b “Đạicáo bình Ngô” là áng văn yêu nước chói ngời tư tưởng nhân văn Bài cáo khẳng định truyền thống yêu nước, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam, lên án tội ác kẻ thù xâm lược,
Trang 1Ngày soạn : 27/01/2018
ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ(1)
(Nguyễn Trãi)
A-MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức:
2 Kĩ năng:
Có kĩ năng đọc –hiểu tác phẩm chính luận viết bằng thể văn biền ngẫu - đặc trưng thể cáo
3 Tư duy, thái độ, phẩm chất:
- Giáo dục bồi dưỡng ý thức dân tộc, yêu quý di sản văn hóa của cha ông.Có thái
độ tôn trọng và tri ân với những người anh hùng dân tộc
4 Định hướng phát triển năng lực
- Năng lực tự chủ và tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo; năng lực thẩm mỹ, năng lực tư duy; năng lực sử dụng ngôn ngữ
B-CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
GV: SGK, SGV Ngữ văn 10, Tài liệu tham khảo, Thiết kế bài giảng
HS: SGK, vở soạn, tài liệu tham khảo
C- PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Gv kết hợp phương pháp đối thoại, trao đổi, nêu vấn đề, thảo luận, tích hợp (Tội ác của giặc Minh với việc huỷ diệt môi trường) Thực hành luyện đề
D- TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1 Ổn định tổ chức lớp:
2 Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra bài tập về nhà của HS
3 Bài mới:
PHẦN 1 KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Về nội dung
a) “Đạicáo bình Ngô”có ý nghĩa trọng đại của bản tuyên ngôn độc lập dân tộc Ngay ở phần đầu bài cáo, tác giả đã khẳng định chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt Chân lí đó có cơ sở chắc chắn từ thực tiễn lịch sử Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản đẻ xác định dân tộc ta có quyền độc lập, tự chủ : cương vực lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, nền văn hiến lâu đời, lịch sử riêng, chế độ riêng và “hào kiệt không bao giờ thiếu
b) “Đạicáo bình Ngô” là áng văn yêu nước chói ngời tư tưởng nhân văn
Bài cáo khẳng định truyền thống yêu nước, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam, lên án tội ác kẻ thù xâm lược, ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thể hiện niềm tin vững chắc vào nền độc lập dân tộc
Trang 2c) “Đạicáo bình Ngô” áng văn chứa đựng tư tưởng nhân văn
Bài cáo khẳng định tư tưởngnhân nghĩa (“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạttrướclo trừbạo”),tốcáo tội áckẻthùtrênlập trườngnhân nghĩa,vìquyền sống conngười và khẳngđịnh truyềnthốngnhânđạocủangười Việt Nam (“Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”,…)
2 Về nghệ thuật
a) Đặc trưng cơ bản của thể cáo: thể văn nghị luận, do vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng với mục đích tuyên bố một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện ; được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu ; có kết cấu chặt chẽ, lập luận đanh thép, lời văn trang trọng, hùng hồn
- Nguyễn Trãi đã vận dụng sáng tạo, thành công thể cáo : bài đại cáo (chứ không phải loại văn cáo thường ngày), được viết theo lối văn biên ngẫu, có vận dụng thể tứ lục, kết câu bốn phần (nêu luận đề chính nghĩa; vạch rõ tội ác kẻ thù; thuật lại quá trình cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa), sử dụng nhiều hình tượng nghệ thuật; sinh động, gợi cảm
b) “Đại cáo binh Ngô” có sự kết hợp hài hoá gíữa yếu tố chính luận và chất văn chương
- Kất cấu chặt chẽ, lập luận lôgic, sắc bén Bài cáo được kết cấu theo trình tự phần
mở đầu nêu luận đề chính nghĩa; phẩn thứ hai soi sáng tiên đề vào thụt tiễn, lên án hành động phi nghĩa của giặc Minh, khẳng định, ngợi ca sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Đại Việt; phần cuối rút ra kết luận trên cơ sở tiền đề và thực tiễn để khẳng định chiến thắng và tương lai dân tộc, cách lập luận của tác giả rất logic, sắc bén : thống nhất trên lập trường yêu nước và nhân nghĩa, có sự kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn
- Lời văn giàu cảm xúc : tác giả không tả hoặc thuật lại một cách khách quan mà thường thể hiện thái độ, cảm xúc của người viết (“Ngẫm thù lớn há đội trời chung - Căm giặc nước thế không cùng sống”, “Những trằn trọc trong cơn mộng mị-Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi” )
- Câu văn giàu hình tượng : tác giả diễn đạt tư tưởng bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động, làm cho câu văn có sức mạnh gợi cảm, truyền cảm (“Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội - Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi”, “Gươm mài đá đá núi cũng mòn - Voi uống nước nước sông phải cạn”, )
PHẦN 2: LUYỆN ĐỀ
Đề 1: Mở đầu bài Bình Ngô đại cáo, NT có viết “Việc nhân nghĩa… bạo” Em hiểu hai câu như thế nào? Hãy chứng minh rằng tư tưởng đó đã được NT thể hiện qua suốt bài Bình Ngô đại cáo.
Gợi ý:
* Giải thích:
– “Nhân nghĩa”: Cốt lấy việc “yên dân” làm mục đích
– Yên dân: làm cho dân được sống yên ổn, an cư lạc nghiệp
=> quan niệm của NT có tính nhân dân
– Nhân nghĩa phải trừ kẻ tàn bạo:
Trang 3+ Nhân nghĩa ko thụ động mà phải tích cực hành động.
+ Trừ bạo để yên dân
*Chứng minh:
– Xét việc quá khứ:
+ Những triều đại hưng thịnh đều do lấy việc “yên dân” làm gốc
+ Những kẻ bạo tàn, phi nghĩa, làm hại việc yên dân đều chuốc lấy thất bại: “Lưu Cung… Ô Mã”
– Xét tội ác của giặc Minh:
+ Nhiều vô kể, tác giả ko chỉ tố cáo tôi ác của giặc và khẳng định đó là tội ác “trời không dung đất không tha” mà còn bày tỏ lòng căm phẫn của mình◊ thể hiện tư tưởng yên dân trừ bạo
– Nhìn lại buổi đầu cuộc kháng chiến chống Minh: Đó là cuộc chiến đấu vô cùng khó khăn nhưng là cuộc chiến đấu vì dân trừ bạo◊ người lãnh đạo biết dựa vào sức dân (D?c)
+ Lược thuật các chiến công: Nhờ có chính nghĩa, có chiến lược quân sự tài giỏi nên ta dã trừ được bạo tàn
+ Vì “Yên dân” nên tha cho giặc về nước, bảo toàn lực lượng của ta (D/c)
– Tuyên bố kết thúc cuộc chiến tranh:
+ Chiến thắng là để thanh bình, để duy tân, thực hiện được lí tưởng “yên dân”
=> Từ tưởng “yên dân trừ bạo” là quan điểm lớn để lí giải cái đúng sai, thành bại mang quan điểm nhân dân, lòng yêu nước của NT xuyên suốt bài BNĐC
BÀI THAM KHẢO
Năm 1406 quân Minh xâm lược nước ta Ách đô hộ của giặc Minh đè nặng lên các tầng lớp nhân dân ta Năm 1416, ở đất Lam Sơn- Thanh Hoá, Lê Lợi và 18 người cùng chí hướng đã làm lễ ăn thề ở Lũng Nhai, nguyện sống chết cùng nhau đuổi giặc cứu nước Nguyễn Trãi- một tài năng xuất chúng, nổi bậc lên trong hàng ngũ tướng lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Ông đã góp công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh Trong niềm hân hoan của cả dân tộc, tháng 2 năm 1428 Bình Định Vương Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết “ Bình Ngô đại cáo” tuyên bố cuộc đấu tranh chính nghĩa đã thắng lợi
“Bình Ngô đại cáo” thắm đậm tư tưởng nhân nghĩa, là cội nguồn sức mạnh của cuộc kháng chiến
Nhân nghĩa là tư tưởng của dân tộc được hình thành và phát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử Mục đích của nhân nghĩa đã được khẳng định là “cốt để yên dân”, là bảo vệ hạnh phúc của nhân dân Hạnh phúc lớn nhất của dân là được sống trong môi trường hoà bình, yên ổn làm ăn, không lâm vào cảnh chết chóc ,đau thương
“Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trứơc lo trừ bạo”
Nhân nghĩa là tinh thần vì dân, là chính nghĩa của nhân dân, mang bản sắc dân tộc Nhân nghĩa ở đây không phải là lòng thương người một cách chung chung, mà nhân nghĩa là để an dân, trừ bạo ngược để cứu nước,cứu dân Muốn yên dân thì khi có giặc ngoại xâm trước tiên phải đứng lên chống giặc “trước lo trừ bạo”
Nhân nghĩa gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc:
“Nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã riêng
Trang 4Phong tục Bắc Nam cũng khác”
Đó là niềm tự hào dân tộc “…hào kiệt đời nào cũng có”, là truyền thống yêu chính trực, ghét gian tà, căm thù sâu sắc bọn giặc cướp nước, bán nước:
“Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây vạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”
Nhân nghĩa còn là sự chia sẻ, cảm thông với nổi khổ của người dân mất nước:
“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nổi rừng sâu nước độc
….
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng”
Nhân nghĩa là cội nguồn của cuộc sống Có nhân nghĩa thì thành công , không nhân nghĩa thì thất bại Bọn giặc Minh xâm lược đã:
“Dối trời, lừa dân đủ muôn nghìn kế
Gây binh, kết oán trãi hai mươi năm
Bại nhân nghĩa, nát cả đất trời”
Họ không có nhân nghĩa vì vậy cho nên phải chịu cảnh “ thây chết đầy đường”
“máu trôi đỏ nước” “ nhơ để ngàn năm”
Nhân nghĩa làm nên sức mạnh, vì nhân nghĩa quân ta đã:
“Đánh một trận, sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận, tan tác chim muông”
Quân ta chiến thắng vì đã:
“Đem đại nghĩa thắng hung tàn
Lấy chí nhân thay cường bạo”
Nhân nghĩa còn là tinh thần yêu chuộng hoà bình, công lý, tình nhân loại , là sự hiếu sinh, hiếu hoà, sự độ lượng bao dung thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả của dân tộc ta, đã
mở đường hiếu sinh cho kẻ thù khi chúng đã bị bại vong:
“Tướng giặc bị cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc.
Vương Thông ,Mã Anh phát cho vài nghìn cổ ngựa,
về đến nước mà vẫn tim đập chân run.”
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức”
Cuộc kháng chiến chống quân Minh diễn ra lâu dài với muôn vàn khó khăn gian khổ nhưng thể hiện tinh thần quật khởi của một dân tộc anh hùng
Tư tưởng nhân nghĩa trong “ Bình Ngô đại cáo ” thể hiện tinh thần nhân bản và giá trị nhân văn sâu sắc, là kim chỉ nam cho đường lối chính trị và quân sự của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Tư tưởng đó đã giúp cho Lê Lợi giương cao ngọn cờ chính nghĩa, hiệu triệu quần chúng tham gia đánh đuổi giặc Minh Nó biến thành sức mạnh to lớn đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
Đề bài 2 : Có ý kiến cho rằng, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một
“thiên cổ hùng văn” Qua việc phân tích tác phẩm, hãy làm sáng tỏ nhận định trên
Gợi ý :
Trang 5Bỉnh Ngô đại cáo của Nguyễn Trãilà áng văn bất hủ trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Đề yêu cầu phân tích tác phẩm đé làm sáng tỏ nhận định tác phẩm ấy là một “thiên cổ hùng văn”, tức là yêu cầu một sự phân tích theo hướng, không phải là sự phân tích chung chung Vì vậy, cần làm rõ về hoàn cảnh sáng tác, bố cục, thế loại, chủ đề của tác phẩm khi phân tích
1 Hoàn cảnh sáng tác
Sau 10 năm kháng chiến gian khổ và quyết liệt, tháng 1 nãm 1428, nhân dân ta dưới ngọn cờ của Lê Lợi, đã đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước Sau chiến thắng, Lê Lợi tổ chức phong thưởng cho tướng lĩnh và chính thức lên ngôi hoàng đế Nguyễn Trãi thay mặt nhà vua viết Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô) để tuyên bố cho toàn dân biết rõ công cuộc cứu nước, trải qua nhiều nguy nan đã thắng lợi, từ đây dân tộc bước vào một
kỉ nguyên mới, kỉ nguyên hòa bình, thống nhất
2 Tựa đề
Tác phẩm của Nguyễn Trãi có tên là Đại cáo bình Ngô, nghĩa là tuyến cáo rộng rãi
về việc dẹp yên giặc Ngô Tên Bình Ngô đại cáo là cách đảo lại tựa đề cho dễ hiếu, chứ chưa hẳn là dịch Chữ Ngô ở đây là cách gọi của người Việt xưa đối với thế lực phong kiến phương Bắc, với sắc thái coi khinh Trong tác phẩm, quân Ngô chính là giặc Minh
3 Thể loại
– Bài văn được viết theo thể cáo, thế văn biền ngẫu, thường ra đời nhằm công bố sự kiện trọng đại của quốc gia hoặc sau một cuộc kháng chiến lâu dài Đây là văn kiện chính luận, không phải lúc nào người ta cũng dùng
– Kiểu câu trong văn biền ngẫu: tứ tự, bát tự, song quan, cách cú, gối hạc
4 Bố cục
– Phần 1 (từ đầu đến chứng cớ còn ghi): nêu chính nghĩa của cuộc kháng chiến – Phần 2 (Vừa rồi… chịu được): tố cáo tội ác của giặc Minh
– Phần 3: thuật lại quá trình kháng chiến
– Phần 4 (Xã tắc … Ai nấy đều hay): tuyên bố kết thúc chiến tranh mở ra kỉ nguyên hòa bình, khẳng định địa vị, tư thế của đất nước
5 Phân tích
5.1 Nêu lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến
– Tư tưởng nhân nghĩa:
Việc nhân dân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
+ Đập lại luận điệu của quân Minh
+ Cuộc chiến của ta vì dân -> nội dung khác, cụ thể hơn (liên hệ)
+ Giải thích -> chiến đấu vì trừ bạo -> quân Minh, bọn tay sai
=> Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp
mà là một tư tưởng xã hội: phải chăm lo cho dân được sống có hạnh phúc, yên bình – Tư cách độc lập của dân tộc:
+ Biểu hiện: tên đất nước, nền văn hóa riêng, bờ cõi, phong tục, nền chính trị, nhân tài
=> Khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia (so với các tác phẩm trước Nam quốc sơn
hà, Hịch tướng sĩ)
+ Giọng văn: sảng khoái, tự hào
+ Cách viết: câu văn biền ngầu “Từ Triệu, Đình, Lí, Trần… Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên ” -> bình đẳng, ngang hàng (đế)
=> Cuộc chiến đấu của ta là chính nghĩa
5.2 Tố cáo tội ác của giặc Minh
Trang 6– Liệt kê hàng loạt:
Khủng bố (thiêu sống, chôn sống), bóc lột (thuế má: nặng thuế khóa; phu phen: những nỗi phu phen nay xây mai đập đất…; dâng nạp: dòng lưng mò ngọc, đãi cát tìm vàng, bắt dò chim trả, bắt bẫy hươu đen…; diệt sản xuất: tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ; diệt sự sống: “Nheo nhóc thay kẻ góa bụi khốn cùng…”
– Tội ác man rợ nhất của giặc Minh được miêu tả trong câu:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Đây là hình ảnh vừa cụ thể, lại vừa khái quát như một lời cáo trạng, lời buộc tội
=> Lột tả tội ác tày trời của giặc, làm rõ sự bất nhân phi nghĩa của bọn chúng Đó cũng là lí do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến
5.3 Lược thuật cuộc kháng chiến
5.3.1 Buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa
– Hình tượng trung tâm là anh hùng Lê Lợi (Ta đây…)
+ Tập trung miêu tả về nội tâm: ngẫm, đau lòng nhức óc, nếm mật nằm gai, giận, suy xét, đắn đo, trằn trọc, băn khoăn
=> Chân dung tâm trạng Lê Lợi: lòng yêu nước, căm thù giặc, quvết tâm cao, nung nấu nghiền ngầm chí lớn, là người nhìn xa trông rộng
+ Hình tượng Lê Lợi có sự gởi gắm tâm trạng của Nguyễn Trãi, của toàn dân-> chân thực, xúc động
– Khó khăn trong buổi đầu kháng chiến:
+ Chênh lệch về lực lượng: ta yếu, địch mạnh
+ Thiếu thốn về vật chất
+ Hiếm nhân tài
– Vì sao vượt qua được?
+ Ý chí, tấm lòng cầu hiền
+ Có chiến lược, chiến thuật đúng đắn, đánh bất ngờ, đánh nhanh
+ Dựa vào sức mạnh nhân dân
+ Lấy nhân nghĩa làm cơ sở
– Giọng điệu: trầm lắng, suy tư
5.3.2 Lược thuật chiến thắng
– Diễn tả của trận đánh qua 3 bước
+ Phản công: –
Bồ Đằng – Trà Lân -> bất ngờ; câu văn ngắn, chắc, hình ảnh bất ngờ: sấm vang chớp giật, trúc chẻ tro bay
Giặc: sợ hãi
+ Tiến công:
Tây Kinh, Đông Đô-> nơi đầu não của giặc
Trận chiến ác liệt -> hình ảnh máu chảy thành sông, thấy chất đầy nội, giặc thất bại thảm hại,
Mưu phạt tâm công dùng ngọn cờ chính nghĩa, dùng mưu trí và thu phục lòng người
+ Đánh quân cầu viện:
Giặc tiến sang rầm rộ (câu văn dài) hai mũi tiến công từ Khâu Ôn và Vân Nam Ta: đánh bất ngờ, dứt khoát: chặt, tuyệt.
Nhịp văn ngắt bất ngờ
Liệt kê-> chiến thắng dồn dập
Hình ảnh đối lập giữa ta và giặc
Trang 7=> Khắc họa sự thất bại thảm hại của kẻ thù và sức mạnh, khí thế của quân ta Giọng điệu: sảng khoái, hào hùng khi khắc họa tư thế của những người chiến thắng – Thái độ nhân nghĩa yêu chuộng hòa bình:
Giọng văn chậm rãi, khoan thai
Tha chết cho kẻ thù, cấp ngựa và thuyền để về nước
Muốn nhân dân nghỉ sức
Tính kế lâu dài
5.4 Tuyên bố hòa bình
– Giọng văn vui mừng, tin tưởng vào hòa bình lâu dài (Giang sơn từ đây đổi mới… Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu)
– Một loạt các từ tả vũ trụ -> cảm hứng độc lập dân tộc được nâng lên gắn liền với cảm hứng vũ trụ bao la vĩnh hằng Mặt khác thể hiện ý thức về sự thiêng liêng tôn kính lịch sử
6 Chủ để
Bình Ngô đại cáo là bản tổng kết về cuộc kháng chiến vĩ đại, nêu cao lòng tự hào, niềm hân hoan vô hạn trước thắng lợi của chính nghĩa, ca ngợi tài năng lãnh đạo, cả khí phách hào hùng của dân tộc
7 Kết luận
– Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có nên mãi mãi là áng thiên cổ hùng vãn
– Bài cáo thể hiện năng lực cấu trúc tác phẩm, nghệ thuật đạt đến trình độ hoàn chỉnh, năng lực tư duy hình tượng sắc sảo, biến hóa, hấp dẫn phù hợp với cảm hứng chủ đạo của tác phẩm
Gợi ý 2 :
*Giải thích “Thiên cổ hùng văn”; áng văn hùng tráng cả nghìn đời còn lưu truyền Vì:
– Nội dung thể hiện một tinh thần yêu nước mãnh liệt, tinh thần chiến đấu hết sức mạnh mẽ quyết liệt, khí thế hào hùng, lòng căm thù giặc sôi sục
– Ghi lại một thời kì đau thương mà oanh liệt của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Minh với những chiến lược chiến thuật hết sức đúng đắn và sáng tạo đã đem lại những trận đánh long trời lở đất làm cho quân thù phải khiếp sợ, đẩy chúng đến sự thất bại toàn diện và nhục nhã
– Với nghệ thuật xuất sắc: lời văn biền ngẫu hùng tráng, hơi văn cuồn cuộn như bão giông, sóng lớn, từ ngữ sắc bén như những nhát dao chém vào quân xâm lược, phép đối kết hợp với cấu trúc câu của loại phú cận thể tạo nên tiết tấu mạnh mẽ thể hiện cảm xúc hào sảng bừng bừng trong huyết quản của tác giả ngay trong những ngày nghĩa quân Lam Sơn thắng trận giòn giã
◊ Bài cáo mãi là âm vang hào hùng trên non sông đất Việt và ghi lại được ý chí, khát vọng chiến thắng, hoà bình, độc lập của toàn dânvì:
– Vì đã khẳng định được quyền tự chủ và ý chí chiến đấu đến cùng để giành quyền
tự chủ của dân tộc trước một tên xâm lược sừng sỏ nhất châu Á
– Bài cáo còn nêu cao tư tưởng nhân nghĩa để khẳng định đạo lí ngàn đời của nhân dân VN
– Sự bất hủ của bài cáo còn là do thiên tài nghệ thuật của NT
– Sự tồn tại vượt thời gian của bài cáo còn có sự góp phần của dịch giả -> bài dich chữ Nôm quả là một công trình dịch thuật xuất sắc
*Chứng minh:
Trang 8– BNĐC là bản hùng ca xuất sắc về nội dung và nghệ thuật:
+ Ca ngợi đất nước và dân tộc với lối văn trong sáng tràn đầy sức mạnh của lòng tự tin và tự hào : “Như nước ĐV… còn ghi”
+ Một bản cáo trạng đanh thép về tội ác của quân xâm lược “Nướng… chịu được” -> thể hiện lòng căm thù sôi sục của tác giả:
◊ Nỗi niềm trăn trở âu lo cho vận mệnh của đất nước thể hiện tình yêu nước thương dân sâu sắc “ Ngẫm thù lớn… đồ hồi”
◊ Cảm xúc dạt dào khi có cơ hội khởi nghĩa, khi tập hợp được lực lượng nhân dân, khi lực lượng nghĩa quân đã phát triển: “nhân dân bốn cõi…phới”
◊ Chiến lược, chiến thuật tài tình và chiến thắng vang dội là trọng tâm làm nên cảm xúc vừa mãnh liệt vừa trữ tình cho áng văn chương bất hủ: “Thế trận xuất kì lấy yếu chống mạnh…” , “Đem đại nghĩa…tàn”
+ Các câu tường thuật chiến thắng là những lời hào hùng nhất như có sức mạnh xô núi, lấp biển “ Trận Bồ Đằng….ngàn năm”, “Ngày mươi tám…”, “ Gươm mài đá….” + Kết thúc bài cáo là những lời ca trang trọng và tươi vui nhất, là niềm hạnh phúc dạt dào
=> Tư tưởng nhân nghĩa là nguồn gốc của giá trị văn chương, là cái bệ phóng để đưa tác phẩm từ quá khứ vào tương lai và trường tồn mãi mãi
Đề 3: Tinh thần nhân đạo thể hiện trong Đại cáo bình Ngô.
Gợi ý :
– Nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo của người Việt Nam, từ cội nguồn văn học dân gian, chịu ảnh hưởng của
tư tưởng nhân văn tích cực vốn có của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại được thể hiện phong phú, đa dạng ở lòng thương người, lên
án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên con người, đồng thời khẳng định, đề cao con người về mối quan hệ đạo đức, lối sống tốt đẹp giữa người với người Trong tác phẩm
“Bình Ngô đại cáo”, những đặc điểm trên đã được Nguyễn Trãi thể hiện hết sức điêu luyện, và phải là một người thực sự có tâm với nước với dân thì mới có thể viết được như vậy
– Tội ác của giặc Minh nhiều không kể xiết, chúng không từ bất kì một thủ đoạn nào để cướp nước ta Trong “Bình Ngô đại cáo” tội ác bất dung của chúng đã được Nguyễn Trãi tái hiện lại hết sức chi tiết khiến cho người đọc cũng cảm thấy rùng mình và khiếp sợ
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
không dừng ở đó chúng còn đặt ra hàng trăm nghìn thứ thuế để bóp cổ dân ta, bắt dân ta kẻ bị vào chốn “Rừng sâu nước độc” để “Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng”, “Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng- khốn nỗi rừng sâu nước độc”, “Kẻ bị đem xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng” Vô cùng căm phẫn trước tình cảnh đất nước lầm than, Nguyễn Trãi không thể nào ăn ngon ngủ yên, ông luôn trằn trọc nghĩ suy cho vận mệnh đất nước, cho nỗi cơ cực kinh hoàng của nhân dân:
“Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh”
Trang 9– Tinh thần nhân đạo của Nguyễn Trãi không chỉ bó hẹp ở chỗ thương dân, mà nó còn lan rộng ra thành lòng độ lượng từ bi, sẵn sàng mở lượng khoan hồng, cùng với Lê Lợi cung cấp lương thực, thuyền bè và những phương tiện cần thiết khác hỗ trợ cho giặc Minh bị thất trận, đầu hàng về nước Không những không đuổi cùng giết tận bọn giặc hung tàn, nghĩa quân Lam Sơn còn ban cho họ một cơ hội sống thứ hai vì họ đã xin đầu hàng Lê Lợi đã kết thúc chiến tranh,”mở đường hiếu sinh” trao trả cho nhà Minh hàng chục vạn tù binh
“Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉsức”
– Khởi nghĩa để “trừ bạo ” và “yên dân “, kết thúc chiến tranh để chấm dứt đổ máu,
để bảo vệ “toàn quân “, “để nhân dân nghỉ sức “
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Vô vàn những tội ác dã man, khốc liệt mà giặc Minh đã nhẫn tâm đè nặng lên dân
ta, khiến dân ta phải sống trong cảnh địa ngục trần gian, đất nước ta bị chia cắt, đau khổ, uất hận không sao kể hết Nhưng khi cuộc chiến tranh cứu nước giành thắng lợi, giặc Minh tháo chạy, đầu hàng, ta không tính toán món nợ oán thù mà còn đưa tay cứu vớt, cho họ một con đường quay đầu là bờ, đối đãi với họ bằng nhân nghĩa, “ lấy chí nhân để thay cường đạo” Dân ta chỉ mong muốn tạo dựng một cuộc sống ấm no, đất nước yên
ổn, hòa bình, an cư lạc nghiệp chứ không muốn tạo thêm oán thù biết trả đến đời nào xong
Đề 4: Đặc sắc nghệ thuật của Bình Ngô đại cáo.
Gợi ý:
– Thể loại: thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm
– Ngôn từ chỉ dành cho việc ghi chép lại quá trình chiến đấu gian khổ và chiến thắng của quân dân ta và quá trình thất bại dẫn đến thảm bại hoàn toàn của quân Minh Giá trị sử học của đoạn văn này rất nổi bật thể hiện ở sự ghi chép trung thực nhiều sự kiện lịch sử và khái quát sâu sắc nhiều chân lý lớn của thời đại Bên cạnh đó nghệ thuật sáng tạo văn chương của tác giả cũng hết sức xuất sắc Những chặng đường chính của quá trình chinh chiến hàng chục năm được kể lại tường tận mà không bề bộn vì bút pháp của tác giả rất linh hoạt: vừa kể lại những chiến thắng của quân ta, vừa đúc kết những nguyên lý quân sự và những chân lý nhân sinh; vừa tự sự về những thất bại liên tiếp của quân giặc vừa kết hợp luận tội chúng, đặt chúng trong sự tương phản với quân ta Sự lúng túng, thất bại của quân xâm lược không chỉ thấy qua những sự kiện mà còn thể hiện bằng những bức biếm họa từ vua quan đến tướng sĩ phương Bắc
– Văn biền ngẫu chỉ yêu cầu cơ bản là mỗi câu gồm hai vế cân xứng còn độ dài câu văn, sự ngắt nhịp là do cảm quan của từng người viết Nguyễn Trãi rất linh hoạt chính ở chỗ đầy bó buộc này Nhạc tính của câu văn Bình Ngô đại cáo đa dạng, phù hợp với nội dung câu văn tự sự, trữ tình hay nghị luận Ông tuyên ngôn bằng câu súc tích, chắc nịch Ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang Miêu tả tội ác quân thù, ông lại sử dụng
Trang 10thủ pháp trùng điệp, như cố ghi hết tội ác to lớn, trời không dung, đất không tha của chúng
– Nghệ thuật miêu tả các trận đánh dùng lối đặc tả, rất biến hóa, lúc ghi lại hình ảnh thảm bại, thảm họa của lũ tướng tá Thiên triều, lúc thì miêu tả cảnh chiến trường rùng rợn Kết cấu tương phản đối lập được tác giả vận dụng sáng tạo để làm nổi bật giữa ta và địch, chính nghĩa và phi nghĩa, đại thắng và đại bại… Cách dùng từ, sáng tạo hình ảnh, các biện pháp đối xứng và thậm xưng cho thấy một bút pháp nghệ thuật kỳ tài, tạo nên
âm điệu anh hùng ca “Bình Ngô đại cáo ” là khúc ca thắng trận vô cùng oanh liệt, cho ta bao xúc động tự hào:
“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn
Đánh một trận, sạch không kinh ngạc,
Đánh hai trận, tan tác chim muông…”
– Sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước
“Bình Ngô đại cáo “cho ta thấy một bút lực và tài học vô song của ức Trai Cáo là một thể văn cổ điển rất trang nghiêm, để thông báo cho toàn dân một sự kiện quan trọng
Sự nghiệp “bình Ngô ” kéo dài trong 10 năm trời Quân và dân ta trải qua muôn vàn gian lao thử thách, lập bao chiến công lẫy lừng…, từ những tháng năm lầm than đến ngày toàn thắng “bốn phương biển cả thanh bình “, thế mà Nguyễn Trãi đã viết một cách hàm súc: bài đại cáo chỉ dài 1343 chữ Cảm hứng nhân nghĩa, cảm hứng anh hùng và khát vọng độc lập, hoà bình đã tạo nên tầm vóc văn chương, màu sắc sử thi của bài đại cáo bình Ngô, bản anh hùng ca Đại Việt Ngòi bút nghệ thuật của Nguyễn Trãi rất biến hóa trong miêu tả và tự sự, trong trữ tình và bình luận, vừa sắc sảo và thấm thía, vừa đa thanh; lúc thì đĩnh đạc, hào hùng, trang nghiêm, lúc thì thắm thiết căm giận, lúc thì mạnh mẽ, hùng tráng… Đất nước và con người Đại Việt được nói đến trong bài đại cáo là một đất nước, một nhân dân văn hiến, anh hùng
– Bình Ngô đại cáo được viết để bố cáo việc hoàn tất một chiến công vệ quốc vĩ đại, bởi vậy đương nhiên phần lớn ngôn từ sẽ dành cho việc ghi chép lại quá trình chiến đấu gian khổ và chiến thắng của quân dân ta và quá trình thất bại dẫn đến thảm bại hoàn toàn của quân Minh Giá trị sử học của đoạn văn này rất nổi bật thể hiện ở sự ghi chép trung thực nhiều sự kiện lịch sử và khái quát sâu sắc nhiều chân lý lớn của thời đại
– Bên cạnh đó nghệ thuật sáng tạo văn chương của tác giả cũng hết sức xuất sắc Những chặng đường chính của quá trình chinh chiến hàng chục năm được kể lại tường tận mà không bề bộn vì bút pháp của tác giả rất linh hoạt: vừa kể lại những chiến thắng của quân ta, vừa đúc kết những nguyên lý quân sự và những chân lý nhân sinh; vừa tự sự
về những thất bại liên tiếp của quân giặc vừa kết hợp luận tội chúng, đặt chúng trong sự tương phản với quân ta Sự lúng túng, thất bại của quân xâm lược không chỉ thấy qua những sự kiện mà còn thể hiện bằng những bức biếm họa từ vua quan đến tướng sĩ phương bắc
– “Bình ngô đại cáo ” còn là một bản tổng kết chiến tranh 10 năm Tác giả đã tái hiện lại toàn bộ diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu cờ nghĩa mới phất