Trải qua mấy chục thế kỷ, Phật giáo vẫn luôn chiếm một vị trí trong kiến trúc thượng tầng, mặc dù không phải là học thuyết chính trị - xã hội như Nho giáo nhưng vẫn để lại dấu ấn của mìn
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRƯƠNG VĂN CHUNG
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2015
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHÂN SINH LUẬN PHẬT GIÁO, CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO THỜI LÝ –TRẦN 9
1.1 Nhân sinh luận Phật giáo từ Phật giáo nguyên thủy đến Thiền học 9
1.1.1 Khái quát triết học Phật giáo 9
1.1.2 Thiền học – Triết lý nhân sinh nhập thế 18
1.2 Cơ sở xã hội, nền tảng tinh thần của triết lý nhân sinh thiền học Lý – Trần 22
1.2.1 Bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và tư tưởng thời Lý – Trần 22
1.2.2 Nền tảng tinh thần của triết lý nhân sinh thiền học Lý – Trần 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 52
Chương 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO THỜI LÝ – TRẦN 54
2.1 Nội dung cơ bản trong triết lý nhân sinh Phật giáo Lý – Trần 54
2.1.1 Học thuyết Tâm Tông 54
2.1.2 Tư tưởng sắc, không 58
2.1.3 Tư tưởng về nghiệp, sinh, tử 66
2.1.4 Tư tưởng về giải thoát, giác ngộ 72
2.2 Đặc điểm cơ bản của triết lý nhân sinh Phật giáo thời Lý – Trần 79
2.2.1 Tính nhập thế tích cực 79
2.2.2 Tính dung hợp “tam giáo” 87
2.2.3 Tính thực hành, trải nghiệm 95
2.3 Giá trị của triết lý nhân sinh Phật giáo thời Lý – Trần 102
2.3.1 Giá trị tư tưởng 102
2.3.2 Giá trị văn học nghệ thuật 106
2.3.3 Giá trị đạo đức 114
KẾT LUẬN CHUNG 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và điều đặc biệt là các tôn giáo lớn trên thế giới đều có mặt ở Việt Nam Trong đó, Phật giáo đã để lại cho dân tộc ta nhiều dấu ấn, có thể thấy từ tín ngưỡng cho đến văn hoá, phong tục tập quán, từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ tư tưởng đến tình cảm, đến sự ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống chính trị đạo đức Ở Việt Nam, Phật giáo du nhập vào khoảng đầu Công nguyên Tư tưởng nhà Phật dần dần len lỏi và thấm sâu vào suy nghĩ của người Việt từ tầng lớp nghèo khổ nhất cho đến tầng lớp quý tộc, kể cả nhà vua Trải qua mấy chục thế kỷ, Phật giáo vẫn luôn chiếm một vị trí trong kiến trúc thượng tầng, mặc dù không phải là học thuyết chính trị - xã hội như Nho giáo nhưng vẫn để lại dấu ấn của mình trong tư tưởng, chính trị, chi phối đời sống tinh thần của người Việt, ảnh hưởng của Phật giáo trong tư tưởng, văn học, nghệ thuật và trong cả phong tục, tập quán, tâm lí của người Việt Nam, nó gắn liền và đóng góp quan trọng vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Chính vì vậy, việc tìm hiểu Phật giáo ở Việt Nam nói chung cũng như triết lý nhân sinh Phật giáo nói riêng, không chỉ góp phần làm cho chúng ta hiểu về cội nguồn văn hóa người Việt
mà còn định hướng cho quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam Trong lịch sử hào hùng và oanh liệt nhất của dân tộc ta, giai đoạn Lý – Trần cũng là giai đoạn cực thịnh trong lịch sử phát triển của Phật giáo Mặt khác đây cũng là giai đoạn phát triển mọi mặt ở nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế và văn hóa…Cùng với đó là tư tưởng nhập thế tích cực của các thiền sư thời Lý – Trần đã tạo nên những giá trị to lớn từ tư duy triết học đến những giá trị văn hóa, tư tưởng mang đậm tính nhân văn Từ đó đã đúc kết nên những giá trị mang tính thời đại và đến nay những giá trị tư tưởng này vẫn còn nguyên tính bền vững, và trở thành cơ
sở văn hoá xã hội, nền tảng tinh thần để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Xây dựng hình ảnh con người Việt Nam tiên tiến, cùng với đó là một đất nước với nền văn hóa tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc, theo tinh thần và quan điểm của
Trang 5Đảng về xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ mới, quan điểm thứ
3 của Nghị quyết 33-NQ/TW (khóa XI) chỉ rõ “Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện
nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa rong â ựng văn hóa tr ng tâ chă o â ựng con người có nhân cách ối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: êu nước nhân ái nghĩa tình trung thực đo n kết, cần cù, sáng tạo” Nhiệm vụ đầu tiên Nghị quyết đặt ra là “Chă o â ựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, tr ng tâ b i ư ng tinh thần êu nước, lòng tự hào dân tộc đạo đ c ối sống v nhân cách ạo chu ển biến ạnh về nhận
th c, ý th c tôn tr ng há uật i người iệt a đều hiểu biết sâu s c tự h o
t n vinh ch s văn hóa ân tộc”
Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tồn tại
và ảnh hưởng của văn hoá truyền thống là tất yếu Nên việc nghiên cứu về tôn giáo nói chung và triết lý nhân sinh Phật giáo nói riêng có ý nghĩa bổ ích cho việc đưa ra những chính sách kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp hơn, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, cùng với đó là hình ảnh con người Việt Nam văn minh, luôn đặt lợi ích của quốc gia, cộng đồng trên cái tôi hiện hữu Luôn có thái độ sống “tốt đời - đẹp đạo” như tinh thần của các tôn giáo Từ đây góp phần tăng cường hợp tác quốc tế, một xu hướng hội nhập tất yếu của thời đại Vì những lý do trên, với mong muốn được góp phần, dù nhỏ bé vào giai đoạn lịch sử đầy ý nghĩa này của Phật giáo giai đoạn Lý - Trần, nên tôi chọn viết luận văn thạc sĩ với đề tài: “Triết lý nhân sinh Phật giáo thời Lý – Trần”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Phật giáo là một hệ tư tưởng triết học - tôn giáo hình thành ở một tiểu vương quốc thuộc Ấn Độ thời cổ đại, sau đó được truyền bá đi nhiều nơi trên thế giới, những nước Phật giáo đi đến và thâm nhập vào cuộc sống đều chịu ảnh hưởng ít nhiều, từ văn hóa đến nghệ thuật, kiến trúc, đến nếp nghĩ và hành động của con người, sự ảnh hưởng của Phật giáo vẫn còn cho tới ngày nay, với tư cách là bộ phận của kiến trúc
thượng tầng Phật giáo có tác động nhất định đến cơ sở hạ tầng sinh ra nó
Trang 6Ở Việt Nam, nhân sinh quan Phật giáo thể hiện vai trò và ảnh hưởng của mình
từ khi du nhập cho đến ngày nay, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam Thời đại Lý – Trần được xem như một móc son chói lọi, đánh dấu bước ngoặc căn bản trong tư duy, nhận thức của người Việt Nam về lòng yêu nước và tinh thần độc lập tự cường Vì vậy, triết lý nhân sinh Phật giáo Lý – Trần là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau
Về triết học Phật giáo: Phải kể đến các công trình nghiên cứu, các tập sách như:
hai cuốn Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận (HT Thích Quảng Độ d ch), Nxb Viện đại học Vạn hạnh, Sài Gòn, 1969 của Kimura
Taiken, hai cuốn sách đã chỉ người ta thấy cái nguồn gốc của tư tưởng Phật giáo Ấn
Độ qua các thời kỳ, và đâu là manh nha của tư tưởng Phật giáo Nguyên Thủy, đâu
là tiền đạo của tư tưởng Phật giáo Tiểu Thừa và đâu là tiên phong của tư tưởng Phật
giáo Đại Thừa Tiếp theo là bộ sách 3 cuốn của Dusetzteitaro Suzuki, Thiền Luận
(Quyển thượng, quyển trung, quyển hạ), NXB Hồng Đức, 2015, nói về mối liên hệ giữa Thiền và các bản kinh Phật giáo, những đối thoại của Thiền tông và chuyển mình đối với Phật giáo Ấn Độ khi thích ứng với tâm hồn người Trung Hoa Cuốn
Phật giáo những vấn đề triết h c, O.O.Rozewberg, Trung tâm tư iệu Phật h c xuất bản, Hà Nội, 1990,Cuốn sách đã đi sâu vào những vấn đề lý luận cơ bản lâu đài của Phật giáo dựa trên các căn bản Trung quốc và Nhật bản, đây là một tác phẩm có giá
trị cho đến ngày nay Ngoài ra còn có các tác phẩm kinh điển Phật giáo mang tính Thiền học của Phật giáo v ng Nam Ấn đã truyền vào Việt Nam như: kinh i
Cương ư ng đầu t nh á át thiên t ng át nh át nh tâ kinh át nh ba a
ật Đại bát iết b n, thậ nh chương, kinh hoa nghiêm v.v… Ch ng hạn, kinh
i Cương là một cuốn kinh Đại thừa Phật giáo thuộc kinh văn hệ át nhã phổ
biến và có vị trí quan trọng trong Phật giáo, trong Thiền giới Trung uốc, Việt Nam Nhờ bộ kinh này mà Lục tổ uệ Năng ở Trung uốc, nhà vua - thiền sư Trần Thái Tông ở Việt Nam đã đắc pháp, ngộ đạo khi đọc đến câu “ ng vô sở trụ nhi
Trang 7sinh kỳ tâm” mà uệ Năng có ghi lại trong Pháp bảo Đàn kinh và Trần Thái Tông
có viết trong Thiền tông chỉ nam tự
Về lịch sử Phật giáo Việt Nam: Phải kể đến 3 tập sách của tác giả Nguyễn
Lang: Việt Nam Phật giáo s luận, tậ 1 b ăn h c, Hà Nội, 1992; Việt Nam
Phật giáo s luận, tậ 2 b ăn h c, Hà Nội, 1994 và Việt Nam Phật giáo s luận, tậ 3 b ăn h c, Hà Nội, 1994 Ba tập sách trên đã trình bày một cách sâu
sắc và đầy đủ về niên đại, con đường, tiến trình của Phật giáo trên đất nước Việt Nam cùng những vị tăng sĩ, quan niệm về giáo lý, tư tưởng của Phật giáo Việt Nam
qua các thời đại lịch sử Cuốn L ch s Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa h c xã hội,
Hà Nội, 1988, do Nguyễn i hư chủ biên cũng đã trình bày các giai đoạn của Phật
giáo Việt Nam, từ thời kỳ du nhập đến thời kỳ Pháp thuộc, tác phẩm đã chỉ ra cụ thể con đường, niên đại Phật giáo đến Việt Nam, các dòng thiền, các vị thiền sư, tình hình Phật giáo ở mỗi giai đoạn
Và khi nói về các công trình viết về Phật giáo Việt Nam, không thể không kể
đến 3 cuốn sách, L ch s Phật giáo Việt Nam, tập 1, Từ khởi ngu ên đến thời Lý
a Đế, Nxb Thuận hóa, Huế, 1999; L ch s Phật giáo Việt Nam, tập 2, Từ Lý
a Đế (544) đến Lý Thái Tông (1054), Nxb Thành phố H Chí Minh, 2001; L ch
s Phật giáo Việt Nam, tập 3, Từ Lý hái ng (1054) đến Trần Thánh Tông (1278), Nxb Thành phố H Chí Minh, 2002 của Lê Mạnh Thát, ông đã trình bày
khá đầy đủ điều kiện xã hội, con đường, cách thức, tiến trình và những tư tưởng Phật giáo du nhập vào Việt Nam
Về triết lý nhân sinh Phật giáo thời Lý – Trần: Nghiên cứu về triết lý nhân
sinh Phật giáo và tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần có nhiều tác phẩm đi khai thác
những khía cạnh khác nhau như: Cuốn ư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần do
PGS S rương ăn Chung - PGS,TS Doãn Chính (Đ ng chủ biên) nă (2008) Nxb Chính tr quốc gia –Hà Nội Tác phẩm gồm 475 trang, đi sâu phân tích những
tư tưởng và các nhân vật tiêu biểu thời Lý – Trần Cuốn ư tưởng triết h c của
Thiền hái rúc â đời Trần của PGS S rương ăn Chung b Chính tr Quốc gia, 1998 Tác giả đã đề cập đến những tiền đề xã hội, tôn giáo và cơ sở của sự hình
Trang 8thành, phát triển thiền phái Trúc Lâm – và những tư tưởng của thiền phái này Về bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội thời Lý - Trần
Cuốn Tìm hiểu xã hội Việt nam thời Lý – Trần, viện s h c, Nxb khoa h c xã
hội, Hà nội - 1981 Tác phẩm trình bày tư tưởng của người Việt Nam từ thời tiền sử
đến thế kỷ XVIII, trong tác phẩm, tác giả đã dành một phần để trình bày về Phật giáo, tình hình Phật giáo Việt Nam khi mới du nhập, thời Lý - Trần, sự phê phán của Nho giáo đối với Phật giáo ở Việt Nam thế kỷ XIV, tư tưởng Phật giáo thế kỷ
XVI, XVII và đầu XVIII Ngoài ra còn có các cuốn L ch s tư tưởng triết h c Việt
Nam, do PGS,TS Doãn Chính chủ Biên, Nxb Chính tr quốc gia, 2013 Cuốn sách
khái quát lịch sử Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến thế kỷ XX Xã hội Việt Nam
thời Lý – Trần, Nxb Khoa h c xã hội, Hà Nội, Viện s h c (1981) Về triết lý Phật
giáo, tác giả Đoàn Trung Còn với cuốn Triết lý nhà Phật, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,
2007 Cuốn Đ c phật và phật pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2013), Nxb Tôn giáo, Hà Nội Cuốn sách đã trình bày chi tiết đời sống và giáo lý căn bản mà Đức
Phật ban truyền Cuốn Thiền sư iệt Nam của Thanh Từ, tu viện Chơn h ng uất
bản nă 1973 hơ văn Lý – Trần của Viện ăn h c, nhà xuất bản khoa h c xã hội
nă 1977 tập 1, 1988 tập 2 Ngoài những tác phẩm kể trên còn phải kể đến những
tác phẩm như: Đại cương triết h c Phật giáo Việt Nam,tập 1, Từ khởi ngu ên đến
thế kỷ XIV, của tác giả Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa h c xã hội, Hà Nội, 2002, tác
phẩm gồm 3 chương, chương 1 trình bày quá trình du nhập, tiến trình của Phật giáo
ở Việt Nam từ khởi nguyên đến Phật giáo thời nhà Trần (thế kỷ XIII - XIV), tác giả dành đến 2 chương còn lại để trình bày thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo nói chung và Việt Nam nói riêng
Cuốn ư tưởng Phật giáo Việt Nam, của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa h c xã
hội, Hà Nội, 1999 Tác phẩm gồm 808 trang viết về sự ra đời, các sự kiện quan
trọng của Phật giáo, và trình bày khá công phu tư tưởng Phật giáo Việt Nam buổi đầu du nhập, Phật giáo Đại Việt, Phật giáo giai đoạn chấn hưng và canh tân Tác
phẩm Pháp giáo nhà Phật, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2007, của tác giả Đo n rung
Trang 9Còn trình bày quan niệm “pháp” của Phật giáo, trình bày quan niệm của Phật giáo
về vũ tr và vạn vật, về t diệu đế, niết bàn và tham thiền
ên cạnh các cuốn sách viết về Phật giáo thì các tạp chí viết về Phật giáo cũng trình bày khá phong phú về nội dung, đề cập đến các mảng khác nhau của Phật giáo
và triết lý nhân sinh thời Lý – Trần, có thể kể đến các tạp chí sau: ạ chí ghiên
c u t n giáo tạ chí ăn hóa Phật giáo tạ chí Phật giáo ngu ên thủ Về
wedsite, có rất nhiều trang wed như: Tu viện Quảng Đ c hư viện hoa sen, v.v…
Các trang báo điện tử này đã góp phần rất lớn vào công tác truyền bá và đưa tin tức Phật giáo Việt Nam và Phật giáo quốc tế đến độc giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, hầu như các trang báo điện tử này không hoàn toàn là một tờ báo điện tử
chính thức và đúng nghĩa, duy nhất trang Giác gộ on ine (http://www.giacngo.vn) được xem là cơ quan ngôn luận của Thành hội Phật giáo thành phố ồ Chí Minh
Những công trình nghiên cứu trên đã đạt được một số kết quả nhất định, mang lại bức tranh khá rõ về triết lý nhân sinh Phật giáo thời Lý – Trần, nhưng sự tìm hiểu, nghiên cứu không chỉ dừng lại ở đó Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, luận văn muốn đóng góp thêm một công trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh Phật giáo thời Lý – Trần
3 Mục đích và nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 M c đích của luận văn:
Mục đích của luận văn là làm rõ nội dung, đặc điểm và giá trị triết lý nhân sinh của thiền học Lý – Trần
3.2 Nhiệm v của luận văn:
Th nhất, trình bày bối cảnh lịch sử của xã hội Đại Việt và cơ sở xã hội, nền
tảng tinh thần của triết lý nhân sinh Phật giáo từ đó làm rõ triết lý nhân sinh thiền học Lý – Trần
Th hai, trình bày nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh Phật giáo Lý – Trần
Th ba, trình bày đặc điểm và giá trị của triết lý nhân sinh Phật giáo Lý –Trần
trong đời sống xã hội Đại Việt
3.3 Phạm vi nghiên c u:
Trang 10Vấn đề triết lý nhân sinh Phật giáo Lý – Trần rất rộng lớn, phong phú Tìm hiểu vấn đề triết lý nhân sinh Phật giáo Lý – Trần là một chủ đề rất lớn Trong khả năng giới hạn về nhiều mặt, tác giả chỉ mong muốn góp một phần nhỏ bé nhằm làm rõ những lý luận về thiền học Phật giáo, triết lý nhân sinh Phật giáo Lý – Trần trong xã hội Đại Việt, thời gian cụ thể qua hai triều đại: Triều Lý (1009-1225), triều Trần (1226-1400)
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như các sách báo nói về vấn đề vấn đề nhân sinh quan Phật giáo và xã hội Việt Nam thời Lý – Trần Mặt khác, luận văn cũng kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu liên quan Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu thêm một số tư liệu khác của Tạp chí Triết học, Tạp chí văn hóa Phật giáo, các công trình nghiên cứu và các bài báo khoa học của khoa triết học Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, v.v
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp thông diễn học, văn bản học, logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp
và diễn dịch, phương pháp so sánh, phương pháp sử học,… để nghiên cứu và trình bày luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa h c: đề tài hoàn thành góp phần làm rõ quan điểm triết lý nhân sinh
của Phật giáo thời Lý –Trần qua các vấn đề về điều kiện xã hội Đại Việt từ thế kỷ X đến XIV, nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo thời kỳ Lý –Trần qua các tư tưởng
và ảnh hưởng của nó trong đời sống chính trị đạo đức của xã hội Đại Việt
Ý nghĩa thực tiễn: đề tài hoàn thành có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
có giá trị đối với những người quan tâm đến vấn đề lịch sử, triết lý nhân sinh của Phật giáo thời Lý –Trần nói riêng và tư tưởng triết học Việt Nam nói chung
Trang 116 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn được kết cấu thành 2 chương 5 tiết:
Chương 1: NHÂN SINH LUẬN PHẬT GIÁO, CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA PHẬT GIÁO THỜI LÝ –TRẦN 1.1 Nhân sinh luận Phật giáo từ Phật giáo nguyên thủy đến Thiền học
1.2 Cơ sở xã hội, nền tảng tinh thần của triết lý nhân sinh thiền học Lý – Trần Chương 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO THỜI LÝ – TRẦN
2.1 Những nội dung cơ bản trong triết lý nhân sinh Phật giáo thời Lý – Trần
2.2 Đặc điểm cơ bản của triết lý nhân sinh của Phật giáo thời Lý – Trần
2.3 Giá trị của triết lý nhân sinh của Phật giáo thời Lý – Trần
Trang 12NỘI DUNG Chương 1: NHÂN SINH LUẬN PHẬT GIÁO, CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NỀN
TẢNG TINH THẦN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH
PHẬT GIÁO THỜI LÝ –TRẦN 1.1 Nhân sinh luận Phật giáo từ Phật giáo nguyên thủy đến Thiền học
1.1.1 Khái quát triết học Phật giáo
Phật giáo ra đời ở một tiểu vương quốc thuộc phía Bắc Ấn Độ (hiện nay là quốc gia Nêpan), là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại, Ấn Độ là một bán đảo lớn nằm ở miền Nam châu Á, điều kiện tự nhiên và điều kiện địa lý đa dạng, vô cùng khắc nghiệt, có núi cao đầy băng giá, rừng rậm âm u, có đại dương và những con sông lớn, có đồng bằng trù phú, lại vừa có những cao nguyên và sa mạc khô khan, nóng bức
Về mặt tinh thần, tư tưởng, triết lý của Veda, Upanishad là tư tưởng thống trị xã hội, cho rằng rahman là đấng sáng tạo tối cao Nhưng bên cạnh đó còn có nhiều quan niệm khác nhau về bản nguyên của thế giới ví dụ phái Samkhya cho rằng có hai bản nguyên tạo nên thế giới gồm bản nguyên vật chất mà trường phái này gọi Prakriti, và bản nguyên tinh thần, gọi là Purusha; phái Lokayata cho rằng bản nguyên của thế giới là do bốn yếu tố vật chất cơ bản đầu tiên tạo nên là đất, nước, lửa, và khí; phái Pakhuda Kaccàyanna cho rằng thế giới là do bảy yếu tố căn bản của thế giới tạo nên là đất, nước, lửa, gió, khổ, vui và linh hồn, Họ lập ra những thuyết: thời gian luận, không gian luận, phương hướng luận, chủ trương nhất nguyên, nhị nguyên, đa nguyên với khoảng trăm phái khác nhau, luôn luôn đả kích chống báng nhau Về tôn giáo, tín ngưỡng, xã hội Ấn Ðộ thời bấy giờ cũng diễn ra một cảnh tượng vô cùng hỗn tạp, người thờ thần lửa, kẻ thờ thần núi, thần sông, kẻ thờ thần gió, thần chớp, thần mặt trời… nhưng thời đó đạo Bàlamôn là tôn giáo chính thống, chi phối, ràng buộc tinh thần con người Về chế độ xã hội ở Ấn
Độ cổ, đây là một xã hội đầy bất công Xét về sự bất công trong xã hội trên 2500 năm trước đây, thì xã hội Ấn Ðộ có lẽ là một trong những xã hội có một chế độ xã hội và chính trị bất công nhất, với chế độ xã hội nô lệ mang tính chất gia trưởng và
Trang 13bị kìm hãm bởi chế độ công xã nông thôn và chế độ phân biệt đ ng cấp hết sức nghiệt ngã, có thể kể ra những đ ng cấp trong xã hội Ấn Độ thời ấy như sau: Thứ nhất, đ ng cấp Brahmana gồm những tăng lữ, tu sĩ àlamôn, những người giữ quyền thống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái Họ tự nhận mình là hạng cao thượng, sinh từ miệng của thần Brahman, cầm cương lãnh đạo tinh thần dân tộc, nên có quyền ưu tiên được tôn kính, và an hưởng cuộc đời sung sướng nhất Thứ hai, đ ng cấp Kshatriya là những vương công, võ sĩ, tự cho mình sinh từ cánh tay Brahman, thay mặt cho Brahman nắm giữ quyền hành thống trị dân chúng Thứ ba,
đ ng cấp Vaishya là những hàng thương nhân, điền chủ và dân tự do, tin mình sinh
ra từ bắp đ i thần Brahman, có nhiệm vụ đảm đương về kinh tế trong nước (mua bán, trồng trọt, thu huê lợi cho quốc gia) Thứ tư, đ ng cấp Shudra là những người lao động gồm đa số tiện dân và nô lệ, tin mình sinh từ hai bàn chân Brahman, nên thủ phận làm khổ sai suốt đời cho các giai cấp trên Ngoài bốn giai cấp trên còn có những người ở ngoài những đ ng cấp, đó là tầng lớp c ng đinh, hạ đ ng, ti tiện nhất, được gọi là Paria, giống dân tộc mọi rợ, bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người, bị các giai cấp trên đối xử như thú vật, vô cùng khổ nhục, tối tăm Năm giai cấp này mặc y phục màu sắc khác nhau Mỗi giai cấp sống theo luật lệ, hệ thống cha truyền con nối, không được thay đổi nghề nghiệp hay cưới hỏi khác đ ng cấp, và không được di chuyển chỗ ở khác Theo luật Bàlamôn, chỉ ba giai cấp trên có quyền đọc kinh, học đạo, còn hai đ ng cấp dưới là Paria và Shudra thì đời đời chỉ làm nô
lệ cho ba giai cấp trên mà thôi Hạng àlamôn hưởng sung sướng nhàn hạ bao nhiêu, thì đám người bần tiện ở dưới lại khổ sở, nhục nhã bấy nhiêu Sự bất công xã hội thật không thể nào diễn tả nổi Giữa người với người, thật không có một nhịp cầu thông cảm nào, nguồn yêu thương tắc nghẹn, giai cấp này đối với giai cấp khác
là địch thủ mà theo họ càng bóc lột được bao nhiêu là càng tốt bấy nhiêu
Tóm lại, xã hội Ấn Ðộ lúc bấy giờ là một xã hội về vật chất thì đang rên siết dưới ách bất công, áp bức, về tinh thần thì đang quay cuồng, điên đảo trong những luồng tư tưởng lý thuyết rối ren Xã hội ấy đang khao khát tình thương và bình
đ ng Trong hoàn cảnh đó Phật giáo ra đời để giải thoát con người khỏi sự trói
Trang 14buộc, bất công Phật giáo là một trào lưu tư tưởng mới, không chính thống, ra đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, ở phía Bắc Ấn Độ, phản ánh một tinh thần tự do tư tưởng, nói lên quan điểm bình đ ng xã hội
Người sáng lập Phật giáo là một thái tử, tên là Tất Đạt Đa (Siddharta), con trai đầu vua Tịnh Phạn (Suddhodana - nghĩa là người trồng lúa sạch) Theo tác giả Nguyễn Tài Thư trong cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam cho rằng đức Phật sinh
“vào khoảng năm 563 trước Công nguyên Ngài thọ 80 tuổi” [76, tr.9-10], tức ông mất năm 483 trước Công nguyên Thời bấy giờ xứ Ấn Ðộ gồm nhiều tiểu quốc, khi hòa khi chiến với nhau Ở phía Bắc Ấn Ðộ (nay thuộc đất Nêpan) có một nước nhỏ
do vua Tịnh Phạn (Sudhodana) trị vì, thuộc giai cấp Kshatriya, là một đại quý tộc ở
Ấn Ðộ, thuộc bộ tộc Sakiya Vợ của vua Tịnh Phạn là Ma Da (Maha - maya) đến 45 tuổi mới có thai, sinh ra thái tử đặt tên là Tất Ðạt Đa (Siddharta) và theo tục lệ Ấn
Ðộ lấy họ mẹ là Thích Ca (Cakya) Tất Ðạt Đa tỏ ra là người tài năng và đức độ hơn người, ông thấy những cảnh tương tàn tương sát của các loài sâu bọ chim muông, những cảnh già, ốm, chết của nhân thế Vì vậy, Tất Ðạt Đa cảm thấy cuộc đời không có gì là vui sướng, là bền vững, là giải thoát, hết thảy đều là vô thường, từ đó ông sinh ra buồn rầu, ngày đêm ông luôn nghĩ đến phương pháp đưa con người thoát khỏi nỗi khổ Vì vậy, nhiều lần Tất Ðạt Đa xin vua cha đi xuất gia, nhưng vua Tịnh Phạn đều không đồng ý Biết được nỗi lòng của con mình nên vua Tịnh Phạn
đã dựng lên một cung điện nguy nga, lộng lẫy, bày đủ trò vui, và còn cưới cho con một người vợ đẹp là nàng Da Du Ðà La (Yosodhara), nhưng Tất Đạt Đa vẫn không
từ bỏ ý định đi tìm con đường giải thoát Năm 29 tuổi, Tất Đạt Đa đã quyết định đi
tu, với mong ước tìm ra con đường giải thoát cho nhân loại ra khỏi sự khổ đau trong vòng luân hồi an đầu ông phải đi tìm học hỏi với những đạo sĩ danh tiếng nhất Ấn
Ðộ thời bấy giờ Nhưng Tất Ðạt Đa không mấy tâm phục trước các cách tu tập của các nhà tu hành này, ông cho rằng phải tự mình tu luyện mới tìm ra cái đạo giải thoát như mình mong muốn, ông tu khổ hạnh trong sáu năm trời, nhưng vẫn không tìm ra được con đường giải thoát, ông từ bỏ tu khổ hạnh, rồi đi đến cây đại thụ Tất
bà la (Pippala, tức là cây Bồ đề) ở Già Da (Yàyà) rải cỏ làm tòa, ngồi kiết già,
Trang 15hướng mặt về phía Đông, và thề rằng: “Nếu ta ngồi tòa này mà không chứng được đạo Vô Thượng Bồ Đề, thì thân này d nát, ta cũng quyết không chịu đứng dậy” Tương truyền Tất Ðạt Đa thiền định, suy nghĩ luôn trong 49 ngày đêm thì giác ngộ Khi đã “giác ngộ”, có nghĩa là khi đã phát hiện ra nguyên nhân của nỗi khổ đau nhân thế và cách dứt bỏ nó Người Ấn Độ thời ấy gọi ông là Sakya muni (Trung Quốc dịch là Thích Ca Mâu Ni), tức là nhà hiền triết xứ “Sakya” Từ lúc Tất Đạt Đa thành đạo đến lúc mất, trong khoảng 45 năm trời (có thuyết 49 năm), ông c ng các học trò của mình chu du khắp lưu vực sông Hằng, đem đạo của mình giác ngộ cho mọi người, không phân biệt già trẻ, nam nữ, giàu nghèo, sang hèn, màu da, chủng tộc, trí thức hay ngu si Sau khi ông mất các học trò đã tiếp tục tư tưởng của ông, xây dựng thành một hệ thống tôn giáo triết học lớn, có ảnh hưởng lớn ở Ấn Độ và
từ đó lan ra nhiều quốc gia khác trên thế giới
ư tưởng căn bản của Phật giáo nguyên thủy
Những nguyên lý cơ bản của Phật giáo được thể hiện trong giáo lý Hệ thống giáo lý của Phật giáo là một hệ thống rất đồ sộ nằm chủ yếu trong tam tạng kinh điển, gồm Kinh tạng (ghi lời Phật dạy), Luật tạng (các giới luật mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo), và Luận tạng (các bài kinh, tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng và học giả sau này) Có thể nêu tóm tắt tư tưởng căn bản của Phật giáo nguyên thủy về thế giới quan và nhân sinh quan như sau:
Về thế giới quan: Phật giáo đưa ra tư tưởng “vô ngã”, “vô thường”
Phật giáo cho rằng tất cả sự vật, hiện tượng cũng như chính bản thân con người
là không có thực, chỉ là ảo giả, do vô minh đem lại Thế giới (nhất là thế giới hữu hình - con người) là do sự hợp lại của các yếu tố vật chất (Sắc) và tinh thần (Danh)
Đó là 5 yếu tố (ngũ uẩn): Sắc (vật chất); Thụ (cảm giác); Tưởng (ấn tượng); Hành (tư duy nói chung); Thức (ý thức) Nhưng Danh và Sắc chỉ tụ hội trong một thời gian rồi chuyển sang trạng thái khác, do vậy “ không có cái tôi” (vô ngã - anatman)
cố định, trái với quan niệm của Upanishad cho rằng có Atman (ngã) Tư tưởng trong Upanishad cũng như giáo lý àlamôn thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên sáng tạo và chi phối vạn vật là Brahman, trái với quan điểm đó, đạo Phật
Trang 16cho rằng thế giới là một dòng biến chuyển không ngừng (Vô thường), không thể tìm
ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy không có vị thần nào tạo ra thế giới và cũng không
có gì vĩnh hằng Sự biến hiện của thế giới theo chu trình: sinh - trụ - dị - diệt theo luật nhân quả Có 3 khái niệm chủ yếu trong học thuyết nhân quả là “Nhân”,
“Duyên”, “ uả”, để nhằm giải thích nguyên nhân biến hóa của vạn vật, cái gì phát động ra ở vật, làm cho nó biến đổi, gây ra kết quả thì được gọi là “Nhân”, còn cái gì được kết tập lại do một hay nhiều nhân gọi là “ uả”, còn “Duyên” là điều kiện, là mối liên hệ trợ giúp cho “Nhân”, tức ở trạng thái khả năng biến thành quả ở trạng thái hiện thực Trong quá trình nhân quả tương tục, duyên theo nghĩa vừa là kết quả của quá trình cũ, vừa là nguyên nhân của quá trình mới, cái nhân (hetu) nhờ có duyên trợ (pratyaya) mà trở thành quả (phala); quả mới lại nhờ duyên mới trợ giúp
mà tạo thành quả mới…cứ như vậy sự vật hiện tượng trong thế giới không ngừng sinh hóa, biến hiện liên tục, vô tận, quá trình đó diễn ra trong nháy mắt (một satna, một niệm) hay trong từng giai đoạn có sự biến đổi về chất: “Các hành đều vô thường… Khi đem trí tuệ soi xét được như thế thì sẽ nhằm lìa thống khổ”[6, tr.239]
Tư tưởng Phật giáo nguyên thủy không đề cập đến thần sáng tạo thế giới, thể hiện tư tưởng vô thần, đây là nét độc đáo trong thế giới quan Phật giáo, Phật giáo nguyên thủy còn thể hiện tư tưởng biện chứng trong quan niệm “vô thường” và trong lý thuyết duyên khởi Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực đó thì Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan của mình khi coi thế giới hiện tượng là ảo, là giả, do cái tâm vô minh của con người tạo ra
Về nhân sinh quan: Phật giáo tiếp thu tư tưởng luân hồi (samsara) và nghiệp
(karma) của Upanishad Kinh Upanishad cho rằng Brahman là bản nguyên của thế giới, nó biểu hiện trong con người và chúng sinh là linh hồn cá nhân bất diệt - Atman, Atman chỉ là một bộ phận của cái toàn bộ là rahman, nhưng do Atman thể hiện trong thể xác con người nên con người ta cứ lầm tưởng Atman khác với rahman, tưởng nó là cái của ta, do ta Những tình cảm, dục vọng và hành động của thể xác nhằm thỏa mãn mọi ham muốn của con người trong đời sống trần tục đã che lấp đi bản chất chân thực của mình, gây nên những hậu quả, giam hãm, ràng buộc
Trang 17linh hồn bất tử đầu thai vào hết thân xác này đến thân xác khác, với các hình thức khác nhau từ kiếp này sang kiếp khác, gọi là luân hồi (samsara) Theo tư tưởng luân hồi và nghiệp báo (karma), kinh Upanishad cho rằng: “Người ta sẽ trở nên tốt vì hành động tốt và trở nên xấu vì hành động xấu”, và “Những người có hành vi tốt đẹp sẽ đầu thai vào kiếp tốt đẹp; hoặc thành Bàlamôn, hoặc thành người quý tộc hoặc thành thương nhân Những kẻ có hành vi xấu xa sẽ phải đầu thai vào những kiếp xấu xa như kiếp chó, lợn hay những kẻ nô lệ tôi tớ” [6, tr.117-118] Kế thừa quan điểm này, Phật giáo cho rằng sự vật mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở chỗ khác,
có sự liên kết của nghiệp quả, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai uá trình thác sinh luân hồi đó do nghiệp chi phối theo nhân quả Nghiệp theo đúng nghĩa của danh từ này là hành động hay việc làm, và định nghĩa một cách rốt ráo nhất thì “nghiệp” có nghĩa là tác ý Tư tưởng, lời nói, việc làm đều do ý muốn làm động cơ, cái ý muốn hay ý chí đó gọi là tác ý Vậy “nghiệp” là cái do hành động thiện hay bất thiện, cố ý hay không cố ý, qua thân, khẩu, ý của ta để thỏa mãn những ham muốn của ta mà thành Do nghiệp chi phối theo luật nhân quả mà mọi vật, kể cả con người mất đi ở chỗ này là để sinh ở chỗ khác, thời gian khác Đó chính là quá trình tái sinh luân hồi Trong cuộc đời mỗi người phải gánh chịu hậu quả của nghiệp ở kiếp sống này và từ các kiếp trước và sang kiếp sống sau Điểm khác của Phật giáo so với Upanishad là không thừa nhận cái ngã, cái linh hồn cá nhân, Phật giáo cho rằng không có cái ngã, cho nên quan niệm luân hồi của Phật giáo căn bản được thể hiện ở tư tưởng về nghiệp và tái sinh thì Upanishad cho rằng linh hồn bất tử, trú ngụ trong các thể xác khác nhau, sau khi con người chết linh hồn
sẽ đầu thai vào một hình thức thể xác khác, có thể là người, có thể là vật tùy theo kết quả hành động của kiếp sống trước đã gây ra
Để giải thích nguồn gốc luân hồi, nguyên nhân đau khổ và nhằm mục đích giúp con người thoát khỏi nỗi khổ Phật giáo đã đưa ra triết lý “Thập nhị nhân duyên”
“Tứ diệu đế”, “ át chính đạo” Theo quan niệm của đạo Phật, để đến được sự giải thoát, mọi người phải nhận thức bốn chân lý (Tứ diệu đế)
Trang 18Một là, Khổ đế: Phật giáo cho rằng đời là bể khổ Cái khổ ấy không ngoài 8 nỗi khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly (yêu mà phải xa), oán tăng hội (ghét mà phải ở gần), sở cầu bất đắc (muốn mà không được), thủ ngũ uẩn (khổ vì có sự tồn tại của thân xác); Hai là, Tập đế: Mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân Phật giáo đưa ra “Thập nhị nhân duyên” để chỉ ra nguyên nhân của sự khổ Đó là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử; Ba là, Diệt đế: Phật giáo kh ng định có thể tiêu diệt nỗi khổ của nhân thế và chấm dứt được vòng luân hồi; Bốn là, Đạo đế: Phật giáo đưa ra con đường giải thoát, diệt khổ thực chất là tiêu diệt vô minh (sự tăm tối, không sáng suốt), gồm 8 con đường chính ( át chính đạo) Đó là: Chính kiến: hiểu biết đúng đắn; Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn; Chính ngữ: giữ lời nói chân chính; Chính nghiệp: Nghiệp có hai loại là tà nghiệp và chính nghiệp
Tà nghiệp phải sửa, chính nghiệp phải giữ Nghiệp có thân nghiệp (do hành động gây ra), khẩu nghiệp, ý nghiệp; Chính mệnh: tiết chế dục vọng, giữ điều răn; Chính tinh tiến: hăng hái tìm kiếm và truyền bá chân lý của Phật; Chính niệm: phải thường hằng nhớ Phật, niệm Phật; Chính định: tĩnh tâm, tập trung tư tưởng nghĩ về sự luân hồi, sự giải thoát…Theo át chính đạo, con người có thể diệt trừ vô minh, giải thoát, nhập vào cõi niết bàn - Nirvana
Về nhận th c luận: Hệ thống nhận thức luận Phật giáo đưa lại cho chúng ta một
cách nhìn hoàn toàn mới về nhận thức, nó có điểm khác với triết học Mác – Lênin như quan niệm về đối tượng nhận thức, các hình thái nhận thức và các năng lực nhận thức cũng như khác về mục tiêu và mục đích nhận thức Con người trong quá trình nhận thức bao giờ cũng phải có đối tượng, và đối tượng ấy được nêu ra trong triết học Phật giáo là thế giới Tánh cảnh, thế giới Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh Thế giới Tánh cảnh chính là thế giới tự thân, thế giới tự nó mà con người không thể thấu hiểu nó bằng con đường suy lý thông thường; chỉ có bằng hình thái nhận thức Hiện lượng - một sự nhận thức trực tiếp thông qua các giác quan, cùng với việc phát huy khả năng trực giác siêu nghiệm và thực nghiệm tâm linh của các vị Tam thừa, những bậc đã tu chứng thành Phật thì mới có thể thâu hiểu về thế giới này Thế giới Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh là những đối tượng được tạo dựng nên trên cơ sở
Trang 19của thế giới Tánh cảnh thông qua sự tưởng tượng và tư duy kiến tạo của con người Hình thái nhận thức đặc trưng của hai thế giới này chính là Tỷ lượng, tức là sự tính toán, so đo bằng suy diễn, thuyết lý, luận đoán hoặc chỉ đơn thuần bằng tưởng tượng Nhờ những phương thức nhận thức như thế mà hai thế giới trên hiện ra trước chúng sinh với tính cách vô c ng đa dạng, phong phú so với thế giới Tánh cảnh
Lý luận nhận thức luận của triết học Phật giáo được tựu trung lại trong lý thuyết Tam tự tính: Biến kế sở chất, Y tha khởi và Viên thành thật
Với tự tính Biến kế sở chấp, vạn pháp không hiện hữu theo cách thức như chúng ta
có khái niệm về chúng, bởi thế giới khái niệm không phải là thế giới thực tại thật sự Với Y tha khởi, vạn pháp trong vũ trụ được hiểu vốn không có pháp nào hiện diện một cách độc lập mà không liên hệ với các vật khác, cũng như không có pháp nào không nương tựa vào Thức Alaya mà có thể sanh khởi, lớn lên và tồn tại được Viên thành thật tính có nghĩa là tự tính của tất cả các pháp về mặt chân lý chính
là thể tính chân thật đã được thành tựu một cách viên mãn tròn sáng Con người muốn hiểu biết tự tính này thì phải có trí tuệ để quán sát trực tiếp, đó là trí tuệ được chuyển từ Ý thức sau nhiều năm tu tập, là Trí diệu quan sát vạn pháp một cách mầu nhiệm, một cách độc lập để hiểu biết
Có thể nói rằng, quá trình hình thành lý luận nhận thức trong các học thuyết triết học thường diễn ra thông qua việc giải quyết mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại Vì vậy, trong triết học Phật giáo, bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan cũng thống nhất với nhau Điều đó biểu hiện ở chỗ: vấn đề “Tính không” hay “Vô ngã,
vô thường” của bản thể được triết học Phật giáo giải quyết trong quan hệ với
“Tâm” uan hệ này cũng giống với quan hệ giữa bản thể và thế giới hiện tượng Thành thử, nếu trong sự phân tích của triết học Phật giáo có việc tách rời nhận thức luận với bản thể luận và nhân sinh quan thì cũng chỉ có tính tương đối và nhằm cố gắng rạch ròi hơn những khía cạnh được bàn đến mà thôi Việc nghiên cứu về nhận thức trong triết học Phật giáo, do đó không chỉ có tác dụng làm rõ các vấn đề nhận thức luận chuyên biệt mà còn góp phần quan trọng làm sáng tỏ, bổ sung phát triển kinh bổn và giáo lý của cả hệ thống triết lý của cả trường phái này
Trang 20Con người là chủ thể nhận thức, nhưng cái đảm nhiệm vai trò nhận thức lại chính là Tâm, và hoạt động nhận thức của tâm là Tâm thức Thế giới Tâm thức được triết học Phật giáo trình bày trong thuyết Tám thức Với nhận thức luận Phật giáo, thế giới này không sinh cũng không diệt, không có cái gì xuất hiện hoàn toàn mới mẻ cũng không có cái gì biến mất đi hoàn toàn, chỉ là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác Chính cách tiếp cận trên của nhận thức luận Phật giáo đã quy định tính chất, lập trường và phương pháp của bản thể luận và nhân sinh quan trong toàn bộ triết lý của nền triết học này
Trong bản thể luận, triết học Phật giáo căn cứ vào tính chất tương liên, tương sinh của vạn vật mà cũng đi đến kết luận rằng, vũ trụ là tự nó, không sinh và không thể tiêu diệt, không có một thế lực nào có thể dùng ý muốn của mình mà chi phối sự vận hành của nó Trong vũ trụ, vạn Pháp không có tự tính (không có bản tính riêng của mình) mà chỉ là sự hoà hợp của nhân duyên
Với triết học Phật giáo, không có Pháp nào là tồn tại vĩnh cữu mà tất cả tuân theo luật sinh, trụ, dị, diệt (thành, trụ, hoại, không) Con người và sự vật trong đời này luôn thay đổi, biến dịch từng giờ, từng phút, từng sát na Mọi Pháp là vô thường nhưng không có vật gì là hoại diệt tuyệt đối, chỉ có hình thái thay đổi Vô ngã là không có cái Ta, không có bản thế vĩnh hằng, bất biến Sở dĩ không có cái Ta, không có bản thể vĩnh hằng, bất biến vì vạn Pháp chỉ do nhân duyên ph hợp và trong trạng thái vô thường bất định
Những quan điểm về bản thể luận ở trên c ng với nhận thức luận tiếp tục trở thành cơ sở giải thích cho triết lý nhân sinh và con đường giải thoát của đạo Phật Mục đích cuối c ng của Phật là tìm ra con đường giải thoát, đưa chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi bất tận đó
Với thuyết “luân hồi”, “nghiệp báo”, Phật giáo cho rằng, con người trong quá trình tồn tại do duyên hợp, ngũ uẩn đã làm những việc thiện, ác, tạo ra “nghiệp” Theo luật nhân quả, những việc làm thiện, ác hay “nghiệp” sẽ là động lực, là nhân
tố để tạo ra sự kết hợp ngủ uẩn tiếp theo cứ như vậy kéo con người vào vòng luân hồi sinh tử không ngừng từ đời này sang đời khác Tuy nhiên, nội dung cơ bản của
Trang 21giáo lý đạo Phật khi lý giải về cuộc đời con người là học thuyết về “khổ” và con đường “cứu khổ” ởi vì con người không nhận thức được cái biến ảo, vô thường,
vô định của vạn vật là thường hằng, chân thực và cũng không nhận thức được rằng, cái Ta có mà không, không mà có, cho nên con người luôn nhầm tưởng Ta tồn tại mãi Nhằm loại trừ vô minh, dứt bỏ dục vọng để đạt tới chân lý, triết học phật giáo
đã đề ra bốn chân lý mà mọi người phải thấm nhuần để thực hiện Đó là Tứ diệu đế
Tứ diệu đế bao gồm: Khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế Ngoài ra, triết học Phật giáo xây dựng thuyết Tam học hay át chính đạo với tư cách là những phương pháp nhận thức hướng tới giác ngộ và giải thoát c ng với những yêu cầu cụ thể cho mỗi phương pháp ấy
Nhận thức luận Phật giáo như một sợi dây vô hình liên kết bản thể luận và nhân sinh quan, tạo nên tính thống nhất và toàn vẹn về nội dung, tư tưởng và hình thức của trường phái triết học này Chính do sự mới mẻ, biện chứng và phần nào mang tính khoa học trong tư tưởng, nên, mặc dù cho triết học Phật giáo ra đời cách đây hàng mấy mươi thế kỷ nhưng vẫn có được một chỗ đứng và đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển tư tưởng loài người
1.1.2 Thiền học – Triết lý nhân sinh nhập thế
uan niệm về thiền trong Kinh Tứ thập nhị chương có d ng danh từ “thiền định” một lần, trong lời mở đầu: “an trụ đại Thiền định, hàng phục các ma đạo” [62, tr.12] Thiền nói đủ là Thiền - na (Dhyàna) có nghĩa là tĩnh lự, tĩnh là an tĩnh, lự là
tư lự, suy xét, tức là tiêu trừ những sự tán loạn, vọng động, làm cho trong tâm được
an trụ ai chữ “Tĩnh lự” ở đây đồng nghĩa với hai chữ “Định huệ”, Tĩnh tức là Định, lự tức là uệ Định và uệ tương ứng nên tâm được vắng lặng sáng suốt và phát ra năng lực mạnh mẽ: Thần thông, biện tài không có thứ nào là không đầy đủ, nên có thể hàng phục hết thảy các ma đạo Trong kinh này gọi là đại thiền định là để phân biệt thiền định của Phật với thiền định của ngoại đạo và các loại thiền định đương thời Thiền định Phật giáo luôn quân bình chỉ và quán không rơi vào thuần túy định tâm (chỉ), mà định tâm là điều kiện tốt cho sự quán chiếu sâu vào lòng sự vật Vì vậy, thiền định Phật giáo không dừng lại ở các trạng thái của định mà luôn
Trang 22luôn vượt qua, không vướng vào các giai đoạn của tâm định Thiền định Phật giáo gắn bó với đời sống thực tiễn và nó có công dụng cải hóa cá nhân và xã hội Do vậy
mà gọi là đại thiền định có công năng hàng phục chúng ma
Và trong chương 19 của kinh thậ nh chương có nói đến sự quán niệm về vô
thường (quán thế giới niệm vô thường, quán thiên địa niệm vô thường) Ðây cũng là một hình thức thiền định, gọi là vô thường quán Theo quan niệm này thì vũ trụ vạn vật chung quanh ta là đối tượng tiếp xúc của các giác quan và ý thức Ta luôn luôn thấy nó bền vững, chắc thật như tảng đá, ngọn núi, bầu trời, trái đất Chúng ta dễ dàng thấy sự vô thường của bọt nước, của ánh chớp, của sương mai nhưng ít khi chúng ta thấy rõ sự vô thường của các thiên hà, của những hiện tượng lớn trong vũ trụ Vì vậy, phải thấu triệt bản chất của vũ trụ vạn vật từ lớn cho đến nhỏ đều vô thường Thấy sự vô thường một cách toàn diện của mọi sự vật là ta đã có trí tuệ, rất gần với sự giải thoát
Triết lý Thiền tông là lời Đức Thế tôn diễn thuyết được tập hợp trong các bộ kinh điển về quy luật hằng thường, về lẽ sinh, trụ, dị, diệt ở đời Trong rất nhiều giáo lý của nhà Phật thì “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “ át chánh đạo” là những triết lý cơ bản ngay từ ngày đầu Phật giáo hình thành nhưng lại được phái Thiền Tông tiếp thu đầy đủ và thể hiện một cách uyên áo rồi ăn sâu vào đời sống nhân dân, gắn chặt với cuộc sống trần gian, nhiều lúc nó trở thành nguồn an ủi vỗ
về mặt tinh thần của con người
Thiền tông là sản phẩm của đất Trung oa, (nó là sự kết hợp giữa đại thừa Ấn
Độ với Lão Trang và văn hóa Trung Hoa), mà gần một nghìn năm đầu, nước ta nội thuộc Trung uốc, vậy văn hóa của họ, đặc biệt là Thiền Tông, không thể không ảnh hưởng đến nước ta
Thiền tông với phương châm: “ ất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”, phương châm này ph hợp với người dân Việt Nam [28, tr.390] Trong các tông phái Phật giáo, Thiền tông có quan niệm về nhập thế rõ ràng hơn cả Một vị tổ Thiền đã đưa ra phương châm “một ngày không làm, một ngày không ăn” [28, tr.390] Sang Việt Nam thiền còn nhập thế tích cực hơn
Trang 23nữa Điều đó thể hiện trong việc đánh giặc cứu nước cũng là Thiền, chống úng cũng
là phật sự có lẽ cũng chính vì vậy mà Thiền đáp ứng được nhu cầu đời sống tâm linh, đáp ứng được nhiệm vụ dựng nước và giữ nước của người Việt
Ngay Thiền tông khi sang Việt Nam cũng được Việt hóa và mang một màu sắc, đặc điểm mới Phật giáo ở Trung uốc có rất nhiều tông phái, mà Thiền là chỉ một trong số đó Trong Thiền Trung uốc, ban đầu có Lão, về sau có thêm cả Nho và và văn hóa Trung oa nói chung Nhưng sự tổng hợp tam giáo ở Trung uốc khác với Việt Nam “Ở Trung uốc đồng nguyên tam giáo luôn dựa trên Nho giáo, lấy Nho giáo làm nền tảng; trong khi đó ở Việt Nam lại khác, đồng nguyên tam giáo là cụ thể là lần thứ nhất vào thế kỷ thứ II, III, và lần thứ hai vào thời Lý - Trần nó lại dựa trên cơ sở Phật giáo mà chủ yếu là Thiền Tông” [28, tr 391]
Về phương diện tu hành tôn giáo, các vị tổ Thiền tông đã đưa ra những biện pháp, cách thức để dẫn dắt môn đồ trên con đường hướng đến giải thoát Những biện pháp, cách thức đó thể hiện ở vấn đáp, niệm tụng, các công án như nói ngược lại, nói vượt qua, nói quyết, nói nhại, lý luận vòng tròn, im lặng, hét, đánh, cấu, véo, đạp Những cái đó được đề cặp đến trong Lâm tế ngữ lục, ích nham tập, Võ môn quan, Một số phương pháp đó được các Thiền sư Việt Nam sử dụng, thậm chí còn sớm hơn Trung uốc
Phật giáo đời Lý đã có những Thiền sư nổi tiếng làm cầu nối cho Phật giáo đời Trần đạt đến đỉnh cao trong lịch sử để kh ng định quyền tự chủ tự cường của một đất nước Vì vậy, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống lại bất cứ sức mạnh nào muốn phá hoại nền hòa bình, hạnh phúc của mình Và Phật giáo Lý – Trần đã đáp ứng nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại vào công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước Chiến công hiển hách còn ghi lại trong lịch sử Nếu Lý Thái Tông đã đánh giặc Nùng rồi bình được Chiêm Thành Lý Thường Kiệt đem binh đánh Tống thì Trần Thái Tông cũng thu phục được đất Chiêm và cuộc chiến thắng Nguyên Mông vẻ vang này dưới
sự lãnh đạo tài tình của vua Trần Nhân Tông và ưng Đạo Vương Xưa nay, các bậc đế vương thâu phục giang sơn bằng con đường gươm đao, chế ngự dân bằng quyền hành, bạo lực Còn thời đại Lý – Trần thì khác, lên ngôi vua không hề có một
Trang 24giọt máu rơi, quần thần trong triều đình đều nhất trí và cũng không nghe dân tình than oán Sức mạnh nào đã tạo nên một quốc gia hưng thịnh h ng cường, có phải chăng chính đức từ, bi, hỷ, xả của nhà Phật đã thấm nhuần từ vua quan cho đến thứ dân Nói chung, các ông vua Phật tử thuần thành đời Lý và đời Trần đều có tấm lòng thương yêu dân như vậy là nhờ thấm nhuần tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã vị tha của đạo Phật Đường lối lấy đức trị dân của hai triều đại Lý – Trần đã minh chứng sự hội nhập của Phật giáo vào đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của dân tộc Việt Nam Song, điểm đặc sắc của hai triều đại Phật giáo Lý – Trần là ngoài những ông vua Phật tử thuần thành, còn có những ông vua kiêm Thiền sư, kiêm là những nhà Phật học uyên bác, viết sách, giảng kinh, không khác gì các cao Tăng thạc đức Có thể kể Lý Thái Tông, học trò đắc pháp của Thiền sư Thiền Lão, và được dự vào hàng Tổ thứ bảy của dòng thiền Vô Ngôn Thông Lý Thánh Tông được tuyền thừa làm Tổ thứ 2 của Phái Thiền Thảo Đường, và đặc biệt là hai ông vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông là một trong những ngôi sao sáng của Phật giáo thời đó Vua Trần Thái Tông là tác giả cuốn Khóa ư Lục, một tác phẩm Phật giáo viết bằng chữ án Nôm, đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản nhiều lần Cuốn sách chứa nhiều tư tưởng độc đáo Như tư tưởng xem mọi người đều là Phật, đều là những vị Phật sống mà không tự biết Ông viết trong bài Niệm Phật Luận:
“Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng” Lại viết tiếp: “Tướng Phật là tướng
ta không phải hai, lặng vậy mà thường tồn tại, tồn tại mà không biết Đó là Phật sống vậy” Người là Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên Trần Thái Tông gọi người là Phật sống Và điểm nổi bật của Phật giáo thời Lý – Trần là nó cung cấp một triết lý sống, chứ không phải là những tín điều chết, các Thiền sư thời Lý – Trần đã quán triệt, đã thực hiện triết lý đó bằng cả cuộc sống của chính mìmh Đạo Phật đời Lý – Trần không chấp tướng, không giáo điều, không vướng mắc vào hình thức, không bó hẹp trong chùa chiền, tu viện, càng không phải là sở hữu riêng của giới Tăng, Ni mà là của tất cả mọi người biết lấy nó làm lẽ sống, d người đó là vua chúa, Thiền sư, quan lại, hay là người dân bình thường Ai cũng học và tu đạo Phật được, ở đâu, làm gì cũng học và tu theo đạo Phật được, miễn là biết nhìn rõ tâm
Trang 25mình, chuyển hóa tâm và sử dụng tâm cho tốt Trong “Khóa ư Lục”, Trần Thái Tông gọi đó là biện tâm, Trần Thái Tông viết: “Không kể là sống ẩn trên núi hay giữa thành thị, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện tâm, vốn không có phân biệt nam nữ sao còn chấp tướng” Vì không chấp tướng nên Phật giáo đời Trần mới có được một nhân vật đặc biệt như Tuệ Trung Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩ tại gia, nhưng lại được mọi người Tăng cũng như tục tôn kính, học hỏi như là một bậc Thầy lớn trong đạo Thậm chí Trần Nhân Tông và Pháp Loa là hai vị Tổ thứ nhất và thứ hai của Phái Thiền Trúc Lâm cũng suy tôn Tuệ Trung Thượng Sĩ là Thầy của mình Với tinh thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, đã không quản gian khổ nhọc nhằn, đi khắp nơi trong nước khuyên mọi người sống theo năm giới, mười thiện là những nguyên lý căn bản của Đạo Đức Phật giáo Nhờ vậy, ngay giữa lòng của xã hội Phong kiến, đạo Phật đời Lý – Trần đã tạo ra những mẫu người tuyệt vời, mà con người ở vào thời đại nào cũng cảm thấy tự hào
1.2 Cơ sở xã hội, nền tảng tinh thần của triết lý nhân sinh thiền học Lý – Trần 1.2.1 Bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và tư tưởng thời Lý – Trần
Khái quát điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và tư tưởng thời
Trang 26từng bước chủ động tích cực xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng với một quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ
Về kinh tế, sau khi đất nước độc lập, nhà Lý có điều kiện quan tâm phát triển
kinh tế, đặc biệt là về nông nghiệp Nông nghiệp được coi là nền tảng cho xây dựng
và phát triển đất nước Các vua nhà Lý đặc biệt chú trọng sản xuất nông nghiệp, cứ đến đầu năm khi m a vụ đến nhà vua lại làm lễ tạ Thần Nông và là người hạ đường cày đầu tiên để động viên, kêu gọi nhân dan tích cực sản xuất Bên cạnh đó, để đảm bảo phát triển nông nghiệp, nhà Lý rất chú trọng phát triển mạng lưới thủy lợi, đê điều, phục vụ sản xuất nông nghiệp Chủ trương phát triển nông nghiệp, làm cho nhân dân no ấm, ổn định cuộc sống của nhà Lý là việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với một nước nông nghiệp lúa nước Có thể nói, các vua nhà Lý cùng cày ruộng,
c ng đắp đê với nông dân đã tạo ra một dấu ấn trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, đó là
tư tưởng “trọng nông” Nền văn minh nông nghiệp với những đặc điểm của nó đã tạo nên một phong cách, một lối suy nghĩ của người Việt gắn liền với văn minh nông nghiệp, đó là: tính cố kết cộng đồng, tư tưởng đoàn kết, tư tưởng thân dân, v.v
Về thủ công nghiệp thời Lý cũng bắt đầu phát triển khá mạnh mẽ, như các nghề:
dệt, gốm – sứ, luyện kim và nghề giấy, v.v Đặc biệt trong thủ công nghiệp, nghề giấy ra đời đã tạo điều kiện rất quan trọng cho phát triển xã hội thời kỳ này Nếu như các triều đại trước chưa có điều kiện phát triển văn hóa, tư tưởng thì đến thời nhà Lý bắt đầu chủ động tiếp thu Nho học và phát triển mở rộng nền giáo dục này Nghề giấy là một nghề không đơn thuần có ý nghĩa phát triển về kinh tế, mà có ý nghĩa phát triển về văn hoá tư tưởng
Cùng với phát triển của nông nghiệp, thủ công ngiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp cũng khá phát triển, nhờ đó mà mở rộng giao lưu giữa các vùng miền trong nước và với Trung Quốc, tạo điều kiện giao lưu, tiếp thu những giá trị văn hóa, tư tưởng của các v ng trong nước và khu vực Khi những ngành này phát triển thì trong tư duy người Việt bắt đầu nảy sinh về ý thức thẩm mỹ, thị hiếu của xã hội Với nền văn minh nông nghiệp lúa nước nên trong thẩm mỹ cũng mang dáng dấp của nền văn minh này, mặt khác với nền độc lập tự chủ, nên trong ý thức thẩm mỹ
Trang 27cũng phản ánh tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, phản ánh sự hài hòa cùa thiên thời, địa lợi, nhân hòa
Về chính tr , kể từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1010) cho đến các đời vua nhà Lý
về sau đã có sự thay đổi đáng kể, ghi đậm dấu ấn trong lịch sử Việt Nam Nhà Lý chủ động tiếp thu và sử dụng Nho giáo để quản lý xã hội, tổ chức các khoa thi để chọn người ra làm quan Đồng thời với việc sử dụng Nho giáo, nhà Lý còn xây dựng bộ luật thành văn để quản lý xã hội, đó là bộ ình thư vào năm 1042 - bộ luật đầu tiên của nước ta Như vậy, trong tư tưởng Việt Nam thời Lý có sự kết hợp tư tưởng đức trị vừa có tư tưởng pháp trị trong quá trình quản lý xã hội
Về quân sự, nhà Lý chú trọng xây dựng và phát triển nền quân sự vững mạnh để
bảo vệ đất nước Lý Thường Kiệt, một danh tướng thời Lý đã hai lần đánh tan quân Tống – đội quân có tiềm lực quân sự hùng mạnh ở phương ắc – bảo vệ nền độc lập dân tộc không bị xâm phạm Nền quân sự hùng mạnh của nhà Lý đã củng có tinh thần tự cường, tinh thần bất khuất chống xâm lượt, phát triển chủ nghĩa yêu nước lên tầm cao mới, đồng thời kh ng định bản lĩnh của dân tộc ta trước sự đe dọa
từ phương ắc Từ đó, hình thành nên tư tưởng độc lập, tự chủ trong dân tộc ta
Về pháp luật, ở các thời Ngô, Đinh, tiền Lê, nhà nước chưa có hệ thống pháp
luật Đến năm Nhâm Ngọ, năm thứ 4/1042, đời Lý Thái Tông, vua ban ình thư, bởi lẽ “trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu
nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị an ủi quá đáng Vua lấy làm thương xót sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách ình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện” [8, tr 215] Thời Lý đã có cơ quan chuyên trách xử án, giám sát hình ngục, như cơ quan bộ Hình và thẫm hình viện, thường do các á tướng kiêm nhiệm Văn bia Sùng Thiện diên linh cho biết vào thời Lý Nhân Tông có Nguyễn Công Bật làm hình bộ thượng thư, Lý ảo làm đồng tri thẫm hình viện sự Am hiểu hình luật cũng
là điều kiện để làm quan, “thi lại viên bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật”
Trang 28Ngoài ra, vua cũng có khi trực tiếp xét xử các vụ án, năm 1064, “vua ngự ở điện Thiên khánh xử kiện” [8, tr.215]
Ngoài bộ ình thư các vua nhà Lý từ khi thiết lập triều đại đã ban hành nhiều luật lệ, quy định với những nội dung khác nhau phản ánh những nhu cầu của thực tiễn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi, địa vị gia tộc, họ hàng, quần thần nhà Lý Pháp luật thời lý cũng phản ánh rõ nét sự phân biệt đ ng cấp xã hội Đ ng cấp quý tộc quan liêu được hưởng nhiều đặc quyền, trang phục, nhà cửa cũng phân biệt với nhân dân, thợ bách tác trong cung không được chế tạo đồ dùng kiểu nhà quan bán cho dân, con cái dân gian không được bắt chước kiểu trang sức trong cung Đối với tầng lớp có địa vị cao thấp là nô tuỳ, pháp luật quy định nô tuỳ không được lấy con cái dân gian, tư nô không xâm hình rồng và xem mình như cấm quân, nô tuỳ nhà vương hầu và bách quan không được cậy thế đánh đập quân dân Mặc dù phản ánh và chấp nhận sự xuất hiện của chế độ tư hữu như một tất yếu
xã hội nhưng nhà Lý cũng có những quy định về pháp luật để bảo vệ nguồn thu nhập của nhà nước, đặc biệt là bảo đảm dân đinh – sức lao động chủ yếu mà nhà nước sử dụng và các nguồn thu thuế từ nhân dân Thể lệ về thu thuế cũng được quy định rõ ràng Các quan lại thu thuế của nhân dân, ngoài mười phần đóng vào kho của nhà nước, được thu riêng một phần gọi là hoành đầu, tức tiền giấy bút, nếu thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm Khố ty thu thuế lụa, nếu ăn lễ lấy lụa của nhân dân thì cứ mỗi thước lạu phạt 100 lượng, trên 10 tấm thì thêm phối dịch 10 năm Để đảm bảo sản xuất nông nghiệp, nhà nươc cũng quy định rõ việc xử tội những người giết trâu
bò, trộm lúa má, của cải của bách tính Ngay sau khi ban hành ình thư , vua Lý đã quy định thể lệ chuộc tội cho dân chúng, “xuống chiếu cho những người từ 70 tuổi trở lên, 80 tuổi trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những người ốm yếu cho đến các thân thuộc nhà vua từ hạng Đại công trở lên phạm tội thì cho chuộc [bằng tiền], nếu phạm tội thập ác thì không được theo lệ này” [8, tr 216]
Về văn hóa, trải qua hàng ngàn năm ắc thuộc, văn hóa Nho giáo vẫn chưa ăn
sâu, bám rễ được vào đời sống xã hội Việt Nam Tính đến thời lý nền văn hóa nước
ta đã có bề dày hơn 3000 năm, trong đó thời kỳ tự chủ của nền văn hóa Văn Lang –
Trang 29Âu Lạc đã tạo dựng nên bản sắc văn hóa ổn định của người Việt Với chiều dày văn hóa ấy, người Việt có đủ sức đề kháng trước âm mưu và chiến lược Hán hóa của các triều đại phương ắc xâm lược Nhà Lý đã xây dựng Thăng Long thành một trung tâm văn hóa lớn của cả nước, nhiều di tích văn hóa như ch a Một Cột, Quốc
Tử Giám, tượng thờ Chu Công, Khổng Tử, đã thể hiện một nền văn hóa độc lập,
có sự tiếp thu,có sự cải biến những giá trị văn hóa của bên ngoài để tạo sự đa dạng trong văn hóa dân tộc Nhiều loại hình văn hóa phát triển như múa hát, chèo, thơ ca, văn chiếu, trở thành những phương tiện giúp người dân Việt chuyển tải những tư tưởng của mình về đất nước, con người Ch ng hạn như bài Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lý Công Uẩn, bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt đã diễn đạt rất tinh tế, rõ nét tâm hồn, tư tưởng của dân tộc
Về giáo d c, các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê chưa có điều kiện để quan tâm phát
triển giáo dục thì đến nhà Lý tình hình khác hơn Nhà Lý đã nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục đối với phát triển đất nước, năm 1070, nhà Lý đã xây dựng văn miếu thờ Chu Công, Khổng Tử, đánh dấu chính thức sự có mặt của nền Nho học ở Việt Nam Đến năm 1075 khoa thi đầu tiên được mở, chọn người ra làm quan Nhà Lý tồn tại khá dài nhưng cũng chỉ tổ chức được khoảng bốn, năm lần thi Năm 1076, uốc Tử Giám được xây dựng làm nơi giáo dục và đào tạo nhân tài, tuy nhiên đây cũng chỉ là trường dành để đào tạo con em quý tộc
Thời kỳ này, khi nền giáo dục phát triển, Nho giáo đi vào văn hoá Việt Nam không còn nguyên nghĩa là một hệ tư tưởng của các triều đại phong kiến xâm lược
mà nó là một trào lưu tư tưởng phù hợp với chế độ phong kiến Nhà Lý thấy rằng,
có thể sử dụng Nho giáo để làm hệ tư tưởng cho chế độ chính trị của mình Cho nên nhà Lý chủ động tiếp nhận Nho giáo, những nội dung Nho giáo chủ yếu là Tống Nho được cải biến dưới lăng kính của văn hóa Việt Nam, phù hợp với văn hóa dân tộc và ý chí cầm quyền của nhà Lý Bên cạnh sử dụng chữ Hán, sự phát triển của giáo dục thời nhà Lý đã làm nảy sinh nhu cầu xuất hiện chữ Nôm để truyền tải những tư tưởng của dân tộc Sự chủ động tiếp thu cải biến Nho giáo, hình thành chữ Nôm, xây dựng và phát triển nền Nho học chứng tỏ tư tưởng tự chủ, tự cường dân
Trang 30tộc ta kh ng định Với tư cách là hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền, Nho giáo đi vào tầng lớp quý tộc, những người có điều kiện học hành, nghiên cứu Nho giáo Cho nên, khi đa số người bình dân trong xã hội không có điều kiện để tiếp thu Nho giáo, hoặc nhiều vấn đề mà Nho giáo chưa đáp ứng được nhu cầu của con người như vấn đề tâm linh, khi con người chết thì hồn sẽ về đâu, con đường giải thoát là
gì, v.v., thì trong thời kỳ này, bên cạnh văn hóa Nho giáo, Phật giáo đã ảnh hưởng rất sâu rộng trong đời sống dân gian Thời nhà Lý các nhà Vua có quan hệ mật thiết với Phật giáo nhiều Vua đi tu như: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông,
Lý Cao Tông, nên Phật giáo được triều đình chú ý phát triển Bên cạnh đó, Đạo giáo cũng đáp ứng yêu cầu của con người về sự thỏa mãn, giải phóng con người hướng đến tự do, tự tại nên nó đồng hành phát triển với Nho giáo và Phật giáo Sự giao thoa ảnh hưởng của ba tôn giáo này vừa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, vừa tạo nên giá trị giáo dục đa dạng và phong phú thỏa mãn nhu cầu nhận thức của người Việt thời kỳ này
Khái quát điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và tư tưởng thời kỳ nhà Trần
Sau thời kỳ hưng thịnh, từ khoảng giữa thế kỷ XII trở đi, triều đình nhà Lý bước vào giai đoạn suy tàn Đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Thiên tai, mất m a, đói kém, dịch bệnh hoành hành khắp nơi làm cho nền kinh tế ngày càng sa sút bên cạnh đó, do bộ máy chính quyền nhà Lý từ trung ương đến địa phương tỏ ra quan liêu, lỏng lẻo trong việc quản lý xã hội dẫn đến nhiều địa phương, các thế lực địa chủ phong kiến tập hợp lực lượng nổi dậy chống phá triều đình, nổi bật trong số các thế lực cát cứ thời bấy giờ là tập đoàn quân sự của anh em
họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình) Tập đoàn quý tộc họ Trần rất khôn khéo, dần dần từng bước vững chắc và cuối cùng chuyển chính quyền từ dòng họ Lý sang dòng họ Trần một cách êm thắm
Năm 1225, Lý uệ Tông nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh vừa mới bảy tuổi, rồi lên làm Thái Thượng oàng và sau đó xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo, lấy hiệu là Huệ uang đại sư Chiêu Thánh lên ngôi lấy tên là Lý Chiêu Hoàng, vị vua
Trang 31nữ duy nhất trong nền quân chủ Việt Nam Theo sự dàn xếp của TrầnThủ Độ, Chiêu oàng đã kết hôn với Trần Cảnh, sau đó nhường ngôi cho chồng “M a đông, tháng
12, ngày 12 năm Ất Dậu (1225) nhận thiền vị của vua Chiêu Hoàng, lên ngôi hoàng
đế, đổi nên hiệu là Kiến Trung” [8, tr.284] dưới sự giúp đỡ, ủng hộ của Trần Thủ
Độ và họ hàng Nhà Trần trải qua các triều vua với nhiều biện pháp phát triển các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thúc đẩy xã hội tiến lên một bước đáng kể
Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại, năm 1240 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 bộ Dưới lộ, phủ có châu, huyện, xã Nhà vua nắm quyền lực tối cao, quyết định tất cả, nhưng để tránh tình trạng vua còn nhỏ tuổi, nhà Trần đặt ra chế độ Thái Thượng oàng Các vua thường truyền ngôi sớm cho con nhưng vẫn trông coi chính sự Chế độ quan lại nhà Trần nói chung cũng giống nhà Lý nhưng có quy củ
và đầy đủ hơn Các chức quan trọng yếu trong triều đều giao cho vương hầu quý tộc nắm giữ, nhằm tập trung quyền lực về dòng họ mình Để tạo điều kiện cho vương hầu, tôn thất, làm việc, nhà nước cấp cho mỗi người một v ng đất lớn Nhà nước cũng cho phép các quan lại tôn thất cao cấp được xây dựng dinh thự, phủ đệ riêng, khi có việc mới vào chầu và làm việc ở kinh sư Năm 1226 do yêu cầu mới về kinh
tế và chính trị, vua Trần lại ra lệnh cho các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu mộ dân lưu vong đi khai hoang lập trang trại riêng, tạo thành một mạng lưới tôn thất nhà Trần khắp nơi trong nước Kinh nghiệm của nhà Lý buộc nhà Trần đặt ra lệnh riêng: người trong họ không được lấy vợ khác họ Tuy nhiên, nhà Trần vẫn không phá vỡ được quy luật phát triển của nhà nước quân chủ tập quyền Ngay khi tập trung những quyền lực vào các vương hầu, quý tộc họ Trần, các vua Trần phải sử dụng một số quan chức không phải họ Trần như trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Trương án Siêu Tiếp tục những chính sách của thời lý, nhà Trần mở khoa thi để chọn quan lại Ngoài ra, những người không đỗ đạt nhưng có tài vẫn sử dụng Phan Huy Chú (sử gia thế kỷ XIX) có nhận xét: “Triều Trần d ng người thật là công bằng, tuy đã đặt khoa mục mà trong việc kén dùng chỉ cốt tài là được, cho nên những nho sĩ có chí hướng thường được trổ tài của mình, không đến nỗi bó buộc
Trang 32hạn chế về tư cách ,chỉ cần người d ng được chứ không câu nệ ở đường xuất thân Nhân tài văn học được thịnh cũng nhờ thế chăng?” [8, tr.286]
Về tổ ch c quân đội, nhà Trần thay nhà Lý, cùng với việc hoàn thiện bộ máy
nhà nước để ổn định xã hội, củng cố chính quyền phong kiến trung ương tập quyền, nhà Trần đã ra sức xây dựng một tổ chức quân đội hùng mạnh đủ sức bảo vệ nền độc lập dân tộc Quan chủ lực của nhà Trần cũng chia thành hai bộ phận như thời nhà Lý là cấm quân và quân các lộ (ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là thiên binh) Trong chiến tranh, nhà Trần tập hợp được lực lượng quân đội thiện chiến, lớn mạnh, được trang bị và tổ chức tốt do thực hiện chế độ “ngụ binh ư nông” Nhìn chung, do đặc điểm và yêu cầu của điều kiện lịch sử nên nhà Trần là triều đại rất coi trọng binh pháp và kỹ thuật quân sự Luôn chú ý nâng cao chất lượng binh pháp, rèn luyện tư tưởng và việc coi trọng võ thuật đã trở thành lối sống của trai tráng trong các tầng lớp xã hội từ quý tộc đến nô tỳ thởi kỳ nhà Trần Về thực tiễn cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông đã thể hiện tổ chức quân đội và chính sách xây dựng lực lượng vũ trang của nhà Trần trong thế kỷ XIII là đúng đắn, sáng tạo Hàng loạt các chiến thắng Đông ộ Đầu (1258), Hàm Tử, Tây Kết (1285), đặc biệt là Bạch Đằng (1288) là hình ảnh tiêu biểu của quân đội Đại Việt trong thời kỳ hưng thịnh
Về pháp luật, năm 1230 Trần Thái Tông ban hành Quốc triều thông chế quy
định về tổ chức chính quyền Cơ quan luật pháp thời Trần cũng được tăng cường và hoàn thiện hơn Pháp luật và tổ chức tư pháp thời Trần có mấy điểm sau: Trước hết, pháp luật đời Trần kh ng định và củng cố sự phân chia giai cấp Đại quý tộc trước
là hoàng gia và vua được pháp luật bảo vệ các đặc quyền đặc lợi Riêng với họ hàng nhà Trần nếu phạm tội thì bị xử nhẹ hơn Luật bắt buộc nô tỳ phải thích chữ vào trán, nô tỳ không có quyền kết hôn với quý tộc Pháp luật thời Trần xác nhận và bảo
vệ quyền tư hữu tài sản, đặc biệt là ruộng đất Quan hệ tiền tệ đã công khai thâm nhập pháp luật, lệ chuộc tội được quy định cụ thể Việc mua bán chuyển nhượng và gắn vợ con làm nô tỳ là công khai và hợp pháp Tầng lớp nô, nô tỳ dông đảo trong
xã hội là tầng lớp thấp hèn trong xã hội, bị coi như một “vật” sỡ hữu của quý tộc
Trang 33Pháp luật thời Trần cũng chú trọng đến việc sản xuất nông nghiệp, những điều luật bảo vệ trâu bò và các công trình thuỷ lợi Luật nhà nước coi trọng xây dựng và sửa chữa đê điều là công việc của toàn dân
Về ngoại giao, một vần đề lớn đặt ra cho nhà Trần là việc đối phó với mưu đồ
bành trướng của đế quốc Nguyên – Mông ở phương ắc Từ sớm nhà Trần đã giữ quan hệ hoà hảo với nhà Tống và theo lệ cũ sang triều cống cho đến khi nhà Tống mất Năm 1285 nhà Trần bắt đầu cử sứ giả sang sứ Mông Cổ và định lệ ba năm cống một lần Nhưng do mâu thuẩn của nhà nước Nguyên – Mông, mối quan hệ giữa hai nước ngày càng căng th ng Sau kháng chiến chống Nguyên – Mông thắng lợi quan hệ Trần – Nguyên trở lại hoà hảo Nhà Trần tìm mọi cách giữ vững địa vị độc lập tự chủ của mình, khi nhà Trần suy thì nhà Nguyên cũng đang suy thoái, tiếp
đó lại bị nhân dân Trung Hoa lật đổ nên không còn điều kiện dòm ngó nước ta nữa
Về kinh tế, cũng như thời Lý các vua thời Trần chú ý thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, đặc biệt là chế độ sở hữu ruộng đất Các hình thức sở hữu cơ bản thời kỳ nhà Trần là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước thông qua công xã nông thôn và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân Có hai bộ phận cấu thành ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước: một là, ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý, hai là, ruộng đất công của thôn làng Tô thuế ruộng đất vào thời kỳ này chủ yếu là đánh vào ruộng công, nhân đinh cày ruộng công làng xã phải nộp bằng thóc theo diện tích và phải thêm một số tiền nhất định Năm Nhâm Dần, năm thứ 11/1242 nhà Trần củng đã ban bố luật tô thuế cho loại ruộng công của làng xã rằng: “Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có ruộng thì miễn cả Có 1, 2 mẫu thì nộp 1 quan tiền; có 3, 4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc.” [8, tr 290]
Về hình th c sở hữu ruộng đất tư nhân g m có: thái ấp, điền trang của quý tộc
nhà Trần, ruộng tư hữu của địa chủ và ruộng đất sở hữu của tiểu nông Chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc của nhà Trần dưới một hình thức tiêu biểu là thái ấp Ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền nhà Trần Nguồn đất ban đầu của thái ấp thuộc quyền sở hữu nhà nước,
Trang 34nhưng khi ban cấp thành thái ấp thì thái ấp thuộc chiếm hữu tư nhân các quý tộc Ngoài thái ấp thì năm 1226, do nhu cầu khẩn trương mở rộng diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, củng cố thêm thế lực của quý tộc Trần, nhà Trần đã cho các vương hầu công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn đất hoang lập điền trang
Về công cuộc tr thuỷ, nhà Trần đã cho xây dựng hệ thống đinh nhĩ và các dòng
kênh tiêu ứng Ở thời Lý, công việc trị thuỷ vẫn do các địa phương tự lo liệu, tự góp tiền của, nhà nước đóng vai trò chỉ đạo và quản lý một số đê, chủ yếu là xung quanh Thăng Long Nhà Trần vừa nắm chính quyền đã nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nghiệp, mở rộng thêm diện tích canh tác Triều đình đã áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp Năm 1248, Trần Thái Tông đặt cơ quan hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách việc đê điều ở các lộ phủ Đây là công việc quan trọng, một bước ngoặc trong lịch sử thuỷ lợi nước ta Sang thế kỷ XIV, nhiều công trình thuỷ nông vẫn tiếp tục được xây dựng
Về nền kinh tế thủ công nghiệ v thương nghiệp, triều đại nhà Trần vẫn tiếp tục
xây dựng quan xưởng thủ công nghiệp nhà nước Các nghề thiết yếu của thủ công nghiệp nhân dân thời Trần là nghề gốm, nghề rèn, nghề đúc đồng, nghề làm giấy và khắc bản in, nghề mộc, nghề xây dựng và nghề khai khoáng Mạng lưới thương nghiệp và thành thị ngay từ đầu đã được nhà Trần quan tâm, qua việc xây dựng nên một hệ thống giao thông thuỷ bộ trong cả nước Hệ thống giao thông biển và trên bộ thời Trần phục vụ cho yêu cầu quân sự nhưng cũng có nhiều tác dụng cho thương nghiệp Để phát triển lưu thông hàng hoá các vua Đại Việt thời Lý – Trần đều có đúc tiền Ngoài ra trên thị trường còn sử dụng nhiều loại tiền Trung Quốc Nhà Trần
đã mở rộng việc mua bán đất bằng tiền, nộp tiền để lấy quan chức, việc đúc tiền do quan xưởng đảm nhiệm Quan hệ tiền tệ đã thâm nhập vào đời sống chính trị và tín ngưỡng Nhà nước thu tô thuế bằng tiền, cũng thể hiện chức năng thanh toán của tiền tệ thời Trần đã phát triển rộng lớn Tiêu biểu nhất cho mạng lưới nội thương là
hệ thống chợ ở đồng bằng sông Hồng, ngoài chợ ra còn có phố Các trung tâm phủ
lỵ bên sông lớn, đầu mối giao thông thuỷ bộ đều có phố; phố Luy Lâu (Thuận
Trang 35Thành, Bắc Ninh) bên bờ sông Dâu là nơi buôn bán cố định; phố Lố bên bờ sông Nghĩa Trụ (Xuân Cầu, Văn Giang, ưng Yên) cũng được hình thành vào thời này Cảng Vân Đồn, nay là các v ng đảo Vân Hải, Ngọc Vừng, Cống Đông thuộc Vịnh
Hạ Long (Quảng Ninh) là quân cảng và thương cảng có dáng vẻ quốc tế của nước Đại Việt thời Lý – Trần Biển vốn là con đường giao thông quốc tế quan trọng nhất của nước ta, là mạch nối giữa Đại Việt và các nước xung quanh, các cửa biển Hội Thống, Cần Hải (đều thuộc Nghệ -Tĩnh), ội Triều (Thanh oá) và đặc biệt là Vôn Đồn là những trung tâm buôn bán lớn với nước ngoài, là những điểm quy tụ đường biển thời Lý – Trần
Thương nghiệp thời Trần tuy có bước phát triển mới, nhưng chủ yếu là nền kinh
tế tự cung tự cấp Tổ chức các phường thủ công ở Thăng Long rất đơn giản Ngoại thương do nhà nước độc quyền, hàng hoá trao đổi chủ yếu là sản phẩm của nền kinh
tế tự nhiên, ít có sản phẩm thủ công Đến cuối thế kỷ XIV, khi nông nghiệp sa sút
và nước ta kiểm soát khắt khe việc buôn bán và sản xuất thủ công thì nền kinh tế hàng hoá rơi vào chổ bế tắc
Về sự hân chia đẳng cấp xã hội, đất nước ta bước vào thời đại nhà Trần trên
nền tảng xã hội được xây dựng ổn định và vững chắc từ thời Lý Trong quá trình xây dựng chính quyền quý tộc quân chủ vững mạnh, đồng thời cũng cố, phát triển kinh tế, văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc, xã hội thời Trần đã diễn ra sự phân hoá mạnh mẽ Một xã hội mới với những đ ng cấp mới dần được hình thành Nhìn chung trong gần hai thế kỷ, xã hội thời Trần đã hình thành và tồn tại ba đ ng cấp chính: Đ ng cấp quý tộc, tôn thất – quan lại trong chính quyền quân chủ; đ ng cấp những người bình dân, chủ yếu là nông dân các làng xã, thợ thủ công và thương nhân địa chủ; đ ng cấp nô tỳ
Về văn hoá giáo c, nước Đại Việt thời kỳ nhà Trần cũng phát triển mạnh và đạt
được những thành tựu rực rỡ, góp phần hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông Trước hết, về giáo dục tiếp tục kế thừa và phát triển khoa cử thời Lý sang thời
kỳ nhà Trần, được sự quan tâm của nhà nước, việc học và thi cử đi vào nề nếp quy
củ Năm 1253, nhà nước cho lập Quốc học viện để đào tạo nhân tài Tiếp sau đó, ở
Trang 36Thăng Long và các địa phương trong nước, trường lớp được dựng lên khá nhiều Năm 1281, Trần Nhân Tông lập thêm nhà học ở phủ Thiên Trường Năm 1256, nhà nước mới phân chia làm “ kinh trạng nguyên” và “trại trạng nguyên” nhưng học ở Thanh Hoá trở vào gọi là “trại”; học trò ở Trường Yên (Ninh Bình) trở ra gọi là
“kinh” Sự phân chia này chỉ tồn tại trong 20 năm, đến năm 1275 lại hợp nhất
Ngoài các trường, lớp do nhà nước tổ chức còn có một số trường tư, đó là các trường lớp của Chiêu Quốc Vương Ích Tắc và Chu Văn An Mãi đến cuối thời Trần năm 1397, nhà nước mới ban ra một quy chế về giáo dục, thi cử như sau: “nay quy chế ở kinh đã đủ mà ở châu huyện thì thiếu, làm thế nào để mở rộng đường giáo hoá cho dân? Nên lệnh cho các phủ Sơn Nam, Kinh ắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau phủ chu lớn thì 15 mẫu, phủ chu vừa 12 mẫu, phủ chu nhỏ 10 mẫu để chỉ dùng cho việc học trong phủ châu mình Lộ quan và quan đốc hy dạy bảo học trò cho thành tài nghề, cứ đến cuối năm chọn người
ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc” [8, tr.295]
Về khoa c , năm 1232 nhà Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho việc thi cử ở nước
ta gọi là Thái học sinh, được tổ chức thường xuyên 7 năm một kỳ Bên cạnh khoa thi trên nhà Trần còn mở các kỳ thi tuyển chọn các nho sinh hay chữ vào các quán, các, sảnh, viện và mở các khoa thi tam giáo (Nho, Phật, Đạo) Năm 1247, nhà Trần đặt lệ lấy tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) Nội dung học và thi cử thời kỳ nhà Trần bao gồm một số nội dung chính trị, đạo đức của Nho giáo và Phật giáo Tuy nhiên, do thời kỳ nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh nên trong nội dung giáo dục thời kỳ này triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo không chỉ trở thành nền tảng đạo đức xã hội, mà còn có mặt trong nội dung giáo dục khoa cử Thời Trần, Phật giáo thịnh hành trên cơ sở phát triển từ thời Lý Vua Trần không chỉ sùng Phật mà còn có ý thức sử dụng Phật giáo như một công cụ tư tưởng vì mục đích tu dưỡng đạo đức, củng cố khối đoàn kết nội bộ trong vương hầu quý tộc, cố kết
xã hội xung quanh nhà nước quân chủ quý tộc Trần Nhà Trần tổ chức thi tam giáo (Nho - Phật - Đạo) vào các năm 1227, 1247, nhưng khác với thời Lý về trước, Phật giáo không còn vị trí trên chính trường mà hoà trộn vào xã hội, ăn sâu bám rễ vào
Trang 37làng xã Vào cuối đời nhà Trần, khi tình hình chính trị - xã hội mất ổn định, loạn lạc nổi nhiều, cửa Phật đã không còn giữ được vẻ trang nghiêm thanh tịnh của nó nữa
Về văn h c, vào thời Trần văn học phát triển hơn thời Lý Lực lượng sáng tác
ngoài các nhà sư còn có quý tộc và nho sĩ Do đó, chủ đề của thơ văn thời Trần không những xoay quanh những vấn đề của đạo Phật, mà còn đề cập đến những vấn
đề của đạo Nho, đạo Lão Đáng chú ý, đến thời Trần, chữ Nôm được sử dụng rộng rãi trong văn học, chứng tỏ nền văn hoá tư tưởng có tính độc lập của dân tộc ta đã phát triển một cách mạnh mẽ Có thể kể đến bài thơ của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ, binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn; Thơ thuật hoài của Phạm ngũ Lão; Bạch đằng giang phú của Trương án Siêu Đặc biệt sáng tác bằng quốc âm thời Trần có các bài nổi tiếng như bài phú Cư trần lạc đạo, bài ca Đắc thú lâm truyền thành đạo của Trúc Lâm đệ nhất tổ Trần Nhân Tông; bài phú Vịnh hoa Yên Tử của Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang
Về s h c, đến thời Trần việc biên soạn những bộ sử của đất nước đã được đẩy
mạnh Nhiều bộ sử như: Việt sử lược, Việt sử cương mục đáng chú ý trong đó là
bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn ưu Đặc biệt, lúc bấy giờ còn xuất hiện bộ sử chuyên ngành, dã sử và truyền thuyết của dân tộc, như tác phẩm Thiền uyển tập anh, Việt điệu u linh và Lĩnh nam chích quái
Một số ngành khoa học tự nhiên như thiên văn, lịch pháp y học của dân tộc ta thời nhà Trần đã đạt được những thành tựu đáng kể Trên cơ sở đặc điểm lịch sử xã hội và tiền đề tư tưởng, văn hoá ấy, thời kỳ nhà Trần đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng và thiền phái triết học lớn: “Trần Thái Tông – tập đại thành đầu tiên của thiền Việt Nam; Tuệ Trung Thượng Sĩ – tu Phật mà không “quy y tam bảo”, thể hiện tinh thần phá chấp và nhập thế độc đáo “hoà quang đồng trần”; Phật hoàng Trần Nhân Tông – người sáng lập ra dòng Thiền đặc sắc Việt Nam, thiền Trúc Lâm yên tử, và cùng với nhị tổ Pháp Loa, Tam tổ Huyền Quang chủ trương thiền hành động, nhập thế tích cực, “cố kết lòng dân, sự nghiệp tr ng hưng, sáng ngời thuở trước” [8, tr.299]
Trang 381.2.2 Nền tảng tinh thần của triết lý nhân sinh thiền học Lý – Trần
Phật giáo Việt Nam có nguồn gốc xuất phát từ Ấn Độ và một nguồn khác từ Trung Hoa Do vậy, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều ở cả Phật giáo Ấn
Độ và Phật giáo Trung Hoa Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ V, tuy Phật giáo đã hiện hữu trong đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của quần chúng nhân dân, nhưng nó chưa được định hình một cách chắc chắn về mặt tổ chức, nhất là trong sự xây dựng kế thừa và phát triển Nhưng đến thế kỷ thứ VI khi các dòng Thiền chính thức được truyền vào Việt Nam đã tạo thành những dòng Thiền cá biệt tiêu biểu cho sức sống
của đạo Phật Việt Nam
Thiền tông Trung oa: Vào tiền bán thế kỷ thứ 6, dưới thời Nam ắc Triều, với
việc ồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang, sinh hoạt Phật giáo ở Trung uốc đã nhận được một kích thích lớn và những người có đầu óc suy nghĩ cách tân, khi đón tiếp ông, đã biết kết hợp hai luồng tư tưởng đã có và mới đến, chỉnh lý, tổ chức lại Nhờ thế, họ
đã phát huy được tư tưởng Thiền Tông Hệ phổ các tổ đầu tiên của dòng Thiền Trung oa được sắp xếp theo thứ tự: Sơ tổ Đạt Ma, Nhị tổ uệ Khả, Tam tổ Tăng
Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ tổ oằng Nhẫn
Sơ tổ Đạt Ma (470 - 543)
Pháp Sư ( ồ Đề Đạt Ma) là con thứ ba của một vị đại vương bà la môn ở Nam Thiên Trúc thuộc Tây Vức Thần huệ sáng thông, nghe đâu ngộ đó, ông nuôi chí cầu pháp Đại Thừa, trút lớp áo trắng cư sĩ, khoác lên mảnh nâu sồng, quyết làm hưng thạnh hột giống thánh Thoải mái trong lòng, thông suốt thế sự, trong ngoài sáng rỡ, đức hạnh vượt ngoài khuôn mẫu thế gian, ông đau lòng trước cảnh suy vi của thánh giáo ở các nước ngoài, bèn băng núi vượt biển qua du hóa ở Trung oa nước Ngụy Cuốn sử Thiền mở đầu với
ồ Đề Đạt Ma sang Trung uốc vào năm 520 thuộc Công nguyên, mang theo một thông điệp th thắng Thông điệp ấy được tóm tắt bằng mười sáu chữ này :
“Ch ng lập văn tự Truyền riêng ngoài giáo Trỏ th ng tâm người Thấy tánh thành Phật”[65, tr.194]
Trang 39Nêu lên cơ bản lập giáo của đạo Thiền khác h n với các môn phái Phật giáo khác đương thời có ở Trung oa, bốn câu ấy không phải của Đạt Ma mà do đời sau
đề ra Thiếu tài liệu xác đáng, ta không thể quyết đoán tác giả là ai Theo sử gia Tông Giám tác giả bộ “Pháp chánh truyền của Phật Thích Ca”, soạn năm 1257, và soạn theo quan điểm Thiên Thai Tông, đó là sáng kiến của Nam Tuyền Phổ nguyện; chắc rằng công thức ấy ra đời khi Thiền đang hồi cực thạnh ở Giang Tây và ồ Nam với các đại sư Mã Tổ, ách Trượng, uỳnh á, Thạch Đầu và Dược Sơn; và
từ đó thông điệp ấy được coi là đặc trưng Thiền, mà chính Đạt Ma là người chủ xướng đả phá tinh thần ấy cho Phật tử Trung oa Nhưng những người này thường chỉ một mặt học kinh, một mặt hành Thiền ọ không am tường phép “trực chỉ” của Thiền là phương pháp nhắm th ng vào trung tâm Giác Ngộ, và chứng đến Phật tánh không qua quá nhiều cấp bực chuẩn bị như các tông phái khác
Về sự tích của ồ Đề Đạt Ma, ta được biết qua hai nguồn tài liệu Trước hết là tài liệu của luật sư Nam Sơn Đạo Tuyên trong Cao Tăng Truyện, soạn vào năm 645, đầu đời nhà Đường và được coi là tài liệu cổ nhất hiện có Tác giả là tổ sư khai sáng Luật Tông ở Trung oa, và là một học giả uyên bác; tuy nhiên, ông sống ở thời Thiền chưa lập tông, Thiền Tông mới được xây dựng lên sau này với lục tổ uệ Năng thuở ấy mới lên chín tuổi khi Đạo Tuyên soạn bộ “truyện” Nguồn tài liệu thứ nhì là Truyền Đăng Lục do Đạo Nguyên soạn năm 1004, đầu đời nhà Tống Sách do một Thiền sư viết ra khi Thiền đã được đồng thanh thừa nhận như một pháp môn riêng, và chuyên ghi chép những câu nói và việc làm của các Thiền sư Trong bộ
“lục” , tác giả thường dẫn chiếu để thêm uy tín những bộ sách Thiền cổ hiện nay đã thất lạc hết chỉ còn lại tên sách
Nhị tổ Huệ Khả (486-593)
Sau ồ đề Đạt Ma, uệ Khả là pháp từ chánh thống của Đạo Thiền Trước khi đến thọ Pháp với sơ tổ, Sư là một học giả uyên bác, không những tinh thông Phật giáo mà cả Khổng Lão giáo nữa, nhưng không cái học nào thỏa mãn được Sư; dường như Sư có chứng được gì riêng, và mong được tổ Đạt Ma trắc nghiệm lại
Trang 40Cũng như Đạt Ma, uệ Khả không lưu lại bút tích nào mặc dầu trong tiểu sử có ghi rằng những bài pháp của hai ngài đều được sưu tập lại, và riêng của uệ Khả còn được xếp loại nữa Dầu vậy, đoạn trích văn sau đây còn giữ lại có thể rọi vài tia sáng vào Thiền pháp của Nhị Tổ uệ Khả
“Có người tên là ướng cư sĩ nghe tin uệ Khả thạnh hóa bèn viết thơ gởi đến, lời lẽ như sau:
“ óng do hình mà dậy, Vang theo tiếng mà lên
“Nhọc hình đ a với bóng, nào hay gốc bóng là hình, Cao tiếng lấp âm vang, ch ng biết nguồn vang là tiếng
“Đoạn phiền não hướng đến Niết àn, nào khác bỏ hình kiếm bóng,
Lìa chúng sanh mong cầu Phật quả, ch ng qua dứt tiếng tìm vang
Mới biết: mê ngộ một đường, trí ngu ch ng khác
“Không tên đặt thành tên, bởi có tên nên phải trái lắm đường
Ch ng lý bày ra lý, vì có lý nên cãi bàn đủ vẻ
“ uyễn hóa ch ng chân, sao rằng phải trái,
ư vọng không thực, lấy gì có không
“Thế nên: được không chỗ được, mất không chỗ mất
“Y mọn trình lên, ngưỡng mong hòa thượng chỉ giáo”[65, tr.210]
Nhị Tổ phúc thư rằng :
“Xem qua ý ấy đều như thực Cái lý chân u ch ng biệt th
Mê nói ma ni là ngói gạch
ốt nhiên tỉnh dậy rõ là châu
Vô minh trí huệ nguyên không khác Muôn pháp đều “như” lọ phải cầu Thương kẻ chấp thường và chấp đoạn Mấy lời gói ghém thảo tờ thư uán thân c ng Phật nào sai biệt