm phương tiện sáng tác, thì ý thức tìm hiểu, nghiên cứu điển cố mới thực sự trỗi dậy, đánh dấu trước hết bằng việc biên soạn các cuốn từ điển công cụ chú giải về điển
cố Trước 1945 có cuốn Từ điển văn liệu (Á Châu, Hà Nội, 1941) của Long Điền Nguyễn Văn Minh và cuốn Tầm nguyên từ điển (Quốc học thư xã, Hà Nội, 1941) của
Lê Văn Hòe Sau 1945, đặc biệt khoảng ba mươi năm lại đây, các cuốn từ điển công cụ kiểu này xuất hiện rất nhiều phục vụ nhu cầu tra cứu của đông đảo độc giả vốn càng
ngày càng ít hiểu biết về Hán học, có thể kể đến: Điển cố văn học (Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb Văn học 1977), Từ điển từ ngữ tầm nguyên (Bửu Kế, Nxb Thuận Hóa 2000), Điển hay tích lạ (Nguyễn Tử Quang, Sài Gòn, Khai Trí, 1974, Nxb Trẻ tái bản 1995), Điển tích chọn lọc (Mộng Bình Sơn, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1989), Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hóa, 1994), Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc (Lê Huy Tiêu biên soạn, Nxb KHXH, 1993), Ngữ liệu văn học (Đặng Đức Siêu, 1998), Từ điển điển cố văn học trong nhà trường (Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện, Nxb Giáo dục, 1998), Từ ngữ điển cố văn học (Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, Nxb Văn học 1999), Điển tích truyện Kiều (Nguyễn Tử
Quang, Nxb Văn hóa thông tin, 2003)…Tuy số lượng sách nhiều nhưng có thể đưa ra một nhận xét chung là ở Việt Nam vẫn chưa có một cuốn từ điển điển cố thật sự Trong
Trang 8các công trình kể trên, phần lớn điển cố, điển tích bị nằm lẫn trong hệ thống ngữ liệu
Hán học nói chung Ngay các từ điển có tiêu đề “điển cố” như Điển cố văn học [24] của Đinh Gia Khánh, Từ điển điển cố văn học trong nhà trường [49] của Nguyễn Ngọc
San cũng không hoàn toàn là các cuốn sách công cụ về điển cố, bởi có vô số khái niệm,
thuật ngữ vốn không phải là điển cũng được đem vào như: Pháp giới, Cam lộ, Bát nhã, Ngũ đế, Tam tòng, Nghiệp…Điều này cho thấy một số tác giả vẫn chưa rạch ròi trong
việc nhận diện điển, chưa đưa ra những nội hàm để xác định một khái niệm điển cố khả
dĩ sử dụng được
Bổ sung cho điều này, trong các công trình và các bài viết, các nhà nghiên cứu đều cố gắng đưa ra một quan niệm về điển cố nhằm cô lập điển cố khỏi các đơn vị
ngôn ngữ khác được dùng làm ngữ liệu văn chương Cuốn Ngữ liệu văn học [51] của
Đặng Đức Siêu định nghĩa điển cố là “chuyện cũ người xưa được rút gọn lại thành đôi
ba chữ nhằm dẫn lại trong văn thơ để biến những chuyện xưa người cũ ấy phục vụ cho
mục đích, ý đồ của người sáng tác” [51,15] Nguyễn Ngọc San trong lời nói đầu Từ điển điển cố văn học trong nhà trường [49] cũng quan niệm tương tự: “Điển cố là viết
gọn truyện cũ lời xưa thành đôi ba chữ để đưa vào văn chương, làm cho các câu văn hàm súc ngắn gọn, lời ít ý nhiều” [49,3]
Nguyễn Thúy Hồng với bài viết Việc sử dụng điển cố Hán học trong “Chinh phụ ngâm” [18] định nghĩa điển cố trên hai phương diện hình thức và nội dung: về hình
thức “điển cố Hán học thường là các ngữ Hán Việt cố định (…) hoặc là các ngữ cố định mà màu sắc Hán Việt còn rất đậm”, về nội dung “các điển cố Hán học là sự đúc kết các truyện cũ tích xưa, các bài học thế sự nhân tâm Trung Quốc được ghi chép trong các thư tịch trước tác Hán học Việc sử dụng điển cố Hán học có tác dụng gia tăng tính hàm súc, ý ở ngoài lời cho văn bản văn học nhờ sự liên tưởng của độc giả tới nội dung điển cố” [18,44]
Về phương thức sử dụng điển cố, có thể thấy các định nghĩa thường gặp nhau trong việc phân chia điển cố thành hai loại là “dùng điển” và “dùng chữ” “Dùng điển”
Trang 9tức dùng câu chuyện, tích chuyện, còn “dùng chữ” là dùng lời nói, câu chữ nổi tiếng
Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường trong Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX [7] coi điển cố “không phải là trích dẫn nguyên văn, mà là lối dùng
lại vài chữ (…) Lối này được gọi chung là dùng điển cố, bao gồm phép dùng điển và
dùng chữ” [7,142-143] Trong Tìm hiểu điển tích truyện Kiều [47], Phạm Đan Quế
gộp chung hai phương thức này thành một từ là “điển chữ” tương đương với điển cố:
“Trong văn chương, điển, chữ giúp cho ngôn ngữ và hình tượng văn học sinh động
hẳn lên (…) Trong tu từ học, điển chữ được gọi là những dẫn ngữ (allusion)” [47,6]
Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên trong Từ ngữ điển cố văn học [44] xem dùng
điển là “cách mượn những điển tích, những chữ sách” [44,19] Thực ra cách gọi này
đã có từ trước Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm đã chia điển cố thành
hai phép là “dùng điển” và “lấy chữ”, trong đó “dùng điển ám chỉ đến việc cũ tích xưa
khiến cho người đọc nhớ đến việc ấy, tích ấy mới hiểu ý nghĩa và vấn đề lý thú trong
câu văn”, còn “lấy chữ là mượn một vài chữ trong câu thơ và câu văn cổ để đặt vào
câu văn của mình, khiến cho người đọc phải nhớ đến câu thơ hoặc câu văn kia mới
hiểu được cái ý mình muốn nói” [36,183-186] Lê Văn Hòe trong Chữ nghĩa truyện Kiều [17] dùng chữ “điển cố” và “chữ sách” để chỉ cách phân chia này: “Từ Nguyễn
Văn Vĩnh, Bùi Khánh Vĩnh, tới Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim và thi sĩ Tản Đà, có thể nói
hết thảy các nhà chú giải đều chỉ chú trọng đến các điển cố và chữ sách” [16,6] Triệu
Hữu Lập trong lời tựa cho cuốn Từ điển văn liệu [42] của Long Điền Nguyễn Văn
Minh cũng sử dụng khái niệm “dùng chữ” và “dùng điển” trỏ việc vận dụng điển cố:
“Người ta làm văn tất cũng phải có văn liệu, nghĩa là phải dùng chữ, dùng điển ở
trong Ngũ kinh, Tứ thư, chư sử, các chuyện, để phụ diễn ra thành văn, thì lời văn mới hay mới đẹp, lời nói châu ngọc hàng hàng gấm thêu” [41,7]
Trong một số phân tích khác, cũng có tác giả chú trọng hơn về một trong hai
phương thức này Nguyễn Khắc Phi trong bài viết “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn và thơ ca cổ điển Trung Quốc [45] đã dùng khái niệm “điển thơ”, “điển chữ” (tác
Trang 10giả phân biệt “điển thơ”, “điển chữ” với “điển chuyện”) khi tập trung phân tích hệ
thống vay mượn thơ ca cổ điển Trung Hoa trong nguyên tác Chinh phụ ngâm [45,118]
“Điển thơ” hay “điển chữ” tức là lối dùng chữ, nhưng không phải chữ trong kinh sách
mà lấy từ trong thơ ca cổ điển Còn Phan Khôi trong bài báo Sự dùng điển trong thơ văn và sự chú thích [25], trong khi bác lại quan niệm của Dương Quảng Hàm về điển,
đã nghiêng về lối “dùng điển” Phan Khôi cho rằng nội hàm chặt chẽ nhất của điển cố chính là lối “dùng điển”, tức là “khiến việc”, dùng “sự tích xưa” chứ không phải là “lời nói”, là “lấy chữ” Nếu bao gộp lối lấy chữ vào thì điển được hiểu theo cả nghĩa rộng [25,243] Bài báo sắc sảo của Phan Khôi đã đặt ra một xác định rất đáng để xem xét, giúp chúng ta xâu chuỗi các hình dung chung về điển với nhau
Bênh cạnh các định nghĩa chung nói trên còn có một số quan niệm nhận diện điển
cố ở các khía cạnh chuyên biệt hơn, liên quan đến ý nghĩa biểu trưng và ẩn dụ của điển
Trong Ngôn ngữ thơ [3], đặt điển cố trong tương quan so sánh với các yếu tố của hệ
thống chuyển nghĩa có tính ẩn dụ (gồm so sánh, ẩn dụ, điển cố), Nguyễn Phan Cảnh định nghĩa: “Đẩy hết các tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa về phía cực đối lập – nghĩa
là tổ chức cho chỉ tín hiệu kêu gọi là xuất hiện trên thông báo, còn tín hiệu được kêu gọi thì không những tiềm tàng trong mã mà còn chỉ có thể được liên tưởng với điều kiện là phải có sự tích lũy văn học nhất định về phía người đọc, chúng ta sẽ có điển tích” [3,99] Trong định nghĩa này, “tín hiệu kêu gọi xuất hiện trên thông báo” tức là dấu hiệu nhận diện điển cố trong văn bản thơ, còn “tín hiệu được kêu gọi tiềm tàng trong mã” tức là nguồn điển qua bề dày thời gian được mã hóa một ý nghĩa tượng trưng
ẩn dụ nào đó
Cuốn Cấu trúc thơ [26] của Thụy Khuê cũng đặt điển cố làm một tập con của ẩn
dụ (ẩn dụ gồm ba phương thức: cắt gọt, thay thế, điển cố) Khẳng định điển cố cũng là một “hình thức tu từ có tính cách ẩn dụ”, tác giả chia điển cố thành hai loại: điển cố trực tiếp (hay điển cố từ chương) và điển cố gián tiếp (hay điển cố phân hóa) Điển cố trực tiếp là “thay thế cách diễn đạt thông thường bằng một từ ngữ, một câu hay một sự
Trang 11việc chép trong sách xưa mà không chế biến gì”, còn điển cố gián tiếp là “dùng một câu văn hay một sự việc chép trong sách rồi chế biến thành của mình” [26,30]
Bài viết Tìm hiểu giá trị và cấu trúc điển cố qua các tác phẩm Nôm [48] của
Nguyễn Ngọc San phân tách hai cấp độ nghĩa của điển cố có: nghĩa lịch sử cụ thể và nghĩa biểu trưng Nghĩa lịch sử cụ thể biểu đạt “cái hiện thực nằm trong từ ngữ” Nghĩa biểu trưng hay nghĩa phong cách học là “nghĩa mới nằm bên ngoài bản thân các từ ngữ, được tư duy trừu tượng dẫn xuất ra, tức là ngoài ý nghĩa hiện thực, chúng còn có thêm một ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa giá trị phong cách Ý nghĩa này nằm ngoài các từ ngữ, được nảy sinh ra do sự đan xen giữa dòng biểu đạt với sự liên tưởng tới một dòng biểu đạt cũ mà “từ ngữ mượn - điển cố” này gọi ra” [48,34]
Phần phân tích ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Du trong Thi pháp Truyện Kiều
[53] Trần Đình Sử có phân biệt điển cố văn học với việc kê cổ, dẫn kinh, dẫn sách Trần Đình Sử cho rằng kê cổ, dẫn kinh, dẫn sách nhằm mục đích nói lý trong việc chứ không phải nói tình, ý nghĩa nằm ở lời nghị luận chứ không phải hình tượng Ngược lại, điển cố văn học nhắc đến điển để nói tình trong việc Dùng điển với tư cách là một biện pháp tu từ chỉ khi “điển cố phải trở thành hình tượng hoán dụ, ẩn dụ hay tượng trưng mới là điển cố văn học” [53,291]
Có thể thấy, khác với các định nghĩa chung, quan niệm điển cố của Nguyễn Phan Cảnh, Thụy Khuê, Nguyễn Ngọc San, Trần Đình Sử đặc biệt quan tâm đến giá trị
ẩn dụ, biểu trưng của điển cố Chính giá trị đó khiến một điển cố trở thành điển thật sự, tức là có ý nghĩa tu từ và mang tính hình tượng, phân biệt với một trích dẫn khuôn sáo chỉ nhằm khoe sách vở uyên bác
Nghiên cứu điển cố ở Việt Nam được triển khai một cách có hệ thống hơn cả là
hai luận án tiến sĩ: Nghệ thuật sử dụng điển cố trong truyện thơ và ngâm khúc cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX [36] của Đoàn Ánh Loan và Điển cố với các nội hàm ngôn ngữ
và văn hóa của chúng (Trên cứ liệu điển cố Nga, Anh, Việt) [63] của Nguyễn Văn
Thành
Trang 12Với phần khái quát về điển cố trong luận án của mình, Đoàn Ánh Loan đã tổng hợp lại các nghiên cứu ở dạng khái quát về điển cố ở Trung Quốc và Việt Nam đi từ định nghĩa, nguồn gốc đến mục đích sử dụng và tính chất của điển cố Bên cạnh đưa ra một định nghĩa chung, thường gặp về điển cố, tác giả còn nhấn mạnh điển cố với tư cách là một biện pháp tu từ, điển cố được xem là “một đơn vị mở trong hệ thống ẩn dụ mang tính chất và ý nghĩa đặc biệt” [36,49] Nhìn từ vị thế người tiếp nhận tác phẩm có điển cố, Đoàn Ánh Loan đề cập đến khả năng liên tưởng, gợi mở của điển cố: “Điển cố giúp người đọc hiểu được giá trị câu thơ thông qua hồi ức, tưởng tượng, liên tưởng và khả năng gợi mở Quá trình tiếp nhận câu thơ có điển cố là quá trình từ vỏ từ ngữ qua khúc xạ tâm lý trở về câu chuyện (thơ văn) quá khứ, chuyển hóa thành hình ảnh chủ
quan của người tiếp nhận” [36,49] Trong mục Tính chất của điển cố, tác giả chia điển
cố thành hai lớp nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Cách chia này tương tự như Nguyễn Ngọc San Tác giả cho rằng nghĩa đen là nghĩa nhiều hình tượng, cụ thể sinh động, còn nghĩa bóng là nghĩa mang tính khái quát, trừu tượng, có khi đa dạng, nhiều màu sắc biểu cảm Sử dụng điển cố là sự kết hợp giữa hai lớp nghĩa này: “Dùng nghĩa đen làm phương tiện biểu đạt, dùng nghĩa bóng làm nội dung ý nghĩa, mục đích biểu trưng và sau đó thể hiện thái độ của người sử dụng” [36,51] Có thể nhận thấy điểm nhấn của luận án Đoàn Ánh Loan là chú trọng vào tính liên tưởng, cụ thể, hình tượng của điển, điển có ý nghĩa tượng trưng trong một tương quan so sánh mở
Luận án của Nguyễn Văn Thành nhìn điển chủ yếu dưới góc độ ngôn ngữ học Tác giả đã tiến hành so sánh điển cố với các đơn vị ngôn ngữ khác là thành ngữ, tục ngữ, cách ngôn, đặc biệt là với thành ngữ Tác giả cho rằng nếu như thành ngữ là đơn
vị cấu trúc ngôn ngữ, tức là tồn tại sẵn có trong từ vựng, được cộng đồng dùng nguyên vẹn trong giao tiếp, thì điển cố là một đơn vị sử dụng, tức là không có hình thức cố định, có thể là từ, cụm từ hoặc câu Tác giả đưa ra một đĩnh nghĩa chung về điển cố trên cơ sở kế thừa nhiều nhà nghiên cứu, nhưng đặc biệt nhấn mạnh đến tính xuất xứ của điển, điển nào cũng có nguồn gốc trong sách xưa thuộc về văn chương kinh bổn,
Trang 13hoặc các sự kiện từng diễn ra trong lịch sử con người; và điều này là tiêu chí nhận diện hàng đầu của điển cố trong đối sánh với các đơn vị ngôn ngữ khác Tác giả đi sâu vào phân tích cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của điển Trong cấu trúc ngữ nghĩa, điểm nhấn của luận án là chia tách hai lớp nghĩa điển cố thành nghĩa lịch sử cụ thể (hay nghĩa từ nguyên, nghĩa nguyên thủy) và nghĩa biểu trưng (hay nghĩa biểu niệm) Nghĩa biểu trưng được hình thành thông qua nội dung ẩn dụ, hoán dụ và phúng dụ của điển Đây là các phương tiện tu từ ngữ nghĩa của điển làm nên tính võ đoán đặc biệt của nội dung điển cố Luận án Nguyễn Văn Thành thiếu đi phần mô tả quan niệm của Trung Quốc về điển, nhưng lại phân tích rất kĩ nội dung và hình thức của điển, nhất là phương diện tu từ tạo nên giá trị kí hiệu học của nó
Như vậy, các nhà nghiên cứu đều cố gắng xác lập một nội hàm điển cố nhằm khu biệt điển với các hình thức dẫn văn liệu thi liệu khác Các tác giả đều thống nhất cho rằng điển cố là những câu chuyện và từ ngữ lấy ra từ các nguồn sách vở xác định của quá khứ, được viết cô đọng, hàm súc trong văn bản hiện tại nhằm mục đích chuyển tải quan niệm của người sáng tác Điển cố được dẫn dụng trong thơ văn bao gồm hai phương thức: dùng điển và dùng chữ Dùng điển là viện dẫn sự kiện câu chuyện nổi tiếng, còn dùng chữ là trích dẫn các đoạn văn, đoạn thơ, lời nói có giá trị trong các văn bản kinh điển hoặc trong các tác phẩm thơ văn Một số tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến tính biểu trưng, tượng trưng, khái quát của điển cố được hình thành thông qua các biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ giàu tính liên tưởng, hình tượng, linh động Đây là những gợi dẫn quan trọng bước đầu để luận văn nhận diện điển cố Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu dường như vẫn chỉ tập trung vào tự thân điển cố, tức là điển cố với nguồn văn bản của nó, ý nghĩa biểu trưng của điển qua thời gian mà chưa chú trọng đến tính tương tác giữa văn bản nguồn và văn bản dẫn điển, quan hệ giữa trạng huống của nguồn điển và trạng huống của tác phẩm hiện tại, tức là quan hệ liên văn bản giữa cá nhân và truyền thống mà qua đó cấp độ nghĩa hàm chỉ của tác phẩm được thể hiện Mối tương liên
Trang 14động giữa hệ thống giá trị văn hóa và chủ ý của văn bản hiện tại chưa thực sự được chú trọng
2.2.Nghiên cứu điển cố trong thơ ca Phật giáo thời Lý Trần
Trong các nghiên cứu về văn học, triết học, lịch sử, mảng thơ ca Phật giáo thời
Lý Trần chủ yếu được quan tâm nhiều ở khía cạnh nội dung, khía cạnh mĩ học hơn là khía cạnh hình thức Bình diện ngôn ngữ ít khi được tách riêng mà thường gộp chung với tư cách là một phần “diện mạo, đặc điểm” hay “đặc trưng nghệ thuật” nói chung của thơ ca Phật giáo, hoặc rộng hơn là của văn học Phật giáo thời Lý Trần Và đây đó khi phân tích, nhận xét ngôn ngữ thơ ca, một số nhà nghiên cứu đã có quan tâm đến số lượng và đặc điểm của hệ thống điển cố thơ ca Phật giáo giai đoạn này
Công trình có đề cập đến điển cố thơ ca Phật giáo Lý Trần đáng kể hơn cả là luận
án Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ X – thế kỷ
XV [65] của Đoàn Thị Thu Vân Phần trình bày về điển cố nằm trong mục Ngôn ngữ thơ Thiền Tác giả cho rằng bên cạnh các thuật ngữ, các hình ảnh ẩn dụ, thơ Thiền Lý
Trần còn “sử dụng vô số điển cố Phật giáo” [65,53] Tác giả thống kê tên các điển cố kèm theo nguồn của chúng, được xếp theo ba loại chính: điển thuộc kinh sách nhà Phật, điển thuộc kinh sách Nho gia, Lão Trang, và điển từ các nguồn tài liệu sách vở khác Tuy nhiên Đoàn Thị Thu Vân chỉ liệt kê mà không đưa ra các nhận xét về hình thức, nội dung cũng như vai trò của điển trong việc truyền tải thông điệp Phật học đối với các bài thơ Thiền Hơn nữa, việc tách hẳn ẩn dụ và điển cố thành hai mục, tuy tiện cho cấu trúc luận án, nhưng vô hình trung đã bỏ qua nội dung có tính ẩn dụ trong các điển cố vốn giàu hình tượng, liên tưởng
Công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần – Diện mạo và đặc điểm [39] của
Nguyễn Công Lý cũng đề cập đến điển cố, nhưng là điển cố trong văn học Phật giáo
Lý Trần nói chung Phần nhận xét về ngôn ngữ, tác giả cho rằng ngoài việc sử dụng các khái niệm, phạm trù triết lý Thiền, sử dụng những ẩn dụ với tính ước lệ hóa, sử dụng hình ảnh mang tính nghịch ngữ, phi logic, văn học thời kỳ này “còn ưa sử dụng
Trang 15điển cố” [39,269] Tác giả chỉ đưa ra một khái quát ngắn gọn về các nguồn điển và một nhận xét tổng quát về ý nghĩa của điển cố: “Văn học Phật giáo Lý Trần nếu sử dụng điển cố nhà Phật nhằm mục đích khơi gợi người học đạo giác ngộ chân lý thì việc dùng điển cố từ nguồn kinh sách của Nho – Lão, đặc biệt là của Lão – Trang, đã cho thấy sự gần gũi tương đồng giữa Thiền học và Đạo học Đồng thời những điển cố từ những kinh sách trên là những điển cố giàu hình ảnh đã góp phần gợi cảm hứng sâu sắc cho Thiền gia” [39,169]
Cuốn Thơ Thiền Việt Nam – Những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật [20]
của Nguyễn Phạm Hùng không giành một mục nhỏ nào bàn về điển cố, các nhận xét về điển chỉ lác đác kèm theo nhận xét về nguồn thi liệu của thơ Thiền Tác giả cho rằng điển Phật giáo trong thơ Thiền nằm trong hệ thống “từ nhà Phật” làm nên đặc trưng của
bộ phận thơ ca này: “Thơ Thiền phân biệt với thơ ca khác ở lớp từ ngữ nhà Phật, ở các điển tích, điển cố, các hình ảnh thi ca gắn bó với Phật giáo (…) Từ nhà Phật là bộ phận cấu thành quan trọng của thơ Thiền” [20,38] Phân tích tác phẩm Trần Thái Tông tác giả nhấn mạnh tới các phạm trù cơ bản của Phật lý, hay những quan niệm, truyền thống sáng tác văn học Thiền “được dẫn ra từ Phật điển, Phật thoại” [20,144] Bình
luận về Thượng sĩ ngữ lục, tác giả cũng lưu ý việc Tuệ Trung thượng sĩ “sử dụng nhiều
từ ngữ, hình ảnh, điển tích, điển cố Phật giáo” [20,159]
Lê Thị Thanh Tâm trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu so sánh thơ Thiền Lý Trần Việt Nam và thơ Thiền Đường Tống [56] cũng có nhận xét nhỏ nhắc đến điển cố:
“Nghệ thuật thơ Thiền thể hiện ở thể thức ngôn ngữ ẩn dụ của tôn giáo và thơ ca, ở phương thức tiếp nhận điển cố, điển tích thuộc các hệ tư tưởng lỗi lạc nhất Trung Hoa
và Ấn Độ” [56,32] Phần cốt lõi của luận án là đi sâu vào phân tích các biểu tượng Thiền học trong thơ Thiền Lý Trần và Đường Tống và dòng ảnh hưởng một chiều các biểu tượng Thiền này từ Trung Quốc sang Việt Nam Hệ thống thi liệu này rất hữu ích trong đối sánh tương đồng và khác biệt với các điển cố Phật học
Trang 16Phạm Tú Châu trong bài viết Xác định tính chất và bối cảnh ra đời bài “Cảm xúc khi đọc „Phật sự đại minh lục‟” của Trần Thánh Tông [8] có đề cập tới hình thức
thơ vịnh công án qua nghiên cứu xuất xứ câu “Vân tại thanh thiên thủy tại bình” trong bài thơ của Trần Thánh Tông và thơ của một số tác giả khác Đây là câu nói rất nổi tiếng trong một công án về Thiền sư Dược Sơn, Trung Quốc Thực chất bài viết Phạm
Tú Châu là nghiên cứu một hình thức ảnh hưởng, vay mượn của Thiền tịch Trung Hoa đối với thơ Thiền Việt Nam Đó cũng là một hình thức điển cố khi nguồn vay mượn là một công án được xác định và câu nói của Thiền sư Dược Sơn là mấu chốt của một tích truyện về quan Thứ sử Lý Cao đi hỏi đạo Thiền sư Dược Sơn
Hoàng Văn Cảnh với luận án Tiến sĩ “Pháp bảo đàn kinh” và ảnh hưởng của nó đối với các nhà Thiền học đời Trần [2] đã có những phân tích có tính hệ thống ảnh hưởng rõ rệt của quan niệm Thiền học trong kinh Pháp bảo đàn đối với các sáng tác
Phật học của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông và Tuệ Trung thượng sĩ Tuy không đề
cập đến điển cố nhưng việc phân tích các dấu ấn ảnh hưởng của Pháp bảo đàn kinh về
nội dung (quan niệm về tự tính, về tọa Thiền) và ngôn ngữ (các cụm từ đặc hữu của kinh như “bản lai diện mục”, “minh tâm kiến tính”…) trong sáng tác các nhà Phật học đời Trần rất gợi dẫn cho người nghiên cứu suy ngẫm về sự hiện diện những trích dẫn từ các nguồn điển nổi tiếng trong thơ ca Phật giáo Bản thân những cụm từ như “bản lai diện mục” vốn là một điển cố tồn tại dưới dạng thành ngữ Phật học có xuất xứ là cuộc đối đáp giữa Thượng tọa Minh và Huệ Năng về Phật tính, tự tính được chép trong
Pháp bảo đàn kinh
Như vậy, điển cố trong thơ ca Phật giáo Lý Trần đã được để ý ở một chừng mực nào đó Các tác giả chủ yếu vẫn đặt điển trong hệ thống ảnh hưởng vay mượn Thiền tịch Trung Hoa với một hình dung chung, có tính gợi dẫn, gợi ý mà chưa tách điển ra thành một chủ đề nghiên cứu độc lập, để đánh giá ý nghĩa của điển đối với thơ Phật giáo giai đoạn này
Trang 173 Định hướng của luận văn
- Luận văn sẽ đưa ra một cách nhìn chung về điển làm tiền đề trước khi lựa chọn cách hiểu về điển cố của các tác giả gốc Hoa chịu ảnh hưởng của phương Tây, nhất là quan
niệm của Peng Enhua Edward (Luận án Vai trò của điển cố trong thơ ca cổ điển Trung Hoa) [69], của Liu Wan (Luận án Thi pháp của điển cố: Đỗ Phủ, Lý Thương Ẩn, Ezra Pound và T.S Eliot) [72] và của Teresa Yee-Wah Yu (Luận án Lý Thương Ẩn: Thơ ca của điển cố) [75] Qua tổng hợp và phân tích các quan điểm nghiên cứu, tập trung nhất
là công trình của Liu Wan, luận văn coi điển cố như một hoạt động liên văn bản được đặc trưng bởi hệ thống các khung dẫn chiếu kép, hàm ẩn giữa văn bản trích dẫn và văn bản được trích dẫn Ý nghĩa của điển cố vừa phụ thuộc vào các hàm nghĩa biểu trưng trong nguồn điển, vừa phụ thuộc vào môi trường văn cảnh mà nguồn điển được chuyển hóa, chỉnh sửa để tương thích với cấu trúc hình thức cũng như hàm ý của bài thơ hiện tại Trong hoạt động tương tác với văn cảnh, giá trị ẩn dụ biểu trưng của điển được phát huy, đem đến cho bài thơ một trạng huống gợi mở, sống động
- Với một cách hiểu tương đối nhất quán về điển cố, nhiệm vụ chính của luận văn là chỉ ra một số đặc điểm của điển cố trong thơ ca Phật giáo Lý Trần: nguồn điển, các dấu hiệu nhận diện điển, các phương thức dẫn điển, sự hiện diện của điển trong tương quan với văn cảnh bài thơ Thiền và nội dung ẩn dụ đặc biệt của nguồn trích dẫn điển cố Thiền thể hiện trong các bài thơ
- Khái niệm thơ ca Phật giáo mà luận văn dùng có nội hàm rộng hơn khái niệm thơ Thiền, nhưng lấy thơ Thiền làm bộ phận quan trọng nhất, tinh hoa nhất Thơ Thiền chỉ thơ ca chịu ảnh hưởng của một dòng phái Phật giáo độc đáo, in đậm dấu ấn phong cách
và có ảnh hưởng rộng rãi bậc nhất ở Trung Quốc và Việt Nam Tuy nhiên dấu hiệu ngôn ngữ Thiền học lại chủ yếu được hòa lẫn trong hệ thống ngôn ngữ chịu ảnh hưởng của Phật giáo nói chung Bởi vậy khái niệm thơ Thiền và thơ ca Phật giáo nhiều lúc được dùng thay thế nhau
Trang 18Thơ ca Phật giáo ở đây chỉ chung bộ phận thơ kệ Thiền, sự bao hàm này là kết quả tất yếu của mối quan hệ mật thiết giữa hai loại hình văn học và tôn giáo, giữa chức
năng thơ ca với chức năng nói Pháp thể hiện trong thơ nhà Phật giai đoạn này Theo
đó, thơ Thiền Lý Trần bao gồm nhiều nhiều hình thức: thơ kệ đứng độc lập, phần thơ trong các ngữ lục vấn đáp, kệ trong các tiểu truyện Thiền sư, kệ thơ trong phú, các bài minh trong văn bia
- Tác phẩm Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung thượng sĩ là trường hợp nghiên cứu tiêu
biểu nhất để tìm hiểu hoạt động liên văn bản của điển cố trong thơ ca Phật giáo giai đoạn này Có ba lí do cho sự lựa chọn này: thứ nhất, thơ Tuệ Trung là thơ dẫn nhiều điển cố nhất trong các tác giả thời Lý Trần; thứ hai, thơ Tuệ Trung thể hiện một cách đầy đủ và sâu sắc các phương diện triết học Thiền trong thơ thời Lý Trần, có thể coi ông là một trong các khuôn mặt đại diện cho thơ Thiền giai đoạn này xét về phương diện nội dung tư tưởng Thiền trong thơ; và thứ ba, thơ Tuệ Trung là thơ có phong cách
và giọng điệu tác giả rõ rệt nhất, cho thấy dấu ấn bản ngã độc đáo trong cả các bài thơ Thiền thuần túy lẫn các bài thơ đan xen Thiền và các yếu tố Lão Trang và Nho, do đó việc viện dẫn điển cố trong thơ ông không hề câu nệ mà rất uyển chuyển, hoạt dụng
4 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu: Với đối tượng nghiên cứu là điển cố, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân loại qua đó dựng lại diện mạo chung của điển trước khi đi vào phân tích ý nghĩa của chúng trong các bài thơ
Luận văn cũng sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu nhằm đặt điển cố trong các hệ thống tương cận như ẩn dụ, liên văn bản Đối chiếu so sánh cũng cần thiết khi nhận diện điển trong tương quan với nguồn trích dẫn của chúng
Cuối cùng luận văn dùng phương pháp phân tích, tổng hợp để bình luận, đánh giá tác dụng và hiệu quả truyền đạt ý nghĩa Phật học của các điển cố khi được trích dẫn trong các bài thơ
Trang 194.2 Phạm vi tư liệu: Để khảo sát điển cố trong thơ ca Phật giáo Lý Trần, luận văn căn
cứ chủ yếu vào Thơ văn Lý Trần tập I [9] và Thơ văn Lý Trần tập II, quyển thượng
[10] Ngoài ra còn một số tài liệu tham chiếu khác được sử dụng khi tìm thêm các chú
thích mà các soạn giả Thơ văn Lý Trần chưa tra cứu hết, đặc biệt là về thơ của Tuệ
Trung thượng sĩ
5 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần: Phần Mở đầu, phần Nội dung và phần Kết luận Phần Nội dung của luận văn chia làm ba chương như sau:
Chương I: Quan niệm về dụng điển trong truyền thống và trong các nghiên cứu chịu ảnh hưởng phương Tây
Chương II: Diện mạo chung của điển cố trong thơ ca Phật giáo Lý Trần
Chương III: Dụng điển trong thơ văn Lý Trần nhìn qua trước tác của Tuệ Trung thượng
sĩ
Trang 20PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ DỤNG ĐIỂN TRONG TRUYỀN THỐNG VÀ TRONG CÁC NGHIÊN CỨU CHỊU ẢNH HƯỞNG PHƯƠNG TÂY
1.1.Điển cố nhìn từ truyền thống
1.1.1.Khái niệm và tên gọi
Trước khi đưa ra một quan niệm chung về điển cố thống nhất cho luận văn và đi vào các nội dung nghiên cứu điển cố trong truyền thống, cần xem xét một số định
nghĩa điển cố của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại Lời tựa cho cuốn Trung Quốc điển cố đại từ điển đưa ra định nghĩa điển cố: “Điển cố văn học trong Hán ngữ
bắt nguồn từ trong điển tịch thời cổ, được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm văn học lịch đại, chuẩn tắc của điển cố được khu biệt bởi lớp từ ngữ đặc thù hoặc các câu chuyện thời cổ dưới dạng những từ ngữ cổ hoặc thành ngữ cổ quen thuộc” [81,14] Tác
giả Ngô Lễ Quyền trong công trình Tâm lý học tu từ xác định điển cố “là một thủ pháp
tu từ viện dẫn các câu chuyện lịch sử thời xưa hoặc các từ ngữ có xuất xứ để phát ngôn
và trước tác” [82,18] Trong mục Điển cố là gì mở đầu cuốn Dụng điển nghiên cứu
[83] tác giả La Tích Dũng cũng nêu lên một định nghĩa ngắn gọn: “Nhằm phục vụ cho
mục đích tu từ nhất định, các tác phẩm thường trực tiếp hay gián tiếp viện dẫn những câu chuyện thời xưa hoặc những thành ngữ có lai lịch, thủ pháp đó gọi là dụng điển”
[83,2]
Có thể thấy các định nghĩa trên đều thống nhất với cách hình dung khái quát về
điển cố của các nhà nghiên cứu Việt Nam (Đã nêu trong phần Lịch sử vấn đề) Theo
đó, một khái niệm điển cố bao giờ cũng bắt buộc có hai nội hàm: thứ nhất là tính có xuất xứ của yếu tố được viện dẫn, thứ hai là sự bao hàm hai phương thức viện dẫn - dẫn câu chuyện và dẫn từ ngữ
Trang 21Phương thức dẫn câu chuyện và dẫn từ ngữ được đề cập đầu tiên là ở thiên Sự loại, thiên bàn về dụng điển trong Văn tâm điêu long: “Muốn soi sáng cái lý thì phải
dẫn những lời có sẵn, muốn chứng tỏ việc làm hợp với chính nghĩa thì phải dẫn những việc của người đời” (Nhiên tắc minh lý dẫn hồ thành từ, trưng nghĩa cử hồ nhân sự) Ở đây, Lưu Hiệp dùng chữ “nhân sự” để chỉ phương thức dẫn câu chuyện, chữ “thành từ”
để chỉ phương thức dẫn từ ngữ Cách phân loại của Lưu Hiệp thực tế đã ảnh hưởng rộng rãi và qui định cách phân chia quen thuộc thành hai phương thức viện dẫn ở cả thời trung đại lẫn hiện đại, cả trong các nghiên cứu của Trung Quốc lẫn các nghiên cứu điển cố Hán học chịu ảnh hưởng phương Tây Tuy nhiên, có một số tác giả không thừa nhận cả hai phương thức này đều là dẫn điển Phan Khôi, James.Y.Liu và Cao Hữu Công có xu hướng không xem dẫn từ ngữ là điển cố đúng nghĩa Bởi vậy, cần phải có một xác định nội hàm thứ hai này của điển cố theo cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng Xét theo nghĩa hẹp, điển cố trong ý nghĩa chặt chẽ nhất chỉ bao hàm các câu chuyện, sự kiện quá khứ Khái niệm “cố” hoặc “sự” mà người xưa hay dùng để chỉ điển cố có nghĩa là câu chuyện, tích truyện Xét theo nghĩa rộng, điển cố bên cạnh các câu chuyện, sự kiện còn bao hàm các từ ngữ, câu chữ nổi tiếng được lấy từ các nguồn sách
vở quá khứ Các câu chữ, từ ngữ có thể là tình tiết, chi tiết thuộc về một sự kiện được trần thuật, do đó gần gũi với phương thức dẫn câu chuyện, nhưng cũng có thể là những chữ, ngữ độc lập trong các tác phẩm thơ phú nổi tiếng Tất nhiên, nhìn theo nghĩa rộng thì điển cố cũng dễ bị đồng nhất với một số hình thức trích dẫn khác, chẳng hạn các ẩn
Ở Việt Nam hai phương thức này được biểu đạt bằng những cặp từ như điển/sách, dùng điển/lấy chữ, điển cố/chữ sách, điển chuyện/điển chữ Trong các nghiên cứu Trung Quốc hiện đại cặp từ tương tự là dẫn sự/dẫn ngôn, sự điển/ngữ điển Một số tác giả phương Tây nghiên cứu điển cố Hán học cũng có cách phân chia tương tự: điển cố sự kiện (allusion of event)/điển cố khái niệm (allusion of concept) (Peng Edhua Edward), điển cố chủ đề (topic allusion)/điển cố văn bản (textual allusion) (David Lattimore) Xem chi tiết tiểu mục 1.2.1
Bài báo của Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn số 164/1932 [25] coi “lấy chữ” không nằm trong thủ pháp dụng điển James Y.Liu trong Nghệ thuật thơ ca Trung Quốc [77] tách việc dẫn từ ngữ thành phương thức trích dẫn (quotation) phân biệt với điển cố Trong bài viết Nghĩa, ẩn dụ và điển cố trong thơ Đường [78], Cao Hữu Công
chỉ khảo sát các điển cố sự kiện, không bao hàm hiện tượng dẫn từ ngữ Ý kiến của James Y.Liu và Cao Hữu Công, xem mục 1.2
Trang 22dụ và thành ngữ không có nguồn văn bản xác định Khi đó nội hàm thứ nhất của điển
là tính có xuất xứ (tác phẩm và tác giả) sẽ được áp vào để loại bỏ những hình thức trích dẫn này Trong các thao tác đối sánh nhằm khu biệt điển cố với các hình thức trích dẫn gần gũi khác, điển cố thường được thu hẹp lại nội hàm, nhấn mạnh đến yếu tố trần thuật, yếu tố có cốt truyện tích truyện của nguồn điển như là đặc trưng tiêu biểu nhất Lúc đó phương thức dẫn câu chữ từ ngữ bị đặt ngoài nội hàm điển cố, điển cố chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp của nó
Như vậy, trong cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng, với nghĩa hẹp làm đặc trưng khu biệt quan trọng nhất, điển cố là các câu chuyện và từ ngữ có xuất xứ xác định trong sách vở điển tịch thời xưa được viện dẫn trong văn bản hiện tại nhằm một mục đích
tu từ nào đấy Đây là một hình dung khái quát về điển trước khi đi vào các bình diện
sâu hơn trong các nghiên cứu truyền thống (cũng như trong các nghiên cứu phương Tây hiện đại)
Trong lịch sử tu từ học Trung Quốc, chữ “điển cố” có nhiều cách gọi, tùy theo cách vận dụng của các nhà bình luận đối với mỗi tác phẩm Theo các tài liệu Trung Quốc, khái niệm điển cố thời trung đại có tới chín cách gọi: sự, điển, cố điển, cổ điển, điển thực, cựu điển, vãng điển, cổ sự, cố thực Còn việc sử dụng điển cố cũng có tới bảy cách gọi khác nhau: dụng sự, dụng điển, sử sự, dẫn sự, lệ sự, biên sự, vận điển Trong các tên gọi này thì chữ “điển cố”, “dụng điển” và “dụng sự” là phổ biến nhất
Chữ “điển cố” có hai nghĩa Từ nguyên, Từ hải và Hán ngữ đại từ điển đều
thống nhất xác định nghĩa đầu tiên của điển cố là chỉ điển chế, khuôn phép của đời
Trong bài báo của mình, Phan Khôi cho rằng những ví dụ “lấy chữ” của Dương Quảng Hàm như “bể dâu” và câu “cờ vào tay ai nấy phất” đều không phải là điển cố bởi “bể dâu” là một ẩn dụ phổ thông, còn “cờ vào tay ai nấy phất” là thành ngữ không rõ nguồn gốc Do không nhấn mạnh vào tính có xuất xứ của thủ pháp “lấy chữ” nên Dương Quảng Hàm bị Phan Khôi phủ nhận một cách xác đáng [25,243] Cũng do không xác định rõ tính lai
lịch xuất xứ của điển nên như đã nói, cuốn Điển cố văn học của Đinh Gia Khánh đã đem vào rất nhiều từ ngữ,
thuật ngữ phi điển cố
Các nghiên cứu của một số tác giả như Peng Endhua Edward, Cao Hữu Công, Shan Chou đều coi tính có cốt truyện, có nội dung trần thuật, hay có một người “kể chuyện dấu mặt” trong điển cố là đặc trưng quan trọng nhất của điển, khu biệt điển với các biện pháp tu từ khác Hình thức dẫn câu chữ không được đưa vào phân tích Xem mục 1.2
Trang 23trước Chữ “điển cố” với nghĩa này xuất hiện sớm nhất là trong thiên Đông Bình Tân vương Thương truyện sách Hậu Hán thư: “Bệ hạ với bậc chí tôn thì cúi mình ngưỡng
vọng, với bề tôi thì giáng lễ; mỗi khi ban yến tiệc [cho bề tôi] thì đổi nét mặt vui vẻ, vái chào các quan trong triều, rồi dùng điển chế đời trước để bàn việc” (Quan khuất chí tôn, giáng lễ hạ thần, mỗi tứ yến kiến, chiếp hứng tịch cải dung, trung cung thân bái, sự quá điển cố) [91,291] Còn nghĩa thứ hai xuất hiện muộn hơn, mới là nghĩa điển cố với
tư cách một phương tiện tu từ học
Về việc sử dụng điển cố trong các tác phẩm thơ văn, hai thuật ngữ thường dùng nhất là “dụng điển” và “dụng sự” Chữ “dụng sự” ra đời sớm hơn rất nhiều so với chữ
“dụng điển” Tuy nhiên vì xuất hiện sớm nên chữ “dụng sự” cũng bao hàm nghĩa rộng
hơn Theo Hán ngữ đại từ điển, trước khi có nghĩa là “sử dụng điển cố”, “dụng sự” chỉ
một số hoạt động có tính lễ nghi tôn giáo hoặc chính trị Người đầu tiên dùng “dụng
sự” để chỉ một phương thức trích dẫn của trước thuật là Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long, thiên Sự loại: “Dụng sự như vậy có thể gọi là đạt được cái lí và cái nghĩa của nó
cũng giản yếu vậy Cho nên nếu nắm được cái chủ yếu, thì tuy nhỏ nhưng cũng thành nên công dụng” Gần với Lưu Hiệp nhất có nhắc đến “dụng sự” là Chung Vinh trong
Thi phẩm: “Đến như ngâm vịnh tính tình, mà cũng quý ở việc dụng sự hay sao?” và Nhan Chi Thôi trong Nhan thị gia huấn: “Văn chương của Thẩm Ước, dụng sự mà
người ta không thấy ông đang dụng, giống như từ ngữ từ trong ngực nhớ ra vậy” Từ
Chiêu Liên đời Thanh trong Khiếu đình tục lục nói rằng: “những điển cố của thời ấy như việc “Khuất Tử cạnh
độ”, “Tử An đề các” không đâu là không phổ biến” (Kỳ thời điển cố như “Khuất Tử cạnh độ”, “Tử An đề các”
chư sự, vô bất phổ nhập) [94,114] Triệu Dực đời Thanh trong Âu Bắc thi thoại phát biểu: “ngay những chuyện
tạp ngữ khôi hài mà đều có gốc tích điển cố, thì các trước thuật lưu truyền lâu đời lại há có thể biết sơ sài được sao”(Ngữ tạp khôi hài giai điển cố, lão truyền trứ thuật khởi sơ tâm) [94,114]
“Dụng sự” ban đầu có nhiều nghĩa như: chỉ việc thi hành tế lễ, chỉ việc chấp pháp hành hình, chỉ việc khởi binh,
sử dụng vũ lực, hoặc chỉ việc chấp chính đương quyền [93,1024]
Trang 24đời Đường trở đi, chữ “dụng sự” ngày càng được văn nhân dùng rộng rãi và trở thành thuật ngữ phổ biến nhất chỉ việc sử dụng điển cố trong các phẩm bình văn học
Theo tác giả Ngô Vinh Phú, chữ “dụng điển” xuất hiện đầu tiên là trong Ngọc Khê sinh thi tập tiên chú, quyển một Chiêu Túc hoàng đế vãn ca từ của Phùng Hạo đời
Thanh: “Vua Vũ Đế lừng lẫy võ công, lại dốc lòng tin tiên thuật, là ông Vũ Đế nhà Tây Hán vô tiền khoáng hậu Ba bài thơ đều dụng điển, phân nửa lấy điển về vua Vũ Đế” [79,42] Tuy nhiên trong thời trung đại người ta hiếm dùng chữ “dụng điển” mà thường dùng “dụng sự” Theo Ngô Vinh Phú, thời điểm khái niệm “dụng điển” bắt đầu được
phổ biến là sau khi Hồ Thích cho đăng bài viết Bàn về văn học cải lương trên tạp chí Tân thanh niên tháng giêng năm 1917 Trong bài viết này Hồ Thích đề ra chủ trương
“bát bất” (tám điều không nên làm), trong đó có chủ trương thứ sáu “bất dụng điển” Luận điểm của Hồ Thích sau đó được nhiều học giả đem ra thảo luận, tạo điều kiện cho khái niệm “dụng điển” phổ biến rộng rãi
1.1.2 Điển cố với truyền thống trọng lịch sử và học vấn sách vở
Dụng điển trong thơ văn là một tập quán quen thuộc để văn nhân hướng về quá khứ, đối thoại với tiền nhân và kiếm tìm các hình mẫu biểu trưng ứng chiếu cho các trạng huống hiện tại Điển cố trong ý nghĩa chung nhất không trở thành một “nỗi lo ảnh hưởng” mà luôn thường trực trong tâm thế được ảnh hưởng của người sáng tác, được thấy cổ nhân ở trong mình Lý giải cho hiện tượng này, các nhà nghiên cứu thường căn
cứ vào chủ trương “hiếu cổ”, “thuật nhi bất tác” của Nho gia Chủ trương này được thể
hiện rõ trên phương diện lý luận văn học là trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp Trong thiên Sự loại, Lưu Hiệp cho rằng việc “lấy xưa để làm chứng cho nay” vốn là
“khuôn phép của thánh nhân” Ông dẫn các thí dụ mà Kinh dịch, Kinh thư đã viện dẫn
các sự kiện thời cổ để chứng tỏ rằng sáng tác văn học là một dòng chảy khép kín, liên tục, không gián đoạn, không chỉ người đời sau trích dẫn kinh điển thánh nhân, mà ngay kinh điển cũng phải trích dẫn các sự kiện xa xưa hơn
Trang 25Do vậy khi đề cao điển cố, dụng điển, lý luận văn học nhà Nho nói riêng cũng như lý luận văn học thời trung đại nói chung đặc biệt coi trọng công phu học tập tích
lũy tri thức của người làm văn Trong thiên Sự loại, Lưu Hiệp giành riêng một đoạn
phê phán “cái bệnh của người học ít” không thấy được tầm quan trọng của tri thức
phong phú đối với sáng tác Vương Ký Đức trong Khúc luận cũng nói rằng: “Cần phải
đọc nhiều sách, phải biết nhiều điển cố thì dẫn điển mới đích xác, dụng điển mới thích hợp” [83,21] Còn Hoàng Đình Kiên đời Tống thì chủ trương “lấy tài học làm thơ” (dĩ học tài vi thi), ông cho rằng ngay cả những nhà thơ tài ba như Đỗ Phủ cũng phải nhờ tích lũy tri thức mà có được tài thơ: “Lão Đỗ làm thơ, đằng sau mỗi bài thơ không một chữ nào mà không có xuất xứ, đại để hậu nhân đọc ít sách nên cho rằng Hàn Đỗ [Hàn
Dũ và Đỗ Phủ] tự sáng tác ra những lời ấy” [87] Dễ thấy rằng trong thời trung đại, việc sáng tác thơ văn cũng như bình giá thưởng ngoạn các tác phẩm dẫn điển đòi hỏi một độ dày về tri thức lịch sử và sách vở quá khứ Hệ thống tri thức này được mặc nhận và được hợp thức hóa tạo nên nền tảng học vấn chung của đội ngũ trí thức, gồm
cả người sáng tác và người đọc văn chương Trong tiểu luận Điển cố và Đường thi
[73], David Lattimore từng nhấn mạnh vào hiện tượng mà ông gọi là tính hợp thức tập thể (corporate legitimacy) trong việc chia sẻ tri thức lịch sử được lưu giữ trong hệ thống điển cố: “Bất cứ điển cố nào cũng cho thấy một hứng thú có chủ đích thông qua việc gia cố cái cảm giác rằng tác giả và người đọc đang trong cùng một trạng thái hài hước hay ưu sầu mà “cả hai đều biết đến” Trong một cộng đồng có học vấn, được hợp thức bởi mối quan hệ của nó với quá khứ, thì việc dùng các điển cố sách vở sẽ gia cố cái cảm giác này theo một dạng thức đặc biệt (…), một cảm giác về tính hợp thức tập thể căn cứ trên một lượng lớn tri thức chung và chuyên biệt về quá khứ Trong một cộng đồng như vậy, việc đọc một bài thơ có điển cố giống như tham dự vào một nghi
lễ Người đọc tham dự khi kí ức của họ gia nhập vào kinh nghiệm thẩm mỹ, gia nhập vào sự hồi tưởng cần thiết các dẫn chiếu, minh họa cho cái mà E.H Gombrich trong
Nghệ thuật và ảo giác gọi là sự “sự chia sẻ của những kẻ dự phần” (beholder‟s share)
Trang 26trong sáng tạo nghệ thuật” [73,411] Tương tự David Lattimore, tác giả Quách Dung
trong bài viết Sự hình thành hàm nghĩa tu từ của dụng điển và việc diễn giải ý nghĩa điển cố [84] đã dùng thuật ngữ “tập thể văn hóa được đặc định” (đặc định đích văn hóa
quần thể) để chỉ môi trường sáng tạo đặc thù mà đội ngũ tri thức được thống nhất với nhau trên nền tảng kinh nghiệm chung về quá khứ Ông viết: “Là một trong những phương tiện truyền dẫn tri thức sách vở về văn học và văn hóa, lại được hun đúc trong môi trường văn hóa truyền thống coi trọng thánh nhân, điển cố đã hình thành nên các giá trị đạo đức đặc thù, xác lập nên một lối nhận thức và cảm thụ tối hàm súc trước các quá trình tâm lý và các bình giá về cảm xúc Người dùng điển, do đó, cần phải tích lũy học vấn sâu rộng uyên bác” [84,150]
Trong ý thức của văn nhân Trung Hoa, luôn có cảm giác mạnh mẽ về dòng chảy liên lục, bất đoạn của lịch sử Việc dụng điển có tác dụng đem quá khứ sống lại trong trước tác của cá nhân ở hiện tại, làm thỏa mãn khát vọng được gắn kết bản ngã với các
mô thức sự kiện và kinh nghiệm có tính cổ mẫu Trong động thái dẫn điển, bản thân nhà thơ đã gia nhập vào hệ thống giá trị văn hóa, vào các hình mẫu bất tử có tính biểu tượng, trong đó anh ta được gắn kết với các quyền uy đạo đức mà anh ta dẫn ra để đối ứng với bản ngã Dẫn ý kiến của Charles Taylor cho rằng “cảm hứng đối với sự toàn
mỹ có thể được đáp ứng qua việc (…) xây dựng một số mô thức hành động cao cả hơn, hoặc xây dựng các ý nghĩa; hoặc qua việc nối kết đời sống bản ngã với một số thực tế hoặc câu chuyện lớn lao hơn [của quá khứ]”, tác giả Liu Wan đã khẳng định tầm quan trọng của điển cố trong việc xây dựng mối liên hệ giữa quá khứ lịch sử và bản ngã trong thơ Đỗ Phủ, một hiện tượng thơ tiêu biểu cho mối quan hệ giữa cá nhân và truyền thống nhân văn Trung Hoa: “Thông qua việc truyền dẫn các giá trị văn hóa và khơi gợi
kí ức về giới trí thức thời xưa, điển cố là một công cụ qua đó Đỗ Phủ vừa xây dựng một mô thức hành động cao cả hơn vừa nối kết đời sống của ông với truyền thống nhân văn Trung Hoa vĩ đại Phóng chiếu giá trị của truyền thống nhân văn Nho gia vào thế
Trang 27giới trữ tình, các điển cố trong thơ Đỗ Phủ đã mở rộng chân trời đạo đức cho cái nhìn thơ ca” [72,86]
Như vậy có thể thấy sử dụng điển cố là một hình thức tiêu biểu cho tư duy tập
cổ và trọng lịch sử thời trung đại Nhà thơ viện dẫn điển vì anh ta luôn đặt mình trong dòng chảy liên tục của các trải nghiệm lịch sử, trong đó hiện tại vừa gián cách với quá khứ mang tính quyền uy và biểu trưng, vừa gần gũi với chính quá khứ đó, bởi trong tư duy Trung Hoa hiện tại luôn tìm kiếm cái mới trong cái cũ, trong quá khứ luôn được tiếp diễn và lặp lại
1.1.3.Động lực và hiệu quả của việc dụng điển
Được đào luyện trong môi trường học vấn kinh sử tử tập, văn nhân thời trung đại luôn có nhu cầu được phô diễn cái học từ chương sách vở, nhu cầu khoe chữ nói chữ để thể hiện sự uyên bác, từng trải, thâm thúy Dụng điển vì vậy là một phương thức qua đó văn nhân biểu lộ tri thức lịch lãm về lịch sử và văn học của mình Có không ít các điển cố khó đã cản trở việc tiếp nhận tác phẩm do nhà văn thích khoe, thích dùng điển lạ, chuyên sâu, khó tra cứu Trong các bài văn nghị luận, nhất là văn sách đình đối, người viết sử dụng điển nhan nhản, chủ yếu là các điển trong kinh sách Nho gia Điển trong văn sách thi Đình không chỉ nhằm hỗ trợ cho lập luận thêm thuyết phục logic mà còn cốt phu diễn tri thức Nho học hàn lâm để được giám khảo đánh giá cao Cũng vậy, trong các bài thơ có tính hình thức như tập cú, nhớ càng được nhiều điển thơ rồi biết vận dụng lắp ghép khéo léo chúng thành một chỉnh thể mới thì nhà thơ càng được tán thưởng bởi học vấn quảng bác, lịch duyệt của mình
Tuy nhiên, quan trọng hơn, văn nhân thích dùng điển bởi điển là một trong những hình thức nói vòng, nói tránh, nói gián tiếp thay vì phải thông báo nội dung trực tiếp trong các tình huống ý nhị Thông qua hình thức hàm súc, lời ít ý nhiều của điển
cố, nhà thơ kín đáo bày tỏ tâm sự của mình Các câu chuyện trong nguồn điển sẽ nói hộ cho nhà thơ các tâm trạng trữ tình hoặc các suy ngẫm, đánh giá trước những vấn đề
Trang 28đương thời Trong trường hợp châm biếm, trào lộng một đối tượng có quyền lực chính trị, nhà thơ bắt buộc phải dùng điển để tránh phương hại đến tính mạng
Khi được dùng một cách thích đáng, điển phát huy tác dụng của một biện pháp
tu từ làm tăng vẻ đẹp từ chương của tác phẩm thơ văn cổ điển Điển khiến ngôn từ trở nên cô đọng, hàm súc, giản ước, ý ở ngoài lời, đúng theo chuẩn mực của thi pháp cổ điển Điển giúp cho tác phẩm thêm phần thanh nhã, tinh tế, uyển chuyển, đẹp lời nhờ lối nói hàm ẩn, gián tiếp thông qua ngôn từ của tri thức và học vấn Vì có tích truyện, cốt truyện, điển dễ kích thích trong người đọc các liên tưởng, tưởng tượng tiềm tàng Khác với các đơn vị thi liệu khác như thành ngữ hay ẩn dụ truyền thống (tùng, trúc, cúc, mai) vốn cố định về nội dung và hình thức, điển là một đơn vị mở, giàu tính dẫn
dụ, kích thích, sinh động khi được tái hiện qua tưởng tượng và hồi ức của mỗi người đọc về tích truyện Nhìn chung, tùy vào văn cảnh mỗi bài thơ mà tác giả khai thác tính hàm ẩn, gián tiếp của điển để phục vụ cho mục đích của mình Hiệu quả thực sự của điển cố rốt cuộc nằm ở tính hướng đích của văn bản dẫn điển chứ không phải nhằm
khoe học vấn, sách vở Triệu Dực đời Thanh trong Âu Bắc thi thoại nói rằng: “Thơ
nhằm tả tính tình, vốn không chuyên chú vào điển cố Nhưng chuyện xưa khi đã thành điển thì một điển bản thân đã mang một ý nghĩa, tác giả mượn ý nghĩa đó để tả cái tình của mình thì tự nhiên làm tăng thêm cảm giác thâm hậu” [82,12] Tương tự Triệu Dực,
Lê Quý Đôn cũng nói đến mục đích, hiệu quả của điển khi coi dụng điển là một khâu then chốt trong quá trình sáng tạo thơ ca mang tính tuần tự và tổng hợp giữa ba yếu tố nội tâm (tình), ngoại cảnh (cảnh) và điển cố (sự): “Ta thường cho làm thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự Trong lòng có cảm xúc thật sự, rung cảm nên lời, thực tế bên ngoài gây thành ý, rồi dùng điển tích để nói việc ngày nay, chép việc xưa hay thuật chuyện hiện tại, đều tự nhiên như có thần” [57,93]
Tuy nhiên khi không được dùng một cách thích đáng thì điển lại trở nên nặng nề khuôn sáo, phản tác dụng Rất nhiều học giả đã phản đối việc lạm dụng điển cố, nhất là
với một thể loại trọng cảm xúc như thơ Chung Vinh trong Thi phẩm nói: “Những kẻ
Trang 29sáng tác đua theo mà thành thục Thế rồi câu nào cũng dùng điển, chữ nào cũng dùng điển, gò bó chắp vá, làm hại cho thơ ca quá lắm” [68,124] Một trong những quan điểm
phế truất vai trò dụng điển tiêu biểu thời trung đại là Hạo Nhiên đời Đường trong Thi thức Ông xếp thơ thành năm cách, trong đó cách thứ nhất là thơ không dẫn điển, nói cách khác đó là thơ không dựa vào lời xưa, coi tình cảm chủ quan là nhân tố quan yếu
nhất Gần gũi với quan điểm hạ thấp vai trò điển cố của Hạo Nhiên, Tề Kỷ trong Phong ngự chỉ cách cũng chia thơ làm ba cách, trong đó thượng cách là dụng ý, trung cách là dụng khí và hạ cách là dụng sự Tương tự, Giả Đảo trong Nhị nam mật chỉ chia thơ làm
ba cách: thứ nhất là tình, thứ hai là ý và thứ ba là sự (dụng điển) [89,31]
Có thể thấy, các ý kiến đều không phản đối dụng điển mà là phản đối việc lạm dụng câu nệ điển cố khiến tác phẩm đánh mất bản chất tự nhiên, sống động của tình cảm, nội tâm Khi điển cố cản trở dòng cảm xúc tự nhiên, tạo cảm giác khiên cưỡng gò
ép cho bài thơ thì dụng điển trở thành “hạ cách”, thành kĩ xảo bị cô lập khỏi “tình” và
“ý” của tác phẩm Đó là mặt trái của điển cố, đi ngược lại hiệu quả hàm ẩn, dẫn dụ, giàu liên tưởng vốn có của chúng, thứ hiệu quả khi được tổ hợp nhuần nhuyễn trong tổng thể các yếu tố của bài thơ sẽ góp phần làm bài thơ “tự nhiên như có thần” (Lê Quý Đôn) hay “tự nhiên làm tăng thêm cảm giác thâm hậu” (Triệu Dực)
1.1.4 Yêu cầu và phương thức dụng điển
Ý thức dụng điển như một khâu đoạn thường trực của sáng tác thơ, lý luận văn học Trung Hoa nói chung cũng như thi học Trung Hoa nói riêng luôn đề ra các yêu cầu dụng điển sao cho thủ pháp này phát huy và đắc dụng cho thơ Hầu hết các yêu cầu dụng điển đều coi trọng tính chủ động sáng tạo của người viết trong khả năng thoát hóa, thoát sáo khỏi cổ nhân Trước hết, khi dụng điển nhà thơ phải lấy cái tôi làm chủ (dĩ ngã vi chủ), cái tôi trong trạng thái chủ động thể hội, dung hóa hài hòa với điển, sai
Theo phân loại của Hạo Nhiên, cách thứ nhất là không dụng điển (bất dụng sự); cách thứ hai là dụng điển sáng tạo (tác dụng sự), bao gồm cả những bài thơ tuy không dụng điển nhưng không phải thơ hay; cách thứ ba là dụng điển trực tiếp (trực dụng sự), gồm cả những bài thơ không dụng điển nhưng là thơ hay; cách thứ tư là bất kể dụng điển hay không (hữu sự bất sự) thì phẩm chất thơ đều xếp dưới cách thứ ba; cách thứ năm là bất kể dụng điển hay không dụng (sự bất sự) thì vẫn là thơ dở [75,43-44]
Trang 30khiến điển chứ không bị điển cản trở ước thúc Thứ hai, dùng điển phải linh động, khéo léo, tự do như muối hòa vào nước, dùng mà như không dùng, không để lại dấu vết sách vở, điều mà các nhà thi học thường gọi là “hoạt dụng” Và thứ ba, dùng điển phải mới mẻ, tân kỳ, phụ diễn cho ý thơ hiện tại
“Thơ có sáu thức, thức thứ năm là dụng điển Dụng điển là ý của riêng mình hài hòa với điển” (Vương Xương Linh), “ngôn từ thì tựa vào điển, ý nghĩa thì không phụ thuộc điển” (Hạo Nhiên), “thi nhân há không dụng điển sao, nếu dùng khéo tức là sai khiến điển, nếu dùng không khéo thì bị điển sai khiến lại” (Ngô Hãng), “dung hóa hài hòa, như tự trong mình nói ra” (Phạm Hy Văn), “dung hóa không ngăn trở, không bị điển sai khiến” (Trương Viêm), “dùng điển phải lấy ta khiến điển, không để điển khiến ta”, “điển có thể khiến được thì dùng, đừng nên dùng gượng ép” (Hàn Câu), “dùng điển quý ở linh hoạt, dẫn thành ngữ quý ở mới mẻ, ngôn từ như tự trong mình nói ra, không để lại dấu vết đẽo gọt, như thế mới không bị cổ nhân ước thúc” (Thẩm Đức Tiềm), “Việc dụng điển trong thơ quí ở chỗ không để điển cản trở thơ Dùng điển tối nghĩa, dùng điển hời hợt, dùng nhiều điển, dùng điển cực đoan, những loại dẫn điển này đều cản trở thơ vậy” (Lưu Hy Tái), “thi nhân có thể mượn lời của người xưa nhưng đừng mượn ý, đấy mới là chỗ cao diệu nhất” (Dương Thành Trai)
“Dụng sự mà không khiến người ta thấy đang dụng, như thể lời thốt ra từ trong ngực vậy” (Nhan Chi Thôi),
“không cậy vào dụng điển mà mỗi câu đều mang điển, ấy mới là thậm khéo” (Vương Xương Linh), “làm thơ dụng sự cần phải như lời của nhà Thiền „trong nước có muối, uống nước mới biết vị của muối‟” (Đỗ Phủ), “dụng điển như trong nước có muối, chỉ biết được vị muối mà không thấy được chất muối” (Viên Mai), “dụng điển mà
cứ như mời khách ngồi rồi hỏi tên họ thì chỉ khiến người ta hoảng sợ” (Viên Mai), “người dùng điển khéo thì không bị điển sai khiến, ví như nhà Thiền nói „chuyển “Pháp hoa” chứ không bị “Pháp hoa” chuyển‟ Cái diệu của việc dụng điển là có mà như không, thực mà như hư, có thể hội ý mà không thể ngôn truyền” (Vương Thế Mậu), “dụng điển đừng để lại dấu tích mà chỉ đưa ra cái bóng thôi, tuy điển chết nhưng lại dùng linh hoạt” (Hồ Chấn Hanh), “dùng điển thì nên sai khiến tên họ của nhân vật, nên khéo léo ngỡ như không dùng thì mới đạt được chỗ thâm hậu nhất” (Thẩm Nghĩa Phu), “uyển chuyển thanh không, tung hoành biến ảo, chớ chấp vào đầu mối tiểu tiết [của điển], cốt ở thần vận dung hòa vào ngòi bút, tựa như thấm nhuần ngọt bùi, tâm khéo tự biết, khó
có thể thuật ra bằng lời” (Hồ Ứng Lân), “việc làm thơ dụng điển không để lại dấu vết mới là cao diệu, đó là điều
mà người xưa gọi là dùng điển mà như không dùng vậy” (Cố Tư Lập), “có điển cố dưới ngòi bút, sử dụng nhưng đừng để nhìn thấy dấu tích, đó mới là kẻ làm thơ” (Từ Sư Tăng), “chính dụng không giống phản dụng, minh dụng không giống ám dụng, hoặc mượn khách để nói chủ, hoặc bày hư để làm nền cho thực; điển chết nhưng dùng linh hoạt, điển quen thuộc nhưng dùng sinh động” (Chu Đình Trân), “không nên dùng nhiều điển, (…) dùng điển không nên câu nệ xuất xứ, hạ chữ quý ở âm hưởng, tạo từ quý ở tròn đầy, lập ý quý ở thông suốt, (…) đừng tham
tử cú, nên tham hoạt cú” (Triệu Dực), “điển thực thì hư dụng, từ chết thì hoạt dụng, điển thường gặp thì phiên dụng, điển cũ thì tân dụng” (Trần Nhưng), “điển chết mà dùng linh hoạt, người xưa rất quý” (Thi Bố Hoa)
Trang 31Về phân loại dụng điển, căn cứ trên thực tế sáng tác văn học cũng như sự phát triển ngày càng phong phú của tu từ học, các nhà thi học Trung Hoa đã đề xuất nhiều
cách chia dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Phí Kinh Ngu đời Minh trong Nhã luận
căn cứ vào mối quan hệ giữa nguyên văn điển cố với việc dụng ý của điển trong văn bản, chia dụng điển thành bốn loại: Thực dụng, hư dụng, phản dụng và tá dụng Trần
Dịch Tăng đời Nguyên trong Văn thuyết đưa ra nhiều tiêu chí hơn, chia dụng điển
thành chín loại: chính dụng, phản dụng, tá dụng, ám dụng, đối dụng, ban dụng, tỷ dụng,
đảo dụng, phiếm dụng Cao Kỳ đời Minh trong chương Dẫn dụng sách Văn chương nhất quán còn phân dụng điển ra thành mười bốn loại: chính dụng, lịch dụng, lệ dụng,
diễn dụng, hoán dụng, bình dụng, phản dụng, hoạt dụng, thiết dụng, tá dụng, giả dụng, tàng dụng, ám dụng [83,29-30] Các cách phân loại này chia dụng điển rất tỷ mỉ, tỷ mỉ đến mức một số loại còn chồng chéo, giao thoa nhau, chẳng hạn tàng dụng và ám dụng, hoạt dụng và thiết dụng, phản dụng và đảo dụng Thông thường văn nhân thời trung đại hay đề cập nhất đến bốn phương pháp dẫn điển phổ biến là chính dụng, phản dụng, minh dụng và ám dụng
Chính dụng được sử dụng để đưa ra một so sánh giữa văn bản dẫn điển và văn bản được dẫn Khi ý nghĩa nguyên gốc của điển cố được dẫn dụng trọn vẹn trong văn bản dẫn điển thì cách thức đó gọi là chính dụng Hạo Nhiên và Nghiêm Hữu Dực gọi cách dùng này là “trực dụng” Đối lập với chính dụng là phản dụng Nghiêm Hữu Dực
Ngô Hãng nói: “Biến đổi ngôn từ của cổ nhân thì mới có ý mới” Phạm Hy Văn khen ngợi thơ Đỗ Phủ “mượn xưa để sáng tạo nghĩa mới” đối lập với thơ Lý Thương Ẩn “chỉ cốt dẫn điển, tuy khéo léo nhưng phỏng ích gì”
Tô Thức cũng cho rằng: “Dùng điển nên lấy cũ làm mới, tục làm nhã” Cả Tô Thức và tác giả cùng thời với ông
là Hoàng Đình Kiên đều chủ trương “dĩ cổ vi tân” (lấy xưa làm mới) Hoàng Đình Kiên còn đề xướng phương thức “điểm thiết thành kim” (luyện sắt thành vàng) và “đoạt thai hoán cốt” để ủng hộ việc viện dẫn sáng tạo điển trong thơ: “Người giỏi văn chương thời xưa thực sự biết luyện nặn muôn vật, tuy lấy lời cũ của người xưa, đưa vào bút mực như một loại linh đan, luyện sắt thành vàng” Giải thích ý của Hoàng Đình Kiên, Tuệ Hồng nói rằng:
“không chuyển ý mà chỉ tạo thêm từ, đó gọi là phép hoán cốt, nhập ngay vào ý rồi tưởng tượng thêm, đó gọi là phép đoạt thai”
Trang 32trong Nghệ uyển thư hoàng nói rằng: “văn nhân dụng điển hoặc trực dụng điển đó hoặc
phản dụng cái ý của điển đó…Trực dụng ai cũng có thể làm được, còn phản dụng nếu không có học vấn cao, nếu không vượt qua được cái nhìn tầm thường câu chấp, nếu không là kẻ có thể xéo lên dấu chân của tiền nhân thì không thể làm được” [76,25-26] Như vậy phản dụng (phản kỳ ý nhi dụng chi) là đảo ngược ý nghĩa hoặc thay đổi hàm ý quen thuộc của một điển cố nhằm đưa đến một hiệu quả thi ca đặc biệt, gây ấn tượng Tuy nhiên phản dụng không có nghĩa là phủ nhận hạ thấp điển, khi được sử dụng thành công phản dụng vẫn cho thấy sự coi trọng của người viết đối với nguồn điển: đem đến một hàm ý mới dựa trên hiểu biết sâu sắc ý nghĩa nguyên gốc Phản dụng còn được gọi
là phép “phiên án” Viên Mai nói rằng “thơ quý ở phép phiên án” (thi quí ư phiên án) Hoàng Triệt đời Tống gọi phương pháp này là “đảo dụng” với hiệu quả đặc biệc: làm cho “ý nghĩa xuất nhập, có dư vị hay” (xuất nhập ý biểu, vưu hữu dư vị)
Minh dụng là phương pháp dùng điển mà tác giả dẫn nguyên vẹn hình thức thông thường của một điển cố Phương pháp này rất dễ nhận diện vì người viết không thay đổi hình thức điển cố vốn đã quen thuộc với người đọc Minh dụng còn có tên gọi khác là thực dụng Đây là hình thức dẫn nguyên văn của điển Cố Viêm Võ nói “Phàm dẫn lời của tiền nhân, tất phải dùng nguyên văn” còn “dẫn sách thì dùng ý” [83,25]
Dẫn nguyên văn hoặc có thể kèm theo lời dẫn trực tiếp phía trước như “Thi vân”, “Thư
vân”, “Tử viết”, hoặc không cần lời dẫn trực tiếp, người đọc tự biết nguyên văn của điển nằm trong dòng trích dẫn Đối lập với minh dụng là ám dụng Ám dụng là phương thức dẫn điển theo lối hàm ẩn, tác giả ẩn đi xuất xứ, lai lịch của điển khiến cho câu chuyện, từ ngữ xưa không để lại dấu vết của mình Người ta còn gọi ám dụng bằng một tên khác là hư dụng Ám dụng hay hư dụng thể hiện khả năng người viết đồng hóa nguồn điển trong văn bản dẫn điển Tác giả hoặc lựa chọn các từ hay cụm từ riêng rẽ từ
Chẳng hạn hai câu thơ trong bài Thu hứng số ba, Đỗ Phủ dùng hai điển theo lối phản dụng: “Khuông Hành
kháng sớ công danh bạc Lưu Hướng truyền kinh tâm sự vi” (Khuông Hành dâng sớ danh phận bạc bẽo Lưu Hướng truyền kinh tâm sự bế tắc) Thực tế thì Khuông Hành và Lưu Hướng đều là những trí thức thành công trong cả trước thuật và sự nghiệp chính trị Đỗ Phủ thêm hai cụm từ “công danh bạc”, “tâm sự vi” ngược lại nghĩa nguyên điển, gián tiếp bộc bạch nỗi buồn sâu kín của ông
Trang 33một nguồn điển rồi tổng hợp chúng trong văn bản dẫn điển, hoặc hòa trộn và biến cách một số điển cố từ các nguồn khác nhau để tạo nên một hay nhiều hình ảnh điển cố trong bài thơ hiện tại Phương pháp ám dụng coi trọng khả năng đồng hóa điển này được thi luận truyền thống Trung Hoa xem là cấp độ dụng điển tài tình nhất Đó là tài nghệ mà Đỗ Phủ và Viên Mai gọi là muối hòa vào nước, chỉ biết vị của muối mà không thấy được chất muối bởi chất muối (nguồn điển) khó nắm bắt, không dễ truy nguyên
Chính dụng và phản dụng chủ yếu dựa trên tiêu chí sử dụng ý nghĩa điển cố, còn minh dụng và ám dụng thì căn cứ vào hình thức dẫn điển là trực tiếp hay hàm ẩn
Phản dụng và ám dụng là hai hình thức được thi nhân xưa tán thưởng nhất Phản dụng nhấn mạnh việc “dùng lời cổ nhân nhưng không dùng ý cổ nhân” (dụng cổ nhân ngữ nhi bất dụng kỳ ý - Dương Thành Trai), còn ám dụng nhấn mạnh việc “không thay đổi
ý cổ nhân nhưng tái tạo lời cổ nhân” (bất dịch kỳ ý nhi tạo kỳ ngữ - Tuệ Hồng)
Như vậy nhìn từ truyền thống, có thể thấy điển cố là một trong các phương thức
tu từ học then chốt của trước tác thời trung đại, là sản phẩm của tư duy trọng lịch sử và tập cổ đặc thù của văn hóa Á Đông, trong đó có Việt Nam Điển được coi là các câu chuyện hoặc từ ngữ có gốc gác xất xứ xác định, được viện dẫn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm hỗ trợ cho chủ đích sáng tạo của người viết Khi nhà thơ biết vận dụng phù hợp, không câu nệ khiên cưỡng, điển trở thành một công cụ đắc dụng cho ý nghĩa bài thơ, làm tăng thêm tính hàm súc, giản ước, điển nhã, đem lại vẻ đẹp từ chương cho tác phẩm Điển là đơn vị mở cho tiếp nhận của người đọc bởi điển luôn hàm chứa các tích truyện có khả năng khơi gợi, dẫn dụ liên tưởng đến các sự kiện quá khứ vừa cụ thể vừa mang tính biểu trưng và cổ mẫu Trong tu từ học truyền thống, dụng điển là một
sóng đỏ Cứ thấp thoáng tựa như khuôn mặt” là lấy ý từ hai câu “Lạc nhật chiếu ốc lương Do nghi chiếu nhan
sắc” (Ánh mặt trời rọi vào xà nhà Ngỡ như đang soi trên khuôn mặt bạn) trong bài Mộng Lý Bạch của Đỗ Phủ
Hoàng Đình Kiên chủ yếu chỉ đổi từ “ốc lương” (xà nhà) của Đỗ Phủ bằng từ “hồng ba” (sóng đỏ) để tạo nên một câu thơ mới
Trang 34trong những tiêu chí quan trọng không chỉ đánh giá chiều sâu trí tuệ và học vấn của người viết mà còn biểu hiện tài năng của anh ta Người khéo dụng điển không chỉ dẫn điển nguyên văn, dẫn điển trọn nghĩa mà còn phải biết tự do, thoát sáo, hoạt dụng, dùng điển mà như không dấu vết, như chỉ để lại cái vị của muối hóa dụng trong ý thơ Lấy ngã làm chủ, lấy tục làm nhã, lấy xưa làm mới…là những đòi hỏi của thi học Trung Hoa sao cho hệ quả của điển phải được tổ hợp trong tổng thể các yếu tố bài thơ, khiến cho bài thơ vẫn tự nhiên, thâm hậu Đó là những đặc điểm nổi bật của điển cố nhìn từ truyền thống tu từ học cổ điển Có thể thấy đó là một hệ thống quan niệm dựa chủ yếu vào sự bình phẩm, thưởng ngoạn, đánh giá cái khéo cái tài của người dùng điển thông qua những hình thức ví von so sánh mang tính hình ảnh Các nhà bình luận không có thói quen đi vào phân tích mổ xẻ một cách chi tiết và hệ thống cơ chế hoạt động của điển Hứng thú của họ là nhìn điển thông qua những thể nghiệm mang tính cá nhân Những đặc điểm này sẽ giao thoa cũng như sẽ phân biệt với các nghiên cứu hiện đại về điển cố Hán học của các học giả chịu ảnh hưởng phương Tây
1.2.Điển cố nhìn từ các nghiên cứu chịu ảnh hưởng phương Tây
1.2.1.Khái niệm và phân loại điển cố
Về mặt thuật ngữ, trong các nghiên cứu của các học giả phương Tây hoặc chịu ảnh hưởng phương Tây, chữ “điển cố” của Trung Hoa thường được dịch là “allusion” Tuy nhiên, hàm nghĩa từ nguyên của “allusion” lại không tương đương với thuật ngữ
“điển cố” Nội hàm then chốt của điển cố Trung Hoa vốn chỉ một hệ thống sự kiện lịch sử có ý nghĩa biểu trưng được thiết lập lâu dài và ổn định trong kí ức văn hóa của
Harold Bloom đã đưa ra năm giai đoạn phát triển của khái niệm “allusion” ở phương Tây như sau: “Lịch sử của
“điển cố” với tư cách là một từ tiếng Anh bắt nguồn từ nghĩa khởi nguyên là “đánh lừa”, đầu thời Phục Hưng được dùng với nghĩa chơi chữ nói chung Nhưng vào thời đại của Bacon thì nó chỉ bất cứ ví von có tính biểu tượng nào, bất kể là phúng dụ, so sánh hay ẩn dụ…Nghĩa thứ tư - bắt đầu kế tiếp nhanh chóng ngay từ đầu thế kỷ XVII và vẫn được dùng trong thời hiện đại chính xác - bao hàm bất cứ dẫn chiếu hàm ẩn, gián tiếp hay ngầm ẩn nào Nghĩa thứ năm, tuy không chính xác nhưng vẫn chắc chắn xác lập cho bản thân chúng, ngày nay thường đánh đồng điển cố với dẫn chiếu trực tiếp, công khai” [72,3] Dễ thấy trong năm nghĩa của “allusion” thì nghĩa thứ nhất (đánh lừa) và nghĩa thứ năm (dẫn chiếu trực tiếp, công khai) không có mặt trong hàm nghĩa của chữ
“điển cố” “Điển cố” chỉ sở hữu nghĩa thứ hai (chơi chữ), thứ ba (ví von có tính biểu tượng) và thứ tư (dẫn chiếu ngầm ẩn, giám tiếp) của thuật ngữ “allusion”
Trang 35mỗi thành viên cộng đồng phát ngôn, thì không hiện diện trong nghĩa của từ “allusion” Khái niệm điển cố của Trung Hoa, do gắn chặt với cảm quan lịch sử và ý thức sùng thượng cổ nhân nên có ý nghĩa định hướng rõ ràng hơn và đòi hỏi chặt chẽ hơn
Về phương diện khái niệm hóa điển cố, có thể nói có rất ít các định nghĩa trực tiếp đưa ra các nội hàm xác định hẳn cho điển cố trong các nghiên cứu phương Tây Phần lớn các nhà nghiên cứu thường tránh đưa ra một định nghĩa chính thức về điển
mà chủ yếu nhận diện điển trong một hệ thống các khái niệm tương cận hoặc qua sự phân chia các phương thức trích dẫn điển
Thứ nhất, các nhà nghiên cứu thường nhận diện điển trong đối sánh với các khái niệm gần gũi, phân biệt điển với các hình thức dẫn dụng dễ bị đánh đồng với điển
Trong công trình Nghệ thuật thơ ca Trung Hoa [77], James J Liu đặt điển cố trong
tương quan với hai khái niệm lân cận là “quotation” (trích dẫn) và “derivation” (phái sinh) nhằm thu hẹp lại nội hàm điển cố Mặc dù tác giả không đưa ra khái niệm trích dẫn nhưng qua các dẫn chứng, có thể hiểu trích dẫn là câu chữ nổi tiếng, có ý nghĩa và giá trị được lấy ra từ một văn bản để hỗ trợ cho văn bản hiện tại Còn phái sinh, theo Jam J Liu, là việc “chuyển hóa một ý tưởng hoặc một biểu đạt của nhà thơ khác”, là cách “nhà thơ „chỉnh sửa‟ nguồn của anh ta để phù hợp với chủ đích thơ ca của chính anh ta” Như vậy tác giả loại bỏ các trích dẫn câu chữ và các đồng hóa ý tưởng quá khứ trong văn bản thơ ra khỏi nội hàm điển cố Cô lập khỏi trích dẫn và phái sinh, tác giả cho rằng điển cố gồm hai kiểu loại: điển cố khái quát (general allusion) và điển cố cụ thể (specific allusion) Điển cố khái quát là điển cố tạo ra tri thức và niềm tin chung như Âm Dương, Ngũ Hành, còn điển cố cụ thể là điển cố tạo ra các tác phẩm văn học, các sự kiện lịch sử, các cá nhân, các truyền thuyết và các huyền thoại riêng biệt Khái
Ở đây luận văn chỉ đề cập đến phân biệt giữa điển cố với bốn khái niệm là trích dẫn (quotation), phái sinh (derivation), giả điển cố (quasi-allusion) và phi điển cố (non-allusion) Đối sánh giữa điển cố với hai khái niệm quan trọng khác là liên văn bản (intertextuality) và ẩn dụ (metaphor) được đẩy ra hai tiểu mục sau để nhấn mạnh quan tâm chính của luận văn đối với các khái niệm này
Trang 36niệm điển cố khái quát của James J.Liu chắc chắn là một đề xuất không thật hợp lý, bởi
Âm Dương Ngũ Hành là các phạm trù triết học chứ không phải là điển Điển cố thật
sự trong quan niệm của tác giả chỉ là phạm trù thứ hai: điển cố cụ thể
Peng Enhua Edward trong luận án Vai trò điển cố trong thơ ca cổ điển Trung Hoa [69] thử đề xuất hai khái niệm là nguồn văn bản (textual source) và nguồn giải
thích (interpretative source) để phân biệt điển cố với giả điển cố (quasi-allusion) và phi điển cố (non-allusion) Theo tác giả, nguồn văn bản của điển cố là văn bản gốc mà điển
cố xuất hiện Nguồn giải thích điển cố là các tác phẩm then chốt, có nhiệm vụ giải thích cho điển cố, không có chúng thì sẽ không thể hiểu được điển cố một cách đầy đủ
Từ đó tác giả phân biệt như sau: 1) Điển cố: nguồn văn bản và nguồn giải thích hoàn toàn trùng khít nhau Cả hai đều truyền đạt đến người đọc một cách hiểu rõ ràng về điển cố 2) Giả điển cố: Nguồn giải thích có xu hướng li tâm khỏi nguồn văn bản Qua thời gian, một sự xác định mới đã làm lệch hướng ý nghĩa nguyên gốc khiến người đọc không lĩnh hội một cách đầy đủ thông điệp của điển cố 3) Phi điển cố: Chỉ có nguồn văn bản mà không có nguồn giải thích Người đọc không cần thiết phải lần tìm nguồn giải thích bởi bản thân bài thơ hiện tại tự giải thích mình trọn vẹn mà không cần thêm thông tin chú giải về điển cố Như vậy không phải cái gì được trích dẫn, có vẻ giống điển cố cũng là một điển cố Điển cố phải có thông tin giải thích cho nó, hơn nữa các thông tin này phải đem đến cho người đọc một cách hiểu chắc chắn và nhất quán về điển [69,84-87]
Luận văn không tán thành khái niệm “điển cố khái quát” (Âm Dương Ngũ Hành) của James Y.Liu, vì đây là cách hiểu quá rộng Điển cố thật sự trong biện luận của tác giả là khái niệm “điển cố cụ thể” Khái niệm “trích dẫn” mà James Y.Liu đưa ra tương đương với phương thức dẫn câu chữ, tức là phương thức dẫn điển xét theo nghĩa rộng như đã nói ở mục 1.1 Còn “phái sinh” gần gũi với phương thức dẫn điển ám dụng, phản dụng của thi học Trung Hoa: không dẫn điển nguyên xi mà chỉnh sửa, thay đổi ý hoặc hình thức nguyên điển Loại bỏ trích dẫn (phương thức dẫn câu chữ) và phương thức phái sinh (ám dụng, phản dụng) ra khỏi nội hàm điển, “điển cố cụ thể” của James Y.Liu, như vậy, là khái niệm điển được hiểu theo nghĩa hẹp
Như vậy, trong một bài thơ, một yếu tố ngôn từ được coi là điển cố phải thỏa mãn ba điều kiện: thứ nhất, yếu tố
đó phải có nguồn văn bản, có xuất xứ rõ ràng; thứ hai, nguồn văn bản phải giúp giải thích cho ý nghĩa của yếu tố
đó, không có nguồn văn bản thì không hiểu được điển cố; thứ ba, ý nghĩa của nguồn điển trải qua thời gian phải được hiểu một cách nhất quán Đề xuất của Peng Enhua Edward đưa ra một xác định chặt chẽ cho một điển cố đúng nghĩa Luận văn coi đây như một bổ sung cụ thể hơn cho nội hàm điển, bên cạnh một hình dung chung như
Trang 37Thứ hai, các nhà nghiên cứu thường nhận điện điển thông qua việc phân loại các phương thức dẫn điển Nhìn vào tiêu chí phân loại của mỗi tác giả, có thể nhận xét phần nào cách quan niệm điển cố của họ Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân trong tiểu luận
Nghĩa, ẩn dụ và điển cố trong thơ Đường [78] quan sát hai kiểu điển cố từ góc nhìn tác
động về mặt cấu trúc do điển cố đem đến cho bài thơ: điển cố chỉnh thể (global allusion) và điển cố cục bộ (local allusion) Điển cố cục bộ là điển cố mà ý nghĩa được gia tăng chỉ giới hạn trong câu thơ có điển, ngược lại nếu như ý nghĩa mới không chỉ ảnh hưởng một câu thơ mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ bài thơ thì đó là điển cố chỉnh
thể [78,330] Trong tiểu luận Điển cố và Đường thi [73], David Lattimore từ góc nhìn
chức năng của điển cố quan sát hai loại điển: điển cố văn bản (textual allusion) và điển
cố chủ đề (topic allusion) Một điển cố chủ đề là một hàm chỉ gián tiếp cho một chủ đề hiện tại, hiện diện bằng một từ khóa liên can đến nó, một cá nhân, một địa danh hoặc là một tính ngữ Một điển cố văn bản là một trích dẫn gián tiếp, tức là chưa được xác nhận, xuất phát từ một nhận xét, một thành ngữ hoặc một tác phẩm văn học nổi tiếng sao cho những nội dung dẫn chiếu trước hết không phải về một vật/việc mà là về một văn bản, dù rằng các điển cố văn bản có thể bao chứa các điển cố chủ đề [73,409] Phần nào giống với David Lattimore, Peng Enhua Edward chia điển cố thành hai loại: điển cố sự kiện (allusion of event) và điển cố khái niệm (allusion of concept) Điển cố khái niệm liên quan đến các luận cứ, các tuyên bố, các chỉ dẫn và châm ngôn có ý nghĩa, thường ở dạng tóm tắt một đoạn văn từ các tác phẩm quá khứ Còn điển cố sự kiện bao gồm chủ yếu các các thực tế, các giai thoại và truyền thuyết [69,131-188] Cách chia của David Lattimore và Peng Enhua Edward rất gần gũi với phân loại quen thuộc vốn bắt nguồn từ Lưu Hiệp “Điển cố chủ đề” và “điển cố sự kiện” thực chất là
đã nêu ra trong mục 1.1 Bổ sung này không chỉ nhấn mạnh vào tính có xuất xứ của điển mà quan trọng hơn, chú trọng vào vai trò giải thích của nội dung nguồn điển đối với bài thơ, một nội dung ý nghĩa đã xác định và nhất quán qua thời gian
Trang 38phương thức dẫn câu chuyện, tích truyện, còn “điển cố văn bản” và “điển cố khái niệm” chính là hình thức dẫn câu chữ lấy từ một văn bản quá khứ
Jame High Tower trong khảo sát Điển cố trong thơ Đào Tiềm [70] cho rằng có
thể phân chia điển cố theo ba hướng: từ bản chất của nguồn điển, từ kĩ năng vận dụng những nguồn điển này của nhà thơ, và từ phản ứng của độc giả đối với các sự kiện của điển cố Tuy nhiên phân loại của Jame High Tower chưa chú tâm đến các chức năng
và hiệu quả đa dạng mà điển cố có thể đóng góp cho bài thơ Bổ sung cho điều này, tác
giả Terresa Yee-Wah Yu trong luận án tiến sĩ Lí Thương Ẩn: thơ ca của điển cố [75]
căn cứ vào năm kiểu điển của Earl Miner: điển cố chủ đề, điển cố cá nhân, điển cố mô phỏng, điển cố cấu trúc và điển cố ẩn dụ, đã đề xuất một phân loại chẻ nhỏ hơn: điển
cố ẩn dụ, điển cố chủ đề, điển cố cá nhân, điển cố văn bản, điển cố phong cách và điển
cố thể loại [75,27] Điểm nhấn trong cách chia này là vị trí đứng đầu của điển cố ẩn dụ (metaphorical allusion), loại điển cố mà tác giả cho là phức hợp nhất và cũng giàu ý nghĩa nhất Chúng tôi sẽ đề cập đến loại điển cố này trong mục sau
Như vậy dễ thấy rằng trong nghiên cứu hiện đại, có nhiều quan điểm xác định điển cố, xác định điển cố trong tương quan với các khái niệm giao thoa dễ nhầm lẫn, hoặc xác định điển cố trong bản thân các cách thức trích dẫn điển Trong các hình thức dẫn điển, các quan điểm lại khác nhau tùy theo việc nhà nghiên cứu nhấn mạnh vào
Từ đó tác giả chia thành bảy kiểu điển cố như sau: 1) Điển cố là chủ đề của bài thơ Nếu không xác định được điển cố thì sẽ không hiểu được bài thơ nói gì 2) Điển cố là từ khóa của một dòng thơ; không thể hiểu được dòng thơ nếu không hiểu điển cố 3) Dòng thơ mang nghĩa, nhưng không nằm trong văn cảnh; điển cố cung cấp một cách đọc khác khiến cho dòng thơ mang nghĩa với tư cách là một phần của bài thơ 4) Dòng thơ mang nghĩa hoàn chỉnh; điển cố khi được nhận diện sẽ bổ sung các hàm ý, gia cố cho nghĩa đen 5) Một cụm từ hay thành ngữ trong dòng thơ vốn xuất xứ từ một văn bản, tuy rất quen thuộc với nhà thơ song lại không đóng góp cho sự thưởng thức dòng thơ đó ở độc giả, và cũng không thể xác quyết sự vận dụng điển cố ở nhà thơ là có ý thức hay không 6) Một từ được sử dụng theo một nghĩa quen thuộc trích ra từ một văn bản kinh điển Không phân biệt được liệu từ đó (hay nhà thơ) có lấy nghĩa của một từ khác trong một cuốn từ điển hay là rút từ nguồn của nó 7) Ngẫu nhiên giống điển và có thể hiểu sai đó là điển nếu áp đặt [70,6-7]
Trang 39quan hệ giữa điển cố với nhà thơ, điển với cấu trúc nội tại của văn bản dụng điển hay điển với nguồn liệu điển Qua các thao tác “khái niệm hóa gián tiếp” của các nhà nghiên cứu, chúng ta có được một hình dung chung về điển: không phải mọi hình thức trích dẫn đều là điển, điển phải có xuất xứ gốc gác, phải có thông tin giải thích rõ ràng định hướng cho người đọc Trong các phân loại trên, ở đây chúng tôi quan tâm hơn đến khái niệm “điển cố cụ thể” của Jame J.Liu, phân loại của David Lattimore và Peng Enhua Edward, loại điển thứ nhất “xoay quanh một câu chuyện quen thuộc lấy từ văn bản quá khứ” của Jame High Tower, “điển cố văn bản” và “điển cố chủ đề” trong phân loại của Teresa Yee, bởi các loại điển này cho ta một “loại hình hóa” điển cố gần gũi với cách chia của Trung Hoa: điển là các sự kiện trong lịch sử và điển là các câu chữ trích từ các văn bản quá khứ Một hình dung chung như vậy là cần thiết trước khi đi vào quan tâm chính của chúng tôi: nhận diện điển và phân loại điển dựa trên cơ chế liên văn bản của nó; qua tương tác liên văn bản, điển đã được chuyển hóa như thế nào
để từ một yếu tố của truyền thống trở thành một yếu tố ngôn ngữ của môi trường văn cảnh bài thơ
1.2.2 Điển cố và liên văn bản
Khi khái niệm liên văn bản (intertextuality) ngày càng có tác động đến nhiều lĩnh vực nghiên cứu văn học thì hệ quả không tránh khỏi được là nghiên cứu điển cố cũng nhanh chóng chiếm một vị trí quan trọng trong lý thuyết và phê bình văn chương, bởi lẽ dụng điển cũng là một hình thức ảnh hưởng và liên văn bản Điển cố đặt trong tương quan với liên văn bản, đúng như Carmela Perri nói, là “một tiêu điểm hoàn hảo cho các nghiên cứu đi vào diễn giải cả biểu hiện ngôn ngữ đặc thù của một văn bản lẫn mối quan hệ của nó với lịch sử văn học và xã hội” [75,22] Điểm gặp gỡ chung của các nghiên cứu liên văn bản điển cố là nhấn mạnh vào cơ cấu tương tác giữa văn bản dẫn điển và các khung dẫn chiếu nằm bên ngoài văn bản Nói cách khác đó là nghiên cứu các mô thức tham dự liên văn bản giữa văn bản dẫn điển và nguồn văn bản được trích dẫn Mục đích của việc tìm kiếm, phân tích các mô thức tham dự liên văn bản này một
Trang 40mặt nhằm đánh giá ý nghĩa mỹ học của điển đối với việc thể hiện thế giới nội tại của bài thơ, các hàm ý văn chương của nhà thơ, mặt khác xem xét vai trò của điển trong việc nối kết cái nhìn của bản ngã với lịch sử và hệ thống giá trị văn hóa, nối kết truyền thống với tài năng cá nhân Nghiên cứu liên văn bản của điển cố, như vậy, vừa đi vào khám phá tương tác giữa các văn bản cụ thể, vừa có thể mở rộng ra các bình diện rộng hơn: tương tác giữa văn bản văn học với hệ thống các giá trị truyền thống thuộc về lịch
sử, văn hóa, đạo đức và triết học được lưu giữ trong điển cố
Tác giả Teresa Yee-Wah Yu đã mượn khái niệm điển cố của Carmela Perri để dẫn nhập cho quan điểm nghiên cứu điển dưới góc độ liên văn bản của mình: “Điển cố văn học là một phương thức biểu nghĩa mà ở đó một số dấu hiệu (giản đơn hay phức hợp, hàm ẩn hay trực tiếp) biểu hiện không chỉ về mặt phi ám chỉ, trong phạm vi thế giới có thể được tưởng tượng ra của văn bản dụng điển, mà thông qua vay mượn còn dẫn chiếu đến văn bản nguồn và chỉ rõ một số đặc tính cụ thể, có thể hồi dẫn mà văn bản nguồn này tác động mạnh; các đặc tính khơi gợi này bổ trợ cho văn bản dụng điển
và có thể kích hoạt rộng rãi hơn các mô thức liên văn bản và nội văn bản của các đặc tính, đưa đến sự bổ sung hơn cho văn bản dụng điển” [75,23] Trong định nghĩa này có
thể thấy điển cố trước hết là một phương tiện ngôn ngữ có chức năng biểu nghĩa kép Điển cố một mặt dẫn chiếu đến cấp độ nghĩa có mặt trong bản thân văn bản, mặt
khác điển cố dẫn chiếu đến nguồn văn bản, đem tưởng tượng và kí ức của chúng ta lần trở về ý nghĩa của văn bản nguồn được liên đới trong văn bản hiện tại Khác với ngôn ngữ đời thường chỉ ám chỉ một cấp độ nghĩa duy nhất, điển cố văn học đem đến cho người đọc một dẫn chiếu kép, bởi vậy khơi gợi các tương tác ý nghĩa giữa văn bản hiện
tại và văn bản quá khứ Cơ chế liên văn bản khiến điển cố không chỉ mang hàm nghĩa hẹp là một phương tiện ngôn ngữ thuần túy nữa mà còn hàm chứa nghĩa rộng hơn, đóng vai trò một phương tiện kết nối giữa các văn bản với kinh nghiệm văn học đã được tích lũy qua thời gian