Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá
Trang 1CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG
1.2.2.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont 19
1.2.3.1 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa
1.2.3.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 26 1.2.3.3 Phân tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán 29 1.2.3.4 Phân tích các chỉ tiêu về khả năng hoạt động 31 1.2.3.5 Phân tích các chỉ tiêu về khả năng sinh lãi 33
1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới hoàn thiện công tác phân tích tài chính
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ
44
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần Cảng Đoạn
2.1.4 Tổ chức Bộ máy kế toán và Công tác kế toán của Công ty 49
2.2 Thực trạng công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần
Trang 2
2.2.1 Về quy trình phân tích tài chính 51
2.2.3.1 Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn 53 2.2.3.2 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán 56
2.3 Đánh giá công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Cảng
Đoạn xá
61
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ
65
3.1 Định hướng cơ chế quản lý tài chính và công tác phân tích tài
3.2 Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần
3.2.2.1 Về cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn 67 3.2.2.2 Về tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 71
3.2.2.5 Về hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lãi 78
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DN: Doanh nghiệp.
SXKD: Sản xuất kinh doanh.
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.2: Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn 24
Bảng 2.1: Bảng phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn
tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá
54
Bảng 2.2: Các khoản phải thu của Công ty 56 Bảng 2.3: Các khoản phải trả của Công ty 57 Bảng 2.4: Bảng đánh giá khả năng thanh toán của Công ty 58
Bảng 2.5: Doanh thu và chi phí hoạt động kinh doanh của
Công ty
59
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty 60
Bảng 3.1: Bảng phân tích cơ cấu tài sản năm 2006 của Công
Trang 5DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.2: Quá trình sản xuất kinh doanh 12
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ sự gia tăng của doanh thu đòi hỏi sự gia
tăng của nợ vay và giữ lại lợi nhuận
37
Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ giữa tăng trưởng bền vững và khả
năng sinh lời
40
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức Bộ máy kế toán của Công ty 46
Sơ đồ 2.3: Hình thức kế toán tại Công ty 51
Trang 6
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên lý thuyết cũng như thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, phân tích tàichính đóng vai trò hết sức cần thiết Mục đích của việc phân tích tài chính là giúpngười sử dụng thông tin đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời vàtriển vọng của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọngkhông chỉ đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mà cácthông tin từ việc phân tích tài chính mang lại còn hữu ích đối với các nhà đầu tư,nhà cung cấp, nhà cho vay, người lao động trong doanh nghiệp, các cơ quan quản
lý nhà nước về kinh tế Đặc biệt, đối với các công ty cổ phần, công tác này đặcbiệt chiếm vị trí nổi bật bởi nó ảnh hưởng rất lớn tới việc ra quyết định của cácnhà đầu tư - một nhân tố giữ vai trò không nhỏ tới hoạt động của doanh nghiệp
Song, vì những lý do khác nhau, trên thực tiễn, công tác phân tích tài chínhtại các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự trở thành công cụ hữu ích cho các đối tượngliên quan, do vậy chưa thực sự phát huy được vai trò, ý nghĩa tích cực của nó
Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vựckhai thác cảng biển, đại lý và giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu Trong lĩnh vựcnày, doanh nghiệp chịu sự cạnh tranh khá lớn của gần 200 doanh nghiệp làm dịch
vụ hàng hải chủ yếu tập trung tại các trung tâm thưong mại hàng hải như HảiPhòng, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Nẵng… và trong tương lai có thểcòn phải cạnh tranh gay gắt với các hãng tàu nước ngoài Muốn tồn tại và pháttriển trong bối cảnh cạnh tranh, một nhân tố quan trọng là doanh nghiệp cần phảiđánh giá chính xác thực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp để có thể ranhững quyết định đúng Bên cạnh đó, doanh nghiệp có nhận được sự quan tâm củacác nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp… hay không cũng chịu ảnh
Trang 7
hưởng rất nhiều từ công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp Nhận thức đượctầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, Công ty cổ phần Cảng Đoạn
xá cũng quan tâm tới công tác này Nhưng công tác phân tích tài chính của Công
ty vẫn chưa thực sự có hệ thống, chưa có chiều sâu, chưa thực sự là công cụ đắclực cho việc ra quyết định của các nhà quản lý và chưa trở thành đòn bẩy để thuhút sự quan tâm của các đối tượng liên quan khác Để khắc phục những tồn tại trongcông tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá, tôi đã chọn
đề tài: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là lý thuyết về phân tích tài chính doanh nghiệp
và thực tiễn công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá Trên cơ sởđánh giá hiệu quả của công tác này tại Công ty, đề tài đề xuất một số giải pháp để hoànthiện công tác phân tích tài chính tại Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phầnCảng Đoạn xá từ năm 2004 đến năm 2006
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: trên cơ sở phân tích lý thuyết và thực tiễncông tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp, đề tài khái quát hoá bản chất của công
Trang 8
tác phân tích tài chính tại Công ty, trên cơ sở đánh giá đó nhằm đưa ra những giải phápcần thiết cho việc hoàn thiện công tác này tại Công ty.
- Phương pháp so sánh: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá hiệuquả hoạt động tài chính của Công ty qua các năm và trong mối quan hệ với các doanhnghiệp cùng ngành – đây là một nội dung quan trọng của công tác phân tích tài chính
* Phương pháp thu thập và xử lý thông tin:
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu tài liệu để tìm hiểu nhữngthông tin sau:
Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài (trong các tài liệu, giáo trình về
lý thuyết phân tích tài chính )
Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác (trong các tạp chí, báo cáokhoa học, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan tới vấn đề phân tích tài chínhdoanh nghiệp)
Chủ trương, chính sách liên quan tới nội dung nghiên cứu (chủ yếu
là các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước điều chỉnh các nội dung liên quan tớitài chính doanh nghiệp)
Số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài (chủ yếu là các báocáo tài chính của doanh nghiệp qua các năm, số liệu thống kê ngành )
+ Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn các nhà đầu tư, các nhà quản trịdoanh nghiệp hoặc các đối tượng liên quan khác để làm rõ nội dung nghiên cứu
- Phương pháp xử lý thông tin:
Trang 9
+ Phương pháp xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: Sử dụngphương pháp thống kê toán để xác định xu hướng diễn biến của các số liệu, xác địnhđược quy luật của tập hợp số liệu
+ Phương pháp xử lý logic đối với các thông tin định tính: Đưa ra nhữngphán đoán về bản chất các sự kiện và thể hiện liên hệ logic của các sự kiện
5 Kết cấu của đề tài
Đề tài với tên gọi: ”Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phầnCảng Đoạn xá”, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tài liệu tham khảo,danh mục các chữ viết tắt và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác phân tích tài chính tại doanh
Trang 10CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.1.1 Hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổnđịnh, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạtđộng kinh doanh
Để đạt được lợi nhuận mong muốn, doanh nghiệp cần phải có những quyết định
về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi Trong quá trình đó, có rấtnhiều yếu tố tác động tới hoạt động của doanh nghiệp
Trước hết, doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển củacông nghệ là một yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹ thuậtmới dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp mặt khác là đối tượng quản lý của nhà nước Nhà nước điều chỉnhhoạt động của doanh nghiệp thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là cácvăn bản quy định về cơ chế quản lý tài chính
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn luôn phải dự tính trước các khảnăng rủi ro có thể xảy ra, đặc biệt là rủi ro tài chính để có thể có cách ứng phó kịp thời,đúng đắn Bên cạnh đó, doanh nghiệp luôn luôn phải đáp ứng những đòi hỏi ngày càngcao hơn của khách hàng về chất lượng, mẫu mã, giá cả hàng hoá và các loại dịch vụ
Doanh nghiệp cũng thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mứcvốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kểtới hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau
Muốn phát triển bền vững, doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước sự thayđổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Trong môi trường đó, quan hệ tàichính của doanh nghiệp được thể hiện rất phong phú và đa dạng
Trang 11
Trước hết, để tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp phải cómột lượng vốn nhất định để đầu tư các yếu tố đầu vào (máy móc, thiết bị, nhà xưởng,nguyên liệu, nhân lực…) và sau đó là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào tạo ra cáchàng hoá - dịch vụ đầu ra (hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc được
sử dụng cho quá trình sản xuất, kinh doanh khác) Như vậy, trong một thời kỳ nhấtđịnh, các doanh nghiệp đã chuyển hoá các hàng hoá, dịch vụ đầu vào thành các hànghoá, dịch vụ đầu ra để trao đổi (bán) Quá trình này được mô tả qua sơ đồ sau:
Hàng hoá và dịch vụ (mua vào)
Sản xuất - chuyển hoá
Hàng hoá và dịch vụ (bán ra)
SƠ ĐỒ 1.1: QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ
Trong số các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ có một tài sản đặc biệt – đó làtiền Mọi quá trình trao đổi đều được thực hiện thông qua trung gian là tiền và kháiniệm dòng vật chất và dòng tiền phát sinh từ đó, tức là sự dịch chuyển hàng hoá, dịch
vụ và sự dịch chuyển tiền giữa các đơn vị, tổ chức kinh tế Như vậy, tưong ứng vớidòng vật chất đi vào (hàng hoá, dịch vụ đầu vào) là dòng tiền đi ra; ngược lại, tươngứng với dòng vật chất đi ra (hàng hoá, dịch vụ đầu ra) là dòng tiền đi vào) Quy trìnhnày được mô tả qua sơ đồ sau:
Dòng vật chất đi vào Dòng tiền đi ra (xuất quỹ)
Trang 12
Sản xuất chuyển hoá
Dòng vật chất đi ra Dòng tiền đi ra (xuất quỹ)
SƠ ĐỒ 1.2: QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH
Sản xuất, chuyển hoá là một quá trình công nghệ Một mặt, nó được đặc trưngbởi thời gian chuyển hoá hàng hoá và dịch vụ, mặt khác nó được đặc trưng bởi các yếu
tố cần thiết cho sự vận hành – đó là tư liệu sản xuất và sức lao động Quá trình côngnghệ này có tác dụng quyết định tới cơ cấu vốn và hoạt động trao đổi của doanhnghiệp
Doanh nghiệp thực hiện hoạt động trao đổi hoặc với thị trường cung cấp hànghoá, dịch vụ đầu vào hoặc với thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ đầu ra
và tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp được phát sinh từ quá trình trao đổi đó Hoạt động tàichính có quan hệ chặt chẽ với hoạt động kinh doanh và nó phục vụ cho các mục tiêukinh doanh của doanh nghiệp Nói một cách cụ thể, hoạt động tài chính doanh nghiệp
là hoạt động của các luồng chuyển dịch, các luồng vận động và chuyển hoá các luồngtài chính trong quá trình sản xuất, cung cấp và trao đổi để tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệnhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Có thể khái quát hoạt động tài chính với những nội dung cơ bản sau:
- Hoạt động huy động vốn và hình thành các nguồn vốn
- Hoạt động sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh
o Hoạt động phân phối vốn
o Hoạt động luân chuyển vốn trong kinh doanh
- Hoạt động phân phối nguồn tài chính trở lại các quỹ tiền tệ và vốn kinhdoanh
Trang 13
1.1.2 Vai trò của phân tích tài chính.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp cácphương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác
về tài chính nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro,mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó Với những nội dungnày, phân tích tài chính của một doanh nghiệp trở thành mối quan tâm của nhiều đốitượng khác nhau như Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà đầu tư, các cổ đông,người cho vay…
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâmhàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Do vậy, hơn ai hết, họ cần
có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua, thựchiện cân bằng tài chính và khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tàichính nhằm đề ra quyết định đúng
Đối với với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của
họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới
số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển dổi thành tiền nhanh; từ đó so sánh với
số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Ngoài ra,các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn củachủ sở hữu, bởi vì số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợpdoanh nghiệp gặp rủi ro
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi
ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn,… Vì vậy, họ cần nhữngthông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và cáctiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn vàtính hiệu quả cho các nhà đầu tư
Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ, họ phải quyết địnhxem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng, thanh toán chậm hay không
Trang 14
Cũng như các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, nhóm người này cũng cầnphải biết được khả năng thanh toán hiện tại và thời gian sắp tới của khách hàng.
1.2.1 Quy trình phân tích tài chính.
Phân tích tài chính doanh nghiệp thông thường phải trải qua các giai đoạn sau:
* Xác định mục tiêu phân tích:
Đối với mỗi doanh nghiệp ở từng thời kỳ nhất định, mục tiêu phân tích tài chínhđược xác định một cách khác nhau và trong mỗi vấn đề của hoạt động tài chính nhưkhả năng cân đối vốn, quản lý hàng tồn kho, kiểm soát chi phí và lợi nhuận… thì mỗivấn đề có mục tiêu riêng như:
Về khả năng cân đối vốn sẽ có mục tiêu phân tích cơ cấu vốn, khả năng thanhtoán và lưu chuyển vốn
Về quản lý hàng tồn kho sẽ có mục tiêu phân tích về doanh số, giá cả và cấutrúc tài sản
Về kiểm soát chi phí và lợi nhuận có mục tiêu phân tích là khả năng sinh lãi,doanh thu…
Xác định mục tiêu phân tích là bước rất quan trọng quyết định đến ý nghĩa củacông tác phân tích tài chính đối với doanh nghiệp cũng như các đối tượng có liên quan
* Lập kế hoạch phân tích:
Trên cơ sở tuân thủ mục têiu phân tích đã đề ra, bộ phận phân tích phải xác định
rõ phạm vi phân tích, thời gian tiến hành, phân công trách nhiệm bố trí nhân sự chocông tác phân tích tài chính
Về phạm vi phân tích có thể chia ra phân tích theo chuyên đề hay phân tích toàndiện
Về thời gian phân tích, kế hoạch phân tích phải xác định rõ việc phân tích làphân tích trước, phân tích hiện hành hay phân tích sau
Trang 15
Phân tích trước là phân tích trước khi tiến hành một kế hoạch kinh doanh nào
đó Phân tích trước thường đưa ra những dự đoán về nhu cầu, cách thức phân bổ cácnguồn lực tài chính và lập kế hoạch thu hồi vốn của doanh nghiệp
Phân tích hiện hành là việc phân tích đồng thời với quá trình kinh doanh nhằmxác minh tính hợp lý về mặt tài chính của các dự án, dự đoán kế hoạch phục vụ choviệc điều chỉnh kịp thời các dự án, dự đoán kế hoạch đó
Phân tích sau là việc phân tích các kết quả trên giác độ tài chính sau khi đã thựchiện toàn bộ công việc
Về nhân sự, công tác phân tích tài chính phải được thực hiện bởi đội ngũ nhân
sự có kinh nghiệm và có tinh thần trách nhiệm cao
* Thu thập, xử lý thông tin
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thôngtin: từ thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từthông tin số lượng đến thông tin giá trị Những thông tin đó đều giúp nhà phân tích cóthể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng
Thông tin bên ngoài doanh nghiệp có thể là những thông tin chung (thông tinliên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất…),thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh
tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần…) và cácthông tin về phương diện pháp lý đối với doanh nghiệp (các thông tin mà doanh nghiệpphải báo cáo cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sửdụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp…)
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, cóthể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tinquan trọng bậc nhất Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kếtoán: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ vàthuyết minh báo cáo tài chính
Trang 16
Nói tóm lại, đó là tất cả các thông tin quan trọng mà nhà phân tích cần thu thập,
xử lý nhằm phục vụ công tác phân tích
* Tiến hành công tác phân tích tài chính:
Công tác phân tích tài chính dựa trên cơ sở các yêu cầu về nội dung, phươngpháp phân tích đã đề ra, dựa trên các thông tin và số liệu đã thu thập và xử lý, sau đóđược tiến hành như sau:
Một là đánh giá chung tình hình tài chính: sử dụng các phương pháp và các chỉtiêu đã lựa chọn tính toán để đánh giá theo từng chỉ tiêu cụ thể, từ đó tổng kết khái quáttoàn bộ xu hướng phát triển và mối quan hệ qua lại giữa các mặt hoạt động của doanhnghiệp
Hai là xác định các nhân tổ ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tốđối với đối tượng phân tích Tuỳ theo yêu cầu quản lý và điều kiện cung cấp thông tin
để xác định số lượng các nhân tố sử dụng trong phân tích, qua các phương pháp phântích mà xác định chiều hướng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đối tượng phântích
Ba là tổng hợp kết quả phân tích, rút ra kết luận, nguyên nhân tác động và đềxuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
* Lập báo cáo phân tích tài chính:
Đây là bước cuối cùng trong việc thực hiện công tác phân tích tài chính doanhnghiệp Kết quả phân tích phải được viết thành báo cáo gửi cho Ban giám đốc doanhnghiệp, những đối tượng có nhu cầu để phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp
1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính:
Phương pháp phân tích tài chính là cách thức hay kỹ thuật dùng để xử lý cácthông tin tài chính nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Hiện nay có rấtnhiều phương pháp được các nhà phân tích tài chính sử dụng Sau đây là một vàiphương pháp chủ yếu được sử dụng phổ biến nhất:
Trang 17
1.2.2.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong phân tíchtài chính, được dùng để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của chỉtiêu phân tích Trong phân tích tài chính, phương pháp so sánh thường được sử dụngbằng cách so sánh ngang (còn gọi là phân tích ngang) và so sánh dọc (còn gọi là phântích dọc) So sánh ngang là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối
và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính; so sánh dọc là việc sử dụngcác tỷ suất, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tàichính và giữa các báo cáo để rút ra kết luận
Để tiến hành so sánh được, cần lưu ý các vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, trong quá trình so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Các chỉ tiêu được sử dụng để so sánh phải cùng phản ánh một nội dung kinhtế
+ Các chỉ tiêu phải có cùng phương pháp tính toán
+ Các chỉ tiêu phải được tính theo cùng một đơn vị đo lường
+ Các chỉ tiêu phải được thu thập ở cùng một phạm vi thời gian và cùng một qui
mô không gian
- Thứ hai, phải chọn được tiêu chuẩn so sánh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu củamột kỳ được chọn làm căn cứ để so sánh, gọi là gốc so sánh Gốc so sánh thường đượcxác định theo thời gian và không gian Tuỳ vào mỗi mục đích phân tích khác nhau,người phân tích sẽ chọn các gốc so sánh phù hợp
+ Để đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu: gốc so sánh được chọn là sốliệu kỳ trước hoặc cùng kỳ này năm trước
+ Để đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức: gốc sosánh được chọn là số liệu kế hoạch, số liệu dự toán, số liệu định mức
Trang 18
+ Để đánh giá kết quả đạt được của doanh nghiệp so với các đơn vị khác: gốc sosánh được chọn là số liệu của các đơn vị có điều kiện tương đương hoặc số liệu trungbình ngành
1.2.2.2 Phương pháp tỷ số
Phương pháp tỷ số là phương pháp phản ánh kết cấu, mối quan hệ giữa các chỉ tiêutài chính và sự biến đổi của lượng tài chính thông qua hàng loạt tỷ số theo chuỗi thờigian liên tục và theo từng giai đoạn Các tỷ số được chia thành bốn nhóm chính:
- Tỷ số về khả năng thanh toán: đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khảnăng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
- Tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn: nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức
độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dịng nợ, vay của doanh nghiệp
- Tỷ số về khả năng hoạt động: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tàinguyên nguồn lực của doanh nghiệp
- Tỷ số về khả năng sinh lãi: nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất – kinhdoanh tổng hợp nhất của một doanh nghiệp
Tuỳ theo mục tiêu phân tích tài chính mà các nhà phân tích chú trọng nhiều hơn tớinhóm tỷ số này hay nhóm tỷ số khác Ví dụ, các chủ nợ đặc biệt quan tâm tới khả năngthanh toán của người vay, các nhà đầu tư dài hạn quan tâm tới khả năng hoạt động vàhiệu quả sản xuất – kinh doanh Đồng thời, họ cũng cần nghiên cứu tình hình về khảnăng thanh toán để đánh giá khả năng của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thanh toán hiệntại và xem xét lợi nhuận để dự tính khả năng trả nợ cuối cùng, tỷ số về cơ cấu vốn làmthay đổi đáng kể lợi ích của các nhà đầu tư Mỗi nhóm tỷ số trên bao gồm nhiều tỷ số vàtrong từng trường hợp các tỷ số được lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất và quy mô củahoạt động phân tích
1.2.2.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont:
Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác độngtương hỗ giữa các tỷ số tài chính: tỷ suất hoạt động và tỷ suất doanh lợi tiêu thụ để xácđịnh khả năng sinh lời của vốn đầu tư
Trang 19
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng, doanh lợi vốnchủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêu này Công thứcxác định như sau:
Ngoài ra, còn có chỉ tiêu doanh lợi tài sản (ROA)
ROA =
Lợi nhuận trước thuế & lãi
Tài sảnHoặc:
Trang 20ROE phản ánh mức sinh lợi của một đồng vốn chủ sở hữu - mức tăng giá trị tàisản cho các chủ sở hữu Còn ROA phản ánh mức sinh lời của toàn bộ danh mục tài sảncủa doanh nghiệp – khả năng quản lý tài sản của các nhà quản lý EM là hệ số nhânvốn chủ sở hữu, nó phản ánh mức độ huy động vốn từ bên ngoài của doanh nghiệp.Nếu EM tăng, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp tăng vốn huy động từ bên ngoài.
Tách ROA:
ROA = Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu = PM x AU
PM: Doanh lợi tiêu thụ phản ánh tỷ trọng lợi nhuận sau thuế trong doanh thucủa doanh nghiệp
AU: hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Khi PM tăng thể hiện doanh nghiệp quản lý doanh thu và quản lý chi phí có hiệuquả
Như vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) có thể được biến đổi như sau:
ROE = PM x AU x EM
Có thể tóm tắt các yếu tố cơ bản tác động đến ROE của một doanh nghiệp đó làkhả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chi phí, quản lý tài sản và đòn bẩy tài chính
1.2.3 Nội dung phân tích tài chính.
1.2.3.1 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn
* Phân tích cơ cấu tài sản:
Phân tích cơ cấu tài sản giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷtrọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấuhiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việcnâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp hay không Ngoài ra, việc phân tích này còn cung cấp cho nhà phân tích
Trang 21
nhìn về quá khứ tìm kiếm một xu hướng, bản chất sự biến động tài sản của doanhnghiệp
Khi phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh sự biến động trên tổng số tài sản
và từng loại tài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, các khoản phải thu ngắn hạn,hàng tồn kho, …) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra và sosánh tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng số, từ đố thấy được xu hướng biếnđộng và mức độ hợp lý của việc phân bổ
Nhà phân tích có thể lập bảng phân tích theo mẫu sau:
BẢNG 1.1: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Giá trị của từng bộ phận tài sản
Trang 221 2 3 4 5 6 7 8
A Tài sản ngắn hạn
I Tiền và tương đương tiền
II Đầu tư tài chính ngắn
III Bất động sản đầu tư
IV Đầu tư tài chính dài hạn
V Tài sản dài hạn khác
Tổng cộng
* Phân tích cơ cấu nguồn vốn:
Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm giúp nhà phân tích tìm hiểu được sự thay đổi
về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ Sự thay đổi này bắt nguồn từ nhữngdấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp vớiviệc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng tận dụng, khai thácnguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không cũng như cóphù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không?
Trang 23
Phân tích cơ cấu nguồn vốn cung cấp thông tin cho người phân tích sự thay đổi nguồnvốn, một xu hướng cơ cấu nguồn vốn hợp lý trong tương lai.
Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng được tiến hành tương tự như việc phântích cơ cấu tài sản Cùng với việc so sánh tổng nguồn vốn cũng như từng loại nguồnvốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh tỷ trọngcủa từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số, từ đó thấy được xu hướng biến động,mức độ hợp lý và tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp
Khi phân tích có thể lập bảng theo mẫu sau:
BẢNG 1.2: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Trang 24* Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản
và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Phân tích mốiquan hệ này giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lý giữa nguồn vốndoanh nghiệp huy động và sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, và sử dụng cóhợp lý, hiệu quả hay không
Khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhà phân tích cần tính ra
và so sánh các chỉ tiêu sau:
+ Hệ số nợ so với tài sản:
Chỉ tiêu này cho biết mức độ doanh nghiệp dùng các khoản nợ đầu tư cho tàisản là bao nhiêu Thông thường các chủ nợ thích hệ số này vừa phải vì khi đó cáckhoản nợ của họ được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Trong khi
đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích hệ số nợ cao vì họ muốn gia tăng lợi nhuậnnhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp Hệ số nợ cao, mức độ an toàn tàichính giảm đi, mức độ rủi ro cao hơn và có thể doanh nghiệp sẽ bị lỗ nặng nếu hoạtđộng sản xuất kinh doanh không ổn định, nhưng doanh nghiệp cũng có khả năng thulợi nhuận cao khi điều kiện kinh tế thuận lợi Dù vậy, nếu hệ số này quá cao thì doanh
Nợ phải trả Tài sản
=
Hệ số nợ so với
tài sản
Trang 25
nghiệp sẽ dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và không thể kiểm soát đượchoạt động của mình Vì vậy, để vừa đảm bảo khả năng gia tăng lợi nhuận cao vừa giảmthiểu rủi ro khi đưa ra các quyết định tài chính, doanh nghiệp cần xem xét mức độ cânbằng giữa rủi ro và lợi nhuận.
+ Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu:
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ
sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp đượctài trợ bằng vỗn chủ sở hữu càng ít làm cho khả năng độc lập về tài chính của doanhnghiệp càng kém và ngược lại
1.2.3.2 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
Bất kỳ một doanh nghiệp nào để đi vào hoạt động thì cũng phải huy động đượcmột lượng vốn chủ sở hữu đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu về tài sản ngắn hạn và tài sảndài hạn Quá trình hoạt động của doanh nghiệp sẽ tiếp tục hình thành nên các khoảnchiếm dụng vốn tạm thời, vốn vay ngắn hạn, vốn vay dài hạn đồng thời với sự tích luỹdần về vốn chủ sở hữu Thực chất của phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt độngkinh doanh là việc xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tàisản, nói cách khác là việc phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp
* Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn:
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tài sảnbao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Nguồn tài trợ tương ứng cho hai loại tàisản này là nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn Nguồn vốn ngắn hạn trongdoanh nghiệp bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, còn nguồn vốn dài hạn bao gồm nợ dàihạn và vốn chủ sở hữu Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành tài sản
Trang 26dài hạn, nguồn vốn ngắn hạn và phần dư của nguồn vốn dài hạn được đầu tư vào tàisản ngắn hạn.
Trong mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sẽ là hợp lý nếu tàisản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn vì điều này chứng tỏ doanh nghiệp giữ vững mốiquan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắnhạn Đồng thời nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạnvới chu kỳ thanh toán nợ ngắn hạn Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắnhạn thì đây là dấu hiệu cho thấy một phần nguồn vốn ngắn hạn đã được đầu tư vào tàisản dài hạn Khi đó, chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳ thanh toán nên dễ dẫnđến những vi phạm nguyên tắc tín dụng và có thể đưa đến một hệ quả tài chính khôngtốt
Trong mối quan hệ giữa tài sản dài hạn với nợ dài hạn, nếu tài sản dài hạn lớn
hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ sở hữu thì là điều hợp lý vìkhi đó doanh nghiệp đã sử dụng đúng mục đích nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu Tuynhiên nếu phần thiếu hụt được bù đắp bằng nợ ngắn hạn thì lại là bất hợp lý vì nó làmmất cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn Nếu tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dàihạn thì chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã được chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn Điềunày vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợdài hạn
Ngoài ra, khi phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, người
phân tích cũng cần chú trọng đến vốn hoạt động thuần (còn gọi là vốn ngắn hạn
thường xuyên) là số vốn mà doanh nghiệp không cần phải vay mượn hay đi chiếmdụng, được sử dụng để duy trì những hoạt động bình thường, diễn ra thường xuyên tạidoanh nghiệp Vốn hoạt động thuần có thể tính theo một trong hai cách sau:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Hoặc:
Trang 27
Trong đó, nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụngthường xuyên lâu dài, bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn (nợ dài hạn, trunghạn).
Nếu vốn hoạt động thuần lớn hơn 0 thì đây là dấu hiệu tài chính bình thườnghay khả quan, thể hiện sự cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạn hoặccân đối giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản dài hạn Cân bằng tài chính trong trườnghợp này gọi là cân bằng tốt
Ngược lại, nếu vốn hoạt động thuần nhỏ hơn 0 sẽ thể hiện một sự mất cân đốigiữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn và mất cân đối giữa nguồn tài trợ thường xuyênvới tài sản dài hạn Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp dùng nguồn tài trợ tạm thời cho
cả tài sản dài hạn và nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến tình trạng tài chínhcủa doanh nghiệp rối loạn nghiêm trọng hơn, toàn bộ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
có thể mất dần và đi đến bờ vực phá sản Và tất nhiên, cân bằng tài chính trong trườnghợp này là cân bằng xấu
* Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
Để phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh, nhà phân tíchcần tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:
+ Hệ số tài trợ thường xuyên
Nguồn tài trợ thường xuyên
thuần = Nguồn tài trợ thường xuyên
Trang 28-Hệ số này cho biết, so với tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn tài trợthường xuyên chiếm mấy phần Trị số này càng lớn chứng tỏ tính ổn định về tài chínhcàng cao và ngược lại.
+ Hệ số tài trợ tạm thời
Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng vào hoạt độngkinh doanh trong một thời gian ngắn Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay nợ ngắnhạn, vay nợ quá hạn và các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán, người mua,người lao động (mua hàng mà không có thanh toán, bán hàng mà không giao hàng,thuê công nhân mà không trả lương…)
Tương tự như hệ số tài trợ thường xuyên, hệ số tài trợ tạm thời cho biết, so vớitổng nguồn tài trợ, nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêu này cànglớn chứng tỏ tính ổn định về mặt tài chính của doanh nghiệp càng thấp và ngược lại
+ Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên
Thông qua chỉ tiêu này, nhà phân tích thấy được trong tổng số nguồn tài trợthường xuyên, số vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn thìtính tự chủ và độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
+ Hệ số nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn
Nguồn tài trợ tạm thời
Tổng nguồn vốn
=
Hệ số tài trợ tạm thời
Vốn chủ sở hữu Nguồn tài trợ thường xuyên
=
Hệ số vốn chủ sở hữu so với
nguồn vốn tài trợ thường xuyên
Trang 29
Chỉ tiêu này cho biết mức độ tài trợ của tài sản dài hạn bằng nguồn vốn thườngxuyên Trị số của chỉ tiêu càng lớn thì tính ổn định và bền vững về tài chính của doanhnghiệp càng lớn và ngược lại.
+ Hệ số tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn
Với chỉ tiêu này người phân tích biết mức độ tài trợ tài sản ngắn hạn bằng nợngắn hạn là cao hay thấp Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 thì tính ổn định và bềnvững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
1.2.3.3 Phân tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Chất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu phụ thuộc chủ yếuvào tình hình thanh toán của doanh nghiệp Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp
sẽ có ít công nợ, ít bị chiếm dụng vốn và cũng ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếuhoạt động tài chính kém, doanh nghiệp sẽ phải đương đầu với các khoản công nợ kéodài Phân tích tình hình thanh toán là việc xem xét tình hình thanh toán các khoản phảithu, phải trả của doanh nghiệp, qua đó có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quảhoạt động tài chính
* Chỉ tiêu khả năng thanh toán tổng hợp:
Hệ số nguồn vốn tài trợ thường
xuyên so với tài sản dài hạn
Trang 30Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanhtoán của doanh nghiệp Nếu hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1 chứng tỏ doanh nghiệp cókhả năng thanh toán, trang trải hết công nợ, tình hình tài chính khả quan Ngược lại,nếu hệ số này nhỏ hơn 1 chứng tỏ thực trạng tài chính không bình thường, doanhnghiệp gặp khó khăn trong việc trang trải công nợ Hệ số càng nhỏ phản ánh thực trạngtài chính của doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn, mất dần khả năng thanh toán dẫntới nguy cơ phá sản.
* Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh
toán ngắn hạn = Tài sản lưu động + đầu tư ngắn hạnNợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn là công cụ đo lường khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn Qua thực tiễn thấy rằng hệ số này là 2 thì tốt nhất Tuy nhiên, hệ số nàytăng lên chưa hẳn chứng tỏ tình hình tài chính được cải thiện tốt hơn mà có thể do sựgia tăng của hàng tồn kho ứ đọng… Vì vậy, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ các khoản mụcriêng biệt của tài sản lưu động và nợ ngắn hạn
* Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh:
Trang 31
* Chỉ tiêu thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Vốn bằng tiền
Nợ ngắn hạn
Nếu hệ số này lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán của Doanh nghiệp tốt hơn.Nếu nhỏ hơn 0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn Tuynhiên, nếu tỷ lệ này quá cao lại không tốt vì gây tình trạng quay vòng vốn chậm, hiệuquả sử dụng vốn không cao
* Chỉ tiêu khả năng thanh toán lãi vay hay số lần có thể trả lãi:
Hệ số khả năng thanh
toán lãi vay =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Lãi vay
Hệ số này phản ánh mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm nhưthế nào Nói cách khác, số vốn doanh nghiệp đi vay được sử dụng như thế nào, manglại lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp tiền vay hay không
1.2.3.4 Phân tích các chỉ tiêu về khả năng hoạt động:
Các chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanhnghiệp Các chỉ tiêu này được thiết lập dựa trên doanh thu nhằm mục đích tìm ra tốc độquay vòng của một số đại lượng cần thiết cho quản lý tài chính ngắn hạn
* Vòng quay tiền:
Vòng quay tiền = Tiền và các khoản tương đương tiềnDoanh thu
Tỷ số này cho biết vòng quay của tiền trong một năm CNó phản ánh với mộtlượng tiền nhất định dùng vào kinh doanh đã mang lại tổng số doanh thu là bao nhiêutrong một năm Tuy nhiên cần phải kết hợp với các chỉ tiêu khác mới phản ánh đượchiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
* Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vồn hàng bán ra trong kỳ
Trang 32
Trị giá hàng tồn kho bình quân
Đây là tỷ số đặc trưng cho tốc độ lưu chuyển hàng hoá phản ánh hiệu quả sửdụng hàng tồn kho và trình độ quản lý dự trữ của doanh nghiệp và sự phù hợp của hànghoá với nhu cầu của thị trường
Vòng quay hàng tồn kho có thể rất khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp.Thông thường tỷ số này cao cho thấy khả năng chuyển đổi hàng tồn kho thành tiền mặtcao, nguy cơ ứ đọng hàng hoá giảm, chứng tỏ hoạt động của doanh nghiệp là hiệu quảgóp phần củng cố niềm tin của khách hàng Các doanh nghiệp mong muốn duy trìlượng hàng tồn kho càng thấp càng tốt bởi chi phí cho việc dự trữ hàng tồn kho làtương đối lớn như: bảo hiểm cho hàng tồn kho, đọng vốn hàng tồn kho, nguy cơ bị lạchậu… Tuy nhiên, nếu lượng hàng tồn kho quá thấp, doanh nghiệp không đủ nguyên,nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc không đủ hàng hoá thoả mãn nhu cầukhách hàng… thì cũng không tốt cho doanh nghiệp
* Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu
Số dư bình quân các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt củadoanh nghiệp Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh làtốt, tránh tình trạng doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn
* Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu x 360Doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết thông tin về khả năng thu hồi vốn trong thanh toán, đặcbiệt là việc thu hồi vốn từ việc bán chịu hàng hoá, đồng thời cũng phản ánh hiệu quảviệc quản lý các khoản phải thu và chính sách tín dụng doanh nghiệp thực hiện với
Trang 33
khách hàng của mình Nó phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu(số ngày của một vòng quay các khoản phải thu)
* Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu
Tài sản cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanhthu trong một năm Tài sản cố định ở đây được xác định theo giá trị còn lại tại thờiđiểm lập báo cáo
* Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Tổng tài sản bình quânDoanh thu
Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản hoặc nguồn vốn, cho bếtmột đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu, đánh giá khả năng sử dụng tài sảncủa doanh nghiệp
1.2.3.5 Phân tích các chỉ tiêu về khả năng sinh lãi:
Đây là các chỉ tiêu đánh giá khái quát nhất hiệu quả kinh doanh, khả năng dinhlợi của doanh nghiệp Nó là kết quả của quá trình quản lý doanh nghiệp đồng thời cũng
là căn cứ để đưa ra các quyết định cho các nhà quản lý
* Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm: (PM)
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Lợi nhuận sau thuếDoanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả của quá trình hoạt động kinh doanh, nóphản ánh lợi nhuận sau thuế do doanh thu tiêu thụ sản phẩm đem lại Tỷ số này chỉ ra
tỷ trọng kết quả trọng tổng các hoạt động của doanh nghiệp, chỉ rõ năng lực của doanhnghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận và năng lực cạnh tranh
* Doanh lợi vốn chủ sở hữu: (ROE)
Trang 34
Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhàchủ đầu tư quan tâm đặc biệt khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào các doanh nghiệp.Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất tong hoạt độngquản lý tài chính doanh nghiệp
* Doanh lợi tài sản:
Doanh lợi tài sản (ROA) = Lợi nhuận trước thuế và lãiTài sản
Hoặc
Doanh lợi tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế Tài sản
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của mộtđồng vốn đầu tư Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của đơn vị được phân tích và phạm vi
so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc thu nhập sau thuế để sosánh với tổng tài sản
* Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính:
Đòn bẩy tài chính còn được gọi là hệ số nợ, được tính theo công thức sau:
Đòn bẩy tài chính = Tài sản
Vốn chủ sở hữu
Hoặc được thể hiện bởi công thức:
Đòn bẩy tài chính = Tổng số nợ vay
Trang 35Tổng vốn
Từ công thức trên ta thấy, khi doanh lợi tổng vốn không thay đổi, hệ số nợ càngcao (vốn vay càng nhiều) thì doanh lợi vốn chủ sở hữu càng lớn Do vậy, người ta gọi
hệ số nợ là đòn bẩy tài chính và dùng nó để khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu
Tuy nhiên, sử dụng đòn bẩy tài chính như con dao hai lưỡi Nếu tổng tài sảnkhông có khả năng sinh ra một tỷ lệ lợi nhuận đủ lớn để bù đắp các chỉ phí lãi vay phảitrả thì doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bị giảm sút
Gọi: T: Tổng vốn; C: Vốn chủ sở hữu; V: Vốn vay
P’TT&L : Doanh lợi tổng tài sản EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
P’TT&L = EBIT/T; Suy ra: EBIT = P’TT&L x T
r : Lãi suất tiền vay ; t% : Thuế suất thuế TNDN
Vậy, lãi vay phải trả là : V x r
Ta thấy (1 – t%) là một hằng số, vậy doanh lợi vốn chủ sở hữu chỉ phụ thuộcvào lãi suất tiền vay r, doanh lợi tổng tài sản (P’TT&L) và tỷ lệ giữa tài sản được tài trợbằng vốn vay với tài sản được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu với (V/C) ≥ 0
Trang 36
Vì vậy:
Nếu P’TT&L > r thì thu nhập ròng của một đồng vốn chủ sở hữu bằng hệ số sinhlợi của tổng tài sản và được khuyếch đại thêm một lượng là: (V/C) x (P’TT&L – r).Trường hợp này người ta gọi là đòn bẩy tài chính dương
Nếu P’TT&L < r thì thu nhập ròng của một đồng vốn chủ sở hữu bằng hệ số sinhlợi của tổng tài sản và được khấu trừ đi một lượng là: (V/C) x (P’TT&L – r) Trường hợpnày người ta gọi là đòn bẩy tài chính âm
1.2.3.6 Đánh giá khả năng tăng trưởng:
Đánh giá chính xác khả năng tăng trưởng, giúp cho việc tính toán khả năng pháttriển của doanh nghiệp trong tương lai là vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ đốivới nhà quản lý doanh nghiệp mà kể cả các nhà đầu tư Thực tế hiện nay cho thấykhông phải chỉ có doanh nghiệp suy thoái bị phá sản mà có nhiều doanh nghiệp bị phásản bởi tăng trưởng quá nhanh, một số khác thì tăng trưởng quá chậm Việc quản lý đểđạt được sự tăng trưởng đúng mức và bền vững là mục tiêu theo đuổi của các nhà quản
lý nếu muốn tối đa hoá lợi nhuận
Phân tích, đánh giá khả năng tăng trưởng được bắt đầu từ việc nghiên cứu, xácđịnh được tốc độ phát triển bền vững của doanh nghiệp Đây lµ tốc độ tăng trưởng tối
đa trong sự phù hợp với tốc độ tăng doanh số mà vẫn không làm cạn kiệt nguồn nội lựctài chính của doanh nghiệp Tiếp theo tiến hành so sánh tốc độ tăng trưởng mục tiêuvới tốc độ tăng trưởng bền vững đồng thời nghiên cứu, xem xét tình huống đặt ra chocác nhà quản trị một khi tốc độ tăng trưởng mục tiêu vượt quá tốc độ tăng trưởng bềnvững hay ngược lại nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng bền vững
Trước hết hãy giả định rằng: 1 Trong điều kiện thị trường cho phép, mọi doanhnghiệp đều muốn tăng trưởng càng nhanh càng tốt; 2 Doanh nghiệp không thể hoặckhông muốn tăng vốn chủ bằng cách gọi thêm và phát hành cổ phiếu; 3 Doanh nghiệpmuốn duy trì một chính sách tài chính mà công ty cần phải đạt được
Trang 37
Tình hình tài chính của một doanh nghiệp đang trên đà phát triển nhanh có thểbiểu diễn qua hình sau:
giữ lại lợi nhuậnTài sản gốc Nợ phải trả và vốn
chủ sở hữu gốc
SƠ ĐỒ 1.3: SƠ ĐỒ VỀ SỰ GIA TĂNG CỦA DOANH THU ĐÒI HỎI SỰ GIA
TĂNG CỦA NỢ VAY VÀ GIỮ LẠI LỢI NHUẬN
Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp được trình bày làm 2 cột: Tài sản vànguồn vốn Phần dưới là tài sản và nguồn vốn ở thời điểm đầu năm (bằng nhau).Doanh nghiệp muốn gia tăng doanh thu cần phải gia tăng tài sản như khối lượng sảnxuất, hàng tồn kho, các khoản phải thu Do Công ty không thể bỏ thêm vốn chủ như giảđịnh nên nguồn tài trợ cho sự gia tăng của tài sản là lợi nhuận giữ lại và tăng thêm nợvay
Vấn đề cần xác định là tốc độ giới hạn mà doanh nghiệp có thể tăng doanh thu
đó chính là tốc độ tăng trưởng bền vững (ký hệu Tbv)
Ta biết rằng: vốn chủ sở hữu (bằng thu nhập giữ lại) và nợ vay tăng theo một tỉ
lệ thì cấu trúc tài chính không thay đổi Như vậy thì tỷ lệ tăng vốn chủ và nợ vay quyếtđịnh tỷ lệ gia tăng tài sản mà tỷ lệ gia tăng tài sản giới hạn tỷ lệ tăng trưởng của doanhthu Do đó:
Trang 38Công thức này có thể biểu diễn dưới dạng:
Tbv =
TNX
LN
x
DTx
TS
(1) X (2) x (3) x (4)
Trong đó: Tbv: tỷ lệ tăng trưởng bền vững
TN: thu nhập giữ lại
LN: Lợi nhuận sau thuế
DT: Doanh thu thuần
TS: tổng tài sản bình quân; VC: vốn chủ sở hữu
Trong công thức trên: (1) là tỷ lệ lợi nhuận giữ lại
Tbv phụ thuộc vào 4 nhân tố Nếu một trong 4 hệ số trên thay đổi thì Tbv cũngthay đổi theo Điều đó nói lên rằng: muốn có tốc độ tăng trưởng lớn hơn so với tỷ lệtăng trưởng bền vững đã xác định thì tốt nhất là tác động vào (2) và (3) tức là cải thiệntình hình hoạt động nếu không phải chuẩn bị phương án thay đổi chính sách tài chính
Một cách triển khai Tbv khác:
Tbv =
TNX
TSx
Trang 39(3) là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (khả năng sinh lợi của tài sản).
Cách biểu diễn này cho thấy: với chính sách tài chính ổn định cho trước, tốc độtăng trưởng bền vững thay đổi tuyến tính với khả năng sinh lời của tài sản Sơ đồ 1.4phác hoạ mối quan hệ này Đường biểu diễn mối quan hệ này có thể được gọi là đường
“tăng trưởng cân bằng” Gọi là cân bằng bởi lẽ doanh nghiệp chỉ có thể tài trợ nếu cácđiểm biểu diễn tăng trưởng doanh thu và khả năng sinh lời của tài sản đều nằm trênđường này Ngoài ra sẽ dẫn đến thiếu hụt hay dư thừa tiền mặt Như vậy, nếu tăngtrưởng quá nhanh mà mức lợi nhuận có hạn thì doanh nghiệp nằm trong vùng thiếu tiền
và ngược lại nằm trong vùng thừa tiền
Trang 40Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản
SƠ ĐỒ 1.4: MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG VÀ
KHẢ NĂNG SINH LỜI
Nếu doanh nghiệp rơi vào sự tăng trưởng không cân bằng có thể điều chỉnh, tácđộng đến 1 trong 3 nhân tố là: tốc độ tăng trưởng, chính sách tài chính, tỷ suất lợinhuận Khi đó đường tăng trưởng cân bằng sẽ dịch chuyển và sự cân bằng mới sẽ đượcthiết lập Tuy nhiên trong từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn bộ phận cần tác động
Trường hợp tăng trưởng thực tế lớn hơn tốc độ tăng trưởng bền vững: trước tiên
là xem xét tình hình này kéo dài bao lâu Nếu tốc độ này có thể giảm xuống trongtương lai gần do doanh nghiệp đã đạt được mức bão hoà thì điều đó có nghĩa là tốc độtăng trưởng nhanh chỉ là tạm thời, do đó có thể giải quyết việc vay mượn thêm Khi tốc
đọ tăng trưởng thực tế giảm xuống nhỏ hơn hoặc bằng tăng trưởng bền vững, lúc đódoanh nghiệp chuyển từ kẻ tiêu tiền sang người tạo ra tiền và có thể trả được nợ vay.Trường hợp tốc độ tăng trưởng lớn kéo dài, cần có sự phối hợp các chiến lược như:
- Huy động vốn cổ động mới: khi vốn cổ đông tăng, cộng với số tiền có thểđược vay thêm, sẽ là nguồn tài trợ giúp cho tăng trưởng
- Gia tăng các đòn bẩy bằng cách: 1 Giảm tỷ lệ chia cổ tức (tăng tỷ lệ giữ lạithu nhập) 2 Tăng nợ vay
- Thay đổi quá trình hoạt động kinh doanh để kiểm soát tăng trưởng quá nhanh(ví dụ đa dạng hoá sản phẩm với mục tiêu bình quân hoá các nguồn thu trên cơ sở đógiảm tỷ lệ tăng trưởng)
- Sử dụng ngoại lực bằng cách thuê ngoài và giảm vệic thực hiện trong nội bộdoanh nghiệp Điều này có thể giải phóng một số tài sản gắn liền với các hoạt động và
nó sẽ làm tăng việc luân chuyển tài sản của doanh nghiệp, điều đó làm giảm bớt khókhăn trong vấn đề tăng trưởng