1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm duy vật trong triết học khoa học thực nghiệm của phranxis becon

16 127 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ quan niệm duy vật sơ khai thời cổ đại cho đến quan điểm duy vật suy hình, máy móc thời phục hưng, thời cận đại và cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật là

Trang 1

Quan điểm duy vật trong triết học khoa học thực nghiệm của phranxis becon

Chủ nghĩa duy vật là quá trình là một quá trình lịch sử lâu dài, trải qua

ba hình thức cơ bản Đó là, quá trình phát triển luôn phản ánh sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Từ quan niệm duy vật sơ khai thời cổ đại cho đến quan điểm duy vật suy hình, máy móc thời phục hưng, thời cận đại và cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật là sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng mácxít, là thế giới quan cách mạng và khoa học nhất của nhân loại để nhận thức và cải tạo thế giới đáp ứng nhu cầu của con người ngày càng cao hơn Việc hình thành qua điểm duy vật có một vai trò vô cùng quan trọng trong nhận thức, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân con người Nó là cơ sở, điều kiện thế giới quan khoa học kỹ thuật phát triển phục con người ngày càng nhiều hơn Nhưng sự phát triển của chủ nghĩa duy vật là cả một quá trình, quan điểm duy vật thời phục hưng và cận đại cũng là một trong những mắt khâu của quá trình vận động đó

Nó không chỉ có vai trò to lớn mà còn là ngọn cờ cho giai cấp tư sản đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến thời phục hưng và cận đại; nó còn là mắt khâu của quá trình vận động và phát triển của chủ nghĩa duy vật nói chung và tác động đến quá trình vận động phát triển của xã hội loài người

Thời kỳ phục hưng của các nước tây âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ

xã hội phong kiến sang xã hội tư bản (thế kỷ XV - XVI) Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã gắn với nhu cầu phát triển khoa học, kỹ thuật và tạo ra thị trường phát triển kinh tế hàng hoá, phá bỏ nền kinh

tế phong kiến có tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc, khép kín Trong thời kỳ này, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã bênh vực triết học duy vật, chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học trung cổ Tuy vậy, trong các hệ thống triết học ở thời kỳ này, các yếu tố của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Trang 2

thường xen kẽ nhau, xu hướng vô thần biểu hiện dưới cái vỏ phiếm thần luận Cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện Trong thời kỳ phục hưng, toàn

bộ lịch sử tư tưởng đã diễn ra sự thay đổi căn bản so với thời kỳ trung cổ Thần học và tôn giáo mặc dù vẫn còn ảnh hưởng lớn tới lĩnh vực thế giới quan của con người, nhưng không còn đóng vai trò độc quyền thống trị như trong đêm trường trung cổ Đặc biệt Bêcơn đề cao và tiếp thu các tư tưởng duy vật của Arixtốt và các triết gia cổ đại, xu hướng chung của các tư tưởng thời kỳ này là đề cao con người và vì con người Luận điểm nổi tiếng của Prôtagor thời cổ “con người là thước đo tất thảy mọi vật” được coi là phương châm tư tưởng của thời kỳ này cũng như quan niệm của Xôcrát coi triết học

là sự tự ý thức của con người đã có ảnh hưởng lớn tới triết học thời kỳ này các giá trị văn hoá của con người, nhất là các giá trị nghệ thuật được đặc biệt coi trọng Đó chính là những giá trị tư tưởng văn hoá Hy Lạp, La mã cổ đại ăngghen nói “ không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế chế Roma thì không có Châu Âu hiện đại’ Đây chính là nền tảng tư tưởng và sự chuẩn

bị cho hàng loạt các bước phát triển nhảy vọt về văn hoá, tư tưởng thời kỳ cận đại ở Tây Âu, đặc biệt là quan điểm duy vật điển hình trong triết học tự nhiên của Phranxi Bêcơn

Thời cận đại các cuộc cách mạng tư sản liên tiếp nổ ra, làm rung chuyển ngai vàng của chế độ phong kiến, đẩy chế độ phong kiến nhanh chóng đến bờ vực thẳm và sụp đổ Trong bối cảnh khoa học phát triển như vũ bão, vấn đề thực sự đặt ra là: con người nhận thức thế giới như thé nào? Tư tưởng phương pháp luận trở thành một trong những chủ đề chính của thời kỳ này vai trò của triết học không còn bị coi là “đầy tớ của thần học”, như thời trung

cổ nữa Đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn xã hội, đồng thời thể hiện

Trang 3

thế giới quan là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản trong thời kỳ bình minh đầy tính cách mạng của nó, triết học và khoa học giờ đây được coi là vì con người

và của con người ở thời kỳ phục hưng nhờ sự phát triển cao của văn học, nghệ thuật cho nên triết học chủ yếu bàn về vấn đề nhân văn và gắn với các vấn đề lý luận phát triển nghệ thuật, sang thời kỳ cận đại, triết học đã sát cánh với khoa học trong cuộc đấu tranh chống lại ý thức hệ phong kiến Các vấn đề nhận thức luận và phương luận được đề cao Cùng với cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, các cuộc bút chiến giữa quan niệm duy cảm và duy lý, giữa những người siêu hình học và những người bài xích

nó diễn ra gay gắt Điều đó nói lên sự đa dạng, phong phú của triết học Tây

Âu thời cận đại thế kỷ XVII - XVIII

Bước sang thời cận đại, bắt đầu từ thế kỷ XVII, ở nước Anh đã đạt được sự phát triển thịnh vượng cả về kinh tế - xã hội và trở thành một trong những cường quốc tư bản lớn nhất ở Tây Âu Giai cấp tư sản ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong đời sống xã hội của đất nước, tập hợp lực lượng chống lại chế độ phong kiến đã lỗi thời Cuộc cách mạng tư sản (1642 -1648) đã làm rung chuyển cả Châu Âu báo hiệu một thời kỳ lịch sử mới Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nước Anh cũng đạt được sự phát triển rực rỡ về văn hoá và khoa học Các nhà triết học Anh thế kỷ XVII là ngọn cờ

lý luận của giai cấp tư sản cả trước và sau cách mạng tư sản tuy nhiên, do ảnh hưởng của nền sản xuất công trường thủ công, của sự phát triển của các ngành công nghiệp nhẹ cùng với sự phát triển của các ngành khoa học thực nghiệm

mà các nhà triết học Anh thời kỳ này đều thiên về lập trường duy vật và duy cảm, đặc biệt đề cao vai trò của khoa học thực nghiệm và cảm tính trong nhận thức Tính duy vật và duy cảm là một trong những đặc trưng của triết học Anh thế kỷ XVII Đồng thời sự không triệt để của cách mạng tư sản Anh, cùng với

sự ảnh hưởng của các thế lực tôn giáo trong đời sống xã hội, đã làm cho thế

Trang 4

giới quan của các nhà duy vật Anh trở nên thiếu triệt để Bối cảnh lịch sử đó không thẻ không ảnh hưởng tới triêt học Anh thời kỳ cân đại Cũng sự tác động đó của hoàn cảnh lịch sử mà một số triết gia duy vật ra đời như Phranxi Bêcơn, Tômat hôpxơ, Gion Locơ…Như chúng ta đã biết dòng chảy lịch sử tư tưởng là sự kế thừa tư tưởng trước đó, triết học cận đại không chỉ đơn thuần tiếp thu và khôi phục các giá trị tư tưởng truyền thống, mà trái lại đã phát triển với nhiều màu sắc riêng của một thời kỳ lịch sử mà như Ăngghen nhận xét: “từ xưa tới nay nhân loại chưa từng thấy, là thời đại có những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, về tính chất đa diện và về mặt uyên bác” Đây là thời kỳ khôi phục quan điểm duy vật, mặc dù đó là quan điểm duy vật siêu hình, máy móc, là dòng chảy của lịch sử tư tưởng nhưng có sự kế thừa cho sự phát triển quan điểm duy vật biện chứng sau này mà trực tiếp là quan điểm duy vật nhân bản của Phoi ơ Bắc trong triết học cổ điển Đức Trong các nhà triết học duy vật thời kỳ phục hưng, cận đại có nhà triết học duy vật Phranxi Bêcơn người Anh thế kỷ XVII

Phranxi Bêcơn (1561 - 1626) là triết học vĩ đại thời cận đại Theo Mác, Phranxi Bêcơn là ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm Bắt đầu từ Phranxi Bêcơn, lịch sử triết học Tây Âu bước sang một giai đoạn mới với những mầu sức riêng

Phranxi Bêcơn sinh năm 1561 trong một gia đình quý tộc Anh Sau khi tốt nghiệp trường đại học tổng hợp Kembrigiơ, ông công tác nhiều năm về ngoại giao cho vương triều Xtiua Mặc dù sống ở nước Anh thời kỳ trước cách mạng tư sản, Phranxi Bêcơn vẫn nhiệt liệt ủng hộ những cải cách tư sản nhằm phát triển đất nước, ủng hộ sự phát triển khoa học và triết học Anh Những tác phẩm lớn của ông là Đại phục hồi các khoa học (1605), Công cụ mới (1620)…Tư tưởng triết học của ông cũng đề cập trên nhiều vấn đề cơ bản như: Bản chất, nhiệm vụ của triết học và khoa học; quan niệm về thế giới;

Trang 5

quan niệm về nhận thức luận và tôn giáo Tuy nhiên tư tưởng triết học của ông là vấn đề tự nhiên, quan trọng nhất là ông xác định được đối tượng nghiên cứu của triết học và xây dựng được mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên Đây là bước đột phá vĩ đại của tư tưởng triết học thời cận đại, những tư tưởng triết học duy vật đó được Phranxi Bêcơn đề cập trên một số vấn đề cơ bản sau:

Quan niệm của Phranxi Bêcơn về bản chất, nhiệm vụ của triết học và khoa học Bản chất, nhiệm vụ triết học và khoa học được thể hiện thông qua

các tác phẩm của ông Mặc dù sống trong thời kỳ đêm trước của cuộc cách mạng tư sản Anh, Phranxi Bêcơn đã nhận thấy vai trò đặc biệt và sự cần thiết phải đẩy mạnh phát triển khoa học và triệt học như một nền tảng lý luận của công cuộc phát triển kinh tế đất nước Ông coi đó là phương tiện cơ bản nhằm xoá bỏ mọi bất công và tệ nạn xã hội, xây dựng một cuộc sống phồn vinh Khác với các nhà nhân đạo cộng sản không tưởng, Phranxi Bêcơn khẳng định

sự cần thiết phải cải tạo chính xã hội hiện thực đương thời dựa trên sự phát triển triết học và khoa học, chứ không phải tưởng tượng ra mô hình xã hội lý tưởng ở đâu đó Vì thế theo ông, “mục đích của xã hội chúng ta là nhận thức các nguyên nhân và mọi sức mạnh bí ẩn của các sự vật và mở rộng sự thống trị của con người đối với tự nhiên trong chừng mực con người có thể làm được”1 Đây là tư tưởng hoàn toàn tiến bộ, thoát khỏi sự áp đặt của thượng đế đối với con người và xã hội loài người Nó thể hiện quan điểm duy vật triết để

mở, đầu cho cho hệ thống quan điểm triết học tự nhiên về phiếm thần luận của ông Ông có quan điểm đúng đắn về vai trò con người trong nhận thức và cải tạo thế giới, nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn

Theo Phranxi Bêcơn, triết học là nền tảng của công cuộc canh tân đất nước Chịu ảnh hưởng của quan niệm triết học là khoa học của các khoa học

-1Ph Bêcơn: Các tác phẩm, Mátxcơva, 1977, tr 499 (tiếng Nga)

Trang 6

quan niệm thống trị suốt thời cổ đại, Phranxi Bêcơn hiểu triết học theo nghĩa rộng Nó là tổng thể các tri thức lý luận của con người về thượng đế, về giới

tự nhiên và bản thân con người Vì vậy “triết học chia làm ba học thuyết; học thuyết về thượng đế, học thuyết về tự nhiên và về bản thân con người”1 Trong

đó, học thuyết về thượng đế được coi là thần học, nhưng chỉ có bộ phận thần học tự nhiên (tức học thuyết lý giải thượng đế dưới góc độ nghiên cứu khoa học, vạch ra những khía cạnh hợp lý của nó) mới thuộc về triết học Còn bộ phận thần học Thượng đế (tức xem xét Thượng đế dưới góc độ tôn giáo) thì thuộc về lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng…Từ quan điểm của học thuyết về thượng đế này, Phranxi Bêcơn một mặt thừa nhận có thượng đế nhưng mặt khác ông đã đấu tranh chống lại các quan điểm thời trung cổ cho rằng thượng

đế sinh ra hết thảy Tuy nhiên vẫn còn tư tưởng thoả hiệp trong việc xác định qua điểm triết học của mình, song tư tưởng triết học của ông là bước đột phá trong việc hình thành thế giới quan khoa học, quan điểm duy vật về thế giới vật chất tồn tại tự thân, không do ai sinh ra, thông qua sự phát triển của khoa học nghiên cứu về thế giới vật chất Học thuyết về tự nhiên trong triết học được Bêcơn gần như đồng nhất với các khoa học tự nhiên, còn học thuyết về con người thì được coi là nhân bản học Theo Phranxi Bêcơn, khác với bộ môn lịch sử và các dạng nhận thức nghệ thuật chỉ đơn thuận dựa vào khả năng trí nhớ hay biểu tượng của con người, triết học và khoa học mang tính lý luận

và khái quát cao Tư duy triết học là tư duy lý tính, mang tính trí tuệ cao nhất

Về bản chất và cấu trúc của triết học theo quan niệm của Bêcơn được biểu hiện trên sơ đồ:

1Ph Bêcơn: Các tác phẩm, Mátxcơva, 1977, tr 209 - 210 (tiếng Nga)

Các khoa học lý thuyết

hay là

Các khoa học khác:

Pháp quyền, đạo đức…

Triết học thứ nhất

hay Triết học theo nghĩa

hẹpNhân bản

học

Thần

học tự

nhiên

Triết học tự nhiên, các khoa học tự nhiên và triết học thực tiễn

Trang 7

Theo sơ đồ trên, Bêcơn hiểu triết học theo hai cách Theo nghĩa rộng,

nó hầu như đồng nhất với các khoa học, bao chứa mọi lĩnh vực khoa học khác theo nghĩa hẹp, triết học là bộ phận cơ bản nhất trong tổng thể các khoa học Mượn ngôn ngữ của Arixtốt, ông gọi đó là “triết học thứ nhất”, là nền tảng và cơ sở của mọi khoa học khác Nhưng ngay trong bản thân triết học được hiểu theo nghĩa hẹp này cũng đã bao chứa toàn bộ các lĩnh vực khoa học

tự nhiên rồi Như vậy, ông đã nhận thức được mối quan hệ giữa triết học và khoa học, vai trò của triết học đối với khoa học, thì bản chất của triết học lại mang bản chất tự nhiên Nó thể hiện quan điểm duy vật điển hình trong thế giới quan duy vật của các nhà triết học Anh thời cận đại, nó là cơ sở lý luận cho giai cấp tư sản đấu tranh chống lại quan điểm của giai cấp địa chủ phong kiến

Nhiệm vụ của triết học là “đại phục hồi các khoa học”, nghĩa là phải cải tạo lại toàn bộ các tri thức mà con người đạt được thời đó Phê phán những ai coi khoa học như một nghề thủ công có lãi Bêcơn cho rằng khoa học đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại nói chung chứ không riêng cho ai Vì thế, mọi quan niệm hẹp hòi kiểu đó chỉ làm cho khoa học bị què quặt Bằng khoa học, con người tiếp cận với thế giới Bản thân con người tựa như “đồ đệ và người thuyết minh giới tự nhiên Và giới tự nhiên biểu hiện ra ở mức độ nào thì con người nắm bắt được trật tự của tự nhiên bằng việc làm hoặc bằng suy diễn ở mức độ đó thì con người không biết”1 Như vậy, một mặt ông thừa nhận khả

1Ph Bêcơn: Các tác phẩm, Mátxcơva, 1977,t.2 tr 12,27 (tiếng Nga)

Trang 8

năng vô tận của con người, mặt nào đó ông lại không thừa nhận khả năng của con người đối với nhận thức tận cùng thế giới Điều đó, thể hiện sự chi phối

từ tư tưởng thần học và sự thoả hiệp trong tư tưởng về vai trò con người của ông Song ông lại đánh giá cao vai trò của tri thức lý luận trong việc cải tạo xã hội, Bêcơn khẳng định “tri thức là sức mạnh” Từ đó ông đi đến một kết luận rất cách mạng đối với đương thời, coi “hiệu quả và sự sáng chế thực tiễn là người bảo lãnh và ghi nhận tính chân lý của triết học” Muốn chinh phục tự nhiên thì con người phải nhận thức các quy luật của nó, vận dụng và tuân theo chúng Từ sự nhận định về vai trò của tri thức lý luận ta nhận thấy vừa có quan điểm duy vật về thế giới, về vai trò của con người đối với nhận thức, cải tạo thế giới, đồng thời hình thành phương pháp luận biện chứng trong nhận thức về sự vận động của thế giới, làm cơ sở cho việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên để tìm ra phương pháp tác động vào tự nhiên đáp ứng nhu cầu con người ngày càng cao Trên cơ sở đó, Bêcơn xây dựng triết học của mình

Quan niệm của Bêcơn về thế giới: Phát triển các quan niệm duy vật

thời cổ đại, Bêcơn cho rằng để lý giải được tính muôn màu muôn vẻ của thế giới, chỉ cần mỗi vật chất là đủ, và cách thức xây dựng quan niệm về thế giới một cách hợp lý nhất đó là cải biến học thuyết của Arixtốt về bốn nguyên nhân theo hướng duy vật Đây chính là quan điểm duy vật điển hình nhất trong triết học cận đại ở Anh, là bước đột phá, mở đường cho chủ nghĩa duy vật, khôi phục triết học duy vật thời cổ đại và phát triển chủ nghĩa duy vật sau này sau này Để có quan điểm đúng về thế giới, trước tiên theo Bêcơn, phải phủ nhận sự tồn tại của nguyên nhân mục đích của các sự vật, vì đó là điểm duy tâm của Arixtốt Mọi cái trên thế gian chỉ tồn tại từ ba nguyên nhân, là

“hình dạng”, “vật chất” và “vận động” Trong đó “hình dạng của sự vật chính

là bản thân sự vật, và vật không khác gì với hình dạng ngoài cái khái niệm

Trang 9

của hiện tượng với tồn tại, cái bên ngoài với cái bên trong”1 Hình dạng của

sự vật nằm trong chính bản thân sự vật, là bản chất hoàn toàn khách quan của

nó Khắc phục những mặt không triệt để của Arixtốt trong quan niệm về hình dạng và mối quan hệ của nó với vật chất, Bêcơn khẳng định sự gắn bó hữu cơ giữa chúng Không thể có cái gọi là “hình dạng của hình dạng” phi vật chất, cũng như “vật chất đầu tiên” phi hình dạng là không có thực Bản thân cả ba nguyên nhân “hình dạng”, “vật chất” và “vận động”, thực chất đều là bản tính của vật chất Vì thế, vật chất có bản tính là tích cực, có sinh khí chứ không phải thụ động Thực chất là ông chống lại quan điểm coi thượng đế là đấng tối cao mà con người không thể nhận thức được Theo ông thượng đế thực ra cũng chỉ là một dạng vật chất mà thôi và con người cũng có thể nhận thức được Nhưng chìa khoá để cải biến triết học Arixtốt theo hướng duy vật, theo Bêcơn đó là khắc phục yếu tố duy tâm của nhà bách khoa thời cổ đại trong quan niệm về “hình dạng” Nhà duy vật Anh hiểu phạm trù “hình dạng” của

sự vật theo mấy khía cạnh sau:

Thứ nhất, hình dạng là nguồn gốc bên trong của sự vật, là cái mà nhờ

đó sự vật là nó chứ không phải là cái khác Như vậy, theo khía cạnh này thì hình dạng tựa như nguyên nhân “vật chất ” của Arixốt

Thứ hai, hình dạng là nguyên nhân tất yếu và đầy đủ của sự vật đó xuất hiện ở khía cạnh thứ này thì hình dạng tựa như “vận động”

Thứ ba, hình dạng là phạm trù thể hiện bản chất chung của một nhóm

sự vật có cùng những tính chất giống nhau, là quy luật vận động vật chất trong các sự vật đó

Từ hai khía cạnh một và hai, Bêcơn khẳng định mọi “hình dạng” thực chất đều chỉ là “hình dạng” của vật chất Tức là, ông cho rằng tự nhiên là biểu

1 Ph Bêcơn: Các tác phẩm, Mátxcơva, 1977,t.2 tr 100 (tiếng Nga)

Trang 10

hiện bên ngoài của “hình dạng” mà con người nhận thức được cảm giác Do vậy, “hình dạng” là bản chất sâu xa của sự vật và đi đến khẳng định sự thống nhất giữa hai phạm trù tự nhiên và hình dạng Đó chính là biểu hiện quan điểm duy vật của ông về bản nguyên của thế giới Nhưng ở khía cạnh thứ ba chứng tỏ Bêcơn vẫn ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi quan niệm duy tâm của Arixtốt về “hình dạng” Điều này thể hiện ở chỗ, đôi khi ông coi “hình dạng”

là khái niệm chung, thuộc về lĩnh vực tinh thần chứ không phải bản chất riêng

lẻ của sự vật Mặc dù không thừa nhận sự tồn tại “hình dạng thuần tuy” phi vật chất, song quan niệm “hình dạng” tựa như “linh hồn vật chất” của Bêcơn thể hiện sự chưa hoàn toàn triệt để duy vật của ông

Toàn bộ quan niệm về hình dạng của Bêcơn thể hiện ý đồ dung hợp giữa hai xu hướng trong cách hiểu phạm trù này trong triết học trước đó Xu hướng thứ nhất quan niệm “hình dạng” là bản chất chung của sự vật Nhấn mạnh sự thống nhất của thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ, xu hướng này thừa nhận sự tồn tại “linh hồn chết” trong các vật vô cơ, mọi sự vật đều có linh hồn, mặc dù ở các mức độ khác nhau Xu hướng thứ hai quan niệm “hình dạng” thiên về phương pháp diện lượng Đây là xu hướng của các nhà nguyên

tử luận, coi Đêmôcrít là người nhận thức được cấu trúc bên trong của các sự vật một cách thông thái, đồng thời phê phán các quan điểm hoạt luận Theo nhận xét của Bêcơn, xu hướng thứ nhất giải thích được cả tính đa dạng lẫn tính thống nhất của thế giới, nhưng lại rơi vào quan niệm vật hoạt luận trong việc giải thích nguồn gốc của vận động - điều mà ông không muốn Con xu hướng thứ hai giải thích được nguồn gốc của vận động một cách duy vật, coi

đó là sự va chạm của các nguyên tử, nhưng lại không giải thích được sự đa dạng của thế giới Thực chất là ông muốn dung hoà cả hai xu hướng trên, tiếp thu những điểm hợp lý, đồng thời khắc phục những hạn chế của chúng Nhưng ông đã hoàn toàn không thực hiện được điều đó, vì thế không tránh

Ngày đăng: 14/03/2021, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w