1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức của Triết học Mác Lênin làm rõ sai lầm của bệnh chủ quan, duy tâm, duy ý chí.

10 542 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 27,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi đất nước có một hoàn cảnh riêng về điều kiện tự nhiên, xã hội, những điều kiện này ảnh hương rất lớn tới sự phát triển kinh tế , xã hội của mỗi nước vì vậy muốn phát triển kinh tế , xã hội mỗi nước cần có những chính sách đường lối phát triển kinh tế , xã hội phù hợp với hoàn cảnh của nước đó , nhưng trong một thời kì lịch sử một giai đoạn cũng có những điểm riêng biệt , vì vậy cần phải có các chính sách vừa mang tính trước mắt , vừa mang tính chiến lược lâu dài với hoàn cảnh đó. Việt Nam là một đất nước mà hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động, chiến tranh kéo dài không những gây thiệt hại về tài sản mà còn mất mát về người, người dân bị ảnh hưởng tư tưởng của thực dân phong kiến, cho nên khi đất nước ta dành được độc lập và tiến lên xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa đã gặp không ít những khó khăn ,những khó khăn này một mặt do khách quan đem lại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong thực tiễn cách mạng của nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất lớn, tuy nhiên trong quá trình đó chúng ta cũng không gặp khó khăn trong việc thử thách, có những điều đó giai đoạn phát triển nhưng cũng có lúc mạnh mẽ phát triển, có bước tiến nhưng cũng có bước lùi. Nguyên nhân đến những lúc ôn hòa, những bước tiến trên có những phần bắt nguồn từ các căn bệnh bị rớt lại trong một số ít viên của ta. Đó là các căn bệnh chủ quan, duy tâm, duy ý chí.

Trang 1

Mở đầu:

Mỗi đất nước có một hoàn cảnh riêng về điều kiện tự nhiên, xã hội, những điều kiện này ảnh hương rất lớn tới sự phát triển kinh tế , xã hội của mỗi nước vì vậy muốn phát triển kinh tế , xã hội mỗi nước cần có những chính sách đường lối phát triển kinh tế , xã hội phù hợp với hoàn cảnh của nước đó , nhưng trong một thời kì lịch sử một giai đoạn cũng có những điểm riêng biệt , vì vậy cần phải có các chính sách vừa mang tính trước mắt , vừa mang tính chiến lược lâu dài với hoàn cảnh đó Việt Nam là một đất nước mà hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động, chiến tranh kéo dài không những gây thiệt hại về tài sản mà còn mất mát

về người, người dân bị ảnh hưởng tư tưởng của thực dân phong kiến, cho nên khi đất nước ta dành được độc lập và tiến lên xây dựng đất nước theo con

đường xã hội chủ nghĩa đã gặp không ít những khó khăn ,những khó khăn này một mặt do khách quan đem lại Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong thực tiễn cách mạng của nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất lớn, tuy nhiên trong quá trình đó chúng ta cũng không gặp khó khăn trong việc thử thách, có những điều đó giai đoạn phát triển nhưng cũng có lúc mạnh

mẽ phát triển, có bước tiến nhưng cũng có bước lùi Nguyên nhân đến những lúc ôn hòa, những bước tiến trên có những phần bắt nguồn từ các căn bệnh bị rớt lại trong một số ít viên của ta Đó là các căn bệnh chủ quan, duy tâm, duy ý chí

Chương 1: Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (tr1)

1.1 Vật chất (1)

Vật chất là phạm trù rất phức tạp và có rất nhiều quan niệm khác nhau về vật chất đứng trên các giác độ khác nhau Nhưng theo Lênin định nghĩa: ” Vật chất

là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất, không thể làm theo cách thông thường

là quy một khái niệm cần định nghĩa sang một khái niệm khác rộng hơn vì khái niệm vật chất là một khái niệm rộng nhất Để định nghĩa vật chất, Lênin đó đối lập vật chất với ý thức, vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, vất chất tồn tại độc lập đối với cảm giác, với ý thức, còn cảm giác, ý thức phụ thuộc vào vật chất, phản ánh vật chất

1.1.1 Vật chất là một phạm trù triết học.(1)

“Vật chất” ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất trong lĩnh vực vật

lý, hóa học, sinh học (nhôm, đồng, H2O, máu, nhiệt lượng, từ trường…) hay ngành khoa học thông thường khác… Cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô tô, xe máy…)

Trang 2

“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn Đến nay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất Ta không thể “nhét” vật chất này trong một khoảng không gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó

1.1.2 Vật chất là thực tại khách quan.(2)

Vật chất tồn tại khách quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của con người “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất

Dù con người đã nhận thức được hay chưa, dù con người có mong muốn hay không thì vật chất luôn tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ

1.1.3 Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.(2)

Vật chất, tức là thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác (nói rộng ra là ý thức) Như thế, vật chất “sinh ra trước”, là tính thứ nhất Cảm giác (ý thức) “sinh

ra sau”, là tính thứ hai

Do tính trước – sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý thức lệ thuộc vào vật chất

Trước khi loài người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn tại nhưng chưa có ý thức vì chưa có con người Đây ví dụ cho thấy vật chất tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý thức

Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người Đây là ví dụ cho thấy ý thức lệ thuộc vào vật chất Như thế, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo

1.1.4 Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.(03) Vật chất là một phạm trù triết học, tuy rộng đến cùng cực nhưng được biểu hiện qua các dạng cụ thể (sắt, nhôm, ánh sáng mặt trời, khí lạnh, cái bàn, quả táo…)

mà các giác quan của con người (tai, mắt, mũi…) có thể cảm nhận được

Giác quan của con người, với những năng lực vốn có, có thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn tại của vật chất, tức là nhận thức được vật chất Sự chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện

Nói rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là

sự phản ánh, là hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người

1.1.5 Các đặc tính của vật chất (03)

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất

Trang 3

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vận động là mọi sự biến đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển định vị trí trong không gian, Anghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất nó bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,

kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy

Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong quá trình vận động không ngừng Không thể có vật chất không vận động, tức là vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình Hay nói cách khác vận động là phương thức tồn tại của vật chất Anghen nhận định rằng và các rạng khác nhau của vật chất chỉ có thể tồn tại thông qua vận động chỉ thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của vật thể

Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản đến thế giới vi mô đến các hệ thống hành tinh khổng lồ trong thế giới vĩ mô từ vô cơ đến hữu cơ, đến xã hội loài người, tất cả luôn ở trạng thái vận động Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những nhân tố, những bộ phận, những xu hướng khác nhau, cùng tồn tại, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau Sự tác động qua lại đó gây ra biến đổi Nguồn gốc của vận động là do những nguyên nhân bên trong, vận động của vật chất là tự thân vận động

Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bên ngoài vật chất, vận động không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó vận động được bảo toàn cả về số lượng lẫn chất lượng Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nao đó của sự vật nhất định mất đi thì tất yếu nó nảy sinh ra một hình thức vận động khác thay thế nó Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau, còn vận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễn tồn tai với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất

Mặc dù vật chất luôn ở trong quá trình vận động không ngừng nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối không có hiện tượng đứng im tương đối thì không có sự phân hóa thế giới vật chất thành các

sự vật và hiện tượng phong phú và đa dạng Anghen khẳng định rằng khả năng đứng im tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hóa vật chất

Nếu vận động là sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng thì sự đứng im là sự ổn định, là sự bảo toàn tính qui định của các sự vật hiện tượng Đứng Im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi của sự ổn định, chưa biến đổi Đứng im chỉ là tạm thời và nó chỉ xảy ra trong một thời gian nhất định Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng nhưng vận động toàn thể lại phân loại sự cân bằng riêng biệt thành các sự vật, hiện tượng luôn thay đổi chuyển hoá cho nhau

Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, có hình hình thức kết

Trang 4

cấu, có độ dài, ngắn, cao, thấp Không gian biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau, biểu hiện khoảng tính của chúng, trật tự phân bố chúng

Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm, kế tiếp nhau theo một trật tự nhất định Thời gian biểu hiện tốc độ và trình

tự diễn biến của các quá trình vật chất, tính cách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của các quá trình đó, sự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiên tượng Không gian và thời gian là hình cơ bản của vật chất đang vận động

1.2 ý thức (06)

Cũng như vật chất có rất nhiều các quan niệm về ý thức theo các trường phái khác nhau Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật ở đây khẳng định rằng ý thức

là đặc tính là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ Mác nhấn mạnh rằng tinh thần, ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc của con người và được cải biến ở trong đó

Ý thức là một hiện tõm lớ xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm ý thức, tri thức, tìm cảm, ý chí trong đó tri thức là quan trong nhất là phương thức tồn tại của ý thức

Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với nhau trong quá trình nhận thức của con người và cải biến thế giới tự nhiên Tri thức càng được tích luỹ con người ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, tính năng động của ý thức cũng nhờ đó mà tăng hơn

Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng của ý thức Chủ nghĩa duy tâm coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó, có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện quan hệ

xã hội Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý thức hướng

về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ thế giới bên ngoài

Vô thức là một hiện tượng tõm lớ nhưng có liên quan đến những hoạt động xảy

ra ở ngoài phạm vi của ý thức Có hai loai vô thức: Loại thứ nhất liên quan đến hành vi chưa được con người ý thức; loai thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nờn đó trở thành thói quen, có thể diễn ra “Tự động” bên ngoài sư chỉ đạo của ý thức Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người Trong những hoàn cảnh nào đó nó có thể giúp con người bớt sự căng thẳng trong hoạt động

1.2.1: Nguồn gốc của ý thức(07)

*Nguồn gốc tự nhiên:

Trang 5

Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vất chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lí thần kinh của của bộ não con người Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não và ý thức là chức năng của bộ não, bộ não là khí quan của ý thức Sự phụ thuộc của ý thức vào sự hoạt động của bộ não thể hiện ở chỗ khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Tuy nhiên, không thể qui một cách đơn giản ý thức về các quá trình sinh lí bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh Ý thức

là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người Sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự phát triển đặc tính của phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với sự phát triển của thế giới tự nhiên Sự xuất hiện của con người và xã hội loài người đưa lại hình thức của sự phản ánh, đó là sự phản ánh ý thức

Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội

*Nguồn gốc xã hội:

Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội

Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo

tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích của bản thân con người Chính nhờ lao động, con người và xã hội mới hình thành và phát triển Chính nhờ lao động, con người và xã hội mới hình thành và phát triển Lao động là phương thức tồn tại đầu tiên của con người, lao động đồng thời ngay từ đầu đã liên kết những con người với nhau trong những quan hệ khách quan, tất yếu, mối quan

hệ này đến lượt nó lại làm nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động, nhu cầu ” Cần phải có với nhau một cái gì” Và kết quả là ngôn ngữ ra đời Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy

Với sự xuất hiện ngôn ngữ, tư tưởng của con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp, trở thành tính hiệu vật chất tác động đến giác quan con người và gây ra cảm giác Nhờ có ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm lẫn nhau truyền đạt kinh nghiệm cho nhau Thông qua đó

mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lai, ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân Ngôn ngữ đã trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu được của sự trừu tượng hoá, tức là quá trình hình thành, thực hiện ý thức

và chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng, đồng thời tổng kết được hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử

1.2.2 Bản chất của ý thức(09)

Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội

Trang 6

Bản tính phản ánh thể hiện thông tin về thế giới bên ngoài là biểu thị nội dung nhân được từ vật gây ra tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh

Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền lao động, với hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể thiếu được của hoạt động đú Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó khụng chụp lại một cách thụ động, nguyên xi sự vật mà phản ánh gắn liền với cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với xử lí thông tin Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện

ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan, ở quá trình chủ động tác động vào thế giới để phản ánh thế giới đó

Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời Không cú phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở sáng tạo Ngược lại không có sự sáng tạo thì không phải là phản ánh ý thức Đó là mối quan hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhập và xử lí thông tin, là sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan trong ý thức

Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người Hoạt động đó không phải là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội

ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội Ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội và hoàn cảnh, về những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan, về mối liên hệ giữa người và người trong xã hội Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội cùng các quy luật tồn tại của xã hội đú…Và

ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng của ý thức xã hội Bản thống nhất nó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở mối quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tao thế giới của con người

1.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức(10)

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng Trong mối quan

hệ này, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức không hoàn toàn thụ động mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

1.3.1 Vai trò của vật chất đối với ý thức(10)

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:

Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất,

là sản phẩm của thế giới vật chất Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách

Trang 7

quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức

Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật

xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định

cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức

1.3.2 Vai trò của ý thức đối với vật chất(11)

Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của

ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương huớng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v để thực hiện mục tiêu của mình Ở đây, ý thức

đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiền của con người

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo - đó là sự tác động tích cực cúa ý thức Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động ấy sẽ

có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả

Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức có thể thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ

có khả năng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người hành động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức

Trang 8

Chương 2 Bệnh chủ quan duy ý chí (13)

1 khái niệm bcqdyc (13)

là căn bệnh có khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém về tri thức khoa học Đây là lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan; thể hiện rõ trong khi định ra những chủ trương, chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức họat động thực tiễn theo hướng áp đặt, rơi vào ảo tưởng, chủ quan Ví dụ như : mục tiêu đặt ra quá cao, biện pháp không có tính khả thi v.v Ngòai ra bệnh chủ quan duy ý chí còn do nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối Cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của căn bệnh này căn bệnh này xuất phát từ khuynh hướng sai lầm, cực đoan trong việc nhận thức mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Nguyên nhân của bệnh chủ quan duy ý chí chủ trương tiến nhanh, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không nhận xét đúng đắn về tình hình kinh tế - xã hội thời kỳ

đó với mục đích đúng đắn là nhanh chóng nâng cao hiệu quả sản suất nông nghiệp, xong biện pháp và bước đi lại quá nóng vội, chúng ta đã quá vội tiến hành hợp tác hoá và xây dựng các hợp tác xã bậc cao mà không tuân theo qui luật khách quan; chưa tính đếm một cách đầy đủ hoàn cảnh cụ thể của đất nước

ta , chưa xem sự phát triển kinh tế - xã hội như một hiện tượng một sự việc để

có nhìn triết học mang tính khái quát về nó , không nhìn nhận sự phát triển kinh

tế xã hội theo nhiều trường phái

2 Những sai lầm của bệnh chủ quan duy tâm, duy ý chí:

Chúng ta đã biết giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, thể hiện qua vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức và tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất

Vật chất là cơ sở, cội nguồn sản sinh ra ý thức Vật chất là cái có trước, nó sinh

ra ý thức, quyết định nội dung và xu hướng phát triển của ý thức Không có vật chất thì không thể có ý thức bởi vì nguồn gốc của ý thức chính là vật Tuy nhiên, mặc dù do vật chất sinh ra và quy định nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối Sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh sáng tạo chủ động chứ không thụ động máy móc nguyên si, vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Tuy vậy, sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với mức độ nhất định, nó không thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất

Trước thời kỳ đổi mới Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan duy ý chí và bảo thủ trì trệ trong việc xác định mục tiêu và hướng đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế Đảng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, chỉ còn lại hai thành phần là : kinh tế quốc doanh và tập thể; hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà

Trang 9

không chú ý đến phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp trong khi nước ta là một nước nông nghiệp, tất cả những điều kiện vật chất khách quan đều thuận lợi

để phát triển nông nghiệp; Đồng thời đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, cơ chế xin – cho, có nhiều chủ trương sai lầm trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương; công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiệm trọng Từ đó đã kìm hãm sự phát triển kinh tế –

xã hội, làm cho nhân dân bị nghèo nàn, đất nước lạc hậu, hạn chế việc phát huy các nguồn lực, chậm khai thác tiềm năng xây dựng đất nước

Dưới đây là những sai lầm cụ thể :

• Về đánh giá tình hình, xách định mục tiêu và bước đi,: việc đánh giá tình hình

cụ thể về các mặt kinh tế - xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót , đó là sai lầm trong việc xách định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý với tư tưởng chủ quan nong vội muốn

bỏ qua những bước đi cần thiết : “Trong 5 năm từ 1976-1980 trên thực tế chúng

ta đã chủ trương dẩy mạnh công nghiệp hoá trong khichưa có đủ các tiền đề cần thiết :”

• Về bố trí các cơ cấu kinh tế: ta có sai lầm trong bố tri cỏ cấu kinh tế , thường xuất phát từ thực tế đi nhanh không tính đến điều kiện và khả năng thục tế ,thiên

về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình có quy mô lớn , kết quả là đầu tư nhiều nhưng không hiệu q uả trong khi đó chưa chuẩn bị các điều kiện cần thiết ddể xây dựng công nghiệp nặng , tình trạng này làm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân rơI vào tình trạng rối ren và bị mất cân đối một cách nghiêm trọng

• Về cải tạo xã hội chủ nghĩa ;trong lĩnh vực này cũng có những sai lầmbiểu hiện

ở chỗ nóng vội muốn xoá ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa nhanh chóng bíên tư bản tư nhân thành quốc doanh ,trong cải tạo cách làm thường gò ép , chay theo số lượng coi nhẹ chất lượng và hiệu quả và buông lỏng quản lý Về cơ chế quản lý kinh tế ; cơ chế quan liêu bao cấp đã gây ra tác hại nhiều năm , nhiều chính sách lỗi thời chưa được sửa đổi

• Về cơ ché mới ; chúng ta chưa đưa ra được phương hướng nội dung ,hình thức, bước đi, cách làm cụ thể chưa rõ, thể chế quản lý chắp vá thiếu đồng bộ không ăn khớp ,thậm chí còn mâu thuẫn Do chậm đổi mớ cơ chế và bộ maý quản lý, nên không tạo được sự thống nhất giữa các cơ quan chức năng , từ trung ương đến các địa phương.Như vậy hệ thống quản lý kinh tế của nước ta còn non trẻ ,thiếu kinh nghiệm

.• Về phân phối lưu thông ;trong lĩnh vực phân phối lưu thông luôn luôn rối ren , lạm phát xẩy ra , phân phối lưu thông chưa cân đối giữa các vùng

.• Về thực hiện chuyên chính vô sản ; chuyên chính vô sản bị buông lỏng pháp luật và kỉ cương ngày càng bị vi phạm , những sai lầm về chính sách phát triển kinh tế- xã hội làm cho kinh tế phát chậm, đây chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân

Trang 10

Để khắc phục căn bệnh nêu trên, cần thực hiện những biện pháp là :

- Phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đổi mới từ quan niệm, tư duy lý luận đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc Thực hiện đổi mới với những hình thức, bước đi, cách làm phù hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực nhận thức

và vận dụng quy luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Đảng viên

- Tăng cường phát huy dân chủ, phát huy tiềm năng cán bộ KHKT, đội ngũ cán

bộ quản lý

- Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, tổng kết cái mới, không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh lý luận

- Phải đổi mới và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới

( VK-ĐHĐBTQ lần thứ IX – NXB – CTQG, H.2001, trang 82 )

Kết thúc:

Từ những sai lầm về việc không nhận thức và vận dụng đúng các quan điểm của phép duy vật biện chứng đã dẫn đến những “ căn bệnh “ như đã phân tích ở trên đã dẫn đến một cái giá mà những người cộng sản đã phải trả quá đắt, đó là

sự tan vở của hệ thống xã hội chủ nghĩa, sự thóai trào của phong trào cộng sản

và công nhân quốc tế Đó là bài học xương máu mà Đảng Cộng Sản Việt Nam

đã rút ra được để tiến hành họach định và thực hiện đường lối đổi mới từ Đại Hội tòan quốc của Đảng lần thứ 6 đến nay

Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục tổng kết từ sự vận động của thực tiễn trong nước và trên thế giới đã khẳng định một trong những bài học chủ yếu đưa công cuộc đổi mới ở nước ta đi đến thắng lợi là : “ đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của đổi mới Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, hòan thiện đường lối đổi mới; thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong tòan Đảng; lãnh đạo tổ chức thực hiện, xây dựng

và kiện tòan bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh”

Ngày đăng: 31/05/2021, 20:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w