1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của phật giáo trong đời sống chính trị ở việt nam thời lý trần 1009 1400

87 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tư liệu viết về Phật giáo và vai trò Phật giáo trong lịch sử dân tộc, nhưng còn ít những công trình nghiên cứu về vai trò của Phật giáo trong

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TÂM

VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ

Ở VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN (1009-1400)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.20

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Hồng Tung

Hà Nội - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN!

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình khoa học của riêng tôi Các tài liệu, số liệu được sử dụng trong luận văn hoàn toàn trung thực, khách quan, khoa học và có xuất xứ rõ ràng Nếu không đúng sự thật tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2012 Nguyễn Thị Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CHO SỰ PHÁT

TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN

(1009-1400)

9

1.1 Khái lược về sự ra đời của Phật giáo và quá trình Phật giáo

du nhập vào Việt Nam

9

1.1.1 Khái lược về sự ra đời của Phật giáo 9 1.1.2 Quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam 11 1.2 Những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng cho sự

phát triển Phật giáo ở Việt Nam

14

1.2.1 Những tiền đề kinh tế và chính trị 14 1.2.2 Những tiền đề xã hội và tư tưởng 20 Chương 2 PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở

VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN (1009-1400)

26

2.1 Phật giáo trong triết lý chính trị quân chủ ở Việt Nam thời

Lý – Trần

26

2.1.1 Bối cảnh chính trị và vai trò của Phật giáo trong quá

trình kiến tạo triều Lý

26

2.1.1.1 Bối cảnh chính trị - xã hội 26

2.1.1.2 Phật giáo và sự khởi lập vương triều Lý 27

2.1.1.3 Chính sách ủng hộ Phật giáo của hai triều đại Lý

– Trần

30

2.1.2 Xây dựng mô hình tập quyền thân dân thời Lý – Trần 36 2.2 Phật giáo với vấn đề đào tạo quan lại thời Lý – Trần 41

Trang 5

2.3 Phật giáo trong văn hóa chính trị thời Lý – Trần 49 2.3.1 Mối quan hệ tương hỗ giữa triều đình và nhà chùa 49

2.3.1.1 Phật giáo góp phần định hình tư tưởng trị nước

của các vị vua

49

2.3.1.2 Phật giáo góp phần tu chỉnh đạo làm vua 52

2.3.1.3 Sự tác động trở lại của triều đình tới nhà chùa 55 2.3.2 Phật giáo tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội Lý – Trần 60

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực tiễn lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rằng, để trường tồn trên mảnh đất đầy hiểm họa xâm lăng và có nguy cơ bị đồng hóa, ông cha ta đã biết dựa vào sức mạnh tổng hợp của dân tộc để thực hiện quyền độc lập, tự chủ của mình, một yếu tố quan trọng làm nên sức mạnh tổng hợp đó chính là bản sắc văn hóa, giá trị tinh thần của dân tộc ta, trong đó có tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và điều đặc biệt là các tôn giáo lớn trên thế giới đều có mặt ở Việt Nam, cùng tồn tại, tương tác, giao thoa với nhau, trở thành bệ đỡ tâm linh của người Việt Trong đó, Phật giáo đã để lại cho dân tộc ta nhiều dấu ấn, có thể thấy từ tín ngưỡng cho đến văn hoá, phong tục tập quán, từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ tư tưởng đến tình cảm đến sự ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống chính trị

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tư liệu viết về Phật giáo và vai trò Phật giáo trong lịch sử dân tộc, nhưng còn ít những công trình nghiên cứu về vai trò của Phật giáo trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đặc biệt là rất

ít những tư liệu, công trình nghiên cứu viết về vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị thời Lý – Trần, một trong những giai đoạn lịch sử hào hùng và oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc Mặt khác giai đoạn Lý – Trần cũng là giai đoạn cực thịnh trong lịch sử phát triển của Phật giáo, vì thời kỳ này triều đình rất quan tâm và tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển

Với mong muốn được góp phần, dù nhỏ bé vào giai đoạn lịch sử đầy ý nghĩa này của Phật giáo, nên chúng tôi chọn viết luận văn thạc sĩ với đề tài:

“Vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị ở Việt Nam thời Lý - Trần 1009-1400”

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu

Ở nước ta từ xưa cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng Khảo cứu tình hình nghiên cứu ở Việt Nam chúng tôi tạm chia thành hai khuynh hướng nghiên cứu như sau:

Thứ nhất là khuynh hướng nghiên cứu dưới góc độ lịch sử, tài liệu cổ

nhất có liên quan đến Phật giáo thời Lý – Trần là cuốn sách “Thiền uyển tập anh” Đây là tài liệu ghi chép lại những hành trạng của các thiền sư nổi tiếng

trong vườn thiền Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ VI đến thế kỷ XII Kế đến là

các cuốn sách như: “Thiền uyển Truyền đăng lục”, “Tam tổ thực lục” được

biên tập vào những năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750) và thứ 16 (1765) Trong các cuốn sách này chủ yếu ghi về cuộc đời của các Phật Hoàng như: Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông và Minh Tông hoặc kể về sự hành đạo của ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm

Trong số các bộ sử biên niên Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư là bộ

sử có giá trị, được khắc in lần đầu tiên vào năm 1697, gắn liền với tên tuổi của những nhà sử học nổi tiếng như Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy Có thế nói đây là nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam từ khởi nguyên đến hậu Lê nói chung và Phật giáo nói riêng Hầu như tất cả các học giả sau này đều coi đây là tư liệu gốc cho việc nghiên cứu tư tưởng chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quân sự và tôn giáo của các triều đại phong kiến Việt Nam Bên cạnh đó còn có các bộ sử cũ cũng

được coi là những nguồn sử liệu quý báu, có giá trị tham khảo cao như: Việt

sử lược của một số tác giả đời Trần, An Nam chí lược của Lê Tắc, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú… Đây là một trong những nguồn

thông tin quan trọng nhất mà luận án này sử dụng

Từ những năm 40 của thế kỷ XX đến nay đã có những tác phẩm có giá

trị nghiên cứu Phật giáo Việt Nam về mặt lịch sử tư tưởng như: “Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII” của Trần Văn Giáp, “Việt Nam

Trang 8

Phật giáo sử lược” của Thượng tọa Thích Mật Thể, bộ sách 3 tập của học giả Nguyễn Lang “Việt Nam Phật giáo sử luận” Bộ sách “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang như cái mốc quan trọng trong làng nghiên cứu Phật

giáo Việt Nam Ông đã chọn cho mình một phương thức tiếp cận mới để xử lý những tài liệu lịch sử, cố gắng làm chúng sống dậy và biểu lộ như đúng bản

thân vốn có của nó Một số vấn đề có liên quan đến Lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng được khảo cứu và bàn luận trong quyển I của bộ sách lịch sử: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế ký XIX đến cách mạng tháng Tám của

Giáo sư Trần Văn Giàu, xuất bản năm 1973

Nói về sự tác động qua lại giữa chính quyền với tôn giáo thời Lý không

thế không nhắc tới tác phẩm Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tôn giáo triều Lý của Hoàng Xuân Hãn, xuất bản năm 1941 và được chỉnh lý tái bản

nhiều lần Tuy tác phẩm tập trung nghiên cứu về đường lối ngoại giao và tôn giáo triều Lý, nhưng toàn bộ xã hội thời Lý và cuộc chiến chống Tống đã được tái hiện một cách chân thực và sinh động

Trong những năm gần đây, có hai cuốn sách đáng lưu ý do tập thể tác giả có uy tín và đã nhiều năm nghiên cứu lĩnh vực này như: GS Hà Văn Tấn,

PGS Nguyễn Tài Thư, Minh Chi “Lịch sử phật giáo Việt Nam”; Nguyễn Tài Thư, Hà Văn Tấn, Nguyễn Đức Sự, Phan Đại Doãn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” Những công trình nghiên cứu đã để lại nhiều điều bổ ích về lịch sử Phật giáo, lịch sử tư tưởng Việt Nam Đặc biệt là cuốn sách “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của PGS Nguyễn Tài Thư, đã mang lại một phương pháp

nghiên cứu khoa học về một đề tài đã được bàn đến nhiều trong lịch sử Vận dụng kết quả của khoa học hiện đại, các tác giả đã tìm ra được kết cấu hợp lý cho bức tranh sống động của lịch sử Phật giáo Việt Nam

Ngoài ra cũng phải kể đến cuốn “Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống chính trị nước ta thời kỳ trước đổi mới” của GS

TSKH Vũ Minh Giang chủ biên Trên cơ sở tái hiện lại tiến trình lịch sử

Trang 9

khách quan, cuốn sách giúp người đọc nhận thức những đặc trưng cơ bản của thiết chế chính trị ở từng giai đoạn và chỉ ra những đặc trưng xuyên suốt của các thiết chế và hệ thống chính trị ở nước ta trước đổi mới, góp phần đưa ra những luận cứ khoa học cho việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay

Thứ hai là khuynh hướng nghiên cứu dưới góc độ văn hóa, văn hóa

chính trị và tôn giáo phải kể đến chuyên luận “Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị” của PGS.TS Phạm Hồng Tung, đã đưa ra

một cách tiếp cận mới theo góc độ văn hóa chính trị nhằm nhận diện, khám phá, phân tích một số sự kiện, quá trình lịch sử và văn hóa chính trị Việt Nam Đồng thời chuyên luận còn làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ cơ bản của môn nghiên cứu văn hóa chính trị

Tiếp đến là cuốn sách do tập thể của các nhà nghiên cứu Viện Sử học

và Viện Văn học như cuốn: “Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần” đã

xem xét một cách tổng thể các mặt của đời sống xã hội đời Trần như chế độ

sở hữu ruộng đất, chế độ chính trị, tổ chức nhà nước, văn hóa tư tưởng thời Đại Việt Đặc biệt là những bài viết về tư tưởng, tôn giáo thời Lý – Trần của Nguyễn Đức Sự, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Duy Hinh, đã vạch ra cơ sở xã hội, cơ sở tư tưởng của Phật giáo Lý – Trần và ảnh hưởng của nó tới đời sống tinh thần xã hội

Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo dưới góc độ triết học, mỹ thuật của những học giả trong và ngoài nước Những công trình nghiên cứu ở trên ít nhiều có đề cập đến Phật giáo và vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị quân chủ thời Lý – Trần nhưng chưa đầy đủ và hệ

thống Như vậy, cho đến nay thì rất ít những công trình nghiên cứu về Phật giáo mà lại tiếp cập dưới góc độ khoa học chính trị Đây là một khoảng trống

để tác giả của luận văn, các nhà nghiên cứu, thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp quan tâm, đi sâu vào tìm hiểu

Trang 10

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn làm rõ 3 vai trò chính trị của Phật giáo: 1 Phật giáo trong tư tưởng chính trị thời Lý – Trần; 2 Phật giáo trong vai trò đào tạo đội ngũ quan lại; 3 Vai trò của Phật giáo trong văn hóa chính trị

Đối tượng nghiên cứu:

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, nên chúng tôi đặt đối tượng nghiên

cứu trong khung cảnh vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị ở Việt Nam thời Lý – Trần Luận văn chỉ đề cập đến vấn đề giáo lý, tổ chức giáo hội,

ma thuật, lời sấm truyền…khi cần làm rõ đối tượng nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu:

Trải qua hai triều đại: Triều Lý (1009-1225), triều Trần (1226-1400)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

- Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này chúng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu:

1) Hệ thống các phương pháp nghiên cứu của khoa học Lịch sử bao gồm phương pháp đồng đại và lịch đại

2) Hệ thống các phương pháp nghiên cứu liên ngành của khoa học chính trị như: phương pháp lôgic, phân tích, tổng hợp, so sánh

3) Một số cách tiếp cận đặc thù như: Thứ nhất, coi tôn giáo Phật giáo như một thực thể tâm linh Thứ hai, thông tin chính trị được mã hóa dưới khía

cạnh Phật giáo thông qua những câu kinh kệ, những lời sấm truyền… Thứ ba,

đặt Phật giáo trong văn hóa chính trị và lịch sử Thứ tư, coi giáo lý của Phật

Trang 11

giáo như một cầu nối giữa triều đình với nhân dân, giữa triều đình với nhà chùa và ngược lại

5 Đóng góp và ý nghĩa của Luận văn

- Nội dung nghiên cứu của luận văn đã góp phần làm sáng tỏ vai trò chính trị của Phật giáo trong đời sống chính trị thời Lý - Trần một cách hệ thống và kết quả nghiên cứu chỉ ra vai trò và ảnh hưởng của Phật giáo trong

xã hội đương thời trên các phương diện tư tưởng chính trị, văn hoá chính trị

và xã hội Trong đó nổi bật là vai trò lãnh đạo của các minh quân, cũng như vai trò của các vị quốc sư trong quá trình hình thành nên hệ tư tưởng chủ đạo của các bậc quân vương cũng như quần chúng

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành chính trị học, lịch sử, triết học

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm hai chương:

Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CHO SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN (1009-1400)

Chương 2 PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN (1009 – 1400)

Trang 12

1.1.1 Khái lược về sự ra đời của Phật giáo

Phật giáo là một hệ thống tư tưởng triết học cổ đại, một tôn giáo lớn của thế giới, phát nguyên từ một Vương quốc nhỏ ở lục địa Ấn Độ dưới chân dải Hy Mã Lạp Sơn, phía Bắc Hồng Hà vào thế kỷ thứ VI TCN, cùng thời với Khổng giáo và Lão giáo ở Trung Quốc

Phật giáo ra đời sau khi ở Ấn Độ tư tưởng Triết học được phát triển vài trăm năm Trước khi Phật giáo ra đời tư tưởng phổ biến ở Ấn Độ là phiếm thần giáo: vạn vật cái gì cũng có thần cách, cũng là hình thức biểu hiện của Brahma và do Brahma sinh ra, cuối cùng cũng trở về Brahma Con người thuộc vạn vật, tất cả chẳng qua là hình thức tồn tại của Brahma, sinh từ Brahma, khi chết trở về Brahma

Ấn Độ là một quốc gia có nền văn minh sớm nhưng có sự phân hoá đẳng cấp khắc nghiệt, cả xã hội có 4 đẳng cấp: đẳng cấp Brahma - nhóm người có học thuật, cầm quyền tôn giáo; đẳng cấp ksatrya - nhóm vua chúa, cầm quyền cai trị; đẳng cấp Vaysia - tầng lớp công thương và đẳng cấp sudra

- hạng cùng khổ bị mọi đẳng cấp khác khinh miệt, xem là dơ bẩn, chỉ được làm tớ, không được làm bất cứ việc gì có quyền thế Xã hội loạn lạc liên miên, không có sự bình đẳng, khốn cùng tràn ngập khắp nơi, áp bức vô cùng nặng nề Ngay cả đẳng cấp Bà La Môn cũng bị lay chuyển tới tận gốc rễ Con người, kẻ thì tu luyện khắc khổ, kẻ khác lao vào khoái lạc xác thịt Phật giáo

ra đời trong tiền đề tư tưởng và điều kiện xã hội đó

Trang 13

Người sáng lập Phật giáo tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha) họ là Gôtama,

là thái tử của vua Tịnh Phạn, sinh ở kinh thành Kapilavastu Lúc tuổi còn trẻ

Ngài đã có ý xuất gia Sau bốn lượt dạo chơi ngoài bốn cửa thành, mắt được

thấy nỗi khổ của con người, Ngài quyết định từ bỏ cuộc đời vương bá để theo

thầy học đạo

Sáu năm ròng Tất Đạt Đa tu khổ hạnh Rồi Tất Đạt Đa nhận thấy cách

tu khổ hạnh, cực đoan đó không đem lại Giác Ông nhận thấy cần có thân thể

khoẻ mạnh mới đủ sức, duy trì tìm ra chân lý Ông bèn xuống sông tắm và

uống sữa bò, rồi xin một bó cỏ cát tường đến ngồi dưới gốc cây tất bà la (sau

này gọi là cây bồ đề) Tất Đà Đa phát nguyện nhập thiền cho đến bao giờ giác

mới đứng dậy Tương truyền sau 49 ngày đêm thì Tất Đạt Đa đại Giác vào lúc

nửa đêm Giáo pháp mà Đức Phật chứng ngộ đã được Ngài thuyết giảng trong

suốt 49 năm

Tôn giáo mới gắn liền với tên tuổi của người hình thành và dần dần lan

rộng ra nhiều vùng Ấn Độ đương thời Người đời gọi đó là đạo Phật (giác

ngộ)

Sinh thời Thích Ca không viết sách Người chỉ bàn luận với học trò

bằng lời nói của mình Về sau những đệ tử thuộc nhiều thế hệ khác nhau đã

biên tập lại thành những Kinh, Luật và truyền bá lại cho đời sau

Sau khi Phật Thích Ca mất, Phật giáo dần dần chia thành nhiều tông

phái, trong đó nổi lên là hai tông phái lớn: Tiểu thừa (Hynayàna) và Đại Thừa

(Mahayàna) Tông phái tiểu thừa phát triển ở miền Nam Ấn Độ và truyền

sang các nước Sơrilanca, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào còn gọi là

Phật giáo Nam phương Tông phái Đại thừa phát triển ở Miền Bắc Ấn Độ và

truyền sang các nước Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản còn gọi là Phật giáo

Bắc phương

Trang 14

1.1.2 Quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam

Đạo Phật được truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch Tài liệu chắc chắn cho ta biết rằng vào bán hạ thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể Đạo phật

đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên Các tài liệu như Hán

Hậu Thư trong đó có câu truyện Sở Vương Anh theo Phật giáo, sách Lý hoặc Luận của Mâu Tử viết tại Việt Nam vào bán hạ thứ hai, Kinh Tứ Thập Nhị

Chương và một số tài liệu khác cho ta thấy trong đời Hậu Hán ngoài hai trung tâm Phật giáo ở Trung Hoa là Lạc Dương và Bành Thành ở nước ta còn có trung tâm Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) [30, Tr 23]

Qua sử liệu, ta có thể khẳng định Phật giáo truyền vào Việt Nam bằng hai con đường: Một là, con đường biển từ phương Nam Ấn Độ trực tiếp truyền sang; Hai là, con đường bộ từ phương Bắc truyền xuống Bằng con đường biển từ phương Nam, Phật giáo truyền vào Việt Nam rất sớm và sớm hơn bằng con đường bộ từ phương Bắc truyền xuống Theo nhà nghiên cứu

Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận, (tập 1), thì hồi ấy, các tu sĩ

đi theo thuyền buôn Ấn Độ là những người đầu tiên truyền đạo Phật vào nước

ta với tín ngưỡng đơn sơ: thờ Phật, đốt trầm, tụng kinh, chữa bệnh, trừ tà và bày phép cúng dường, bố thí cho dân bản địa cùng truyền pháp Tam quy Ngũ giới cho cư dân ở đây chứ chưa có sự truyền giảng kinh điển gì

Tiếp theo, Phật giáo với hệ thống kinh điển đại thừa mang tính Thiền học của Phật giáo vùng Nam Ấn đã truyền vào Việt Nam Cũng theo Nguyễn Lang và các nhà nghiên cứu Phật giáo thì Nam Ấn là vùng đầu tiên dùng kinh

văn hệ Bát nhã (Prajna) như Kim Cương, Tượng đầu tịnh xá, Bát thiên tụng Bát nhã, Bát nhã tâm kinh, Bát nhã ba la mật, Đại bát Niết bàn v.v… Chẳng hạn, kinh Kim Cương là một cuốn kinh Đại thừa Phật giáo thuộc kinh văn hệ

Bát nhã phổ biến và có vị trí quan trọng trong Phật giáo, trong Thiền giới

Trang 15

Trung Quốc, Việt Nam Nhờ bộ kinh này mà Lục tổ Huệ Năng ở Trung Quốc, nhà vua - thiền sư Trần Thái Tông ở Việt Nam đã đắc pháp, ngộ đạo khi đọc

đến câu Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm mà Huệ Năng có ghi lại trong Pháp bảo đàn kinh và Trần Thái Tông có viết trong Thiền tông chỉ nam tự Nhờ hệ

thống kinh văn hệ Bát nhã mà thế kỷ thứ II sau Công nguyên, Long Thọ Bồ

Tát (Nagarjãna) đã viết bộ Trung Quán luận nổi tiếng với tư tưởng Vô trụ, Siêu việt hữu vô, Chân không Bộ luận này đã có ảnh hưởng sâu rộng trong Thiền giới ở Trung Quốc và Việt Nam Tư tưởng Chân không của bộ luận cũng chính là chủ đề của bộ kinh Bát thiên tụng Bát nhã mà Khương Tăng

Hội đã dịch ở nước ta vào thế kỷ thứ III Các nhà nghiên cứu còn cho rằng đây là bộ kinh văn hệ Bát nhã xuất hiện xưa nhất ở Việt Nam

Tư tưởng Phật giáo Đại thừa ở Việt Nam cũng đã có trước đó với tác

phẩm Lý hoặc luận của Mâu Tử ở thế kỷ thứ II Tiếp đến là một loạt tác phẩm

dịch, chú sớ, đề tựa của nhiều nhà Phật học đều là những bộ kinh thuộc hệ

thống Thiền học Đại thừa như An ban thủ ý kinh bàn về phép thiền quán sổ tức (phép đếm hơi thở) do Khương Tăng Hội dịch, chú sớ; Pháp hoa tam muội kinh do Cương Lương Lâu Chí và Đạo Thanh dịch Bấy nhiêu cũng đủ

khẳng định ở thời kỳ đầu, Phật giáo truyền vào nước ta chủ yếu là Phật giáo Đại thừa với khuynh hướng Thiền học và kinh điển chủ yếu là kinh văn hệ Bát nhã xuất hiện ở Nam Ấn Để đến thế kỷ thứ IV, V tại Giao Châu, Thiền học Đại thừa cũng đã được phát triển với các bậc danh tăng như Huệ Thắng, Đạo Thiền… và các vị này còn truyền bá Thiền học Đại thừa sang tận Trung Quốc, trước khi tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam truyền dòng Thiền đầu tiên

Từ khi ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đem dòng Thiền của mình truyền sang nước ta vào thế kỷ thứ VI, thì Phật giáo Việt Nam bấy giờ lại có thêm một mối giao lưu - tiếp biến khác đó là Phật giáo Thiền tông từ Ấn Độ sang Trung

Trang 16

Quốc rồi truyền đến Việt Nam với hệ thống kinh Đại thừa thuộc văn hệ Bát

nhã nhấn mạnh tư tưởng Vô trụ, Siêu việt hữu vô Tuy Tỳ Ni Đa Lưu Chi đắc

pháp với tổ thứ 3 Tăng Xán của dòng Thiền Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Quốc nhưng Tỳ Ni Đa Lưu Chi lại ít chịu ảnh hưởng Thiền học của thầy mình mà lại chịu ảnh hưởng Phật giáo Thiền ở Ấn Độ bấy giờ Lúc này, Phật giáo Mật tông Ấn Độ và Tây Tạng đã phát triển mạnh Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lang thì Mật giáo (Mật tông) là giai đoạn phát triển thứ ba của lịch sử Phật giáo Đại thừa Ấn Độ (giai đoạn thứ nhất là Bát nhã, giai đoạn thứ hai là Duy thức) Giáo lý và thực hành của Mật tông có nét gần gũi tương đồng với Thiền tông như nhấn mạnh sự quan trọng của tọa thiền, trực cảm tâm linh, sử dụng những thoại đầu, công án với những hình ảnh cụ thể, dùng những mật ngữ để khai mở trí tuệ giác ngộ, sử dụng thần chú ấn quyết … để hỗ trợ đắc lực cho

sự Thiền quán hành đạo Vì thế mà Phật giáo Mật tông đã bao trùm mọi tín ngưỡng bình dân trong lòng nó tại Ấn Độ cũng như ở Việt Nam (Giao Châu) lúc bấy giờ Riêng ở ta, khuynh hướng này rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian thờ phúc thần, nhiên thần, thờ Mẫu, tín ngưỡng vật linh…, đồng thời phù hợp với phong tục của người Việt nên nó trở thành một yếu tố khá quan trọng trong sinh hoạt Thiền môn

Sang thế kỷ thứ IX, Phật giáo Việt Nam còn có thêm một mối giao lưu - tiếp biến khác là Thiền tông Trung Quốc truyền sang với dòng Thiền Vô Ngôn Thông Thiền phái này mang đậm dấu ấn Thiền học Trung Hoa với tư tưởng chân lý ở ngay trong lòng mình, Phật tại tâm Chân lý đó con người có thể tu chứng trực tiếp, chứ không cần nắm bắt qua ngôn ngữ, văn tự Thiền

phái Vô Ngôn Thông chủ trương bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật Đó chính là pháp môn Đốn ngộ mà Lục tổ Huệ Năng đã đề ra trước đó Sau này, tổ Bách Trượng cũng đã phát biểu: Tâm địa nhược không,

Trang 17

tuệ nhật tự chiếu (Nếu đất tâm trống không, thì mặt trời trí tuệ sẽ tự chiếu

sáng)

Tóm lại, Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần (1009-1400) được kế thừa

và phát triển trên cơ sở của ba mối giao lưu - tiếp biến bởi có 3 nguồn du nhập trước đó:

Một là, Phật giáo Đại thừa với khuynh hướng Thiền học từ Nam Ấn trực tiếp truyền sang bằng đường biển vào cuối thế kỷ thứ I trước công nguyên, cũng có thể là vào những năm đầu sau công nguyên với kinh văn hệ Bát nhã

Hai là, Thiền tông Ấn Độ truyền sang Trung Quốc rồi đến Việt Nam

bởi vai trò của ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi vào thế kỷ thứ VI với tư tưởng vô trụ, siêu việt hữu – vô

Ba là, Thiền tông Trung Quốc truyền vào Việt Nam bởi vai trò của ngài

Vô Ngôn Thông vào thế kỷ thứ IX với pháp môn Đốn ngộ và tư tưởng Phật tại tâm

1.2 Những tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng cho

sự phát triển Phật giáo ở Việt Nam thời Lý – Trần

1.2.1 Những tiền đề về kinh tế và chính trị

Sau hơn một nghìn năm đấu tranh kiên cường và bền bỉ, người Việt đã làm chủ được vận mệnh của mình từ năm 906, khi hào trưởng người Việt Nam là Khúc Thùa Dụ lên giành chính quyền làm Tiết độ sứ, thực thi đường lối kinh tế chính trị vì lợi ích của người Việt Tuy nhiên do tương quan lực lượng chưa cho phép và tính chất phức tạp của thời kỳ đó, những người đứng đầu đất nước trong khoảng thời gian từ 906 đến 938 chưa công khai tuyên bố nền độc lập của đất nước Người tiếp tục công cuộc cải cách theo hướng tự chủ là Dương Đình Nghệ, tuy đã đoạn tuyệt quan hệ thần thuộc với các triều

Trang 18

đại cai trị ở phương Bắc, nhưng trên danh nghĩa vẫn tự nhận là một quan cai trị ở Trung Quốc

Thời kỳ Bắc thuộc kết thúc với chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền vào năm 938 Đất nước chính thức bước vào thời kỳ độc lập tự chủ Năm 939 Ngô Quyền chính thức xưng Vương Tuy nhiên

vương hay bá, theo quan niệm của Trung Hoa chỉ là những người đứng đầu

những nước chư hầu mà thôi Do đó xét về mặt thể chế, Việt Nam thực sự là một quốc gia độc lập, bình đẳng với Trung Quốc, phải kể đến Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, xưng là Hoàng Đế và đặt tên nước là Đại Cồ Việt vào năm 968 Từ đó cho đến khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp (1884) những người đứng đầu đất nước đều xưng là Hoàng Đế, đặt niên hiệu riêng và

là người có quyền chủ tể Có thể coi chế độ quân chủ Việt Nam bắt đầu từ đó

Thời mới giành lại độc lập, các vua Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa phải thực hiện một quyền chủ tể của mình trên mọi phương diện của đất nước Thực chất các ông vua thời kỳ này là các thủ lĩnh quân sự, duy trì quyền lực chủ yếu bằng lực lượng quân sự và bằng những hình phạt khắc nghiệt để răn đe những người chống lại chính quyền trung ương Tuy nhiên xét về bệ đỡ tư tưởng, các triều Đinh và Tiền Lê lại đề cao Phật giáo với ý thức “Giải Hán Hoá”.Vì về mặt ngoại giao, trong thời gian này đất nước vẫn đang trong giai đoạn khẳng định vị thế với các nước lân bang, đặc biệt với đế chế Tống phương Bắc

Vào thế kỷ X khi Phật giáo tỏa rộng và thấm dần vào đời sống nhân dân, thì giữa triều đình, Phật giáo được công nhận như một tôn giáo chính thức Đinh Tiên Hoàng ngay sau khi lên ngôi, năm 971 đã quy định các cấp

bậc tăng đạo đồng thời với các cấp bậc quan lại văn võ Sách Thiền Uyển Tập Anh cho biết, khi mới lên ngôi, dựng đô ở Hoa Lư vua đã phong chức Tăng

Thống cho thiền sư Ngô Chân Lưu, tức chức quan đứng đầu Phật giáo Vào năm thứ 2 niên hiệu Thái Bình (971) Đinh Tiên Hoàng đã ban danh hiệu

Trang 19

Khuông Việt Đại Sư cho Ngô Chân Lưu Đồng thời Trương Ma Ni được cử làm Tăng Lục, chức quan dưới tăng thống Tăng thống, tăng lục là các chức quan mà triều đại về sau vẫn dùng Việc quy định các chức quan tăng đạo đồng thời với xây dựng bộ máy nhà nước, chứng tỏ vua Đinh rất chú trọng đến vị trí của tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Và dường như vua Đinh Tiên Hoàng đã chọn Phật giáo làm bệ đỡ tư tưởng cho chính quyền của mình, nhưng mặt khác chính quyền cũng tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển

Tên hiệu Khuông Việt mà Đinh Tiên Hoàng ban cho thiền sư Ngô Chân Lưu là có ý nghĩa “giúp nước Việt” Theo sách Thiền uyển Tập Anh, Đinh Tiên Hoàng thường mời Khuông Việt đến để hỏi chuyện và rất mến phục sư Đối với Khuông Việt ông cũng luôn trăn trở làm sao giúp vua vạch

ra đường lối trị nước nhằm ổn định nhân tâm Ông đã từng căn dặn vua Đinh

Tiên Hoàng rằng: “Hoàng thượng nay đã làm vua nên tuân theo lời Phật tổ dạy; nhứ nhất phải như mặt trời soi sáng khắp thế gian; thứ hai phải như mặt đất nuôi dưỡng muôn loài; thứ ba phải như cái cầu không quản khó nhọc đem lưng ra tế độ mọi người; thứ tư phải như cái cân không vì họ hàng thân thích

mà nghiêng lệch, không vì kẻ yêu, người ghét mà nặng nhẹ; thứ năm phải như người mẹ hiền ruột thắt gan mòn nuôi nấng con dân” [11, Tr.89] Những lời

nói ấy là những lời tâm huyết của một bậc thiền sư hết lòng vì dân, vì nước

Nó khắc sâu vào tâm trí của các vị vua nước ta thời bấy giờ Nhưng rồi để giữ vững thế nước trước nguy cơ xâm lược của phong kiến phương Bắc, ông vẫn gác tình riêng để ủng hộ Lê Hoàn lên thay thế vua Đinh - khi cha con vua Đinh ngày càng đi vào con đường hưởng lạc

Xét về tư tưởng có thể nói Lê Hoàn là người có nhân duyên với Phật giáo Nếu Đinh Tiên Hoàng là người phát hiện ra vai trò và giá trị của Phật giáo thì Lê Hoàn là người đưa những giá trị tư tưởng của Phật giáo áp dụng triệt để trong công cuộc trị nước, an dân Ngay cả sách lược đối nội, đối ngoại

và quân sự Lê Hoàn đều tham vấn các bậc cao tăng phật giáo

Trang 20

Căn cứ vào Đại Việt sử ký toàn thư và Thiền uyển tập anh thì Lê Hoàn

đã được ít nhất 4 vị cao tăng giúp đỡ như: Khuông Việt, Pháp Thuận, Ma Ha

và Vạn Hạnh Trong số các bậc cao tăng thì Pháp Thuận là người gần gũi với

Lê Hoàn ngay từ buổi đầu dựng nghiệp, được Lê Hoàn rất coi trọng Cuốn

Thiền uyển tập anh có chép: “Khi nhà Tiền Lê mới sáng nghiệp, sư vận trù kế hoạch rất là đắc lực Đến khi trong nước thái bình, sư không nhận phong thưởng của nhà vua, nên vua Lê Đại Hành lại càng kính trọng, thường chỉ gọi

là Đỗ Pháp sư chứ không dám gọi tên và giao cho sư giữ việc văn hàn” Vua

từng sư hỏi sư về vận nước ngắn hay dài, sư đáp:

Quốc tộ như đằng lạc Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh

Bài thơ ngũ ngôn này được hòa thượng Thích Thanh Từ trong cuốn

Thiền sư Việt Nam có dịch:

Vận nước như mây cuốn Trời Nam sống thái bình Rảnh rang trên điện các Chốn chốn dứt đao binh [59, Tr 42]

Nhà sư đã giúp vua nhận rõ thực trạng của vận nước lúc này đang khó khăn, phức tạp: triều đình đang phải chống lại quân Tống xâm lược (981);

lòng dân chưa yên khi vua “lập Hoàng Thái Hậu nhà Đinh là Dương Thị làm Đại Thắng minh hoàng hậu” [11, Tr 79]; rồi sự quấy nhiễu ở biên giới

phương Nam (Chiêm Thành) và nạn đói đang hoành hành trong nhân dân Lúc này muốn giữ yên được vận nước theo Pháp Thuận khuyên là nên xây dựng nền thái bình

Năm 986, khi nhà Tống sai Lý Giác sang phong tước cho vua, Lê Đại Hành đã sai Pháp Thuận giả làm người trong coi bến đò để quan sát những

Trang 21

hành vi của Lý Giác: “Thầy tăng họ Đỗ thông nho học, tính lại hay nói thơ, nói văn, có thể làm cho sứ Tống giật mình kinh sợ mà bỏ thói kiêu ngạo ” [11,

Tr 98] Sự uyên thâm và tinh thần yêu nước được Pháp Thuận thể hiện khi đưa Lý Giác qua sông Lúc qua sông có hai con ngỗng đang bơi giữa dòng,

Lý Giác ứng khẩu ngâm:

Nga nga lưỡng nga nga Ngưỡng diện hướng thiên nga (Ngỗng ngỗng hai con ngỗng Ngửa mặt nhìn chân trời)

Pháp Thuận đang cầm chèo, bèn đọc họa tiếp hai cấu kết:

Bạch mao phô lục thủy Hồng trạo bãi thanh nga (Lông trắng phơi dòng biếc Sóng xanh chân hồng bơi) [31, Tr 230]

Lúc Lý Giác trở về Trung Quốc, vua lại sai Quốc sư Khuông Việt làm bài thơ Vương Lang quy để tiễn biệt:

Tường quang phong hảo cấm phàm trương

Dao vọng thần tiên phục đế hương

Vạn trùng sơn thủy thiệp thương lang

Cửu thiên quy lộ trường

Tình thảm thiết, đối ly thương,

Phan luyến sứ tinh lang

Nguyện tương thâm ý vị biên cương

Phân minh tấu ngã hoàng

(Gió xuân đầm ấm cánh buồm giương, Trông vị thần tiên về đế hương

Muôn lần non nước vượt trùng dương Đường về bao dặm trường

Trang 22

Tình lưu luyến, chén đưa đường

Nhờ vị sứ lang Xin lưu ý đến việc biên cương, Tấu rõ lên thánh hoàng) [31, Tr 231]

Đây là bài thơ không chỉ hay về mặt văn chương mà còn có ý nghĩa chính trị, ngoại giao biểu hiện rõ ràng ý thức độc lập tự chủ Có thế nói Pháp Thuận và Khuông Việt Đại sư là những người đã góp phần tạo nên một thế ngoại giao có lợi cho dân tộc, đồng thời cũng tác động không nhỏ đến quan điểm và nguyên tắc đối ngoại của vua Lê Đại Hành

Trong các bậc cao tăng phò cho Lê Hoàn phải kể đến Vạn Hạnh Ông

là người không những am hiểu giáo lý của đạo Phật mà còn tinh thông về

thuật phong thủy và sấm ký: “Bấy giờ sư nói ra điều gì, thiên hạ đều coi như lời sấm Vua Lê Đại Hành đặc biệt tôn kính sư Năm thiên phúc thứ nhất (980) nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo đem quân sang xâm lược nước ta, đóng quân ở gò Tử Cương, núi Giáp Lăng Vua Lê mời sư đến hỏi tình thế Vua muốn đi đánh Chiêm Thành cùng bàn bạc với triều thần, nhưng chưa quyết,

sư đề nghị vua xin cấp tốc tiến quân, nếu không sẽ lỡ dịp Vua bèn đem quân

đi đánh, quả nhiên thu được toàn thắng” [46, Tr 188]

Ngoài ba vị cao tăng như: Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, còn có

Ma Ha cũng là một bậc chân tu có nhiều phẩm chất rất đặc biệt Tuy không thường xuyên ra vào cung cấm, trực tiếp giúp việc cho vua, nhưng thiền sư

cũng có nhiều đóng góp cho đất nước Theo sách Thiền uyển tập anh thiền sư

Ma Ha đã từng được Lê Hoàn ba lần thỉnh mời về triều để hỏi han việc nước nhưng sư chắp tay từ chối, khiến vua bực mình cho nhốt vào chùa Vạn Tuế trong đại nội Nhưng cũng chính tính khảng khái ấy mà vua lại càng thêm kính nể

Dưới triều Tiền Lê ta có thể thấy sự nhập thế mạnh mẽ của Phật giáo,

từ Phật giáo cung đình cho đến Phật giáo dân gian Bất kể vai trò nào giới tu

Trang 23

sĩ đều thể hiện tốt vai trò tích cực của mình Mặc dù các nhà sư tuy không tham chính, với ý nghĩa là tham dự vào bộ máy chính quyền, nhưng ảnh hưởng của họ đối với chính trị rõ ràng là lớn - họ đóng vai trò là kiến trúc thượng tầng của chế độ phong kiến Như vậy Phật giáo bên ngoài thì giúp cho triều đình việc bang giao, còn bên trong thì chắc cũng góp phần đem lại những yêu tố tư tưởng nhân ái, từ bi, hỷ xả, thuần hậu cần thiết cho sự bình trị Đây là những tiền đề chính trị quan trọng cho sự phát triển cực thịnh của Phật giáo trong thời kỳ Lý – Trần, mà mở đầu là vai trò của sư Vạn Hạnh và

sự vận động lên ngôi của vua Lý Công Uẩn

1.2.2 Những tiền đề về xã hội và tư tưởng

Trong thế kỷ X, Nhà nước độc lập mới được xây dựng, đang dần dần tự củng cố, vua phải chuẩn bị đương đầu với những cuộc chiến tranh xâm lược

từ bên ngoài, vừa phải đối phó với những yếu tố phân tán cát cứ ở trong nước Trong bối cảnh đó, tất nhiên, bạo lực và quân sự là ứng xử trội của các ông vua và bộ máy nhà nước Song cũng thật kỳ lạ, đó cũng là thời kỳ bước đầu

phát triển mạnh mẽ của Phật giáo Chính những ông vua từng “đặt vạc dầu giữa sân, nuôi hổ báo trong cũi” để trấn áp mọi chống đối, lại ủng hộ Phật

giáo

Đến cuối thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo đã lan khắp mọi miền của xứ An Nam đô hộ phủ Không chỉ ở Giao Châu, tức miền lưu vực sông Hồng, mà đến tận Ái Châu, Hoan Châu, tức đất Thanh Nghệ xưa Nhưng khu vực Phật giáo phát triển mạnh nhất là vùng Bắc Sông Hồng, ngoài những trung tâm Phật giáo lâu đời như Luy Lâu (Thuận Thành, Hà Bắc), Kiến Sơ (Phù Đổng, Gia Lâm), trên đất Bắc Giang bấy giờ đã có rất nhiều chùa Chỉ trong Châu

Cổ Pháp (thời Lý đổi thành phủ Thiên Đức) đã có nhiều chùa nổi tiếng như Kiến Dương ở Hương Hoa Lâm, chùa Thiên Chúng và chùa Lục Tổ ở Dịch Bảng, ở Hương Phù Ninh, Chùa Cảm Ứng trên núi Ba Sơn (Tiên Sơn)

Trang 24

Thời kỳ này cũng đã xuất hiện những lớp cao tăng người Việt, trong đó nhiều người đã đến Trung Quốc, xuống Nam Dương, sang Ấn Độ, hiểu rộng biết nhiều, kiêm thông Hán Phạn, có thể coi là những tri thức đương thời Lực lượng Phật giáo, các nhà sư và các tín đồ, đã thực sự tham gia vào cuộc vận động giải phóng dân tộc, đứng vào hàng ngũ nhân dân chống áp bức, giành lại nền độc lập cho đất nước

Trong thế kỷ X, cũng có những trung tâm Phật giáo mới Trước hết phải nói đến trung tâm Đại La, mà sau này thời Lý là Thăng Long Ở đây từ thế kỷ VI, Lý Nam Đế đã cho dựng chùa Khai Quốc (chùa Trấn Quốc) ở Hà Nội ngày nay Cho đến giữa thế kỷ X, chùa này là nơi trụ trì của thiền sư Vân Phong, người thuộc thế hệ thứ ba của dòng thiền Vô Ngôn Thông, học trò của Vân Phong là Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu, vị tăng thống thời Đinh, đã cho mở mang chùa Khai Quốc, biến nơi đây trở thành một trung tâm truyền

thụ Phật giáo Sách Thiền Uyển tập Anh chép rằng khi đại sư Khuông Việt mở

rộng Phật học ở Chùa Khai Quốc, chùa Đa Bảo, người đến dự học

Khi Hoa Lư được xây dựng thành Kinh đô của đất nước trong hai triều Đinh và Lê thì nhiều ngôi chùa đã được xây dựng như: chùa Tháp là ngôi chùa cổ mà nay chỉ còn thấy di tích nền cũ ở ven sông Hoàng Long; chùa Nhất Trụ ở Hoa Lư hiện nay không còn giữ được dấu vết gì của kiến trúc cổ; chùa Bà Ngô ở Hoa Lư tương truyền cũng được xây dựng từ thời Đinh, tấm

bia đá thời Nguyễn ở chùa này có ghi: Chùa Bà Ngô trong ấp ta là một danh lam ở đô cũ nước Cồ Việt

Như vậy, sự hình thành những trung tâm Phật giáo mới đã nói lên sự ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội Nho Giáo cũng được truyền vào nước

ta từ rất sớm nhằm mục đích đồng hóa, nhưng việc đào tạo, dạy chữ nghĩa cho đại đa số quần chúng nhân dân lại được tiến hành ở các ngôi chùa, do đó tăng

ni không chỉ làm công việc dạy chữ và truyền giáo lý đạo Phật mà họ góp

phần củng cố ý thức cộng đồng cho người dân đất Việt

Trang 25

Về phương diện văn hóa tư tưởng người Việt có một tín ngưỡng đặc sắc là tục thờ cúng tổ tiên Khi du nhập vào Việt Nam Phật giáo không những không bị bài xích mà còn được dân chúng hoan nghênh Việc một văn hóa mới được chấp nhận phụ thuộc rất nhiều vào tính cách của người dân bản địa Đối với người Việt Nam tính cách đó được hình thành trên nền văn hóa lúa nước Công việc trị thủy là yếu tố khách quan cần có sự hợp sức của tập thể, điều đó dần hình thành nên tính cách làng xã của người Việt Phật giáo Đại

thừa với tư tưởng tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn đã bồi đắp thêm tinh

thần đoàn kết cộng đồng làng xóm và khi có giặc xâm lăng nó phát triển thành tinh thần yêu nước Có thể nói với hệ thống giáo lý cao siêu nhưng lại gần gũi với con người, Phật giáo và hình ảnh của Đức Phật đã hòa nhập vào tâm hồn, tình cảm của người dân Việt Nam đặc biệt là sau khi dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi được truyền bá vào Việt Nam năm 580 và dòng thiền Vô Ngôn Thông được du nhập từ Trung Quốc năm 820

Đối với xã hội bình dân, hình ảnh Phật giáo được chuyển hóa thành những bậc thần linh Ví như, Phật Mẫu Man Nương là một cô gái bình dị nơi thôn quê đã trở thành một vị Phật trong tín ngưỡng dân gian của người Việt Truyền thuyết kể rằng năm 12 tuổi bà Man Nương (Phật Mẫu Man nương) đến theo học đạo ở chùa Linh Quang, Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tại chùa có thiền sư Khâu Đà La là một vị cao tăng đầu tiên sang Việt Nam truyền đạo và ông đã trao cho bà Man Nương cây gậy và dặn khi nào hạn hán thì đem gậy cắm xuống đất để cứu nhân dân Khi vùng Dâu bị hạn hán ba năm liền, nhớ đến lời dặn của ông, Man Nương đã đem cây gậy thần cắm xuống đất Ngay lập tức nước phun lên, cây cối, ruộng đồng lại tươi tốt và chúng sinh thoát nạn hạn hán Ở Chùa Dâu (Bắc Ninh) có bốn vị thần Mây (Pháp Vân), thần Sấm (Pháp Lôi), thần Sét (Pháp Điện) và thần Mưa (Pháp Vũ) của cư dân trông lúa nước cũng được chuyển hóa thành bốn vị Phật (Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp

Trang 26

Điện và Pháp Vũ) được gọi chung là Tứ Pháp, an vị ở bốn Chùa chùa Dâu, Đậu, Tướng, Dàn (ở Thuận Thành, Bắc Ninh)

Cảnh loạn lạc do cuộc chiến tranh 12 sứ quân có lẽ cũng đã góp phần thúc đẩy người dân tìm đến Phật giáo Còn tầng lớp thống trị, những kẻ đã gây chém giết, cũng cầu nguyện Phật, hy vọng xóa sạch được tội lỗi của mình Chẳng hạn, Nam Việt Vương Đinh Liễn, con trai của vua Đinh Tiên Hoàng, sau khi đã giết em của mình, đã cho dựng ở Hoa Lư một trăm cột kinh bằng đá (gọi là kinh tràng), để cầu nguyện cho vong hồn em được giải thoát

và cầu cho mình “hằng kiên lộc vị”, tức giữ được chức tước, bổng lộc vững bền lâu dài

Phật giáo với sự tỏa rộng về mặt không gian, cũng như sự thấm sâu trong đời sống tinh thần đã bước đầu chiếm được vị trí vững chắc trong xã hội Đây là tiền đề về tư tưởng và xã hội vững chắc để cho Phật giáo phát triển toàn thịnh trong hai vương triều Lý và Trần

Đến đây một câu hỏi đặt ra là tại sao Phật giáo lại có ưu thế chính trị như vậy, mặc dù về mặt tôn giáo, trong thực tế lúc này đã tồn tại song hành

“thế tam giáo” Nho - Phật - Đạo, nhiều học giả đã phân tích như sau: Thứ nhất, mặc dù giáo lý của Phật giáo không trực tiếp đề cập đến mục đích chính trị xã hội, nhưng lý tưởng từ bi bình đẳng, vị tha của Đạo Phật lại mở cánh cho thái độ nhập thế vào đời sống chính trị xã hội; Thứ hai, khi du nhập vào Việt Nam thì Phật giáo đã hoà đồng với tinh thần yêu nước, với một thứ chủ nghĩa quốc gia đang hình hành; Thứ 3, Phật giáo không tán thành quan điểm Thiên Mệnh (vua trị nước theo ý trời), nghĩa là không có vấn đề phải trung với một ông vua cụ thể; Thứ tư, về khách quan trông vào các triều đình Ngô, Đinh, Lê ta thấy các ông vua đều là võ tướng xuất thân ít học Như cách cai trị của Đinh Tiên Hoàng thì thật là hung tợn: cột đồng đốt nóng, vạc dầu đun sôi

Một đặc điểm cần nhấn mạnh là, khác với Châu Âu đương thời trong quan hệ tôn giáo với chính trị - nơi mà quyền lực tôn giáo đã biến thành nhà

Trang 27

nước tôn giáo, chẳng hạn như toà thánh Vatican, giáo hội không những nắm quyền lực kinh tế, xã hội mà trực tiếp điều khiển quyền lực chính trị Nhưng ở Việt Nam các tăng sĩ tham dự chính sự nhưng không dự chính quyền Thậm chí họ luôn coi việc trở về chùa là bến đỗ của bản thân:

“Lý do thứ nhất họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi với quần chúng và biết được những khổ đau của người dân đang bị một chính sách đô hộ hà khắc

Lý do thứ hai họ không có ý muốn tranh ngôi của vua, không giành quyền bính và địa vị ngoài đời, nên vua tin họ

Lý do thứ ba, họ không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp vua mà thôi) như các nhà nho, nên họ có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào

có thể đem lại hạnh phúc cho dân

Lý do thứ tư là các vua cần sức học của họ, nhất là trong thời Đinh, Lê, các vua đều không phải giới trí thức Nho sĩ thì chắc chắn không có mấy người, mà lại chỉ trung thành được với một triều đại” [45, Tr 13]

Đây là một nét đẹp của lịch sử Phật giáo Việt Nam, nó không chỉ phù hợp với đặc điểm của đời sống chính trị Đại Việt mà còn phù hợp với đặc điểm Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo có vai trò quan trọng trong tâm thức dân tộc và đời sống của nhân gian

Như vây, trong chương thứ nhất này chúng tôi đã cố gắng trình bày tóm lược những nét chính liên quan đến hoàn cảnh ra đời của Phật giáo và quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam Điều tác giả muốn nhấn mạnh ở đây là: lúc đầu Phật giáo xuất hiện như một nỗ lực cá nhân của Đức Phật Thích Ca nhằm tìm kiếm một con đường, một giải pháp giải phóng, phổ cập chúng sinh thoát khỏi bề khổ trầm luân Nhưng sau đó Ngài đã khám phá ra chân lý của

sự giác ngộ, từ đó đưa ra con đường để giải thoát cho con người thoát khỏi những kỳ thị xã hội và tín ngưỡng cụ thể đang tồn tại trong xã hội cổ đại lúc

Trang 28

đó, giúp con người về với vô ngã hướng thiện, tìm thấy sự bình yên Đó là lý

do khiến cho đạo Phật trở thành một tôn giáo có tính nhập thế rất cao

Chương này cũng dành một mục quan trong để trình bày khái lược về những tiền đề kinh tế chính trị và xã hội cho sự phát triển của Phật giáo ở Việt Nam Từ đó chỉ ra những đóng góp của Phật giáo vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong thời kỳ Đinh, Tiền và Tiền Lê

Trang 29

Chương 2 PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN (1009-1400)

2.1 Phật giáo trong triết lý chính trị quân chủ ở Việt Nam thời Lý – Trần

2.1.1 Bối cảnh chính trị xã hội và vai trò của sư Vạn Hạnh trong quá trình kiến tạo triều Lý

2.1.1.1 Bối cảnh chính trị - xã hội

Trong 24 năm ở ngôi trị vì đất nước, Lê Hoàn đã làm được rất nhiều việc cho đất nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao, quân sự Đại Hành hoàng đế là người tiếp tục sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Tiền Ngô vương và của Đinh Tiên Hoàng, là người hoàn tất công việc xây dựng nền móng độc lập, tự chủ cho dân tộc, để sau này nhà Lý tiếp tục xây dựng lên bức tường và lợp mái cho ngôi nhà Đại Việt Ông tạo ra một thế vững chắc cho đất nước và xứng đáng là người anh hùng dân tộc

Tuy nhiên, nghịch lý trong quan hệ giữa mô hình tập quyền quân sự và

bệ đỡ tư tưởng Phật giáo đã bộc lộ ngay sau khi Lê Đại Hành băng hà, các vua Lê kế vị duy trì được 4 năm, nhưng trừng ấy thời gian cũng đủ cho nhân dân cảm nhận được cảnh cùng cực, phẫn uất dưới ách cai trị hà khắc của một vương triều đã trở nên mục nát Bài học đau lòng của triều Đinh, vì ngôi vị

mà Đinh Liễn đã giết em của mình là Hạng Lang Nay dân tộc lại phải chứng kiến cảnh đau lòng tương tự cũng vì ngôi vị, vì tham vọng của danh và lợi mà Long Đĩnh đã mượn bàn tay của kẻ trộm trèo tường vào cung sát hại anh mình là Trung Tông để chiếm ngôi, chính việc làm thất đức này của Long Đĩnh là manh mối của sự suy vong triều Lê

Không chỉ độc ác, Lê Ngoạ Triều còn là kẻ bất hiếu, nhiều lần khiến cho tù binh và phạm nhân vì bị tra tấn dã man mà phạm huý cha mình thì lại

Trang 30

thấy làm thích thú Với con người có tính cách như vậy dù có tôi trung, thần hiền cũng không can gián được, hơn nữa Lê Ngoạ Triều lại chỉ thích những

kẻ bợ đỡ xu nịnh như bọn tuồng khôi hài mà thôi Ngô Sĩ Liên đã nhận định

chính xác rằng: mất nước mau chóng, há phải không do đó mà ra

2.1.1.2 Phật giáo và sự khởi lập vương triều Lý

Phát triển đất nước, ổn định xã hội, giáo hoá dân chúng là yêu cầu hàng đầu của Đại Việt dưới vương triều Lý - Trần Giải quyết vấn đề đó đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực, có trình độ học vấn cao Triều Lý ra đời là kết quả từ sự vận động, giúp đỡ của các nhà sư mà tiêu biểu là vai trò của Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc Theo sách Thiền uyển tập anh, Thiền sư Vạn Hạnh

họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp, gia đình đã mấy đời thờ Phật Thủa nhỏ thông minh khác thường, học thông ba giáo: Phật, Nho, Lão nhưng coi khinh công danh phú quý Ông thuộc dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một dòng phái thuộc Mật Tông

Sự thành lập vương triều Lý là bước chuyển giao quyền lực từ dòng họ

Lê sang dòng họ Lý, từ một ông vua bạo ngược sang một vị vua được nhận định là anh minh Tuy nhiên đó không đơn giản là sự chuyển giao ngôi vị thông thường mà có sự góp công trực tiếp và to lớn của các vị Tăng quan, tiêu biểu như Đào Cam Mộc, Vạn Hạnh Chính họ là một trong những vị Tăng quan đầu tiên góp phần khởi dựng và thúc đẩy sự tồn tại, phát triển của Đại Việt dưới triều Lý

Với Vạn Hạnh quan điểm chính trị được xác định rõ ràng: “Phải đấu tranh để lúc nào đất nước cũng có người làm chủ” [30, Tr 422] Những

người làm chủ đất nước phải biết chăm lo cho dân chúng, có ý thức về sự phát triển của quốc gia dân tộc, phải làm cho đất nước hưng thịnh, bởi đất nước hưng thịnh thì Phật giáo mới có điều kiện phát triển Lợi ích của Phật giáo gắn liền với lợi ích của dân tộc Cho nên việc thay thế triều tiền Lê đã mục nát bằng việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi được Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc chuẩn

Trang 31

bị trong một thời gian dài Quá trình chuẩn bị đó khởi đầu bằng việc sư Vạn Hạnh nuôi dưỡng, giáo dục Lý Công Uẩn cho đến khi Lý Công Uẩn chuẩn bị

lên ngôi Ông đã vận động bằng việc sáng tác bài Sấm ký Cây gạo và những

bài thơ quanh mộ Hiển Khánh Vương hay bài thơ nhắc đến tích chữ Quốc để tuyên truyền rộng rãi trong nhân gian:

Chỉ trong ba tháng thôi Thân Vệ lên đỡ xã tắc Lạc trà ấn có chữ Quốc Mười khẩu xuống nước đất Gặp thánh gọi thiên đức [30, Tr 417]

Những bài thơ bài sấm của Vạn Hạnh đã tạo tâm lý sâu rộng trong nhân dân, khiến cho việc chuyển giao quyền lực không tạo ra sự phản kháng, bất bình lớn từ phía dân chúng Khi Lý Công Uẩn lên ngôi ở Hoa Lư thì ở chùa Lục Tổ, Vạn Hạnh đã viết bài thơ yết bảng như là một cách để công bố trước dân chúng sự ra đời chính thống của triều Lý:

Tật Lê chìm biển Bắc Hạt Lý mọc trời Nam Bốn phương gươm giáo lặn Tám cõi mừng bình an

Song hành với cuộc vận động trong dân chúng của Vạn Hạnh, tại kinh

đô Hoa Lư, Đào Cam Mộc cũng khéo léo vận động để đưa Lý Công Uẩn lên cầm quyền Căn nguyên của việc thay thế triều đại mà Đào Cam Mộc dùng để thuyết phục Lý Công Uẩn lên ngôi là xuất phát từ sự khủng hoảng đất nước dưới thời Lê Long Đĩnh và sự bất ổn của ngôi vua

“ Khi ấy Chi Hậu là Đào Cam Mộc do biết Công Uẩn có ý muốn nhận việc truyền ngôi, mới nhân lúc vắng người hỏi để gợi xem: Mới rồi chúa thượng ngu tối bạo ngược, làm nhiều việc bất nghĩa, trời chán nên không cho hết thọ; con nối thơ ấu, chưa cáng đáng nổi tình thế khó khăn Mọi việc phiền

Trang 32

nhiễu, bách thần không ưa, dân chúng ngong ngóng mong tìm chân chúa”[31,

Hôm khác lại bảo Công Uẩn rằng: “Người trong nước ai cũng bảo họ

Lý sẽ phát, mà lời sấm đó đã hiện ra rồi, đó là cái họa không thể che giấu được nữa; chuyển họa làm phúc chỉ trong buổi mai buổi hôm Trong lúc trời trời trao người theo, ông còn ngần ngại gì nữa?” [31, Tr.253]

Đồng thời Đào Cam Mộc gợi ý cả con đường thực hiện lẽ trời, lòng dân, thu phục nhân tâm, vững chắc ngôi vị, chính thống việc cầm quyền và tạo sự tin tưởng của quần chúng vào một triều đại mới:

“Ông là người công minh dung thứ, khoan hồng nhân từ lòng người thu phục Hiện nay trăm họ khốn khổ, dân chúng không chịu nổi mệnh lệnh Nếu thân vệ lấy ân đức vỗ về, trăm họ tất cùng nhau mà theo về, cũng như nước chảy xuống chỗ thấp, ai ngăn cản lại được” [31, Tr 253]

Bên cạnh việc khuyên Lý Công Uẩn, Đào Cam Mộc còn ra sức vận động quần chúng bàn định việc suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Kết quả là nhận được sự đồng thuận nhất trí cao của bá quan văn võ khi chấp thuận theo

về với triều đại mới

“Cam Mộc biết được việc gấp gáp sợ sinh biến liền bàn tán với các khanh sĩ ở trong triều ( ) mà lập mưu thưa rằng: nay ấy là lúc ức triệu người

đã có lòng khác, trên dưới đều xa lìa nhân đức, người ta oán giận các chính sách hà khắc của Tiên vương (Ngoạ Triều) nên không muốn theo về với tự quân nữa Hết thảy mọi người đều có ý muốn tôn kính mà cử Thân Vệ lên

Trang 33

thay Bọn chúng ta không nhân lúc này mà lập Thân Vệ làm Thiên tử rồi bất chợt có biến thì còn giữ được người thủ lĩnh không?” {31, Tr 253-253} Nhờ

sự đồng thuận ấy, vương triều Lý ra đời: “Tất cả cùng theo giúp vua lên thánh điện lập làm Thiên Tử trăm quan đều hô vạn tuế, vang dậy cả trong triều” [31, Tr.254]

Cuộc vận động song hành của Đào Cam Mộc trong kinh thành Hoa Lư

và cuộc vận động của Vạn Hạnh trong dư luận dân chúng đã giúp sự chuyển giao quyền lực giữa hai dòng họ diễn ra nhanh chóng, đặt nền tảng cho sự ra đời, phát triển của triều đại mới - triều đại Lý mà trong đó công đầu thuộc về đội ngũ Tăng quan

2.1.1.3 Chính sách ủng hộ Phật giáo của hai triều đại Lý – Trần Ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu tức là ngày 21 tháng 11 năm 1009, được thế lực Phật giáo đứng đầu là sư Vạn Hạnh cùng các triều thần ủng hộ, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế Ngay sau khi lên ngôi, cũng như trong suốt những năm làm vua Thái Tổ Lý Công Uẩn đã có nhiều lệnh, chỉ có lợi cho sự phát triển của Phật giáo như làm chùa trong cả nước, độ làm sư, sai sứ sang Trung Quốc xin kinh Tam Tạng Nhưng Phật giáo thời Lý phát triển không chỉ vì sự ủng hộ của Lý Thái Tổ, bước phát triển này chỉ là một bước phát triển tự nhiên trên vị trí và cơ sở có từ thời Đinh và Tiền Lê

Các vua Lý đều tôn sùng Phật giáo: Lý Thái Tông thuộc thế hệ thứ 7 của Thiền Phái Vô Ngôn Thông, Lý Thánh Tông thuộc thế hệ thứ nhất của phái Thiền Thảo Đường, Lý Anh Tông thế hệ thứ 3 và Lý Cao Tông thế hệ thứ 5 và Lý Huệ Tông sau khi nhường ngôi cho Chiêu Hoàng cũng đi tu với

hiệu là Huệ Quang thiền sư Sách Đại Việt sử ký Toàn thư có chép lời bàn của

sử gia Lê Văn Hưu: “ Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, Tôn Miếu chưa dựng (chưa dựng miếu thờ tổ tiên), Xã tắc chưa lập (chưa xây đền thờ thần

Xã Tắc) mà đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại sửa chữa chùa quán ở

Trang 34

các lộ, và cấp độ điệp cho hơn nghìn người ở Kinh là tăng” [31, Tr 260-261]

Đồng thời còn hạ lệnh cho các hương ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại

Các vua đi tu, cả tầng lớp quý tộc quan liêu đều mộ Phật Văn bia

chùa Linh Xứng dựng năm 1126 nói rõ điều đó:

Thái uý ( Lý Thường Kiệt) tuy thân vướng việc đời mà lòng vẫn hướng

về đạo Phật Có lẽ vì nhà vua và mẫu hậu tôn sùng giáo lý nhà Phật cho nên thái uý vâng theo ý chỉ của đức vua và mẫu hậu mà nâng đỡ Phật pháp vậy” [55, tr 153]

Quý tộc quan lại đua nhau trọng đãi các nhà sư Sách Thiền uyển Tập anh cho chúng ta biết ít nhiều về tình hình đó Thiền sư Cứu Chỉ được vua

Thái Tông đến chùa thăm 3 lần Thiền sư Đại xả (1120-1180) được vương công thời bấy giờ đua nhau thờ làm thầy, nhất là Kiến Ninh Vương và công chúa Thiên Cực lại càng kính trọng sư Thiền sư Quảng Nghiêm (1122-1190) được Binh bộ thượng thư Phùng Giáng Tường nghe tiếng đem lòng hâm mộ, mời sư đến chùa Tịnh Quả Thiền sư Trí Thiền thời Anh Tông và Cao Tông cũng được phụ quốc thái uý Tô Hiến Thành và thái bảo Ngô Hoà Nghĩa thờ làm thầy

Nhiều nhà sư xuất thân từ tầng lớp quý tộc quan lại Chẳng hạn như Viên Chiếu (999-1090) là con của anh bà thái hậu Linh Cảm (mẹ của Lý Thánh Tông); sư Quảng Trí là anh của bà Hoàng Phi Chiêu Phụng; Sư Huệ Sinh (mất 1063) là anh em của binh bộ viêm ngoại lang Lâm Tương; sư Mãn Giác (1052-1196) là con của trung thư ngoại lang Lý Hoài Tố, sư Trí Bảo là con của thái úy Tô Hiến Thành

Các chùa tháp lớn thời Lý phần lớn do nhà vua hay tầng lớp quý tộc bỏ

tiền xây dựng Bia chùa Linh Xứng chép rằng: “từ khi có Phật giáo đến nay

đã hơn hai nghìn năm mà sự thờ phụng ngày càng thêm mới Hễ có cảnh đẹp

Trang 35

núi non thì không nơi nào là không mở mang để xây dựng chùa chiền, nhưng không có các bậc vương công đại nhân giúp đỡ thì làm sao mà nên được”

[55, tr 155]

Do sự ủng hộ của vua chúa quý tộc quan liêu, Phật giáo thời Lý chiếm

vị trí to lớn trong đời sống chính trị, xã hội Ảnh hưởng của Phật giáo lan truyền khắp mọi miền đất nước Năm 1010, vừa mới dời đô ra Thăng Long

Lý Thái Tổ đã cho xây dựng một loạt chùa ở đây Ngoài Thăng Long, trong thời Lý chùa chiền được xây dựng khắp nơi, tận cả những vùng đất xa Đất Thanh Hoá từ thời nhà Đinh và Tiền Lê đã có nhiều chùa thì nay có thêm một

loạt chùa mới, nhất là từ khi Lý Thường Kiệt ra trấn nhậm ở nơi đây “Để thực hiện chính sách kinh dinh khai phá vùng Nghệ An của nhà Lý, nhiều quý tộc đại thần như Lý Nhật Quang (con thứ tám của vua Lý Thái Tổ) đã vào trấn nhậm ở nơi đây và chính họ cũng dựng lên nhiều chùa thờ Phật”[55, Tr

các vùng dân tộc thiểu số, chẳng hạn như chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, xây dựng khoảng năm 1107 ở Châu Vị Long (Tuyên Quang), trong vùng của người Tày

Chùa nhiều và sư cũng đông, trong thời Lý, có nhiều đợt dân đi làm tăng với số lượng khá đông Ngay trong năm 1010, khi mới lên ngôi và mới dời đô ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã có lệnh cho độ dân làm sư Năm

1014, vua lại chuẩn y lời tâu của tăng thống Thẩm Văn Uyển xin lập đàn chay

ở chùa Vạn Tuế trong Thành Thăng Long để tăng đồ đến thụ giới Hơn hai năm sau, năm 1016, hơn một nghìn người ở kinh đô Thăng Long được độ làm tăng đạo Năm 1019, Lý Thái Tổ lại xuống chiếu độ dân trong cả nước làm sư

Do nhiều người xuất gia đi làm sư, trong nhiều chùa thời Lý, số tăng đồ

lên rất đông Sách Thiền Uyển Tập Anh cho biết: Thiền sư Đa Bảo ở chùa

Kiến Sơ (Phù Đổng, Hà Nội) có hơn một trăm tăng đồ Chùa Trùng Minh ở

Trang 36

núi Thiên Phúc (Tiên Sơn, Hà Bắc): “học trò có hàng nghìn người, nên chỗ ở của sư thành một nơi tùng lâm sầm uất”[55, Tr 156] Tăng đồ của sư Nguyễn

Học ở Chùa Quảng Báo (Hà Bắc) lên đến hàng trăm người Thiền sư Đạo Huệ

ở chùa Quang Minh học trò có hơn nghìn người Còn ở Chùa Thanh Tước

trên núi Du Hý (Hà Bắc cũ), nơi Thiền sư Trí Bảo tu hành thì “tăng đồ và dân chúng đông như chợ”[55, tr.157]

Để nuôi sống một số tăng đồ lớn như vậy các chùa thời Lý thường có nhiều ruộng đất Ruộng chùa có thể do nhà vua cắt ruộng công ban cho,

nhưng cũng có nhiều quý tộc quan lại cúng ruộng cho chùa “Theo Văn bia chùa Vạn Phúc (chùa Phật tích ở Tiên Sơn, Hà Bắc) thì năm Thái Thuỵ Bình thứ 4 (1057) nhà chùa đã cho xây thêm một trăm ngôi chùa ở đây và cúng hơn một trăm thửa ruộng” {55, Tr.157} Chùa Báo Ân (Mê Linh), dựng năm

1209 có chép một người họ Nguyễn đã cúng cho chùa nhiều thửa ruộng “các

sứ cộng 126 mẫu, cúng làm ruộng oản nuôi sư, 3 mẫu cho người giữ chùa, còn bao nhiêu để lại cho dân, phòng khi tu sửa, cùng là sắm cỗ chay oản quả, dịp hội hè, bố thí cho cô hồn” [55, Tr 157]

Ruộng chùa thời Lý thường do dân làng xã canh tác, đóng tô, nhưng

trong một số chùa còn có cả “điền nô”, tức là một loại nô tỳ làm ruộng Đại Việt sử ký Toàn thư chép rằng: bấy giờ nhà chùa có cả điền nô và của chứa trong kho Một số nhà sư còn được vua Lý cấp thực hộ, tức cho hưởng tô thuế của một số hộ nông dân Sách Thiền Uyển tập anh có ghi, Thiền sư Mãn Giác

ở chùa Giáo Nguyên được vua Lý cho ăn lộc 50 hộ Sau khi sư Không Lộ chết (1119), vua Lý xuống chiếu cho làm rộng thêm chùa và cho 20 hộ được miễn lao dịch để hương đèn thờ phụng Sư Giác Hải chết, vua Lý Thần Tông cũng cho 20 hộ để thờ phụng sư

Chính vì vậy nhà chùa có nhiều ruộng đất và của cải như vậy nên năm

1088, vua Lý Nhân Tông đã cho các quan văn cao cấp kiêm là chức đề cử - vị quan quản lý tài sản của chùa

Trang 37

Tinh thần sùng Phật, còn được biểu hiện thông qua sinh hoạt Phật giáo, cùng với nhiều lễ hội của nó, đã trở thành một đặc điểm của văn hoá thời Lý

Do việc xây chùa tháp ở khắp nơi, luôn có những lễ hội được tiến hành để khánh thành các kiến trúc Phật giáo này Có những hội lớn do nhà vua tổ chức Chẳng hạn năm 1118, mở hội Thiên Phật (nghìn Phật) để khánh thành chùa Thắng Nghiêm Thánh Thọ Năm 1119, mở hội khánh thành chùa Tịnh

Lự Năm 1121, mở hội khánh thành chùa Báo Thiên

“Đến khi làm lễ khánh thành, sai phụng thường chỉnh đốn kiệu xe, khiến phong bá quét sạch bụi bặm Khói trầm đàn toả như mây toả khắp sơn khê Chuông trống vang ầm, khánh kêu inh ỏi Phía trước xe mây tam bảo, đằng sau kiệu báu thánh hoàng ”[55, tr162]

Dựng chùa có hội, mà tạc tượng đúc đồng cũng có Sử chép năm 1036,

mở hội long trì, khánh thành pho tượng Phật Đại Nguyện Năm 1040, mởi hội

La Hán, làm lễ khánh thành việc tạc hơn một nghìn tượng Phật, vẽ một nghìn tranh Phật

Hơn thế nữa, dưới thời vua Lý Nhân Tông, sử còn chép hai lần sang Tống xin kinh Tam tạng, đó là vào năm 1081, sứ giả là Lương Dụng Luật, và năm 1098 sứ giả là Nguyễn Văn Tín Như vậy thế kỷ XI, ở nước ta đã có

nhiều bộ kinh Tam tạng in và viết tay Thiền Uyển Tập anh có chép vào thời

Lý các kinh phổ biến là Pháp Hoa, Viên Giác, Hoa Nghiêm, Kim Cương

Sang thời Trần các vua Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông đều là đệ tử của nhà Phật, thậm chí còn là người lãnh đạo giáo hội Phật

giáo: “Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông là những nhà chính trị giỏi nhưng đồng thời cũng là những phật tử thật sự” [30, Tr 279] Đạo Phật giai đoạn này

đã trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân lại trong một mục đích chung là xây dựng và bảo vệ quốc gia Trong giai đoạn đầu, các ông vua triều Trần cùng giới quý tộc vẫn ủng hộ Phật giáo Vua vẫn tiếp tục ban đất cho chùa, vương hầu công chúa vẫn tiếp tục dựng nhiều chùa để làm phúc

Trang 38

Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ cũng nói: “Các chùa như Hoàng Giang, Đông Cổ, An Sinh, Yên Tử, Phổ Minh Ngọc Thanh dựng lên nhan nhản khắp nơi; những người cắt tóc làm tăng ni nhiều bằng nửa dân số thường, nhất là huyện Đông Triều, sự sùng thượng lại càng quá lắm: chùa chiền dựng lên, làng lớn có tới hơn 10 chùa, làng nhỏ cũng có chừng năm, sáu: ngoài bao bằng luỹ, trong sơn bằng vàng son” [30, Tr.388] Chính vì

tăng sĩ quá đông nên Giáo hội Trúc Lâm đã tổ chức kiểm tra tự viện và làm sổ tăng tịch Như vậy phong trào theo Phật trong quần chúng lên rất mạnh Dân chúng tự động cất chùa, cúng dường ruộng đất cho chùa để cung cấp lương thực cho tăng sĩ Ta có thể thấy rằng phần lớn những ngôi chùa nhỏ được dựng lên khắp nơi ở các làng đều do quần chúng dựng lên và nuôi dưỡng

Nhờ sự giúp đỡ của giới quý tộc, thế lực kinh tế của các giáo hội Trúc Lâm cũng rất lớn Các chùa có khá nhiều ruộng đất Theo bia tháp Viên Thông, Pháp Loa đã được vua Trần Anh Tông cho 100 mẫu ruộng ở Hương Đội gia cấp luôn cả canh phu (người cày), sau lại cấp thêm 80 mẫu ruộng ở Hương An Đinh Năm 1312, vua Trần Anh Tông lại cấp thêm 500 mẫu ruộng nữa cho Pháp Loa Hoàng Hậu Tuyên Từ cũng cúng 300 mẫu cho chùa Siêu Loại Năm 1318, Hoa Lư cư sĩ cúng 200 mẫu cho chùa Quỳnh Lâm

Như vậy đến thời Pháp Loa giới quyền quý vẫn tiếp tục sùng Phật và

mộ Phật Năm 1316, vua Trần Anh Tông xin chính thức thụ Tại Gia Bồ Tát Giới Năm 1319, Pháp Loa nhận lời mời của quốc phụ thượng tể Quốc Chấn vào giảng Đại Tuệ Ngữ Lục trong phủ An Hoa Cũng năm ấy, ông trao giới tại gia cho Hoa Dương công chúa Năm 1320, Tuệ Nhân Đại Vương xin được thụ Bồ Đề Tâm Giới, và quốc phụ thượng tể thụ Tại gia Bồ Tát Giới Năm

1324 Chiêu Từ hoàng thái phi xuất gia, Thụ Bồ Tát Giới Năm 1329 Tuyên Chân công chúa và Lệ Bảo công chúa cũng xuất gia

Mỗi lần có việc dựng chùa, tô tượng, nhà vua và quý tộc quan lại lại quyên cúng rất nhiều của cải Chẳng hạn, năm 1322 nhiều người trong triều

Trang 39

đình đóng góp vào việc cúng dường để đúc 1000 tượng Phật như: Thái hậu Bảo Từ, Bảo Huệ quốc mẫu, công chúa Bảo Vân, Văn Huệ Vương, Uy Huệ Vương, Đái Quan Vương, thượng vị Chương Nhân Hầu, Hoài Ninh Hầu, Đặng Trung Tử Và nếu không được sự ủng hộ của chính quyền thì giáo hội

đã không thể thực hiện được việc trung san Đại Tạng Kinh - công trình văn

hoá lớn nhất của Phật giáo đời Trần mà nay đã bị mai một

Sùng Phật, trọng Phật đó là trạng thái của xã hội Đại Việt thời Lý - Trần Không chỉ có nhà nước Lý - Trần sùng Phật, mà cả xã hội Đại Việt sùng Phật và vận dụng hài hoà tư tưởng từ bi, hỉ xả của đạo Phật

Phật giáo bắt đầu suy yếu từ thế kỷ XIV do tầng lớp ủng hộ Phật giáo mạnh mẽ là quý tộc nhà Trần đã mất dần uy lực chính trị và kinh tế Chế độ

sở hữu ruộng đất lớn bắt đầu tan rã Các quan lại xuất thân nho học, bắt đầu nắm vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước Nho giáo và chế độ khoa cử dần dần thay thế Đặc biệt 1396, khi Hồ Quý Lý sa thải tông đồ, bắt những người dưới 40 tuổi phải hoàn tục, thì Phật giáo thực sự mất vai trò huy hoàng của mình

2.1.2 Xây dựng mô hình tập quyền thân dân thời Lý - Trần

Trong suốt gần bốn thế kỷ, vai trò của Phật giáo được phát huy cao độ, tinh thần Phật giáo đã là chất liệu cố kết nhân tâm, là cầu nối giữa chính quyền trung ương với địa phương Vị Hoàng Đế đầu tiên cai trị đất nước bằng một bộ máy dân sự là Lý Công Uẩn Ông là người sáng lập ra triều Lý vào năm 1009, và khai sinh ra thủ đô Thăng Long vào năm 1010 Ông sớm nhận thức được vai trò của nhân dân, trong công cuộc xây dựng đất nước Trong

Chiếu dời đô ông viết “trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân” Tư tưởng thân

dân, khoan dân, lấy dân làm gốc, coi dân như lực lượng quyết định trong công cuộc bảo về đất nước Thời kỳ này tư tưởng chính trị tiêu biểu được phản ánh thông qua hai đại biểu kiệt xuất; Vua đầu triều Lý Công Uẩn và vị tướng tài

Lý Thường Kiệt

Trang 40

Ngay từ đầu thời Lý, xu thế tập trung quyền lực vào tay Hoàng Đế đã

được thể hiện rõ Nhưng tính chất tập quyền của thời kỳ này là một kiểu tập quyền thân dân, quyền lực của Hoàng đế và triều đình dựa trên sự ủng hộ của

dân Mô hình này đã phát huy cao độ tính chất làng – nước hoà đồng đã hình thành từ buổi đầu dựng nước Thay vì dựa vào quân đội thường trực mạnh như thời Đinh, nhà Lý thực thi chính sách “Ngụ binh ư nông” (gửi lính vào nhà nông) với nguyên tắc “tĩnh vi nông, động vi binh” (khi hoà bình thì làm nhà nông, lúc chiến tranh thành chiến binh), theo đó triều đình quản lý chặt chẽ dân đinh, thường xuyên tổ chức các kỳ huấn luyện quân sự cho các trai làng, sau đó họ lại trở về làm ruộng như các nông dân khác Khi có chiến tranh họ tòng quân nhập ngũ, tham gia chiến đấu chống giặc ngoại xâm Để thực thi chính sách này nhà Lý phải dựa vào làng xã trên cơ sở thực thi đường lối thân dân Cũng từ đây, triều đình bắt đầu quan tâm đến chính sách đoàn kết các dân tộc thiểu số - đó là chính sách “nhu viễn” (mền mỏng với phương xa) và chính sách kimi, đưa công chúa gả cho các tù trưởng miền núi, thực chất là tranh thủ các tù trưởng ở miền núi nhằm cố kết các cộng đồng dân cư trong một quốc gia đa dân tộc Sử chép từ năm 1036 thời Lý Thái Tông cho đến 1167 thời Lý Anh Tông, ít nhất có chín trường hợp gả công chúa cho tù trưởng các châu thuộc vùng trung - thượng du Bắc Bộ ngày nay Cụ thể: Năm

1029, Lý Thái Tông gả công chúa Bình Dương cho châu mục châu Lạng (vùng Lạng Sơn và một phần Bắc Giang) là Thân Thiệu Thái Năm 1036, Lý Thái Tông gả công chúa Kim Thành cho Lê Tông Thuận châu mục châu Phong (Vĩnh Phú) Cùng năm trên gả công chúa Trường Ninh cho châu mục Thượng Oai (?) là Hà Thiện Lãm Năm 1066, Lý Thánh Tông gả công chúa Thiên Thành cho Thân Đạo Nguyên 2 châu Lạng (Lạng Sơn và một phần Bắc Giang) Năm 1082, Lý Nhân Tông gả công chúa Khâm Thánh cho châu mục châu Vị Long (Chiêm Hóa, Tuyên Quang) là Hà Di Khánh Năm 1127, Lý Nhân Tông gả công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh phủ Phú Lương (Thái

Ngày đăng: 15/07/2021, 12:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm