Chung quanh vấn đề văn bản văn học Phật giáo, có thể điểm qua vài nét như một số bài viết xuất phát từ góc độ văn bản để xác định tác giả và tìm hiểu giá trị tác phẩm, chẳng hạn: - Lê M
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
T ô i x i n c am đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được
c ô n g bố trong bất cứ công trình nào khác
T á c g iả
N g u yễn Công Lý
Trang 4M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 3
M ỤC LỤC 4
M Ở ĐẦU 7
1 Tính c ấp thiết của đề tài 7
2 L ịch sử vấn đề 7
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi khảo sát, nghiên cứu 17
3.1 Đối tượng, nhiệm vụ của đề tài 17
3.2 Phạm vi khảo sát, nghiên cứu 17
4 Phương pháp nghiên cứu 18
5 Đóng góp mới của luận văn 19
6 C ấu trúc của luận án 20
Chương 1: VĂN HỌC PHẬT GIÁO LÝ – TRẦN TRONG BỐI CẢNH TH ỜI ĐẠI LÝ – TRẦN, VĂN HỌC LÝ – TRẦN VÀ PHẬT GIÁO LÝ – TR ẦN 21
1.1 Văn học Phật giáo ở Giao Châu (trước thời Lý Trần) 21
1.1.1 Khái niệm về Phật giáo Việt Nam trước thời Lý – Trần 21
1.1.2 Vài nét về điển trình và đặc điểm của văn học Phật giáo ở Giao Châu (trước thời Lý – Trần) 26
1.2 Th ời đại Lý – Trần và văn học Lý – Trần 37
1.2.1 Đặc trưng thời đại Lý – Trần 37
1.2.2 Đặc điểm văn học Lý – Trần 42
1.3 Ph ật giáo thời Lý – Trần 49
1.3.1 Khái lược về Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần 49
1.3.2 Phật giáo Lý – Trần trong mối quan hệ với Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Quốc và tín ngưỡng dân gian bản địa 51
1.3.3 Phật học – Thiền học Lý – Trần với bản sắc dân tộc 54
Chương 2: DIỆN MẠO VĂN HỌC PHẬT GIÁO LÝ – TRẦN 63
2.1 V ề lực lượng sáng tác 64
2.1.1 Các tác giả Thiền sư 65
2.1.2 Các tác giả là vua chúa, quý tộc 65
2.1.3 Các tác giả là Nho sĩ – quan lại 66
2.2 V ề hệ thống thể loại văn học 67
2.2.2 Từ khúc 71
Trang 52.2.3 Kệ và thơ Thiền 73
2.2.4 Ngữ lục 78
2.2.5 Niêm tụng kệ, tụng cổ 79
2.2.6 Ca, ngâm 83
2.2.7 Phú 83
2.2.8 Minh, bi, ký 84
2.2.9 Tự 86
2.2.10 Luận thuyết tôn giáo 87
2.2.11 Truyện ký 88
2.3 V ề văn tự ngôn ngữ 90
2.4 V ề đề tài phản ánh 93
2.4.1 Đề tài trình bày trực tiếp hay gián tiếp giáo lý nhà Phật 93
2.4.2 Đề tài về thiên nhiên 94
2.4.3 Đề tài về con người 94
2.4.4 Đề tài về cuộc sống trần thế 95
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VĂN HỌC PHẬT GIÁO LÝ – TRẦN 97
3.1 Văn học Phật giáo Lý - Trần với trạng thái tư duy nghệ thuật kiểu trực cảm tâm linh 97
3.1.1 Tôn giáo và văn học nghệ thuật 97
3.1.2 Tư duy Phật giáo với tư duy văn học 101
3.1.3 Tư duy nghệ thuật kiểu trực cảm tâm linh 104
3.2 Văn học Phật giáo Lý-Trần với việc thể hiện giáo lý nhà Phật 108
3.2.1 Về bản thể luận 108
3.2.2 Về giải thoát luận và những con đường tu chứng 112
3.3 Văn học Phật giáo Lý-Trần với tinh thần dung hợp các hệ tư tưởng 118
3.3.1 Phật-Nho phân công hợp tác 118
3.3.2 Phật-Lão kết hợp tịnh hành 121
3.3.3 Quan niệm Tam giáo đồng nguyên 123
3.4 Văn học Phật giáo Lý-Trần với cảm hứng về đất nước và quan niệm về con người 125
3.4.1 Cảm hứng về đất nước 125
3.4.2 Quan niệm về con người 129
3.5 Văn học Phật giáo Lý – Trần với cảm hứng thiên nhiên 134
3.5.1 Thiên nhiên biểu tượng 135
Trang 63.5.2 Thiên nhiên hiện thực 141
3 6 Vài nét đặc sắc về nghệ thuật 148
3.6.1 Vài thành tựu về thể loại 148
3.6.2 Vài đặc trưng thủ pháp ngôn ngữ nghệ thuật 155
KẾT LUẬN 160
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 164
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
1.1 Tư tưởng Phật, Nho, Đạo lừ lâu đã tồn tại, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần, đến sự phát triển củn xã hội Việt Nam và đã để lại dấu ấn khá dậm nét trong văn chương trung đại Việt Nam Nghiên cứu ảnh hưởng của Tam giáo nói chung, Phật giáo nói riêng đối với đời sống dân tộc và đời sống văn chương không
chỉ để hiểu con người Việt Nam trong quá khứ mà còn góp phần xây dựng con người
Việt Nam hôm nay cũng như mai sau Đây là một công việc cần thiết và bổ ích vì dó
là một trong những cách giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
1.2 Thời Lý – Trần, Phật giáo cực thịnh, ảnh hưởng sâu sắc đến văn học, do
thế đã tồn lại một bộ phận văn học Phật-giáo Các nhà nghiên cứu thừa nhận
Phật giáo Lý – Trần là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam và văn học Phật giáo Lý -
Trần là đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam, nên nếu giải quyết thỏa dáng vấn
đề đặt ra sẽ rất có ý nghĩa về mặt khoa học
l.3 Thời đại Lý - Trần là thời đại phục hưng, đất nước được độc lập chủ quyền, dân tộc được hồi sinh sau hơn một nghìn năm nô lệ phương Bắc Văn học Lý -Trần được sản sinh từ thời đại đó Đây là giai đoạn mở đầu, đặt nền móng vững chắc cho
sự phát triển củn văn học viết Việt Nam, trong đó văn học Phật giáo Lý – Trần được vinh dự là một trong hai bộ phận văn học có vị trí gần như là tiên phong cho giai đoạn này với những thành tựu đáng kể Nhờ thế nó đã tạo nên một tiếng nói rất riêng
khó có thể tìm thấy ở các giai đoạn văn học sau
1.4 Lâu nay, tác phẩm văn học Phật giáo Lý - Trần đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường các cấp nên nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa thiết thực về mặt
nghiệp vụ vì góp phần vào việc giải mã một bộ phận văn học vốn đậm chất uyên áo, giúp cho việc nghiên cứu và giảng dạy nó trong nhà trường tốt hơn
bộ văn học Việt Nam, giữa văn học Việt Nam với văn học Trung Quốc bởi mối quan
hệ giao lưu, tiếp nhận, tiếp biến trước đây Mặt khác, tình trạng “tam sao thất bản” cũng là một vấn đề cần lưu ý khi xác định văn bản
Ở đây, khi viết luận án, chung tôi căn cứ vào bộ Thơ văn Lý - Trần (3 tập)
của Viện Văn học để khảo sát Công trình này được tiến hành trong nhiều năm do hai
Trang 8nhà Hán học lão thành Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình hoàn thành bước đầu, sau đó được hoàn thiện bởi các nhà nghiên cứu ở Viện Văn học do Nguyễn Huệ
Chi chủ biên, dưới sự chỉ đạo đọc, duyệt bản thảo của hai học giả uyên bác : Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy Có thể nói bộ Thư văn Lý – Trần là một công trình văn
bản học có bề thế và tầm cỡ từ trước đến nay Các soạn giả đã sưu tập từ nhiều
nguồn tư liệu khác nhau (tuyển tập, sách nhà Phật, trong dân gian, ở nước ngoài )
để cho ra mắt bạn đọc một khối lượng đồ sộ 2420 trang in khổ lớn 19 x 27 gồm 163 tác giả với 914 đơn vị tác phẩm (chưa kể tập 2 quyển hạ, chưa xuất bản) Có được
kết quả đó là nhờ các soạn giả đã thừa hưởng những thành tựu của sáu thế kỷ tìm tòi, sưu tầm với hơn 27 bộ sách làm tài liệu gốc [37,46-187] Những gì ở tập 2
quyển hạ chưa xuất bản, chúng tôi tìm đọc các sách Thiền uyển tập anh, Tam tổ
thực lục, Thánh đăng ngữ lục Những văn bản hiện còn nghi ngờ, tranh cãi, chúng
tôi vẫn sử dụng vì theo quan niệm của số đông các nhà nghiên cứu xưa nay vẫn xem
đó là tác phẩm văn học Lý – Trần, bởi lẽ việc ảnh hưởng, giao lưu, tiếp nhận
là chuyện bình thường và có tính chất phổ biến của thời trung đại Chung quanh vấn
đề văn bản văn học Phật giáo, có thể điểm qua vài nét như một số bài viết xuất phát
từ góc độ văn bản để xác định tác giả và tìm hiểu giá trị tác phẩm, chẳng hạn:
- Lê Mạnh Thát trong bài về tác giả bài thơ "Xuân nhật tức sự" [253]
đã khẳng định đây là bài thơ Thiền đời Tống mà tác giả của nó là Thiền sư Ảo Đường Trung Nhân chứ không phải là Huyền Quang
- Hà Văn Tấn trong vấn đề văn bản học các tác phẩm văn học Phật giáo
Việt Nam [241] đã nêu lên một số ý kiến xung quanh các văn bản văn học Phật giáo
bằng một thái độ hoài nghi khoa học, về các tác phẩm như Lý hoặc luận, hay
truyện Tịnh không, truyện nguyện đọc chép trong Thiền uyển tập anh có điểm
giống với truyện Giáp Sơn, truyện Huệ Tư trong Cảnh Đức truyền đăng lục đời
Tống, Trung Quốc) và bài Ngôn hoài của Dương Không Lộ đời Lý lại giống với bài
của Lý Tường viết về tiếng cười của Thiền sư Duy Nghiễm cũng in trong sách truyền đăng nêu trên
Sau đó, trên báo Văn nghệ, báo Giáo dục thời đại có ý kiến muốn phủ nhận bài Ngôn hoài của Không Lộ
- Nguyễn Đình Chú trong sách Dạy thí điểm trung học chuyên ban lớp
10 môn V ăn [51 ] cho rằng hiện lượng Ngôn hoài của Không Lộ với bài thơ của
Lý Tường không phải là hiện tượng cá biệt trong đời sống văn học trung đại Việt Nam, vì nằm trong quy luật giao lưu văn hóa văn học, không xa lạ với lịch sử văn
học trung đại thế giới Ý kiến này được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình Trong
bài v ề bài thơ Ngôn hoài của Không Lộ Thiền sư: chuyện rắc rối và cách đối
x ử [50], tác giả cũng đã đối chiếu nguyên tác bài thơ của Không Lộ với bài thơ
của Lý Tường để chỉ ra nét đặc sắc nong bài thơ của Không Lộ, đó là cái lớn lao, cái khát vọng phi thường, khát vọng hòa nhập vũ trụ
Trang 9- Nguyễn Phạm Hùng trong Dương Không Lộ - Thiền sư thi sĩ [102] thì khẳng
định việc vay mượn, ảnh hưởng là lẽ tất yếu, tự nhiên trong thời trung đại, nên
Ngôn hoài vẫn là của Không Lộ Thiền sư
- Trần Đình Sử trong Những thế giới nghệ thuật thơ [225]đã nêu phương
pháp tiếp cận thơ Thiền nói chung, bài Ngôn hoài nói riêng Vấn đề là "phải hiểu
ý nghĩa biểu trưng của nó” và "không nên hiểu thơ Thiền như thơ thông thường"
- Nguyễn Khắc Phi- trong bài Quanh ngồn tư liệu hiện cổ liên quan đến
bài Ngôn hoài c ủa Không Lộ Thiền sư [196] đã đính chính tác giả bài thơ viết về
tiếng cười của Duy Nghiễm là Lý Cao chứ không phải Lý Tường Tác giả đồng ý
với ý kiến của Nguyễn Đình Chú, tôi phân tích chữ nghĩa văn bản, nội dung tư tưởng bài thơ để kết luận Ngôn hoài là hài thơ xuất sắc của Không Lộ và của
v ăn học trung đại Việt Nam
- Nguyễn Đăng Na đã khảo sát giải mã văn bản bài Vương lang quy
t ừ [172] Để khôi phục bài từ đúng như diện mạo của nó, tác giả đã đọc lại toàn
bộ Tống từ theo điệu Nguyễn lang quy, đối chiếu câu chữ từng bài bằng một thao
tác khoa học và công phu, có sức thuyết phục Trong một bài viết khác, Nguyễn
Đăng Na đã đi vào giải mã đoạn kết truyện Vô Ngôn Thông trong Thiền uyển tập
anh [177] bằng cách thống kê, đối sánh và phân tích cách ghi năm tháng trong tập sách để làm sáng tỏ một điều mà hơn nửa thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu bậc thầy
đều cho là "sách chép sai" hoặc "câu văn tối nghĩa" Đó là hai chữ "khai
h ựu" với con số 24, 28 năm trong đoạn kết câu chuyện
Nêu vấn đề như trên để thấy đây là một trở ngại cho người viết khi phải khảo sát một tư liệu vừa nhiều, vừa khó để phần nào làm rõ diện mạo và đặc điểm của văn học Phật giáo Lý - Trần
2.2 Tình hình nghiên cứu văn học Phật giáo Lý -Trần Đây là mảnh
đất có sức thu hút số đông nhà nghiên cứu, đã có nhiều chuyên luận, tiểu luận viết
về vấn đề này, nhưng nhìn chung thừơng chỉ được khai phá bước đầu và thành
tựu có thể nói là chưa tương xứng so với tầm vóc đồ sộ của văn học Phật giáo Lý -
Trần Người đặt nền móng, có ý thức nêu vấn đề để tìm hiểu phải kể đến công lao cùng đóng góp to lớn của Nguyễn Đổng Chi trong công trình Việt Nam cổ văn học
s ử (1942) [34] mà trước đây nhiều nhà nghiên cứu lấy làm chỗ dựa quan trọng khi
biên soạn lịch sử văn học cổ Trong công trình của mình, tác giả đã trình bày tiến trình văn học theo từng triều đại phong kiến, riêng về văn học Phật giáo Lý - Trần,
do tư liệu bấy giờ còn hạn chế nên người viết chỉ điểm qua khi trình bày văn học các
đời Ngô, Đinh, Lê (chương VII), đời Lý (chương IX) đời Trần (chương X)
Tiếp theo, phải kể đến đóng góp của Ngô Tất Tố qua hai công trình biên
soạn,dịch thuật : Văn học đời Lý, Văn học đời Trần (1942) [243], [244] Trước
khi cung cấp và dịch văn hản, soạn giả chỉ dành một số trang giới thiệu thành
Trang 10lựu văn học của các triều đại này, trong đó có một phần là văn học Phật giáo Lý –
Trần
Hơn nửa thế kỷ qua, các nhà nghiên cứu ít nhiều có chú ý đến văn học Phật giáo
Lý -Trần Đặc biệt, vài năm trở lại đây vấn đề này lại được quan tâm nhiều hơn qua
các hội thảo, hội nghị khoa học và lần đầu tiên Viện Văn học thông qua tạp chí của
Viện đã dành trọn một chuyên san về văn học Phật giáo (số 4-1992) Có thể khái
quát tình hình nghiên cứu theo ba dạng sau:
2.2.1 Mội là, khi nghiên cứu, các tác giả có điểm qua hoặc phẩm bình đôi lời về
văn học Phật giáo Lý - Trần Chúng tôi tạm gọi là dạng miêu tả, liệt kê Dạng
nghiên cứu này được thể hiện qua các công trình, các tiểu luận của các nhà nghiên
cứu như Hoàng Xuân Hãn [84], Mật Thể [258], [259], Trầu Trọng Kim [112], Lê Văn Siêu [212], [213], Nguyễn Duy Cần [19], Nguyễn Đăng Thục [265], [266], [267], [272], [273] Thích Mãn Giác [75], [76], Trần Văn Giàn [77], Nguyễn Hữu
Lợi [145], Nguyễn Duy Hinh [90], [91], Nguyễn Huệ Chi [38], Nguyễn Thế Đăng [69], Thích Phước Sơn [221], Thích Phước An [1] Lê Anh Dũng [65] và trong các công trình tập thể của Viện Sử học [301], Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam [297], Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh [302], Viện Triết học [275] ở đây, các tác giả không coi văn học Phật giáo là
đối tượng chính để nghiên cứu mà chỉ thông qua văn học Phật giáo để tìm hiểu lịch
sử tư tưởng, triết học nhà Phật, hoặc dùng văn học Phật giáo để minh họa cho tư
tưởng triết lý đó Cho dù các tác giả không đề cập cụ thể nhưng ít nhiều cũng giúp
cho người viết luận án rõ thêm về diện mạo và đặc điểm của văn học Phật giáo Lý -
Trần
2.2.2 Hai là, khi nghiên cứu về lịch sử văn học, các tác giả ít nhiều có trực
tiếp đề cập đến văn học phật giáo Lý-Trần Chúng tôi tạm gọi đó là dạng đan xen Có
thể gặp dạng nghiên cứu này ở các tiểu luận đăng trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử
(Viện Sử học), tạp chí Triết học (Viện Triết học), Tạp chí Văn học (Viện Văn học) ở
Hà Nội, Tạp chí Tư tưởng, Tạp chí Vạn Hạnh ở Sài Gòn trước 1975 và trong các bộ
văn học sử của nhóm Lê Quý Đôn, nhóm Văn -Sử - Địa, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam Ở các công trình, tiểu luận vừa nêu, các tác giả chú trọng khai thác tìm hiểu thơ Thiền, còn
mảng văn xuôi thì ít được quan tâm đến Có thể nêu một số nhận định có liên quan
đến văn học Phật giáo Lý -Trần ở một số công trình, tiểu luận trên như sau:
- Dương Quảng Hàm trong"Việt Nam văn học sử yếu" (1941) cho
rằng: "các vị sư đều là những người thâm Nho học, có nhiều vị làm thơ
có nhi ều tập thơ văn nói về giáo lý đạo phật "[81] mà trước đó trên tạp chí
Đuốc Tuệ của Tổng hội Phật giáo Bắc kỳ cũng đã đề cập vấn đề này
- Nguyễn Đổng Chi trong "Việt Nam cổ văn học sử "(1942) [34] và Ngô
Tất Tố trong "Văn học đời Lý" [143] "Văn học đời Trần" [144] đã trình bày
tổng quan về văn học Phật giáo như dã nêu trên
Trang 11- Phạm Thế Ngũ trong "Vịêt Nam văn học sử giản ước tân biên" (1961),
phần II, Văn học lịch triều; Hán văn đã trình bày sự phát triển văn học theo hệ
thống thể loại: Thi văn, truyện ký,công văn, sứ ký, biên khảo Khi miêu tả, phân
tích dù là đại lược, tác giả dã có đôi nét về các tác phẩm thuộc văn học Phật giáo thông qua các thể loại đó [184 ]
Bùi Văn Nguyên trong “Lịch sử văn học Việt Nam" tập 2 ( thế kỷ X - XVII),
phần "Văn học viết từ thế kỷ X – XIV” có nhận xét "Thơ Thiền đời Lý mang
n ặng ý thức hệ phật giáo Thiền tông, "nội dung đạo Thiền ở ta đã biến thiên cho phù h ợp với thực tiễn địa phương Chính nhờ vậy mà các nhà sư ở ta
đã có tác dụng tích cực trong việc xây dựng nền độc lập buổi đầu", "điểm thú
v ị là các nhà sư thường trở thành nhà thơ và có tâm hồn rung động trước
c ảnh vật và lòng người", thơ văn của các nhà sư "biểu lộ tư tưởng tự do phóng
khoáng", "hoài nghi đường lối tu hành" , "vượt ra ngoài khuôn khổ của triết
lý Thi ền tông", "biển hiện tinh thần yêu nước chống xâm lăng" về văn học
phật giáo đời Trần, tác giả nhận xét "Phật học đời Trần cũng có những tư tưởng
độc đáo, không rập khuôn theo phương Bắc", "văn học đời Trần mở đầu loại
v ăn bút chiến và văn chương phê bình", "các vua đời Trần thường là thi nhân hơn là Thiền sư" [185]
- Đinh Gia Khánh trong khi nêu tiến trình của lịch sử văn học cổ có điểm qua
văn học phật giáo Lý – Trần trong Văn học cổ Việt Nam (1960) [125]; còn trong
lời giới thiệu "Tám thế kỷ tiến trình văn học" trong sách "Hợp tuyển thơ văn
Vi ệt Nam" tập 2 [126] tác gỉa nhận định về thơ Thiền Lý - Trần : " bên cạnh ý
nghĩa triết học và tôn giáo, nhiễu bài thơ lại có ý nghĩa nhân sinh và giá trị
v ăn học", " những ảnh hưởng trên (Nho, Phật, Lão) không hề làm lu mờ tinh
th ần dân tộc", " chính hào khí tiếp thu được từ cuộc chiến đấu của dân tộc
l ại khiến các tác giả uốn nắn và nâng cao nội dung của những tư tưởng ấy để
phù h ợp với yêu cầu phản ánh thiên nhiên, xã hội và con người trong nước Đại Việt (độc lập, tự cường" Trong giáo trình "Văn học Việt Nam thể kỷ X –
n ửa đầu thế kỷ XVIII" tập 1, phần 2 “văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV”
[127] tác giả dành nhiều trang, viết về văn học Lý - Trần, trong đó có những ý kiến
về văn học Phật giáo đời Lý như : "Văn học đời Lý mang nặng ảnh hưởng Phật
giáo dù r ằng đa số tác giả là nhà sư, nhưng văn học đời Lý không phải chỉ
là văn học Phật giáo", "ngay trong các tác phẩm văn học Phật giáo đời Lý thì nhi ều khi vẫn tìm thấy những nội dung liên quan đến việc xây dựng nhân
ph ẩm và có ý nghĩa tích cực", "văn học Thiền tông đời Lý dầu sao không phải lúc nào cũng thuần túy Nhiều nhà sư Thiền tông mà tu luyện theo giới luật
Mật tông "Cơ sở tư tưởng của văn học Thiền tông đời Lý là ở quan niệm phiếm thần luận", "sự hòa đồng giữa con người và thiên nhiên là cơ sở cho
những tứ thơ độc đáo và những hình tượng thơ rất sinh động Thiên nhiên
được miêu tả với tình cảm thắm thiết và niềm lạc quan yêu đời, thể hiêin thái
Trang 12độ an nhiên tự tại, bản lĩnh vững vàng, tự tin của con người", "văn học đời Lý
mở đầu những truyền thống lớn của dòng văn học viết" và "văn học thiền tông
có vị trí nhất định; thơ Thiền gắn bó với đời sống dân tộc" Về văn học Phật
giáo đời Trần, tác giả đã nhận định: "xét về mặt học thuật đời Trần, trước hết
phải nói đến những trước tác về Phật học", "văn học đời Trần với quan niệm Tam giáo đồng nguyên, đồng thời xuất hiện xu hướng phân công giữa Phật và Nho", " Thơ của các vị vua tu Thiền, các nhà sư thể hiện một niềm yêu đời, yêu thiên nhiên tha thiết" Bên cạnh, tác giả còn phân tích một số tác phẩm thuộc
bộ phận văn học Phật giáo như các bài ca, bài phú chữ Nôm, các tác phẩm văn xuôi
chữ Hán như Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục
Phạm Văn Diêu trong Hai trăm năm lịch sử văn học đời Lý [61] đã đề cập
những nét chung của văn học đời Lý và liệt kê, có tóm tắt nội dung các tác phẩm
của 52 tác giả - Trong Văn học đời Trần Hồ [62], tác giả đã giới thiệu văn học thời
này theo hệ thống thể loại: văn sử ký viết trong nước; văn sử ký của người Việt
việt ở Trung Hoa, văn truyện cổ, văn bi ký tựa, văn lý luận phê bình, văn nghị
luận chính trị trong đó có một số tác phẩm là của văn học Phật giáo
- Đặng Thai Mai trong bài viết Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn
học [168] đã đề cập đến thái độ tích cực lạc quan trong các bài thơ Thiền, của các
nhà thơ Thiền và một đạo Phật khoan dung cởi mở, từ đó sinh ra những nhà thơ có
bản lĩnh, có tâm hồn phóng khóang và giàu chất nhân bản; những bài thơ Thiền độc đáo, có khí sắc, đạo nhưng rất đời
Nguyễn Phạm Hùng trong [98],[100] và đặc biệt với luận án PTS "Vận dụng
quan điểm thể loại vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam thời Lý -
Trần"[101] ở mục c tác giả đã khảo sát văn học Lý-Trần theo 5 thể loại: Thơ, chiếu,
hịch, phú, truyện Trong đó có một chương tác giả trình bày về thơ Thiền đời
Lý-Trần về tên gọi, nội dung, khái niệm, phân lọai thơ Thiền, tư tưởng "hòa quang đồng Trần", tính tượng trưng, ước lệ, con người trong thơ Thiền
Cũng ở dạng nghiên cứu theo trạng thái vừa nêu, có thể kể thêm một số công
trình cuả Trần Thị Băng Thanh [249], Bùi Văn Nguyên [1871, Nguyễn Huệ Chi [38], [39], [41], Nguyễn Cung Lý [156] Trong các bùi viết đó khi phân tích, đánh giá về thơ văn Lý – Trần, ít nhiều các tác gỉa có đề cập đến văn học phật giáo thời
này bởi nó là một bộ phận văn học không nhỏ gốp phần làm nên diện mạo cả thời
đại văn học mở đầu văn học viết Việt Nam Khác với dạng nghiên cứu trước, ở dạng này, các tác giả đã xem văn học Phật giáo Lý - Trần với tư cách là một đối tượng văn học để nghiên cứu trực tiếp Rất tiếc là, các tác giả chỉ nêu vài nét đại lược chứ
chưa trình bày cụ thể về diện mạo, đặc điểm của văn học Phật giáo Lý - Trần
2.2.3 Ba là, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu trực tiếp thơ Thiền Lý -
Trần, văn học Thiền Lý Trần, văn học Phật giáo Lý - Trần hoặc tìm hiểu về
nội dung, hoặc đi sâu về nghệ thuật cũng có khi tìm hiểu cả hai mặt Chúng tôi tạm
gọi là dụng biệt lập Qua các công trình, các tiểu luận đã công bố, hầu như các tác
Trang 13giả thường chủ yếu tìm hiểu mảng thơ, còn mảng văn xuôi của bộ phận văn học này
ít được chú ý hơn Có thể nêu ra đây một số công trình tiêu biểu như :
Kiều Thu Hoạch trong tìm hiểu thơ văn các nhà sư Lý - Trần [93] đã cho
thấy rằng bên cạnh thơ văn đề cao ý thức tự cường dân tộc, tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, còn có luận văn của các Thiền sư Thơ văn này có nhiều yếu tố siêu thóat, nhưng nó cũng là một hiện tượng khá đặc biệt trong lịch sử văn học Thời Lý –
Trần thời kỳ phồn thịnh nhất của đạo Phật nên có nhiều nhà sư nổi tiếng về
văn học Các Thiền sư hay làm thơ và có thơ hay; trong kệ, chất thơ cũng bàng
bạc, giáo lý đạo Phật được trình bày khá bóng bẩy, sinh động, giàu nghệ thuật Tác
giả đã chia thơ văn Thiền sư làm hai loại: Một là, thơ văn nhằm mục đích tôn giáo nhưng giữa tư tưởng siêu thoát lại lóe lên những tia sáng lạc quan yêu đời, mang hơi thở của con người; hai là, những sáng tác văn học thật sự, thể hiện tâm tình, ca ngợi cảnh đẹp nhiên nhiên mang nhân tố tích cực và ngược lại với giáo lý đạo Thiền
- Minh Chi trong Thơ thiền đời Lý [31] đã tìm hiểu những vấn đề triết học
được thể hiện trong thơ Thiền như vũ trụ quan, nhân sinh quan, chân lý là gì, chân
lý ở đâu, sinh tử, sắc-không, hữu-vô
- Phạm Ngọc Lan nong Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý [131] đã đề
cập đến niềm say sưa yêu mến cuộc sống của nhà thơ - Thiền sư và kết luận, thơ Thiền đời Lý đã phản ánh vẻ đẹp nên thơ hữu tình của thiên nhiên
- Nguyễn Phạm Hùng trog Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền [99] đã
tiếp thu ý kiến của Suzuki [222], của Nguyễn Lang [136] dể nêu lên tính trực giác
của thơ Thiền Thơ Thiền có hai yếu tố: mặt vật chất là cái tượng trưng, còn triết lý là cái được tượng trưng Những gía trị thẩm mỹ của thơ Thiền lại nhìn ở mặt vật chất
của hình tượng thơ
- Trần Thị Băng Thanh trong Thử phân định hai mạch cảm hứng trong
dòng văn học Việt Nam mang đậm dấu ấn Phật giáo [251] đã nêu ý kiến có nên
dùng khái niệm "dòng" trong "dòng thơ Thiền đời Lý "dòng văn học Phật giáo đời Trần" như các nhà nghiên cứu trước đây thường đề cập hay không ? Nếu có thì căn cứ vào tiêu chí nào để phân biệt? Tác giả đã dùng khái niệm "bộ phận văn học mang đậm dấu ấn Phật giáo" và cho rằng bộ phận văn học này có hai mạch
cảm hứng: Một là, những tác phẩm trực tiếp bàn giải về triết học, giáo lý và các biện pháp tu hành; hai là, những khái niệm, những nội dung triết học sâu sắc của đạo Phật,
cả cảnh già lam chỉ là những gợi ý, những luồng ánh sáng để tiếp dẫn thi nhân cảm
hứng về cuộc đời sâu sắc hơn Từ sự phân định trên, bài viết đã dùng thơ văn Thiền
Lý - Trần để lý giải phân tích,
- Đoàn Thu Vân qua thống kê để phân loại, tìm hiểu để đưa ra những nhận xét
về ngôn ngữ thơ Thiền [279], tìm hiểu quan niệm con người trong thơ Thiền Lý -
Trần [280] và trong luận án Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền
Việt Nam thế kỷ XI-XIV [281] đã đề cập đến ngôn ngữ thơ Thiền, hình
Trang 14tượng con người, hình tượng thiên nhiên ngoại vật, không gian nghệ thuật,
thể thơ, kết cấu, cách miêu tả, giọng điệu, và so sánh cách đặc trưng nghệ thuật thơ Thiền Lý – Trần với thơ Nho cùng thời, với thơ Thiền Trung quốc,
Nhật Bản Nhìn chung, tác giả cho rằng thơ Thiền Lý – Trần là sản phẩm kết
hợp của nền triết học giàu chất tự do phóng khoáng và một thời đại đậm tính nhân văn nên đã đem lại nhiều thứ độc đáo, mới mẻ cho thơ ca dân tộc Đó là
thế giới nghệ thuật đầy sức thu hút, có xu hướng vươn tới không gian và thời gian vô hạn đạt sự hợp nhất Các nhà thiền sư là những con người nhập thế giúp đời Thơ Thiền với hệ thống ký hiệu nghệ thuật khác hẳn thơ Nho, đả phá cái nhìn nhị nguyên và con người trong thơ Thiền là con người phá chấp, đạt đạo hòa với đời
- Nguyễn Công Lý trong chuyên luận Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền Tông thời Lý - Trần [1154) đã đi từ việc tìm hiểu khái niệm Thiền Tông, văn học
Thiền tông đến tìm hiểu nét đặc sắc của Thiền học Việt Nam làm cơ sở nghiên cứu
bản sắc dân tộc trong văn học Thiền qua thơ văn viết về triết lý tư tưởng Thiền, về
thiên nhiên và con người cuộc sống với tinh thần lạc quan, phong cách bình thản tin tưởng, cuối cùng xác định vị trí và những đóng góp của văn học Thiền Lý - Trần trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam; Tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo với văn học [167]; Trạng thái tư duy nghệ thuật kiểu trực cảm tâm linh
Ở dạng nghiên cứu theo trạng thái biệt lập này còn rất nhiều bài viết đi sâu vào những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của bộ phận văn học Phật giáo để phát hiện
những điều độc đáo và mới mẻ về tư tưởng, về nghệ thuật như:
Đỗ Văn Hỷ trong bài viết Câu chuyện Huyền Quang và cách đọc thơ Thiền [108] đã nêu lại chuyện oan tình của Huyền Quang Tác giả đã đồng ý với
ý kiến cuả Kiều Thu Hoạch [93], của Trần Thị Băng Thanh [250], tức Huyền
Quang chẳng oan tình gì, trên cơ sở đó, bài viết nêu lên một khiá cạnh nhỏ về
thủ pháp biểu hiện của thơ Huyền Quang và cách tiếp nhận thơ Thiền
Nguyễn Huệ Chi trong Trần Tung - một gương mặt lạ trong làng thơ
Thiền [36] đã cho rằng Tuệ Trung Thượng sĩ chính là Trần Tung chứ không phải là
Trần Quốc Tảng như một thời gian dài mọi người đã nhầm lẫn Bài viết còn nhận xét về nét đặc sắc trong thơ văn Trần Tung qua Thượng sĩ ngữ lục, Tụng cổ đó
là ý thức về bản ngã, về sự tự do tự tại của một nhà tư tưởng, một nhà duy lý ẩn náu trong con người Thiền: Ồng là con người vừa Nho, vừa Phật, vừa Lão - Trang vấn
đề Tuệ Trung Thượng sĩ chính là Trần Tung cũng đã được Nguyễn Lang nêu ra trong Việt Nam Phật giáo sử luận [135],1136]
- Nguyễn Phương Chi với bài huyền Quang, nhà sư thi sĩ [47] thì cho rằng
cái cốt lõi của Huyền Quang không phải là con người Thiền mà chính là con người thi sĩ Thiền sư chỉ là cái vỏ, là hình thức cho con người thi nhân sống thực, cảm xúc
thực đầy sáng tạo
Trang 15Mai Quốc Liên trong các nhà thơ đời Trần đã đề cập đến những điểm cơ bản
của mỹ học Thiền: vắng lặng, hư tịch, phản ánh chân như của vũ trụ theo quan điểm
Phật giáo Từ đó nêu ra những đặc trưng trong thơ Thiền của Trần Nhân Tông, của Huyền Quang
- Nguyễn Huệ Chi với tiểu luận Mãn giác và bài thơ Thiền nổi tiếng của ông đã tiếp cận và khai thác bài thơ trên gốc độ triết lý Thiền và trên góc độ của cảm xúc thực tiền Nhờ thớ, bài viết đã phát hiện ra nét đặc sắc của bài thơ bài kệ vấn đề không chỉ ở sự tuần hoàn theo quy luật sinh hóa của vạn pháp mà là ở sự đổi mới,
ở cái sinh soi nảy nở
- Thích Thanh Từ trong bài Thiền Trúc Lâm qua vấn đáp [297] đã giải thích
ý chỉ của Trúc Lâm đệ nhất tổ trong những câu đối đáp về Phật về Thiền với các đệ
tử; trong bài Thiền Trúc Lâm qua thơ văn chữ Hán [297], tác giả đã nhận xét
về hồn thơ, về chất Thiền độc đáo, đậm sắc màu dân tộc trong thơ Trần
Nhân Tông Còn trong bài Tinh thần siêu phóng của Tuệ Trung Thượng sĩ thì
tác giả tìm hiểu về đối cơ và thơ tụng của Tuệ Trung để chứng minh tinh thần siêu
phóng của ông; giữa đời mà vẫn ung dung, tu tập Thiền định, hành đạo và hóa đạo
ngay trong gia đình lăng xăng, trong vòng tay thê thiếp vây quanh
Thích Minh Tuệ qua bài chất Thiền nơi Tuệ Trung Thượng sĩ [297] đã ngợi ca
phẩm chất Thiền thể hiện từ con người, phong cách sống đến tư tưởng của Tuệ Trung
Minh Chi trong thơ Huyền Quang thì không đồng ý với ý kiến của Nguyễn
Phương Chi cho rằng con nguời thi nhân rõ nét hơn con người tôn giáo Theo tác
giả, thơ Huyền Quang mang đậm nét trữ tình mà văn chương phật giáo không phải là
văn chương khô khan thiếu trữ tình Các Thiền sư không phải là con người lạnh
lùng, không cảm xúc Thơ văn là trực cảm, cảm xúc với người với cảnh và với bản thân mình Đó không phải là cái ta hời hợt mà là cái ta đại ngã mà bậc giác ngộ cảm
nhận là cùng một bản thể với chúng sinh, vạn vật
- Minh Tuệ trong Thiền sư Huyền Quang, một nhà thơ lớn [297] thì cho
rằng Huyền Quang vừa là Thiền sư ngộ đạo, vừa người nghệ sĩ lớn với thi hứng dạt dào, phóng khoáng
- Phạm Ngọc Lan trong Trần Nhân Tông và cảm hứng Thiền trong
thơ [132] đã đề cập những cảm hứng trong những bài thơ viết về thiên nhiên của
Trần Nhan Tông
- Đặc biệt, năm 1993, Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học
Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết hợp với Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức một hội thảo khoa học về Tuệ Trung Thượng sĩ Nhiều bài Viết trong
tập kỷ yếu Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam [302] đã đề cập và lý
giải một cách sâu sắc về con người Tuệ Trung, phong cách tiêu dao phóng khoáng, tinh thần siêu phóng, tư tưởng hòa quang đồng trần trong tụng cổ ngữ lục, trong thơ văn Tuệ Trung
Trang 16- Nguyễn Công Lý trong bài Xuân tàn mai vẫn nở hoa [157] tiếp cận bài
kệ của Mãn Giác trên góc độ triết luận tư tưởng Thiền và cho rằng bài kệ không thoát ly giáo lý Thiền môn mà là thể hiện rõ đặc thù Thiền học Việt Nam với chân lý
vạn vật nhất thể cho nên trong cái tàn lụi vẫn nảy sinh cái mầm của sự sống sinh sôi
của mùa xuân bất tận
Cũng theo hướng nghiên cứu dạng biệt lập này, ở mảng văn xuôi văn học Phật giáo Lý - Trần, các nhà nghiên cứu đi sâu vào truyện các nhà sư qua tác phẩm Thiền
uyển tập anh Trong các giáo trình lịch sử văn học, Bùi Văn Nguyên [l85], Đinh
Gia Khánh [127] đã phâm tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tập sách mà chúng tôi
có nêu ở trước
- Nguyễn Hữu Sơn viết một loại bài xung quanh tác phẩm Thiền uyển tập anh như đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm [214], nét đặc trưng lạ hóa về sự ra đời
của các Thiền sư [216], nhận xét chung về sách Thiền uyển tập anh, tìm hiểu thể
tài biến văn của tác phẩm
- Nguyễn Tử Cường thì đặc vấn đề nghiên cứu Thiền uyển tập anh có phải
là văn bản truyền đăng không ?
- Nguyễn Công Lý đã khảo sát văn bản Thiền tông chỉ nam tự để nêu giá trị
lịch sử, giá trị văn học, giá trị triết luận của bài tựa Đây chính là cương lĩnh của triết
học Việt Nam đời Trần, là kim chỉ nam của Thiền phái Trúc Lâm Trong các hài viết khác, người viết đi sâu tìm hiểu đặc sắc tư tưởng Thiền, văn học Phật giáo đời Lý thông qua thuyết Tâm pháp nhất như của Cứu Chỉ [61], thuyết Tam ban của Ngộ
Ấn [162] Đó chính là những đóng góp lớn của các Thiền sư đời Lý đối với Thiền
học Việt Nam, Thiền học phương Đông
Tóm lại, kông tính những công trình sưu tầm văn bản văn học Lý-Trần trong đó
có văn học Phật giáo Lý-Trần từ thế kỷ XIX trở về trước, chỉ tính riêng từ những
năm cuối thế kỷ 20 của thế kỷ này (1927) cho đến nay, các nhà nghiên cứu ngày
càng quan tâm tìm hiểu nhiều vờ văn học Phật giáo Lý-Trần ở các phương diện như
văn bản học sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu ; tìm hiểu tác giả, nghiên cứu giá trị tác
phẩm Nếu trước cách mạng tháng Tám các nhà nghiên cứu thường chú trọng đến
việc sưu tầm, dịch thuật, ít nhiều cũng tìm hiểu giá trị của văn bản văn học Phật giáo Lý-Trần mà công đầu phải kể đến tên tuổi của Đinh Văn Chấp, Nguyễn Hữu Tiên, Ngô Tất Tố thì sau năm 1945, trong Nam Ngoài Bắc, việc tìm hiểu văn học phật giáo Lý Trần càng có nhiều thành tựu Ngoài việc sưu tầm thêm để giới thiệu văn bản mà bộ thơ văn Lý Trần là tập đại thành, còn có nhiều tiểu luận, công trình nghiên cứu đã khai thác trên nhiều bình diện khác nhau về tác gỉa, nội dung
và nghệ thuật tác phẩm của bộ phận văn học này Đặc biệt là sau năm 1985 trở lại đây, cùng với sự đổi mới của đất nước, trong điều kiện hội nhập với khu vực, với thế
giới, các nhà nghiên cứu hơn lúc nào hết, có nhiều điều kiện để tập trung tìm
hiểu giá trị của những tác phẩm văn học Phật giáo Lý-Trần trên hai cấp độ: vĩ
mô và vi mô, vừa khái quát lại vừa cụ thể với những bài viết, tiểu luận, công trình
Trang 17nghiên cứu như đã trình bày Điều đó chứng tỏ văn học phật giáo Lý Trần là mảnh
đất có sức hấp dẫn đối với số đông các nhà nghiên cứu Tất cả là những đóng góp rất
bổ ích để người viết nghiền ngẫm, tiếp thu và kế thừa khi thực hiện đề tài luận
án
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi khảo sát, nghiên cứu
3.1 Đối tượng, nhiệm vụ của đề tài
Đối tượng của đề tài là tìm hiểu diện mạo và đặc điểm của văn học Phật
giáo đời Lý - Trần Vì thế luận án có hai nhiệm vụ:
Một là, dựng lại diện mạo của văn học Phật giáo thời Lý - Trần: bằng cách
thống kê, miêu tả, trình bày những thành tố làm nên diện mạo văn học theo tiêu chí mà luận án đề ra
Hai là, từ diện mạo đó, luận án sẽ tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của các tác
phẩm để nêu ra đặc điểm của văn học Phật giáo Lý-Trần Để làm tốt hai nhiệm vụ
trên, luận án sẽ không thể không tìm hiểu dù chỉ là sơ lược về lịch sử Phật giáo, tư tưởng Phật giáo từ lúc mới du nhập cho đến thời Lý-Trần Đồng thời tìm hiểu văn
học Phật giáo trước thời Lý-Trần, thời đại Lý-Trần với tư cách là tiền đề quan trọng
để tìm hiểu diện mạo và đặc điểm văn học Phật giáo Lý-Trần
3.2 Ph ạm vi khảo sát, nghiên cứu
3.2.1 Trước hết, đề tài được xác định để nghiên cứu là văn học Phật giáo
Lý – Tr ần cần lưu ý là văn học Phật giáo chứ không chỉ là văn học Thiền, và càng
không chỉ là thơ Thiền Mặc dù khái niệm phật giáo, thiền giáo, thiền đạo, thiền tông hay phật và thiền là khái niệm có mối quan hệ, liên hệ với nhau, có khi đồng nhất, có khi bao hàm nhau, cũng có khi khu biệt nhau, nhưng tất cả đều hòa đồng và phát triển trong đời sống môi trường phật giáo
3.2.2 Về khái niệm Phật học và Phật giáo Khi nói Phật học tức là nói học
thuyết, triết thuyết, triếl lý của Phật mà Thích Ca là người khai sáng Còn nói Phật giáo trước hết là nói đến một tôn giáo (Réligion) có tổ chức hệ thống với sự kính tin, kính ngưỡng, tín ngưỡng của quảng đại quần chúng; dĩ nhiên có bao hàm cả triết học
của nó Phật trở thành một tôn giáo, một đạo chỉ ra đời sau khi Thích Ca nhập diệt Khi Thích Ca còn tại thế, chưa phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa mà chỉ là một hệ
thống tư tưởng triết học cùng phương pháp tập thể dẫn dắt mọi người lìa bỏ bên mê
để đi đến bờ giác
3.2.3 Chúng tôi cho rằng nghiên cứu văn học Phật giáo là nghiên cứu những tác phẩm viết về Phật giáo hoặc có liên quan đến Phật giáo, kể cả những tác phẩm
bài xích, chống phật Về mặt hình thức tồn tại, những tác phẩm đó hiện còn trên các
văn bia, văn chuông, các bản ván, các bộ thực lục, ngữ lục, các Thiền phả về
mặt hình thức thể loại, đó là những tác phẩm thuộc các thể loại chức năng gắn với
Trang 18nhà chùn như : kệ, thơ, tự, bi, minh, ký, ngữ lục, luận thuyết triết lý, tụng cổ,
niêm t ụng kệ, truyện (thực lục, hành trạng, truyền đăng)
Luận án tìm hiểu hai mảng văn vần và văn xuôi với những tác phẩm hiện có
của bộ phận văn học này trên cơ sở quan niệm Văn – Sử - Triết bất phân của văn học trung đại
3.2.4 Về văn bản để khảo sát, chúng tôi sử dụng bộ thơ văn Lý Trần của Viện
Văn học và Thiền uyển tập anh, tam tổ thực lục, thánh đăng ngữ lục, khi trích dẫn, sẽ
có phiên âm và kèm theo nguyên tác Phần dịch thơ văn chủ yếu dựa vào Thơ văn
Lý Trần, có tham khảo thêm các bản dịch khác trên các loại ; tạp chí, các công
trình dịch thuật thơ văn có liên quan gặp trường hợp bản dịch xa với bản gốc quá, chúng tôi sẽ dịch lại và ghi rõ là lạm dịch
4 Phương pháp nghiên cứu
Văn học Phật giáo đến nay tuy có nhiêu người quan tâm nghiên cứu đạt được
những thành tựu đáng quý nhưng so với yêu cầu của khoa Văn học sử thì vấn đề này
vẫn còn khoảng cách khá xa Do vậy, vấn đề đặt ra, còn có thể tiếp cận nhiều hướng trên cấp độ vi mô như nghiên cứu vấn đề ở dạng khái quát: Mối quan hệ giữa văn
học Phật giáo; mối quan hệ giao lưu tiếp biến giữa văn học Phật giáo Việt Nam với
văn học Phật giáo các nước trong khu vực; hoặc tìm hiểu chung về văn học Phật
giáo Việt Nam; hoặc tìm hiển văn học Phật gíao ở một giai đoạn lịch sử cụ thể Trên
cấp độ vi mô, có thể tìm hiểu vấn đề này theo tác giả, tác phẩm, thể loại đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật Đề tài cuả luận án là đề tài vừa khái quát lại vừa cụ thể, vì
phải mở ra diện rộng để tìm hiểu một bộ phận văn học keó dài suốt năm thế kỷ
và có tiền đề trước đó, vừa phải đi sâu khái quát nội dung tư tưởng, nghệ thuật,
thể loại, ngôn ngữ của một số tát phẩm, tác giả để góp phần dựng lại diện mạo
và đặc điểm của nó
Cho nên, khi tiến hành thực hiện đề tài, luận án đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cơ bản sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu văn học sử : Đây là phương pháp chủ
yếu vì đề tài của luận án tà tiền văn học sử Cụ thể là dùng phương pháp phân tích,
phương pháp tồng hợp trên cái nhìn lịch đại và đồng đại, để từ đó tìm hiểu nguyên
nhân và động lực đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển của văn học phật giáo trong
một thời đại lịch sử cụ thể
4.2 Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp liên ngành vì đề tài nghiên
cứu là văn học nhưng lại có liên quan đến lịch sử, triết học, xã hội học nên luận án
cũng sử dụng những thành tựu về phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học
đố phương pháp văn bản học để đính chính văn bản nếu cần thiết Phương pháp
loại hình để khảo sái lọai hình tư tưởng, loại hình thể loại, cấu trúc thể loại, loại hình ngôn ngữ văn tự; phương pháp so sánh để tìm nét tương đồng, dị biệt khi trình bày diện mạo và đặc điểm của văn học Phật giáo Lý - Trần; phương pháp thống kê,
Trang 19phân loại để làm cứ liệu phân tích Điều muốn được lưu ý ở đây, vì đối tượng
nghiên cứu là văn học phạt giáo mà Phật giáo chú trọng đến tâm và tư duy phật giáo
là tư duy tổng hợp, cầu tính, trực giác, trực cảm tâm linh, nên nghiên cứu bộ phận văn học này không thể chỉ dùng phương pháp phân tích duy lý mà phải dùng trực
cảm để cảm nhận vấn đề, thấy được đặc điểm, bản chất của đối tượng
Việc nêu ra có tính tách bạch của các phương pháp được sử dụng như trên chỉ
là tương đối, bởi phần lớn chúng được đan xen nhau trong khi trình bày, lý giải từng đối tượng cụ thể Tất cả đều nhằm mục đích là để giải quyết những yêu cầu mà đề tài
luận án đã đề ra
5 Đóng góp mới của luận văn
5.1 Trong một chừng mực nào đó, có thể nói đây là công trình văn học sử đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về văn học phật giáo Việt nam thời
Lý – Trần
5.2 Để lý giải tại sao văn học phật giáo Lý – Trần phát triển, có những thành
tựu đáng quý, luận án đã đặt nó trong bối cảnh văn học phật giáo trước Lý – Trần,
thời đại xã hội Lý – Trần, văn học Lý – Trần và phật giáo Lý Trần với tư cách là
những tiền đề quan trọng
5.3 Luận án dựng lại diện mạo văn học phật giáo Lý – Trần một cách có hệ
thống, lý giải hiện tượng thăng trầm của bộ phận văn học này, trên cơ sở ít nhiều có
so sánh văn học phật giáo đời Lý với văn học phật giáo đời Trần để rút ra những kết
luận cần thiết
5.4 Bước đầu luận án đã nêu ra một số đặc điểm cơ bản về nội dung, về nghệ thuật của văn học phật giáo Lý – Trần như trạng thái tư duy nghệ thuật kiểu trực cảm tâm linh, thể hiện giáo lý nhà phật qua việc dùng tác phẩm để trình bày những vấn đề
về bản thể luận và giải thoát luận, tinh thần dung hợp điều hòa các hệ tư tưởng, cảm
hứng đất nước, quan hệ về con người, cảm hứng thiên nhiên và cuối cùng là mấy nét đặc sắc về nghệ thuật mang tính đặc trưng của văn học phật giáo
Văn học phật giáo Lý – Trần không chỉ kế thừa những thành tựu trước đó mà còn ảnh hưởng đến văn học giai đoạn sau để đem lại cho văn học Việt Nam một bộ
phận “Văn thơ Thiền thế sự” và một ấn tượng đẹp trong lòng người đọc qua bao thế
hệ Có thể nói, văn học phật giáo Lý – Trần là một tiếng nói rất riêng “một đi không
trở lại” Tiếng nói ấy chính là tinh hoa của thời đại phật giáo cực thịnh, là tinh hoa
của văn học phật giáo Việt Nam, góp phần làm cho nội dung văn học Việt Nam thêm
đa dạng phong phú Do vậy kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có thể bổ sung nhất định, chưa dám nói là đáng kể vào việc nghiên cứu văn học phật giáo Lý – Trần
Trang 206 C ấu trúc của luận án
Mở đầu: Trình bày các vấn đề chung: Tính cấp thiết của đề tài, lịch sử vấn đề,
lịch sử vấn đề, đối tượng nhiệm vụ và phạm vi khảo sát nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của luận án
Nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Văn học Phật giáo Lý – Trần trong bối cảnh thời đại Lý – Trần, văn học Lý – Trần và Phật giáo Lý – Trần
Chương 2: Diện mạo văn học Phật giáo Lý – Trần
Chương 3: Đặc điểm văn học Phật giáo Lý – Trần
Kết luận
Phụ lục: Nguyên tác thơ văn được trích dẫn, những đơn vị tác phẩm được đùng để khảo sát, tài liệu tham khảo
Trang 21Chương 1: VĂN HỌC PHẬT GIÁO LÝ – TRẦN TRONG BỐI CẢNH
TH ỜI ĐẠI LÝ – TRẦN, VĂN HỌC LÝ – TRẦN VÀ PHẬT GIÁO LÝ –
TR ẦN
Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận Phật giáo Việt Nam cực thịnh vào thời
Lý-Trần Phật giáo Lý Trần là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam và văn học Phật giáo Lý
Trần là đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam Chính cố Tổng bí thư Lê Duẩn
cũng đã từng phát biểu “ Dân tộc ta có hai lần nhảy vọt về tư tưởng: Lần đầu dan tộc
ta gặp Phật giáo; lần thứ hai gặp chủ nghĩa Mac-Lênin” (Lê Duẩn “Chế độ mới, kinh
tế mới, con người mới”, bài nói chuyện với Bộ biên tập báo Nhân Dân, tháng 12 năm 1972) Như vậy, tuy không phải là một hiện tượng dột hiện mà có mầm móng, cơ sở
trước đó Do vậy muốn hiểu văn học Phật giáo Lý-Trần, không thể không trở lại tìm
hiểu cội nguồn, tức tìm hiểu Phật giáo và văn học Phật giáo nước thời Lý Trần, cung
như đặt nó trong bối cảnh thời đại Lý-Trần và Phật giáo thời Lý Trần Bởi lẻ, đó là
những tiền đề quan trọng
1.1 Văn học Phật giáo ở Giao Châu (trước thời Lý Trần)
1.1.1 Khái ni ệm về Phật giáo Việt Nam trước thời Lý – Trần
Lâu nay các sách viết về Phật giáo Việt Nam nhiều khi các tác giả chỉ chú trọng
đến lớp văn hóa sau, tức lớp văn hóa Phật giáo do phương Bắc, từ Trung Quốc
truyền xuống bằng đường bộ mà quên đi lớp văn hóa trước, tức lớp văn hóa Phật giáo do phương Nam, từ Ấn Độ trực tiếp truyền sang bằng đường biển và lớp văn
hóa này đã ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hóa Việt nam lúc bây giờ không nhỏ Điều đó chứng tỏ từ rất sa xưa, Việt Nam và Ấn Độ đã có sự giao lưu văn hóa Mối quan hệ đặt biệt này hiện nay hai nước đang tiếp tục và ngày càng gắn bó hơn
Trước khi trở thành một tôn giáo (Réligion) với sự kính tin, kính ngưỡng của
quảng đại quần chúng thì Phật giáo khởi nguyên là một học thuyết triết lý phát sinh ở
miền Ca tỳ la vệ phía bắc Ấn Độ, vào thế kỷ thứ VII TCN, trong lòng xã hội Ấn Độ
cổ đại mà xã hội Ấn Độ bấy giờ là xã hội có sự phân biệt đẳng cấp rất nghiệt ngã
Phật giáo ra đời là để chống lại và nhằm xoá bỏ sự phân biệt đẳng cấp này Đây là
một trào lưu tư tưởng mang đậm tính nhân văn, phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp có
những nguyên cớ sâu xa trong lòng xã hội và văn hóa tư tưởng Ấn Độ thời cổ đại
Trang 22Phật giáo theo đường biển từ phương Nam và theo đường bộ từ phương Bắc truyền vào Giao Châu từ rất sớm Sách Thiền uyển lập anh có chép câu chuyện Sư
Trí Không (Thông Biện) trả lời câu hỏi của bà Ỷ Lan nguyên phi về lịch sử truyền
thừa của phật giáo Sau đó Trí Không còn dẫn lại lời Đàm Thiên pháp sư (Trung
Quốc) khi vua Tùy Cao Tổ (581 - 604) (Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường
Kiệt (tập 2) chép là Tề Cao Đế; các công trình của Trần Văn Giáp Le Bouddhisme
en Annam ; M ật thể Việt Nam Phật giáo sử lược ; Nguyễn Lang Việt Nam
Phật giáo sử luận và Lê Mạnh Thát Sơ thảo lịch sử Phật giáo Việt Nam chép là
Tùy Cao Tổ như sách Thiền uyển tập anh ngỏ ý với Đàm Thiên là muốn làm chùa
tháp ở Giao Châu và tuyển danh tăng sang đây hoằng hóa Phật pháp thì pháp sư đáp Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc Khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có tới hai mươi ngôi bảo tháp; độ được hơn năm trăm vị tăng và dịch được mười lăm quyển kinh rồi Như vậy
là Phật giáo đã truyền đến Giao Châu trước nước ta (tức Trung Quốc) Hồi ấy
đã có các vị cao tăng như Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác cư trú tại đó [318] Trí Không còn dẫn thêm một chứng cứ
nữa Quyền Đức Dư là tể đời đường có viết trong lời tựa sách Truyền Pháp
rằng, sau khỉ Tào Khê (Huệ năng) tịch rồi, Thiền pháp thịnh hành, các dòng đều có kẻ nối, Thiền sư Chương Kính Huy (bản dịch “Thiền uyển tập anh”
của Đoàn Thăng và của Tổ tư liệu trường ĐHSP Hà Nội I ghi là Trương Kính Vân; Hoàng Xuân Hãn (sdd) và Bd TUTA của Ngô Đức Thọ ghi là Chương Kính Huy bản gốc TUTA (Vĩnh Thịnh năm 1715) ghi là Chương Kính Huy) đem những điều tâm pháp của Mã Tổ đi giáo hóa ở miền Ngô, Việt Vô Ngôn Thông đem tông chỉ của Bách Trượng Hoài Hải đi khai ngộ ở Giao Châu [318] Từ chứng cứ trên, Trần Văn Giáp nêu giả thuyết rằng thuyền buôn sang
Quảng Châu có ghé Giao Châu mua bán hàng hóa Nhà tu hành đi theo làm công việc cúng lễ trên tàu biển và chữa bệnh dọc đường Khi vào Giao Châu,
thầy tu lên chữa bệnh cho dân bản xứ và giảng đạo mà sau này các tác giả
Mật Thể, Hoàng Xuân Hãn, Nhất Hạnh, Lê Mạnh Thát đều nhất trí với Trần Văn Giáp Đặc biệt Nhất Hạnh (Nguyễn Lang); Lê Mạnh Thát [254]; Bùi Văn Nguyên [186], [181] đã chứng minh phật giáo theo đường biển từ phương Nam truyền vào Giao Châu sớm hơn là theo đường bộ phương bắc truyền
xuống, vì đi đường biển nhanh hơn và thuận lợi, an toàn hơn Bùi Văn Nguyên còn nêu giả thuyết về hai con đường thỉnh kinh ngày xưa [190] Hồi
ấy, Giao Châu là một trung tâm truyền bá đạo phật rất lớn mà Luy Lâu là thủ
phủ Từ trung tâm Luy Lâu, Phật giáo truyền sang trung tâm Bành Thành, sau
đó đến Lạc Dương ở Trung Quốc
Cũng căn cứ theo Thiền uyển tập anh, Trần Văn Giáp, Mật Thể, Hoàng Xuân
Hãn rồi Henri Maspéto và P.pelliot đều cho rằng Ma Ha Kỳ Vực Chỉ Cương Lương , Khương Tăng Hội và Mâu Bác là bốn vị sư truyền đạo đầu tiên ở Việt Nam, các tác
Trang 23giả cũng nhất trí với ý kiến của Trí Không (Thông Biện) là Ma Đằng là một trong hai nhà sư đầu tiên của Ấn Độ đến Trung Quốc truyền đạo Các sách trên còn ghi
rằng, Tùy ni đa lưu chi là người đầu tiên truyền đạo Thiền vào Việt Nam Thật ra,
bốn vị sư kể trên phải xếp theo trình tự sau: Mâu Bác (thế kỷ II), Khương Tăng Hội (thế kỷ III), Chi Cương Lương (thế kỷ III), Ma Ha Kỳ Vực (thế kỷ III) Theo các bộ
Phật giáo sứ thì Mâu Bác và Khương Tăng Hội tuy là người nước ngoài nhưng đã
sống và xuất gia học đạo, viết sách, dịch kinh tại Việt Nam Điều đó có nghĩa là hồi
ấy đạo Phật đã truyền vào Việt Nam và đã phát triển nên hai vị này mới có điều
kiện quy y, thọ giới và học đạo Như vậy các vị không thể là người đầu tiên truyền
bá đạo Phật vào Việt Nam như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định Còn Tùy ni
da lưu chi (thế kỷ VI) cũng không thể là người đầu tiên truyền đạo Thiền vào
Việt Nam, vì trước đó, vào thế kỷ thứ III, ở nước ta đã có Khương Tăng Hội Khi
viết và đề tựa cùng chú giải kinh sách Khưowng Tăng Hội đã đề cập đến Thiền học
và phương pháp Thiền quán Về sau ông còn truyền bá đạo Thiền sang tận kinh đo
Kiến Nghiệp (Trung Quốc vào năm Xích ô thứ 2 năm 247) Đến thế kỷ thứ V, có thể
kể đến một Thiền sư người Giao Chỉ tên là Huệ Thắng Ông này đắc pháp với Đạt
Ma Đề Bà (Dharmadeva) sau đó sang Bành Thành (Trung Quốc) ở chùa U Thê truyền bá Thiền đạo được mội người kính trọng mà sách tục cao tăng truyện của Trung Quốc có chép lại
Có thể nói đạo phật từ Ấn Độ trực tiếptruyền sang Giao Châu bằng đường
biển sớm nhất là vào nửa cuối thế kỷ thứ I TCN và muộn nhất là vào nửa đầu thế kỷ
thứ I SCN Từ Luy Lâu (Giao Châu), Phật giáo truyền sang Bành Thành, Lạc Dương (Trung Quốc) Điều này chính các học giả Trung Quốc như Hồ Thích, Phùng Hưu Lan cũng đã thừa nhận Lớp văn hóa Phật giáo này chỉ chú trọng thực
hành và ảnh hưởng lan tỏa vào mạch sống của dân bản địa hơn là lập thành hệ thống
tổ chức, chia tông phái và có sách vở ghi chép như lớp văn hóa sau Còn một khi
đạo Phật từ phương Bắc tràn xuống theo đường bộ vào thời Bắc thuộc; được chính quyền phong kiến trung ương và các quan cai trị địa phương ủng hộ nên có điều kiện
bành trướng, mở rộng, lấn át các nhà sư bản địa cùng đạo phật lớp trước truyền sang
Lớp văn hóa sau chủ yếu là phái Thiền tông (kết hợp Mật tông, Tịnh đọ tông) với hệ
thống kinh điển Hán tạng, một thứ chữ đơn âm thích hợp với người Việt hơn là
thứ chữ Sangrit, Pali đa âm Do vậy lớp văn hóa Phật giáo sau dần xóa mờ đi tất
cả những gì của đạo Phật lớp trước truyền sang cũng là lẽ đương nhiên
Với công lao cùng vai trò của Tỳ ni da lưu chi (thế kỷ VI) và sau đó là Vô
Ngôn Thông (thế kỷ IX) thì Thiền Việt Nam phát triển mạnh, nhưng trước đó đã lâu, vào những năm cuối của nửa đầu thế kỷ III, Thiền học Việt Nam đã được Khương Tăng Hội khởi xướng không chỉ ở Việt Nam mà còn sang tận Trung Quốc
và được kế tục bởi Huệ Thắng (thế kỷ V), Đạo Thiền (cuối thế kỷ V đầu thế kỷ VI) Như vậy, nếu Phật giáo Thiền tông Trung Quốc phát triển mạnh với công lao to lớn
của Bồ Đề Đạt Ma thì ở Việt Nam từ thế kỷ IV, Thiền học theo khuynh hướng Đại
Trang 24thừa đã phát triển rồi Điều đó có nghĩa Thiền học Đại thừa Phật giáo ở Việt Nam tồn
tại và phát triển trước thiền tông Trung Quốc vài thế kỷ Hơn nữa, hồi ấy Việt Nam
còn là cái nôi gốp phần truyền bá thiền học sang trung quốc trước khi Bồ Đề Đạt Ma
từ Ấn Độ sang
Như trên đã nói, Phật giáo vào Việt Nam bằng hai con đường: từ Ấn Độ phật giáo sang Việt Nam gồm hai giáo phái lớn Hiển giáo và Mật giáo Hiển giáo bao
gồm Giáo tông và Thiền Tông Giáo tông là tông phái chú trọng kinh điển, được chia
ra nhiều tông phái nhỏ như: Tịnh độ tông, Hoa nghiêm tông, Pháp hoa tông, Thiền thai tông, còn thiền tông chú trọng đến tâm, đến thực hành thiền định nên còn được
gọi là Định niệm tông hay Tâm tông Mật giáo còn có tên là Mật tông hay Chân ngôn tông Đó là một giáo phái đặc biệt không thể phát triển bằng ngôn ngữ thông thường
mà được nói bằng chính ngôn ngữ của phật Bằng trực cảm tâm linh người tu sẽ tìm
hiểu những ý tưởng ẩn kín sâu xa chứ không biển hiện thành ngôn ngữ, nếu có thì đó
Suốt mười thập kỉ du nhập, Phật giáo ngày càng phát triển không ngừng Như
đã trình bày, các vị sư Ấn Độ đi theo thuyền buồn là người đầu tiên đem phật giáo vào Giao Châu thời ấy, chưa có kinh điển gì nhiều Việc các nhà sư cần yên, thờ cúng, chữa bệnh với lễ nghi rất đơn sơ rất hợp với tín ngưỡng dân gian thờ phúc thần,
thờ mẫu của nhân dân ta nên dễ được nhân dân theo Tiếp bước các nhà sư theo
thuyền buồm là các vị sư mà sử sách đã ghi chép như Mâu Bác, Khương Tăng Hội,
Ma Ha Kỳ Vực, Khâu Đà La, Chi Cương Lương Tiếp (thế kỷ II, III) như đã nêu trên Đến thế kỷ thứ IV, hai thầy trò nhà sư trên đường sang Trung Quốc có ghé đến Giao Châu truyền pháp rồi mất ở đây là Vu Pháp Lan (khoảng 270-320) và Vu Đạo Thúy
(khoảng 285 - 315) mà sách Tục Cao Tăng Truyện có ghi
Sang thế kỷ thứ V Phật giáo Giao Châu lúc này có những vị danh tăng như Đạt
Ma Đề Bà, Huệ Thắng, Huệ Lâm, Đạo Thiền và Đàm Hoằng Những vị sư này có vị người Ấn Độ (Đạt Ma Đề Bà), có vị người Trung Quốc (Huệ Lâm và Đàm Hoằng)
và đặc biệt là hai vị sư người Việt Nam (Huệ Thắng, Đạo Thiền)
Điều cần chu ý là danh đức của các vị sư gốc Việt Nam đã truyền đến Trung
Quốc, được vua nước họ mời đến giảng kinh cần pháp giống như Mâu Bác, Khương Tăng Hội trước đây Tiếp nối Khương Tăng Hội thì Huệ Thắng là một trong hai tăng
sĩ Giao Châu đã đóng góp cho lịch sử phát triển Thiền học tại Trung Quốc trong
những buổi đầu Còn Đạo Thiền là người được vua Trung Quốc mời sang Kim Lăng
giảng dạy về thiền luật
Trang 25Phật giáo truyền vào Việt Nam gồm nhiều tông phái, bên cạnh Thiền tông còn
có Mật tông (cầu mưa, chữa bênh, trừ tà, niệm chú) và Tịnh Độ tông (đúc tượng, xây chùa tháp, tụng kinh, niệm Phật) Chính Khương Tăng Hội trước đây đã từng dịch kinh Vô lượng thọ và sau đó, Đàm Hoằng là người chuyên trì tụng kinh Vô lượng và Quán kinh, tin tưởng có cỗi Tây phương cực lạc vĩnh hằng, nơi đó có Phật A Di Đà
để cứu với con người trần thế Việc Đàm Hoằng tự thiêu lần đầu được cứu sống, rồi
lần thứ hai thì sắc thân hóa vàng đi nhanh về phương Tây; còn xá lợi thì người ta thử đánh vào đó chẳng những không bị sứt mẻ mà hào quang lại phát ra, chỉ thấy rõ lúc
bấy giờ đã có sự kết hợp giữa Thiền tông và Tịnh độ tông
Tiếp theo là cuộc trao đổi và tranh luận giữa Lý Miễu cùng hai vị sư người Việt
là Đạo Cao và Pháp Minh thông qua sáu bức thư vào giữa thế kỷ thứ V,
Sáu bức thư này Hoằng Minh Tập của Tăng Hựu Trung Quốc có ghi, bản Đại Chính của Nhật Bản cũng có chép và Đại tạng kinh chữ hán tập 52 cũng in lại đầy
đủ nguyên văn Nội dung cuộc trao đổi xung quanh sáu lá thư là “có hay không có chân hình đức Phật”
Từ thế kỷ thứ V trở về trước, tuy có nhiều nhà sư ngoại quốc cũng như Việt
Nam truyền đạo, dịch kinh tại Giao Châu có nhiều danh tăng Việt Nam sang Trung
Quốc giảng kinh, sang Ấn Độ học đạo, nhưng có thể nói thời kỳ đầu này, Phật giáo
chưa thật sự thịnh hành nếu so với thời kỳ sau từ thế kỷ thứ VI đến thế ký thứ X với công lao cuả Tỳ ni đa lưu chi và Vô Ngôn Thông Trong một ngàn năm lệ thuộc phương Bắc, đất nước la có lúc được độc lập tự chủ như Lý Bí khởi nghĩa năm 542
rồi xưng là Lý Nam Đế, thành lập nước Vạn Xuân (544), Triệu Việt Vương (550 - 57I), hậu Lý Nam Đế (571 - 602) Nhờ vậy mà Phật giáo có điền kiện phát triển cả
về nội dung lẫn hình thức Thời kỳ này có bốn sự kiện đáng ghi nhớ
Một là, sự thành tập Thiền phái Tỳ ni đa lưu chi Tỳ ni đa lưu chi
(Vinitarnci) dòng dõi Bàlamôn gốc ở Nam Ấn Độ (Thiên Trúc), sang Tây Ấn học
đạo Đến năm 560 sang Trung Quốc cầu pháp Tăng Xán (tổ thứ 3), được truyền tâm
ấn, nghe lời thầy, Tỳ ni đa lưu chi sang phương Nam, đến Quảng Châu dịch kinh Tượng đầu và kinh Nghiệp báo sai biệt năm 580 ông sang Việt Nam ở chùa
Pháp vân Năm 594 tryền tâm ấn cho Pháp Hiền với bài kệ phú pháp rồi tịch [318]
Hai là, ba đoàn truyền giáo trên đường du hóa từ Ấn Độ đến Trung Quốc có ghé lại Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ VII-VIII Đoàn thứ nhất gồm 3 người Trung
Quốc là Minh Viễn, Huệ Mạng và Vô Hành Đoàn thứ hai có ba người gồm hai người Trung Quốc là Đàm Nhuận, Trí Hoằng và một người Trung Á là Tăng Già Bạt
Ma Đoàn thứ ba gồm sáu nhà sư Việt Nam, những vị này từng tu học ở Ấn Độ rồi về
Việt Nam truyền đạo là Vận Kỳ, Giải Thoát Thiên (Mộc Xoa Đề Bà) và Đại thừa Đăng Bốn vị đầu là người Giao Châu, hai vị sau là người Ái Châu
Ba là, vào thời Bắc thuộc lần thứ ba, các nhà sư Việt Nam được vua Trung
Quốc mời sang thuyết pháp, đã vướng họa thơ văn với các nhà thơ đời Đường mà sử
Trang 26sách Trung Quốc, Việt Nam có chép là Phụng Đình, Duy Giám, Vô Ngại thượng nhân và một vị tăng ở Nhật Nam
Bốn là, sự thành lập dòng Thiền Vô Ngôn Thông Đầu thế kỷ thứ IX (năm 820)
một Thiền sư người Trung Quốc tên là Vô Ngôn Thông đắc pháp của tổ Bách Trượng Hoài Hải (710-814) sang Việt Nam thành lập dòng Thiền ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng, Bắc Ninh, ở đây được bốn năm, truyền pháp cho cảm thành rồi tịch vào năm 824
Nhìn chung, Thiền phái Tỳ ni đa lưu chi với tư tưởng Đại thừa bắt nguồn từ kinh Bát nhã, Hoa nghiêm, có khuynh hướng thần thuật của Mật Giáo Các Thiền sư
sử dụng phương thuật sấm sĩ và chủ trương bất lập văn tự nhưng vẫn chú trọng nghiên cứu kinh điển, truyền thụ tâm ấn và có khuynh hướng nhập thế giúp dân, chịu ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ hơn là Phật giáo Trung Quốc, dòng Thiền này dễ được
mọi người tin theo vì vừa biểu lộ được tâm linh siêu việt của phật, vừa phù hợp với đời sống thực tế và giản đơn của quần chúng Còn Thiền phái Vô Ngôn Thông chịu ảnh hưởng phật giáo Trung Quốc sâu đậm hơn, thể hiện rõ ở chép lịch sử thiền, tổ
chức tu viện với thanh quy, sử dụng thoại đầu và nặng ảnh hưởng Tịnh độ tông Ngoài một số kinh điển được sử dụng, dòng Thiền này còn chủ trương đến ngộ và vô
sắc Ngót mười thế kỷ phát triển, phật giáo đã hòa đồng với dân tộc, phần nào làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc đa sắc thái Phật giáo ở Việt Nam không bị
kỳ thị như ở Trung Quốc, ở Ấn Độ mà ngày càng thấm sâu vào lòng người, trong
mạch sống, giúp cho ý thức dân tộc ngày một vươn cao mạnh mẽ hơn khi nước nhà giành được chủ quyền, độc lập từ thế kỷ thứ X và cực thịnh ở các thế kỷ XI, XII, XIII, góp phần làm nên hào khí Đông Á bất diệt
1.1.2 Vài nét v ề điển trình và đặc điểm của văn học Phật giáo ở Giao Châu (trước thời Lý – Trần)
Văn học là một dòng chảy liên tục từ quá khứ sang hiện tại đến tương lai, và sẽ miên viễn theo thời gian Không phải ngẫu nhiên và cũng chẳng phải là hiện tượng đột phá khi chúng ta thấy vườn hoa văn học Lý – Trần lại nở rộ và ngạt ngào hương thơm sắc thắm kể từ sau khi nhà nước giành được độc lập, mà nó phải có mầm mống trước đó, để khi có điều kiện, nó sẽ trỗi dậy mãnh liệt Thời kỳ thai nghén để hình thành đó đã trải qua một thời gian kéo dài hơn nghìn năm Có lẽ từ lúc mới dựng nước cho đến khi đất nước lệ thuộc phong kiến phương bắc Trong thời gian xâm lược ấy, có lúc đất nước giành lại được độc lập, tự chủ với những tên tuổi Bà Trưng,
Bà Triệu, Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Khúc Hạo, Khúc Thừa Dụ, Phung Hưng, tuy còn ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để làm nên “sự hồi sinh mạnh mẽ hệ thống điển
huấn pháp luật Việt Nam trên mặt trận văn hóa – học thuật”
Lẽ nào một dân tộc, một đất nước “ vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi), với cuộc sống định cư và một nền nông nghiệp văn minh lúa nước mỗi năm hai
vụ; trồng dâu nuôi tằm mỗi năm tám lứa, một đất nước có nền nông nghiệp đa dạng
Trang 27và tiểu thử công nghiệp phát triển với sự mở cửa thông thương buôn bán với nước ngoài như đất nước Việt Nam ta hồi ấy lại không có chữ viết, không có một nền văn hóa của riêng mình? Trần Văn Giáp đã phát biểu rất chí lý rằng “Hễ có văn hóa thì
có văn học” Trần Nghĩa lại khẳng định “Không có sự thai nghén, gây dựng và tích lũy của một ngàn năm văn học Việt Nam thời Bắc thuộc thì sẽ không có sự phát triển
rực rỡ của văn học Việt Nam buổi Lý, Trần Nói một cách khác, muốn lý giải đầy đủ
sự phồn vinh của văn học Lý, Trần không thể không nghiên cứu kỹ văn học thời Bắc thuộc
Nói thế để kết luận, có những mầm mống văn học Việt Nam trước thế kỷ thứ X
Dù chưa nhiều nhưng chính văn học thời kỳ này đã “Khia sinh ra nền văn học viết
Việt Nam” để lấy đà tạo “bước nhảy vọt thứ nhất của văn học trung đại: nhảy vọt về
xã hội” Sau khi nước nhà giành được tự chủ với chiến công của Ngô Quyền Điều
đó có nghĩa là văn học viết Việt Nam trước thế kỷ X không phải không có hoặc quá
ít ỏi, hoặc còn mờ nhạt, và văn chương chữ nghĩa của họ cũng không có gì là đặc sắc, cho nên đã chết theo họ từ lâu như trước đây có học giả đã phát biểu
Người Việt Nam đầu tiên có ý thức đặt vấn đề này để nghiên cứu với cái
nhìn thấu tình đạt lý, đã dựng lại diện mạo văn học viết Việt Nam trước thế kỷ thứ X
là Nguyễn Đổng Chi trong công trình "Việt Nam cổ văn học sử" (1942) Ông đã
gọi nền văn học đó là Thời kỳ phát đọan với ba cái mốc gắn liền với tên tuổi của ba
nhân vật: Lý Tiến đời Hán, Sĩ Nhiếp đời Tam Quốc và Khương Công Phụ đời
Đường Theo Nguyễn Đăng Na thì “Văn học Việt Nam hình thành nhờ ba
cái “ hích” đó Cả ba cột mốc mà GS Nguyễn Đổng Chi vạch ra ở đây là hoàn toàn chính xác và phù hợp với diễn trình văn học Việt
giả, tác phẩm được xác định mốc thời gian tương đối cụ thể
Từ các nguồn tư liệu cũ, có thể phác thảo về diễn trình văn học Phật giáo
trựớc thời Lý - Trần (trước thế kỷ thứ X) như sau :
- Mâu Tử viết lý hoặc luận khoảng măn 195 -198
- Đạo Thanh cùng Chi Cương Lương Tiếp dịch kinh Pháp Hoa tam muội và
một số kinh khác vào năm 255
-Khương Tăng Hội soạn lục đô tập kinh, Cựu tập thí dụ kinh, viết lời tựa
cùng chú sớ nhiều kinh sách từ năm 230 đến năm 280
- Chí Hàm viết Triệt tâm lý vào giữa thế kỷ thứ IV
Trang 28- Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễn tranh luận về Phật pháp thông qua sáu bức thư vào nửa đầu thế kỷ thứ V Đạo Cao viết Tá âm, Tá âm tự, Đạo Cao pháp sư
tập
- Tỳ ni đa lưu chi, Pháp Hiền với một số bài kệ vào thế kỷ thứ VI
- Đại Thừa Đăng viết bài thơ Thương Đạo Hy pháp sư 675 và một số tác phẩm
luận thuyết
- Các nhà thơ đời Đường với các nhà sư Việt Nam xướng họa thơ văn
- Thanh Biện (thế kỷ VII) và Định Không (thế kỷ VIII) với một số tụng, kệ,
sấm vĩ, ngữ lục
- Cảm Thành, Thiện Hội, Vân Phong, La Quý (An) với kệ, ngữ lục, sấm vĩ
vào cuối thế kỷ thứ IX
Có thể trình bày đôi nét về diện mạo, đặc điểm của văn học Phật giáo Giao Châu (trước thời Lý - Trần) như sau:
Trước hết phải kể đến tác phẩm đầu tiên nổi tiếng cả vùng Viễn Đông mà
nhiều thế kỷ qua, các học giả Trung Quốc, Nhật Bản đã để nhiều công sức nghiên
cứu là Lý hoặc luận của Mâu Bác (Mâu Tử) Mâu Bác sinh khoảng năm 165, tại
quận Thương Ngô (vùng Ngô Châu ngày nay) bên giòng Tây Giang Khi Hán Linh
Đế mất (năm 189), Trung Quốc loạn lạc bởi nạn Tam Quốc, khoảng năm 190 ông
đưa mẹ sang Giao Châu lánh nạn Sách phật tổ lịch đại thông tải cho biết Mâu Bác
lúc đầu theo đạo Hoàng Lão, ông giỏi cả Nho học, sau đó theo Phật tại Giao Châu (tức sau năm 190) ổng là người giỏi biện luận nên được Sĩ Nhiếp mời ra làm quan,
và mời đi sứ sang Quế Dương, nhưng ông từ chối, về già, ông trở lại Thương Ngô và không rõ mất năm nào Lý hoặc luận được Mâu Bác viết tại Giao Châu vào những
năm 195-198 khi ông quy y theo phật
Về mặt thể loại, đây là loại luận thuyết theo lối vấn đáp, một lối văn rất thịnh hành vào thế kỷ thứ III, IV TCN Ấn Độ vào thời Phật giáo Ấn Độ chia làm nhiều bộ phái, sau khi phật Thích Ca nhập diệt khoảng 200 năm Tác phẩm được ghi lại trong
Hoằng Minh tập của Tăng Hựu viết vào đời Lương và nó cũng được nhắc đến trong Tùy chí, Đường chí Toàn văn cũng được in lại trong Đại tạng kinh chữ Hán, tập 52
Ở Việt Nam có hai nhà nghiên cứu phát hiện và dịch tác phẩm này trước 1975 là Lê
Trang 29Mạnh Thát (Sài Gòn) và Trần Nghĩa (Hà Nội) Đặc biệt, Lê Mạnh Thát còn có một chuyên luận dày 568 trang nghiên cứu về Mâu Tử và Lý hoặc luận
Về mặt nội dung, lý hoặc luận lý giải những điều mê lầm của một số người không hiểu đạo phật Bộ luận thuyết gồm có 37 câu hỏi và câu đáp Từ câu 1 đến câu
28 là những vấn nạn của người theo Khổng hỏi về Phật, từ câu 29 đến câu 37 là
những vấn nạn của người theo Lão
Như vậy, lý hoặc luận là một luận thuyết về phật học nổi tiếng, có giá trị Qua
lập luận, Mâu Bác đã dùng lời lẽ Nho Lão đả kích Nho Lão, xiển dương phật giáo làm cho ảnh hưởng của Khổng, Lão lung lay Đặc biệt, dù là người Hán nhưng sống
tại Việt Nam, học phật và viết sách tại Việt Nam nên Mâu Bác đã phê phán tư tưởng Đại hán ở câu 14 Ông cho rằng “Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất” (Hán địa vị tất vi thiên trung)
Dĩ nhiên, vấn đề văn bản lý hoặc luận hiện còn phải tiếp tục tra cứu thêm
Sang thế kỷ thứ III, có thể kể đến hai tác giả đó là Đạo Thanh và Khương Tăng
Hội Đạo Thanh người Việt, thông giỏi phật pháp, khi sư Chi Cương Lương Tiếp (Cương Lương Lâu Chí) từ Ấn Độ sang Việt Nam truyền đạo thì đạo Thanh đã cùng ông này dịch kinh Pháp Hoa tam muội vào năm 255 Đây là bộ kinh thuộc hệ thống Đại thừa phật giáo Khương Tăng Hội người gốc Khương Cư (tức vùng Sogdiane, nay là Udơbêch) thuộc giai cấp Bà La Môn, tổ tiên dời đến sinh sống tại Ấn Độ Từ
Ấn Độ, cha của ông sang Giao Châu buôn bán, lấy vợ và sinh ông tại đây khoảng năm 195 Khi ông hơn 10 tuổi, song thân qua đời, ông xuất gia học phật tại Giao Châu, mà trong lời tựa An ban thủ ý kinh, Cựu tạp thí dụ kinh ông có viết Vai trò
của ông trong việc hoằng dương đạo pháp không chỉ ở Việt Nam mà còn cả ở Trung
Quốc Vào thời Ngô Tôn Quyền, khi phật giáo chưa phát triển khắp miền Giang Tả thì ông đã đến Kiến Nghiệp, kinh đô của nước Ngô vào năm Xích ô thứ 2 (năm 247)
để truyền giáo Nhờ kinh thông tam tạng kinh điển, giỏi về pháp thuật, thông cả hán
ngữ, phạn ngữ mà hội đã thu phục được niềm tin của Ngô Tôn Quyền Quyền xây chùa mời ông về trụ trì Đây là ngôi chùa đầu tiên ở Giang Đông nên có tên là chùa
Kiến Sơ và nơi ở của hội được gọi là làng Phật Đà Như vậy, ông là người đầu tiên
có công truyền bá đạo phật ở vùng Giang Đông và làm cho Phật giáo ở đây hưng
thịnh Ông tịch khoảng 280 niên hiệu Thái Khương đầu nhà Tấn Bên cạnh sự nghiệp
Trang 30truyền đạo, từ những năm 230 đến 280, ông đã biên dịch, biên soạn, chú giải và viết
lời tựa nhiều tác phẩm
Biên dịch:
Kinh bát thiên tụng Bát nhã
Ngô phẩm (Đạo hành Bát nhã) (hiện không còn)
Biên soạn, biên tập
Lục độ yếu mục (hiện không còn)
Nê hoàn phạm bối (hiện không còn)
Pháp cảnh kinh (An Huyền dịch, Tăng Hội chú sớ, đề tựa)
Đạo Thọ kinh (Chi Khiêm dịch, Tăng Hội chú sớ, đề tựa)
Qua liệt kê trên, những tác phẩm đó đều thuộc hệ thống kinh Đại thừa và nội dung chứa đựng tư tưởng Thiền học như Bát thiên tụng Bát nhã, An ban thủ ý kinh
và Lục độ tập kinh
Theo Lê Mạnh Thát trong chuyên khảo Khương Tăng Hội toàn tập thì trong
Lục độ tập kinh bằng Hán văn có 15 trường hợp trong 11 câu chuyện có cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt và trong Cựu tạp thí dụ kinh thỉnh thoảng củng cố cấu trúc ngữ pháp như thế Khương Tăng Hội còn là người dùng hình thức tá âm tức mượn chữ Hán để ghi lại các âm tiếng Việt như cố (có); cô (cố); suy (xui); biệt (biết); bạc (bạ); bộ (bỏ)
ở các truyện số 14, 20, 25, 33, 50, 84, 85 Đặt biệt ở truyện số 14 có bài thơ miêu tả
diện mạo lão phạm chí “Tỉ chính biển hô, thân thể liên hệ, diện sô thần đả, ngôn ngữ khiển ngật” Nếu bằng hình thức tái âm những chữ tỉ, diện, thần dọc là “mũi, mặt, môi” và từ “biển hổ”, “liêu lệ”, “khiểng ngật” đọc là “vểnh vẹo, rệu rạo, ngọng nghịu” thì sẽ thành bài thơ tiếng Việt mà không cần dịch “mũi chính vểnh vẹo, thân
thể rệu rạo, mạt sô môi dày, ngôn ngữ ngọng nghịu Ở một chỗ khác, ông đã dùng
chữ “lung lệ”để ghi âm “lỏng lẻo” Ngoài ra còn có một số từ thuần Việt mà Tăng
Hội đã viết trong Lục độ tập kinh như núi diều tiếng Phạn là Grdhrakuta, Hán ngữ
Trang 31phiên âm là Kỳ-xà-quật, hiện dịch là Linh Thứu Sơn, khi ấy Tăng Hội đã viết diều sơn; chữ gù (những người gù được thẳng lưng) ở truyện 20 bản in đời Tống giữ nguyên chữ gù; Bản Đại Tạng kinh đổi thành tỵ; truyện 33 và 25 có câu “làm bè để
thả bạn xuống biển” trong lúc đó Hán ngữ có chữ phiệt nhưng Tăng Hội đã dùng chữ
bè Từ cứ liệu ngôn ngữ trên, Lê Mạnh Thát kết luận, khi soạn dịch Lục độ tập kinh sang tiếng Hán, Tăng Hội có lẽ đã có trong tay một bản kinh tiếng việt
Ngoài ra, trong Lục độ tập kinh, khi biên soạn, Tăng Hội đã cố ý ghi lại những câu chuyện cho phù hợp với truyện cổ Việt Nam mà chúng ta có thể tìm thấy nét tương đồng những câu chuyện trong kinh với truyện cổ mà Nguyễn Đổng Chi đã sưu
tập trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Lục độ tập kinh có 91 câu chuyện Có chuyện phê phán Nho giáo (truyện 49) Làm gì một bản kinh phạn ngữ lại có nội dung này? Bởi lã Ấn Độ lúc bấy giờ không có Nho giáo điều, trong Lý hoặc luận của Mâu Tử cũng đã phê phán Chứng tỏ giới Phật tử đang sống tại Việt Nam bấy giờ đã
có ý thức xây dựng và bảo vệ bản sắc văn hóa bản địa Tác giả Lục độ tập kinh đã cố
ý cải biên những câu chuyện để phù hợp với bản địa nhằm mục đích đạt hiệu quả sâu
xa và lâu dài trong lòng người bản xứ Có những câu chuyện trong kinh lại gần giống
hoặc giống một phần với những câu chuyện trong kho tàng truyện cổ tích mà Nguyễn Đổng Chi đã sưu tầm, như các truyện số 25, 37, 41, 45, 49 của kinh và các truyện số
9, 13, 48, 144, 162, 166 của kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Riêng truyện số 23 trong kinh, ông đã ghi lại câu chuyện Cái bọc trăm trứng Theo chúng tôi, sự chuyển hóa trên có thể là các phật thoại đã được dân gian hóa thành truyện cổ tích, truyền thuyết; cũng có thể là các câu chuyện dân gian đó đã được chuyển hóa vào kinh, tức
phật giáo hóa các truyện cổ, truyền thuyết dân gian Vì rất khó có thể nói cái nào có trước, cái nào có sau Lục độ tập kinh và Cựu tạp thí dụ kinh còn nêu lên những chủ
đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước, … những tư tưởng này làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam
Ở thế kỷ thứ IV, một tác giả có tên là Chí Hàm đã viết Triệt tâm ký Hiện chúng
ta chưa biết gì nhiều hơn về tác phẩm này, trừ đôi nét mà Lê Mạnh Thát đã công bố
Những năm thuộc nửa đầu thế kỷ thứ V, không thể không nhắc đến cuộc tranh
luận về Phật pháp qua sáu bức thư giữa hai vị sư Việt Nam là Đạo Cao và Pháp Minh
Trang 32với một quan chức có tên là Lý Miễu (Diếu, Diễu) Về mặt niên đại sáng tác, sau bức thư này có khẳ năng viết trong những năm 433-455 Sáu bức thư có nhan đề là Cao Minh nhị pháp sư đáp Giao Châu Lý Miễu nạn phật bất kiến hình sự Đạo Cao và Pháp Minh là hai nhà sư Việt Nam sống giữa triều Lưu Tống Trung Quốc (420-478)
Về tiểu sử hai vị này, các tài liệu xưa không chép, chỉ có Toàn Tống văn quyển 63 ghi là Đạo Cao, Giao Châu pháp sư và Pháp Minh, Giao Châu Pháp sư Về Lý Miễu, vài nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ ông là một sứ quân tức thứ sử, một chức quan cai
trị đứng đầu một quận huyện Toàn văn sáu bức thư có ghi trong bộ Hoằng Minh tập
của Thích Tăng Hựu, một vị sư đời Lương, sau này Đại Tạng kinh tập 52 có in lại Qua cuộc trao đổi tranh luận trong sáu bức thư giữa hai nhà sư Việt Nam và
một quan chức Trung Quốc về việc “thấy hay không thấy chân hình Đức Phật”, có
thể nói, từ thế kỷ thứ V trở đi, phật giáo Việt Nam đã phát triển nên đã có tăng sĩ
thấu đạt, về phật pháp và ít nhiều nổi tiếng nên các sứ thần đã tìm đến vấn nạn, học
hỏi về giáo lý, huyền vi của Thích Ca Bên cạnh hai bức thư số 2 và số 4 trong số 6
bức thư Đạo Cao còn là tác giả của sách nghiên cứu dạng tự điển ngôn ngữ và luận thuyết triết lý Lê Mạnh Thát đã căn cứ vào tài liệu Nhật Bản quốc kiến tại thư mục ở
tờ 34b 4-5 và tờ 48a 14 cho biết Đạo Cao còn viết những tác phẩm Tá âm Tá âm tự
và Đạo Cao pháp sư tập Tá âm và Tá âm tự là sách tra cứu dạng từ điển Hải quyển này có lẽ viết khoảng năm 390-400 Tá âm là cuốn sách ghi lại các tiếng, các chữ mà người Việt mượn chữ Hán để mô tả, ghi lại những đồ vật, sự vật ở Việt Nam mà chữ Hán không thể diễn đạt được Còn Tá âm tự có thể là một cuốn tự điển ngôn ngữ để tra cứu những chữ mượn âm chữ Hán để ghi lại tiếng Việt Riêng cuốn Đạo Cao pháp sư tập được viết khoảng năm 450-460, là một tập luận thuyết gồm những bài
giảng của ông về phật pháp, về triết lý tư tưởng đạo phật Đáng tiếc là ba cuốn sách trên hiện chưa tìm thấy Tuy nhiên, việc biên soạn các quyển sách tiếng Việt như Tá
âm và Tá âm tự là có tiền đề trước đó Theo Lê Mạnh Thát, từ thế kỷ I trước công nguyên năm 17, người Việt đã có bài thơ bằng chữ quốc âm mà sách Thuyết uyển
của Lưu Hướng biên soạn đã chép lại Đến thế kỷ II-III, Sĩ Nhiếp, ông đã mượn chữ
“da” trong Hán văn để ghi tên quả dừa, một cống phẩm của người Việt nạp cho nhà Ngô vào những năm 210-226 Có lẽ, đây là căn cứ sinh động để Nguyễn Đổng Chi cho rằng chữ nôm đã phôi thai từ thời Sĩ Nhiếp Đến thế kỷ thứ III, hình thức tá âm
Trang 33đã được Khương Tăng Hội sử dụng Vì thế đến thế kỷ thứ V, việc ra đời các công trình ngôn ngữ như của Đạo Cao cũng là một tất yếu khách quan
Khoảng từ năm 580 đến năm 600, tức cuối thế kỷ thứ VI, có thể kể đến Tỳ ni đa lưu chi và Pháp Hiền với những bài kệ phú pháp mà sách Thiền uyển tập anh đã chép
Thế kỷ thứ VII-VIII, nhờ phong trào du học của các vị tăng sĩ mà diện mạo văn
học thời này có thể nói là nhiều vẻ hơn một chút Trước hết, cần kể đến sáu nhà sư
Việt Nam đã từng du học ở Trung Quốc, Trung Á, Ấn Độ có về Việt Nam truyền bá đạo pháp mà sách Đại Đường cầu pháp cao tăng truyện của Nghĩa Tịnh có ghi là Vận
Kỳ, Giải Thoát Thiên, Khuy Xung, Huệ Diệm (Tuệ Viêm), Trí Hành và Đại Thừa Đăng Đây là những trí thức tăng lữ mà theo Nguyễn Đổng Chi, những vị này “có
khả năng sáng tác văn chương” và “trình độ học vấn của họ chẳng kém gì người Trung Nguyên”
Trong số các vị trên thì Đại Thừa Đăng viết khá nhiều Ông đã viết những bộ sách lý giải kinh, luận của phật giáo như Câu xá luận lý, Duy thức chỉ nguyên, Đại
thừa bách pháp minh môn luận thuật ký và luận duyên sinh Ông còn là tác giả của bài thơ Thượng Đạo Hy pháp sư Bài thơ được viết năm 675, lúc Đại Thừa Đăng sang lại Ấn Độ, có đến thăm người bạn khi xưa cùng tu học với mình ở Trung Quốc tên là Đạo Hy Đến nơi, ông chỉ thấy dấu vết và bút tích của bạn, còn người thì đã về cõi Tây phương nên ông nhỏ lệ tiếc thương mà viết bài thơ Bài thơ đã được Nghĩa
Tịnh chép trong Đại Đường cầu pháp cao tăng truyện, quyển thượng, tờ 4c 11-13, như sau
Tạm dịch
Quyến dư trường nhi lưu thế Đoái trông buồn mà rơi lệ
Khái bố tố nhi tình thương Nghĩ khổ cực mà tình thương
Trang 34Dẫn lại [255,159]
Bài thơ chỉ có tám câu Sáu câu đầu mỗi câu bốn chữ rất hợp với lối kể chuyện, hai câu cuối mỗi câu sáu chữ, tạo âm điệu dàn trải, dễ bộc lộ nỗi niềm cảm xúc Đó
là lời bộc bạch, là tiếng lòng thổn thức đau đớn đến xé ruột xé gan của nàh thơ đới
với bạn Chính hai câu cuối tạo âm vang cho tứ thơ và bộc lộ chủ đề của bài thơ Cũng trong những năm cuối thế kỷ thuwsVII đầu thế kỷ thứ VIII có nhiều nhà
sư danh tiếng được vua Trung Quốc mời sang giảng kinh, có vị dù ở nơi thâm sơn cùng cốc nhưng nhờ danh đức mà các nhà thơ nổi tiếng đời Đường đến thăm Tất cả
họ có lẽ đã xướng họa thơ văn với các thi nhân đời Đường Rất tiếc, những bài thơ xướng họa này hiện chưa tìm thấy, chỉ còn lại một số bài thơ tặng, thơ tiễn biết của các thi sĩ đời Đường như Dương Cự Nguyên tặng Phụng Định Cung Phụng Định pháp sư; Giả Đảo (nhà thơ – Thiền sư) viết hai bài: một tiễn Thiền sư Duy Giám và
một tiễn Hoàng Hòa Tân Tống An Nam Duy Giám pháp sư và Tống Hoàng Hào Tân quy An Nam thi; Trương Tịch đã vào tận núi thăm một vị Thiền tăng Việt Nam có
viết bài thơ tặng Sơn Trung tặng Nhật Nam tăng thi; còn Thẩm Thuyên Kỳ nhân một
lần sang chơi ở Giao Châu, có bài thơ khen Vô Ngại Thiền sư ở chùa Sơn Tĩnh quận
Cửu Chân tặng Vô Ngại Thượng nhân Sở dĩ ta biết những tác giả trên là nhờ các sách Loại Hàm, Anh Hoa, Toàn Đường thi của Trung Quốc, mà sau này Lê Quý Đôn
có ghi lại trong Kiến Văn tiểu lục Còn một nhân vật nữa, có lẽ sống trong giai đoạn này là Tinh Thiều Sách Đại Việt Sử Ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên có nhận định
“Tinh Thiều là người giỏi văn chương” Nhờ thế Trịnh Vĩnh Thường (Trung Quốc) trong Hán văn văn học tại An Nam đích hưng thệ đã kết luận “Tinh Thiều là một văn học gia Điều đó không còn nghi nghề gì nữa… đáng tiếc rằng tác phẩm của ông không còn lưu truyền”
Trong khoản thời gian này, có những đệ tử của dòng Thiền tỳ ni đa lưu chi như Thanh Biện (thế kỷ thứ VII), Định Không (cuối thế kỷ VIII-808) có những kệ thị
tịch, những lời đối đáp với đệ tử mag Thiền uyển tập anh có chép Định Không có
viết một bài tụng và hai bài thơ mang tính sấm vĩ Một lần, sư Định Không dựng chùa Quỳnh Lâm (khoảng năm 785-805), thợ đào móng có phát hiện được bình hương và mười chiếc khánh đồng Sư sai người ra sông rửa sạch, có một chiếc rơi
Trang 35xuống sông trôi liệng, đến khi chạm mặt đất mới nằm im Sư đã lý giải hiện tượng này và nhân đó đổi tên đất là Cổ Pháp, rồi làm bài tụng
Tri phật pháp chi hưng long Gặp thời phật pháp thịnh hưng
Lập hương danh chi Cổ Pháp Đặt tên làng Cổ Pháp
Và hai bài thơ Bài thứ nhất:
Bài thứ hai:
Cổ Pháp danh hương hiệu Cổ Pháp tên làng ta
Những điều mà sư Định Không tiên đoán trong các bài thơ, bài tụng trên sau này đã thành sự thật Làng Cổ Pháp trở thành đất phật tích của dòng họ nàh Lý và Lý Công Uẩn lên ngôi vua mở đầu vương triều nhà Lý, dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên là Thăng Long, tạo điều kiện cho đất nước phát triển, phật giáo hưng thịnh Đến giữa thế kỷ thứ IX đầu thế kỷ X có thể nêu tên một số tác giả Thiền sư thuộc dòng Thiền Vô Ngôn Thông như Cảm Thành, Thiện Hội, Vân Phong với
những lời đối đáp khai ngộ cho đệ tử và kệ thị tịch Đặc biệt là bài thơ kệ mang tính
sấm vi của Thiền sư La Quý (An) thuộc thế hệ thứ 10 dòng Tỳ ni đa lưu chi Bài kệ được sư đọc lúc trồng cây gạo trước chùa Minh Châu vào năm 936 tiên đoán việc họ
Lý sẽ lên ngôi vua
Thập bát tử định thành Thập bát tử dấy nghiệp
Miên thụ hiện long hình Gốc gạo hiện long hình
Trang 36Định kiến nhật xuất thanh Ắt thấy mặt trời lên
Văn học phật giáo Việt nam ở Giao Châu với diện mạo của nó như vừa nêu có
thể kết luận rằng:
Về mặt ngôn ngữ, tuy văn học Phật giáo ở Giao Châu chủ yếu được viết bằng
chữ Hán nhưng trong đó chúng ta lịa thấy phôi thai hình thức tá âm để hình thành
chữ Nôm giai đoạn sau, đặc biệt là hán văn lại được viết theo cấu trúc ngữ pháp
Tiếng Việt Điều đó cũng có nghĩa là nhà chùa cũng là nơi đầu tiên sản sinh ra phương thức tá âm Có lẽ đây là nền tảng, để giai đoạn sau chế tác ra chữ Nôm và sử
dụng để sáng tác văn học
Về mặt thể loại, văn học Phật giáo ở Giao Châu đã sử dụng một số thể loại như
kệ, thơ, luận thuyết, tựa, chú giải, dịch thuật, thuật ký, thư tranh thuộc văn học chức năng Vì thế, những tác phẩm mang tính hình tượng còn mờ nhạt Rải rác cũng có vài tác phẩm văn học hình tượng, thể hiện tình cảm cảm xúc trữ tình của tác giả như Thương Đạo Hy pháp sư của Đại Thừa Đăng Nếu mở rộng ra, văn học Nho gia giai đoạn này còn có những tác phẩm trữ tình khác như bài phú Bạch vân chiếu xuân hải (Khương Công Phụ), bài thơ Đề lữ sấn (Liêu Hữu Phương) và hai bài thơ của anh
học trò vô danh Tống Mã Thực và Thích An Nam sự Những thể loại trên phần nào ít nhiều cũng cắm cái mốc để văn học Phật giáo giai đoạn sau kế tục
Về mặt nội dung thể hiện, đa số đó là những tác phẩm mang nội dung truyền
giảng Phật pháp: (dịch thuật, tựa, chú sớ, chú giải, thuật ký, kệ, ngữ lục, lời đối đáp khai thị, … ) Đặt biệt, với chùm thư tranh luận ở thế kỷ thứ V “có hay không có chân hình đức Phật” đã mở đầu cho loại văn bút chiến mang tính chất tranh luận học thuật và tác phẩm Tá âm tự lại cắm cái mốc cho thể loại nghiên cứu, biên khảo về ngôn ngữ học Một số thơ, kệ mang tính sấm vĩ, tiên đoán việc xã tắc của thời kỳ này cũng đã xuất hiện để giai đoạn sau phát triển với Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Nguyễn Vạn Hạnh, …
Tóm lại, văn học Phật giáo ở Giao Châu như đôi nét diễn trình vừa nêu trên chính là thời kỳ phôi thai, là tiền đề để khi có điều kiện sẽ tạo nên sức bật mạnh mẽ cho văn học Phật giáo giai đoạn sau phát triển Điều đó giải thích tại sao sau hơn một nghìn năm nô lệ, khi nước nhà vừa giành lại được độc lập, tự chủ thì văn học lại phát
Trang 37triển mạnh, có những thành tựu rực rỡ như văn học Lý Trần, trong đó có văn học
Phật giáo Lý – Trần
1.2 Th ời đại Lý – Trần và văn học Lý – Trần
1.2.1 Đặc trưng thời đại Lý – Trần
Với ý chí ngoan cường bền bỉ đấu tranh, với tinh thần độc lập tự chủ, tự cường
của cộng đồng người Việt phương Nam nên trong hơn một nghìn năm nô lệ phương
bắc nhân dân ta hễ có cơ hội thì vùng dậy kết đoàn để đánh đuổi giặc ngoại xâm và
đã có lúc giành lại được độc lập tự chủ dù tuy còn ngắn ngủi Phát huy truyền thống
ấy, mùa đông năm 938, bằng mưu lược tài ba, Ngô Quyền đã chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đưa dân tộc ta bước sang một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập tự chủ” Từ cái mốc lịch sử này, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn mới:
Thời trung đại, đây là thời kỳ nhà nước phong kiến độc lập được xây dựng ngày càng hùng mạnh và phát triển mọi mặt qua các triều đại: Ngô (939-967), Đinh (968-980),
Tiền Lê (980-1009), Lý (1009-1025), Trần (1225-1400), Hồ (1400-1407) và mấy năm đầu kháng chiến chống giặc Minh vào thời hậu Trần (1407-1418) Một giai đoạn lịch sử kéo dài ngót năm trăm ấy với những thành tựu tổng hợp của các triều đại trong đó hai triều đại Lý và Trần là xứng đáng tiêu biểu hơn cả về nhiều phương
diện nên các nhà nghiên cứu đã gọi tên chung cho cả hai giai đoạn lịch sử này là thời đại Lý – Trần Có thể nói thời đại Lý-Trần là thời đại hào hùng, oanh liệt, rực rỡ, và đẹp đẽ của lịch sử Việt Nam Đặc trưng cơ bản của thời đại này có thể nêu lên những nét lớn như sau:
Một là, thời đại Lý – Trần là thời đại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước,
thống nhất cộng đồng Đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, đấu tranh chống mọi sự chia rẽ nội bộ nhằm sớm đạt được một sự thống nhất, đoàn kết các lực lượng dân tộc
để tạo nên một sức mạnh hùng hậu là yêu cầu bức xúc của thời đại, sự sống còn của dân tộc Với chiến thắng của Ngô Quyền, đất nước ta thật sự là một quốc gia độc lập,
thống nhất, có chủ quyền Chiến thắng đó đã đánh bại mưu đồ xâm lược và ý đồ đồng hóa của Trung Quốc, đồng thời khẳng định sự tồn tại của một đất nước cần
thống nhất và nâng cao thêm ý thức độc lập, làm chủ của dân tộc Việc Ngô Quyền
tự xưng vương, và xây dựng một vương triều phong kiến độc lập với những nghi lễ
Trang 38riêng đã biểu thị ý chí quyết tâm gìn giữ nền độc lập vừa giành được sau hơn mười
thế kỷ bền bỉ đấu tranh Đáng tiếc là, công cuộc xây dựng đất nước chưa hoàn thiện thì ông mất (944) Tiếp theo là triều đình non trẻ bị suy yếu bị biến loạn Các thế lực phong kiến các cứ nổi dậy Đất nước bị chia xẻ bởi Mười hai sứ quân Đây là một
hiểm họa lớn cho dân tộc Nền độc lập của đất nước, sự sống của dân tộc đòi hỏi phải
giữ gìn khối đoàn kết thống nhất, phải chấm dứt ngay nạn cát cứ phân quyền Yêu
cầu cấp thiết này đã được Đinh Bộ Lĩnh đáp ứng Ông đã giương cao ngọn cờ thống
nhất quốc gia, dẹp tan loạn lạc, đem lại hòa bình cho nhân dân, thống nhất cho đất nước “Thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia,
thắng lợi của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân ta” Xuất phát
từ nhu cầu thống nhất, độc lập mà các vương triều phong kiến tiếp theo đã lãnh đạo nhân dân chiến đấu và chiến thắng ngoại xâm đến từ phía Nam, phía Bắc như Lê Hoàn phá tan quân Tống (981); Lý Thường Kiệt bình định giặc Chiêm Thành (1069)
và nhiều lần chiến thắng quân Tống (1075-1077) Người anh hùng Lý Thường Kiệt còn đem quân sang đánh tận Châu Ung, Châu Khâm bên Trung Quốc, làm cho nhà
Tống kiêng dè, phải công nhận Đại Việt là một vương quốc độc lập và từ đó về sau, trong khoảng hai trăm năm không dám xâm phạm nước ta Ngay cách đặt tên nước Đại Việt cũng đã biểu lộ ý chí độc lập, bình đẳng với vương triều Trung Quốc Cũng
nhờ yêu cầu đoàn kết thống nhất mà các vui triều Lý bằng chính sách khoan hòa, nhân thứ đã thu phục các thủ lĩnh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, phía Đông Bắc,
đã động viên họ cùng với nhân dân Đại Việt chiến đấu và bảo vệ biên cương Tổ
quốc Sự thật là họ đã có những cống hiến lớn trong sự nghiệp chống ngoại xâm, gìn
giữ non sông Cũng nhờ yêu cầu đoàn kết thống nhất, ý thức độc lập mà đời Trần
mới có một Hội nghị Bình Than (1282), Hội nghị Diên Hồng (1285) với tiếng hô đồng thanh “đánh” đầy quyết tâm, vang dội non sông, để làm nên những chiến công
lừng lẫy với ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông vào các năm 1258, 1285,
1288 Hào khí Đông A có được là nhờ âm hưởng của chiến thắng trên
Hai là, thời đại Lý – Trần là thời đại phục hưng dân tộc và phát triển đất nước
Từ trong hoang tàn đổ nát, từ nền kinh tế với cơ sở vật chất yếu kém, tài nguyên bị khánh kiệt bởi ngoại bang vơ vét, khi nước nhà vừa độc lập, trong điều kiện hòa bình, nhân dân ta liền bước vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước Nếu dưới
Trang 39triều Ngô, Đinh, công cuộc xây dựng này chưa đạt thành tựu là bao thì sang triều Lê, công cuộc xây dựng đó bước đầu được phục hồi, ít nhiều có sự phát triển Từ triều
Lý trở đi (1009-1225), nhất là thế kỷ XI, công cuộc xây dựng đó thật bsuwj có quy
mô lớn, đặc nền tảng cho sự phát triển toàn diện và vững chắt Việc Lý Thái Tổ dời
đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La và đổi tên Thăng Long là một sự kiện quan
trọng, có ý nghĩa lớn với mục đích “đóng đô nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu” (Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi
kế) Thăng Long là nơi có đủ điều kiện thỏa mãn mục đích trên “ở vào nơi trung tâm
trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi … Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là
thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu bốn phương của đất nước; cũng là nơi kinh
đô bật nhất của đế vương muôn đời” (Trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn
hổ cứ chi thế … Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa Thành tứ phương bức thấu chi
yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô) Nhờ vậy mà kinh tế dưới triều Lý bước đầu được phát triển : nông nghiệp được chú trọng; việc khẩn hoang và xây dựng
những công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp với quy mô lớn đã được chú ý nhiều Các ngành nghề thủ công như dệt, gốm, luyện kim, mỹ nghệ, chạm, khắc, đúc đã đạt đến trỉnh độ khá cao về kỹ thuật lẫn nghệ thuật Giao thông, thương mại không chỉ phát triển trong nước mà còn mở rộng sang các nước lân cận trong khu vực Thành
quả kinh tế đó đã tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển văn hóa Việc
học tập thi cử đào tạo nhân tài, xây dựng đất nước được các vua nhà Lý chăm lo Nếu trước đó, triều đình có lệ bảo cử và tiến cử người làm quan thì từ đời vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông về sau, bên cạnh các lệ trên còn có kỳ thi tuyển chọn nhân tài Nhà Lý đã xây dựng Văn Miếu (1070), mở khoa thi tam giáo đầu tiên trong lịch sử giáo dục khoa cử nước ta (1075), thành lập Quốc tử giám (1076) chính là cắm cái
mốc cho sự nghiệp đại phục hưng đó Nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc trên gỗ, trên
đá, trên gốm thời này đã thể hiện một phong cách khá đặc sắc và đạt được trình độ kỹ thuật tương đối cao Đặc biệt hình tượng con rồng trong thời kỳ này – một vật linh
của người Việt, với dáng vẻ mềm mại, uyển chuyển là một hình tượng nghệ thuật độc đáo Phải chăng hình tượng này đã được những nghệ nhân tài hoa thổi vào đó cái
cốt lỗi tinh thần, cái hồn của thời đại? Như vậy, về phương diện văn hóa, đời Lý đã
Trang 40đặt nền tảng cho giai đoạn phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc mà các sử gia
gọi đó là “Văn hóa Thăng Long” để các triều đại sau kế tục phát triển
Sang đời Trần (1225-1400) trong vòng ba mươi năm (1258-1288) đất
nước liên tục ba lần bị ngoại xâm Kinh thành Thăng Long đã ba lần bị giặc chiếm
đóng Nơi phồn hoa đô hội bỗng chốc trở thành vườn không nhà trống Nhiều cung
điện, đền chùa, miếu mạo bị giặc thiêu hủy, thu phá Chiến tranh vừa kết thúc, hòa bình vừa lập lại, triều đình đã động viên nhân dân phục hồi kinh tế, phát triển văn hóa một cách tòan diện trên cơ sở tinh thần độc lập mạnh mẽ với một ý thức tự hào dân tộc sâu sắc Điều đáng lưu ý là chữ Nôm thời này đã được sử dụng để sáng tác Đây là một biểu lộ ý thức độc lập trên lĩnh vực văn hóa
Mặt khác, kho tàng thần thoại và truyện cổ dân gian cũng đã dược
sưu tầm, tập hợp thành sách Việc học hành thi cử, so với đời Lý, giờ đây đi vào
quy chế được chính quy hóa, Nhà nước đã đặt ra lệ thi các kỳ thi và đặt ra các học vị
chính thức trong thi cử Việc học không chỉ đóng khung ở kinh thành mà còn mở rộng ra các địa phương (lộ, phủ, châu) Thiên văn, lịch pháp, y học có những thành tựu với những tên tuổi như Đặng Lộ, Trần Nguyên Đán, Thái Bá Tĩnh (Tuệ
Tĩnh) Nghệ thuật ca múa nhạc, nghệ điêu khắc tạo hình cũng có bước tiến mới Kịch hát cổ truyền được khôi phục và phát triển Nghệ thuật điêu khắc, chậm trổ đã kế
thừa những thành lựu đã có và nâng cao thêm, mang tính phóng khóang,
khỏe khoắn, đáp ứng được yêu cầu tinh thần của thời đại Tiêu biểu nhất cho
phong cách này là hình tượng con rồng với dáng vẻ chắc nịch, khỏe khoắn, mang được hào khí của thời đại chiến đấu oai hùng, chiến thắng ngoại xâm
Nhìn chung, thời Lý – Trần là thời đại phục hưng và phát triển những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc Chỉ tính riêng về kiên trúc, thời đại này
đã để lại những công trình nổi tiếng như đời Lý có chùa Diên Hựu (chùa Một Cột),
đời Trần có tháp Phổ Minh ở Nam Định, tháp Bình Sơn ở Vĩnh Phú và nhiều di tích
chùa chiền, đền đài khác Chỉ với chất liệu gạch bằng đất nung màu đỏ ghép lại mà
hồi ấy nhân dân ta đã xây dựng được những ngọn tháp cao đến mười mấy tầng với
bố cục chặt chẽ, cân xứng, chạm trổ công phu, sinh động Điều đó đủ chứng tỏ nghệ thuật xây dựng, điêu khắc, kiến trúc lúc bấy giờ đã được phục hưng và phát triển Sẽ
là một thiếu sót lớn nếu quên kể ra đây bốn công trình nổi liếng được mệnh danh là
“An Nam tứ đại khí” của thời đại là tháp Bảo Thiên; tượng Phật chùa Quỳnh
Lâm, chuông Quy Điền và đỉnh (vạc) chùa Phổ Minh Thời ấy đã văn hóa văn
nghệ dân gian với những lễ hội truyền thống đã chấn hưng và được mọi giai tầng xã
hội từ vua chúa đến thứ dân đều ưa chuộng Sử sách chép rằng trong một hội vật,
một hoàng thượng đời Trần đang xem và hồi hộp theo dõi hạn đấu chẳng kém gì mọi
người bởi một trong hai tay đấu để giành danh hiệu "đô vật" kia lại có con trai
mình
Ba là, thời đại Lý – Trần còn là thời đại khoan giản, an lạc, nhân thức rộng
m ở và dân chủ Nhờ phát triển kinh tế, phục hưng văn hóa mà thời đại ấy đã có một