1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những kỹ năng mà công chứng viên cần có trong việc soạn thảo hợp đồng giao dịch

15 262 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 123,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1 1.2. Nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu 1 1.3. Cơ cấu của bài báo cáo 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH 3 1.1. Khái niệm 3 1.2. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng 3 1.2.1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan 3 1.2.2. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ không phải chứng minh 4 1.2.3. Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch. 4 1.3. Quy định của pháp luật về việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch 5 1.4. Nguyên tắc soạn thảo hoặc kiểm tra nội dung của văn bản công chứng 5 1.4.1. Hình thức văn bản chuyển tải chính xác bản chất pháp lý, nội dung của giao dịch hay hình thức pháp lý đơn phương 5 1.4.2. Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của mỗi bên 6 1.4.3. Nội dung văn bản công chứng phải thể hiện chính xác, đầy đủ, trọn vẹn ý chí của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật 7 1.5. Kỹ năng soạn thảo văn bản công chứng: 7 1.5.1. Phần chủ thể: 7 1.5.2. Phần nội dung 8 CHƯƠNG 2: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN 10 KẾT LUẬN 12 LỜI MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Những năm trở lại đây, hoạt động công chứng đang có những bước phát triển vượt bậc, đã có những đóng góp thiết thực vào việc cải cách thủ tục hành chính, góp phần lập lại trật tự trong lĩnh vực giao dịch dân sự tại các văn phòng công chứng….với việc soạn thảo văn bản hợp đồng giao dịch của người yêu cầu công chứng vô cùng đa dạng về thể thức với các điều khoản, điều kiện hoàn toàn khác nhau nên khi các công chứng viên đứng rra soạn thảo hay hay kiểm tra văn bản công chứng thì công chứng viên cần phải có những kỹ năng nhất định. Do vậy đối với mỗi công chứng viên cần trau dồi những kỹ năng cần phải có những kỹ năng cần thiết để có thể đáp ứng được những yêu cầu của người yêu cầu công chứng. đây là những kỹ năng cơ bản và rất cần thiết vì vậy tôi xin đóng góp một số ý kiến của bản thân với các đồng nghiệp thông qua báo cáo với nội dung chuyên đề “Những kỹ năng mà công chứng viên cần có trong việc soạn thảo hợp đồng giao dịch”. 1.2. Nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu kỹ năng mà công chứng viên cần có trong việc soạn thảo hợp đồng giao dịch Đề xuất các biện pháp, giải pháp hoàn thiện kỹ năng mà công chứng viên cần có trong việc soạn thảo hợp đồng giao dịch Đối tượng nghiên cứu Kỹ năng công chứng viên cần có trong việc soạn thảo hợp đồng giao dịch 1.3. Cơ cấu của bài báo cáo Báo gồm có Mở đầu, Nội dung, Kết luận. Trong đó, Nội dung của báo cáo được chia thành 3 phần như sau: Phần mở đầu Phần Nội dung Chương 1: Lý luận về kỹ năng soạn thảo hợp đồng giao dịch Chương 2: Các giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng soạn thảo hợp đồng giao dịch của công chứng viên Phần Kết luận CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH 1.1. Khái niệm Theo Điều 4 Luật công chứng qui định về văn bản công chứng như sau: Hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng theo quy định của Luật này gọi là văn bản công chứng. Văn bản công chứng bao gồm các nội dung sau đây: a) Hợp đồng, giao dịch; b) Lời chứng của công chứng viên. Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và có đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. 1.2. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. 1.2.1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Khi giáo kết được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận đã tạo ra giá trị ràng buộc cao đảm bảo thực hiện và có giá trị với bên thứ ba. Việc công chứng các bản hợp đồng, giao dịch đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, phòng ngừa rủi ro và tranh chấp, tạo ra sự ổn định của quan hệ giữa các bên trong giao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự, kỷ cương, là cơ sở thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên. Do đó, khi phát sinh mâu thuẫn giữa các bên mà không giải quyết được dựa trên các thỏa thuận của hợp đồng, giao dịch công chứng; bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. 1.2.2. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ không phải chứng minh Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. – Do công chứng viên đã xác định tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch nên hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực là chứng cư trước tòa án – Điểm c Khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, theo đó, những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp không phải chứng minh. Trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính. Việc quy định hợp đồng, các văn bản được công chứng có giá trị chứng cứ là một chế định đặc biệt đối với hoạt động công chứng. Với việc quy định như vậy đã nâng cao tinh thần trách nhiệm của các công chứng viên trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng của mình. Qua việc công chứng, nếu công chứng viên phát hiện ra các sai phạm cũng như dấu hiệu tội phạm có thể báo cáo với cơ quan có thẩm quyền, đồng thời việc công chứng các văn bản giấy tờ sẽ được văn phòng công chứng lưu lại một bản trong kho dữ liệu, từ đó các văn bản công chứng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng nếu có các tranh chấp xảy ra. Và những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh bởi lẽ khi hoạt động công chứng, công chứng viên đã kiểm tra tính xác thực của các thông tin của văn bản công chứng với bản chính và ghi lời làm chứng, ký tên đóng dấu nhằm khẳng định điều đó. 1.2.3. Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch. Khi văn bản công chứng đã được công chứng viên kiểm tra, đối chiếu tính xác thực với bản chính một cách đầy đủ, chính xác; đã ghi lời làm chứng của mình, ký tên, đóng dấu để khẳng định điều đó thì bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch. Tạo điều kiện thuận lợi cho người có nhu cầu công chứng có thể đạt được kết quả mà họ mong muốn. 1.3. Quy định của pháp luật về việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch Theo quy định tại Điều 40 và Điều 41 Luật Công chứng 2014 thì có 2 loại văn bản công chứng: văn bản công chứng do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng và văn bản công chứng đã được soạn thảo sẵn. Khi xem xét văn bản do người yêu cầu công chứng soạn thảo sẵn thì cần phải xem xét văn bản đó về nội dung và hình thức đã phù hợp với quy định pháp luật hay chưa. Nếu xét thấy văn bản đó có nội dung trái quy định pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội thì cần tư vấn cho họ hiểu và công chứng viên có quyền đề nghị họ chỉnh sửa lại cho phù hợp hoặc có thể soạn thảo giúp nếu người yêu cầu công chứng đề nghị hoặc có thể từ chối yêu cầu công chứng nếu như họ không sửa chữa. Chính vì vậy, trong mọi trường hợp công chứng viên đều có trách nhiệm kiểm tra, chỉnh sửa nội dung văn bản công chứng. Vậy khi trực tiếp soạn thảo văn bản công chứng hay kiểm tra, sửa chữa nội dung văn bản công chứng thì công chứng viên cần phải có những kỹ năng, giải pháp nhất định nhằm đảm bảo chất lượng của Văn bản công chứng có hiệu lực, hiệu quả. 1.4. Nguyên tắc soạn thảo hoặc kiểm tra nội dung của văn bản công chứng 1.4.1. Hình thức văn bản chuyển tải chính xác bản chất pháp lý, nội dung của giao dịch hay hình thức pháp lý đơn phương Công chứng viên cần kiểm tra các quy định của pháp luật có liên quan để sử dụng hình thức hợp đồng phù hợp nhằm chuyển tải đúng nội dung các thỏa thuận của các bên. Nội dung của giao dịch (hay còn gọi là các điều khoản và điều kiện) của hợp đồng phải phù hợp với hình thức, tên gọi chính thức của hợp đồng công chứng đó. Khi soạn thảo hay kiểm tra nội dung văn bản công chứng trong trường hợp công chứng theo sự tự nguyện yêu cầu của đương sự, công chứng viên không được phép sử dụng mẫu của hợp đồng (thậm chí là cả tên gọi của hợp đồng đó) đã được quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan nhằm tránh gây ra những nhầm lẫn không đáng có. 1.4.2. Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của mỗi bên Liên quan đến giao dịch công chứng thông thường sẽ có 3 bên hiện diện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trên văn bản công chứng, đó là: người yêu cầu công chứng, người thực hiện việc công chứng (bao gồm cả nhân viên phòng công chứng) và cá nhân tổ chức hành nghề tư vấn, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Nên khi soạn thảo văn bản hay kiểm tra dự thảo văn bản công chứng, công chứng viên cần phân biệt rõ phạm vi trách nhiệm từng bên, thậm chí là từng cá nhân có mặt trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng đó. Ví dụ: Người yêu cầu công chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không trung thực khi xuất trình giấy tờ, tài liệu tạo lập cơ sở pháp lý cho việc giao kết hợp đồng, giao dịch công chứng (khoản 1 Điều 47 Luật Công chứng): “i) Người yêu cầu là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự. ii) Trường hợp người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó.iii) Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó”. Công chứng viên Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình (điểm g, khoản 1, Điều 17, Luật Công chứng) hay người yêu cầu công chứng giả mạo, không có năng lực hành vi dân sự hay tại Điều 46 Luật Công chứng quy định về lời chứng của công chứng viên: 1) Lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch phải ghi rõ địa điểm, thời điểm công chứng, họ tên công chứng viên, tên tổ chức hàng nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký và dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đứng là chữ ký và dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. 2) Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết mẫu lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch.” Người phiên dịch chịu trách nhiệm về bản dịch cũng như nội dung trao đổi giữa các bên, người làm chứng chịu trách nhiệm về sự trung thực, khách quan trong phạm vi làm chứng của mình (khoản 2, khoản 3 Điều 47 Luật Công chứng). 1.4.3. Nội dung văn bản công chứng phải thể hiện chính xác, đầy đủ, trọn vẹn ý chí của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật a). Nội dung hợp đồng giao dịch, công chứng phải chuyển tải đầy đủ, trung thực ý chí chủ quan của các bên tham gia giao kết b). Nội dung văn bản công chứng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. 1.5. Kỹ năng soạn thảo văn bản công chứng: Dựa trên quy định của pháp luật và quá trình hành nghề công chứng, người ta chia văn bản công chứng thành 3 bộ phận: chủ thể tham gia xác lập, giao kết văn bản, những nội dung cần phải có của văn bản và lời chứng của công chứng viên. 1.5.1. Phần chủ thể: Theo Bộ Luật Dân sự 2015, cách thức chia chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch dân sự thành 4 nhóm chính: (1)Nhóm cá nhân (Chương III Phần thứ nhất), (2) Pháp nhân (Chương IV Phần thứ nhất), Nhà nước CHXHCNVN, (3) Cơ quan nhà nước ở Trung Ương (Chương V Phần thứ nhất) (4) Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chứng khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự (Chương VI Phần thứ nhất). Cá nhân: Cá nhân là chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch nói chung hay hợp đồng được công chứng nói riêng. Trên thực tế hành nghề, công chứng viên thường đưa ra những thông tin xoay quanh các khía cạnh sau đây: họ và tên, năm sinh, số giấy tờ tùy thân, ngày tháng năm cấp, cơ quan cấp và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú. Do vậy, khi soạn thảo hợp đồng công chứng liên quan đến người yêu cầu công chứng là cá nhân, thì công chứng viên phải ghi nhận cụ thể những nội dung sau: Tổ chức: Để mô tả một doanh nghiệp, công chứng viên thường tập trung vào các thông tin sau: tên, trụ sở chính, mã số doanh nghiệp, số giấy đăng ký doanh nghiệp, ngày tháng năm cấp và cơ quan cấp. Cơ sở pháp lý để công chứng viên xác định là các Điều: Điều 4 (về giải thích từ ngữ), Điều 29 (về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) và Điều 30 (mã số doanh nghiệp) Luật Doanh nghiệp 2014. Tổ hợp tác và gia đình: Được quy định trong chương VI, từ Điều 101, Điều 102, Điều 103, Điều 104 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 Đây là nhóm chủ thể mà công chứng viên ít gặp nhất trong quá trình công chứng, nhất là với chủ thể là tổ hợp tác. 1.5.2. Phần nội dung (các điều khoản) Đây là phần các điều khoản, điều kiện do các bên thỏa thuận, thống nhất được ghi lại trong nội dung hợp đồng, là bộ phận có tầm quan trọng bậc nhất, xác định chính xác quyền và nghĩa vụ dân sự của mỗi bên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt khi tham gia giao kết hợp đồng đó. Theo Khoản 2 Điều 3 Bộ Luật Dân sự 2015 thì nội dung các bản hợp đồng do các bên tự do thỏa

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1

1.2 Nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu 1

1.3 Cơ cấu của bài báo cáo 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng 3

1.2.1 Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan 3

1.2.2 Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ không phải chứng minh 4

1.2.3 Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch 4

1.3 Quy định của pháp luật về việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch 5

1.4 Nguyên tắc soạn thảo hoặc kiểm tra nội dung của văn bản công chứng 5

1.4.1 Hình thức văn bản chuyển tải chính xác bản chất pháp lý, nội dung của giao dịch hay hình thức pháp lý đơn phương 5

1.4.2 Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của mỗi bên 6

1.4.3 Nội dung văn bản công chứng phải thể hiện chính xác, đầy đủ, trọn vẹn ý chí của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật 7

1.5 Kỹ năng soạn thảo văn bản công chứng: 7

1.5.1 Phần chủ thể: 7

1.5.2 Phần nội dung 8

CHƯƠNG 2: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN 10

KẾT LUẬN 12

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

Những năm trở lại đây, hoạt động công chứng đang có những bước phát triển vượt bậc, đã có những đóng góp thiết thực vào việc cải cách thủ tục hành chính, góp phần lập lại trật tự trong lĩnh vực giao dịch dân sự tại các văn phòng công chứng….với việc soạn thảo văn bản hợp đồng giao dịch của người yêu cầu công chứng vô cùng đa dạng về thể thức với các điều khoản, điều kiện hoàn toàn khác nhau nên khi các công chứng viên đứng rra soạn thảo hay hay kiểm tra văn bản công chứng thì công chứng viên cần phải có những kỹ năng nhất định Do vậy đối với mỗi công chứng viên cần trau dồi những kỹ năng cần phải có những kỹ năng cần thiết để có thể đáp ứng được những yêu cầu của người yêu cầu công chứng đây là những kỹ năng cơ bản và rất cần thiết vì vậy tôi xin đóng góp một số ý kiến của bản thân với các đồng nghiệp thông qua báo cáo với nội dung chuyên đề

“Những kỹ năng mà công chứng viên cần có trong việc soạn thảo hợp đồng giao

dịch”.

1.2 Nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu

*Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu kỹ năng mà công chứng viên cần có trong việc soạn thảo hợp

đồng giao dịch

- Đề xuất các biện pháp, giải pháp hoàn thiện kỹ năng mà công chứng viên

cần có trong việc soạn thảo hợp đồng giao dịch

* Đối tượng nghiên cứu

- Kỹ năng công chứng viên cần có trong việc soạn thảo hợp đồng giao dịch

1.3 Cơ cấu của bài báo cáo

Báo gồm có Mở đầu, Nội dung, Kết luận Trong đó, Nội dung của báo cáo được chia thành 3 phần như sau:

Trang 3

- Phần mở đầu

- Phần Nội dung

Chương 1: Lý luận về kỹ năng soạn thảo hợp đồng giao dịch

Chương 2: Các giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng soạn thảo hợp đồng giao

dịch của công chứng viên

Phần Kết luận

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG

GIAO DỊCH 1.1 Khái niệm

Theo Điều 4 Luật công chứng qui định về văn bản công chứng như sau:

- Hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng theo quy định của Luật này gọi là văn bản công chứng

- Văn bản công chứng bao gồm các nội dung sau đây:

a) Hợp đồng, giao dịch;

b) Lời chứng của công chứng viên

- Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và

có đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng

1.2 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng

1.2.1 Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan

Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác

Khi giáo kết được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận đã tạo ra giá trị ràng buộc cao đảm bảo thực hiện và có giá trị với bên thứ ba

Việc công chứng các bản hợp đồng, giao dịch đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, phòng ngừa rủi ro và tranh chấp, tạo ra sự ổn định của quan hệ giữa các bên trong giao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự, kỷ cương,

là cơ sở thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên Do đó, khi phát sinh mâu

Trang 5

thuẫn giữa các bên mà không giải quyết được dựa trên các thỏa thuận của hợp đồng, giao dịch công chứng; bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật

1.2.2 Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ không phải chứng minh

Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết,

sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu

– Do công chứng viên đã xác định tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch nên hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực là chứng cư trước tòa án

– Điểm c Khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, theo đó, những tình tiết, sự kiện

đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp không phải chứng minh Trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính

Việc quy định hợp đồng, các văn bản được công chứng có giá trị chứng

cứ là một chế định đặc biệt đối với hoạt động công chứng Với việc quy định như vậy đã nâng cao tinh thần trách nhiệm của các công chứng viên trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng của mình.

Qua việc công chứng, nếu công chứng viên phát hiện ra các sai phạm cũng như dấu hiệu tội phạm có thể báo cáo với cơ quan có thẩm quyền, đồng thời việc công chứng các văn bản giấy tờ sẽ được văn phòng công chứng lưu lại một bản trong kho dữ liệu, từ đó các văn bản công chứng trở thành nguồn chứng

cứ quan trọng nếu có các tranh chấp xảy ra Và những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh bởi lẽ khi hoạt động công chứng, công chứng viên đã kiểm tra tính xác thực của các thông tin của văn bản công chứng với bản chính và ghi lời làm chứng, ký tên đóng dấu nhằm khẳng định điều đó

1.2.3 Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được

Trang 6

Khi văn bản công chứng đã được công chứng viên kiểm tra, đối chiếu tính xác thực với bản chính một cách đầy đủ, chính xác; đã ghi lời làm chứng của mình, ký tên, đóng dấu để khẳng định điều đó thì bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch Tạo điều kiện thuận lợi cho người có nhu cầu công chứng có thể đạt được kết quả mà họ mong muốn

1.3 Quy định của pháp luật về việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch

Theo quy định tại Điều 40 và Điều 41 Luật Công chứng 2014 thì có 2 loại văn bản công chứng: văn bản công chứng do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng và văn bản công chứng đã được soạn thảo sẵn

Khi xem xét văn bản do người yêu cầu công chứng soạn thảo sẵn thì cần phải xem xét văn bản đó về nội dung và hình thức đã phù hợp với quy định pháp luật hay chưa Nếu xét thấy văn bản đó có nội dung trái quy định pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội thì cần tư vấn cho họ hiểu và công chứng viên có quyền đề nghị họ chỉnh sửa lại cho phù hợp hoặc có thể soạn thảo giúp nếu người yêu cầu công chứng đề nghị hoặc có thể từ chối yêu cầu công chứng nếu như họ không sửa chữa

Chính vì vậy, trong mọi trường hợp công chứng viên đều có trách nhiệm kiểm tra, chỉnh sửa nội dung văn bản công chứng Vậy khi trực tiếp soạn thảo văn bản công chứng hay kiểm tra, sửa chữa nội dung văn bản công chứng thì công chứng viên cần phải có những kỹ năng, giải pháp nhất định nhằm đảm bảo chất lượng của Văn bản công chứng có hiệu lực, hiệu quả

1.4 Nguyên tắc soạn thảo hoặc kiểm tra nội dung của văn bản công chứng 1.4.1 Hình thức văn bản chuyển tải chính xác bản chất pháp lý, nội dung của giao dịch hay hình thức pháp lý đơn phương

- Công chứng viên cần kiểm tra các quy định của pháp luật có liên quan để sử dụng hình thức hợp đồng phù hợp nhằm chuyển tải đúng nội dung các thỏa thuận của các bên

- Nội dung của giao dịch (hay còn gọi là các điều khoản và điều kiện)

Trang 7

của hợp đồng phải phù hợp với hình thức, tên gọi chính thức của hợp đồng công chứng đó

- Khi soạn thảo hay kiểm tra nội dung văn bản công chứng trong trường hợp công chứng theo sự tự nguyện yêu cầu của đương sự, công chứng viên không được phép sử dụng mẫu của hợp đồng (thậm chí là cả tên gọi của hợp đồng đó) đã được quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan nhằm tránh gây ra những nhầm lẫn không đáng có

1.4.2 Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của mỗi bên

Liên quan đến giao dịch công chứng thông thường sẽ có 3 bên hiện diện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trên văn bản công chứng, đó là:

người yêu cầu công chứng, người thực hiện việc công chứng (bao gồm

cả nhân viên phòng công chứng) và cá nhân tổ chức hành nghề tư vấn, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nên khi

soạn thảo văn bản hay kiểm tra dự thảo văn bản công chứng, công chứng viên cần phân biệt rõ phạm vi trách nhiệm từng bên, thậm chí là từng cá nhân có mặt trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng đó Ví dụ: Người yêu cầu công chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không trung thực khi xuất trình giấy tờ, tài liệu tạo lập cơ sở pháp lý cho việc giao kết hợp đồng,

giao dịch công chứng (khoản 1 Điều 47 Luật Công chứng): “i) Người yêu

cầu là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự ii) Trường hợp người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó.iii) Người yêu

cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó” Công chứng viên Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu

cầu công chứng về văn bản công chứng của mình (điểm g, khoản 1, Điều

17, Luật Công chứng) hay người yêu cầu công chứng giả mạo, không có năng lực hành vi dân sự hay tại Điều 46 Luật Công chứng quy định về lời

chứng của công chứng viên: 1) Lời chứng của công chứng viên đối với hợp

Trang 8

đồng, giao dịch phải ghi rõ địa điểm, thời điểm công chứng, họ tên công chứng viên, tên tổ chức hàng nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký và dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đứng

là chữ ký và dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng 2) Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết mẫu lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch.” Người phiên dịch chịu trách nhiệm về bản dịch cũng như

nội dung trao đổi giữa các bên, người làm chứng chịu trách nhiệm về sự trung thực, khách quan trong phạm vi làm chứng của mình (khoản 2, khoản

3 Điều 47 Luật Công chứng)

1.4.3 Nội dung văn bản công chứng phải thể hiện chính xác, đầy đủ, trọn vẹn ý chí của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật

a) Nội dung hợp đồng giao dịch, công chứng phải chuyển tải đầy đủ, trung thực ý chí chủ quan của các bên tham gia giao kết

b) Nội dung văn bản công chứng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

1.5 Kỹ năng soạn thảo văn bản công chứng:

Dựa trên quy định của pháp luật và quá trình hành nghề công chứng, người ta chia văn bản công chứng thành 3 bộ phận: chủ thể tham gia xác lập, giao kết văn bản, những nội dung cần phải có của văn bản và lời chứng của công chứng viên

1.5.1 Phần chủ thể:

Theo Bộ Luật Dân sự 2015, cách thức chia chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch dân sự thành 4 nhóm chính: (1)Nhóm cá nhân (Chương III Phần thứ nhất), (2) Pháp nhân (Chương IV Phần thứ nhất), Nhà nước CHXHCNVN, (3) Cơ quan nhà nước ở Trung Ương (Chương V Phần thứ nhất) (4) Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chứng khác không có tư cách pháp

Trang 9

nhân trong quan hệ dân sự (Chương VI Phần thứ nhất).

* Cá nhân:

Cá nhân là chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch nói chung hay hợp đồng được công chứng nói riêng

Trên thực tế hành nghề, công chứng viên thường đưa ra những thông tin xoay quanh các khía cạnh sau đây: họ và tên, năm sinh, số giấy tờ tùy thân, ngày tháng năm cấp, cơ quan cấp và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú Do vậy, khi soạn thảo hợp đồng công chứng liên quan đến người yêu cầu công chứng là cá nhân, thì công chứng viên phải ghi nhận cụ thể những nội dung sau:

* Tổ chức:

Để mô tả một doanh nghiệp, công chứng viên thường tập trung vào các thông tin sau: tên, trụ sở chính, mã số doanh nghiệp, số giấy đăng ký doanh nghiệp, ngày tháng năm cấp và cơ quan cấp Cơ sở pháp lý để công chứng

viên xác định là các Điều: Điều 4 (về giải thích từ ngữ), Điều 29 (về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) và Điều 30 (mã số doanh

nghiệp) Luật Doanh nghiệp 2014

* Tổ hợp tác và gia đình:

Được quy định trong chương VI, từ Điều 101, Điều 102, Điều 103, Điều 104 của Bộ Luật Dân sự năm 2015

Đây là nhóm chủ thể mà công chứng viên ít gặp nhất trong quá trình công chứng, nhất là với chủ thể là tổ hợp tác

1.5.2 Phần nội dung (các điều khoản)

Đây là phần các điều khoản, điều kiện do các bên thỏa thuận, thống nhất được ghi lại trong nội dung hợp đồng, là bộ phận có tầm quan trọng bậc nhất,

xác định chính xác quyền và nghĩa vụ dân sự của mỗi bên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt khi tham gia giao kết hợp đồng đó Theo Khoản 2 Điều 3

Bộ Luật Dân sự 2015 thì nội dung các bản hợp đồng do các bên tự do thỏa thuận Do vậy, từ thực tế hành nghề công chứng, cơ bản một bản hợp đồng

Trang 10

sẽ được soạn thảo theo một kết cấu sau đây:

Thứ nhất, phải xác định chính xác cơ sở pháp lý mà các bên dựa vào

đó để tiến hành giao kết hợp đồng (ví dụ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trong hợp đồng mua bán nhà ở,…)

Thứ hai, sự thỏa thuận của các bên tham gia giao kết hợp đồng: Đây là phần nội dung quan trọng trong bản hợp đồng công chứng Tùy từng loại hợp đồng, giao dịch có đối tượng khác nhau (hợp đồng, giao dịch có đối tượng là “vật” hay “việc”), nội dung này sẽ chuyển tải những thỏa thuận không giống nhau ( ví dụ: công việc được phép thực hiện hay không được phép thực hiện trong hợp đồng ủy quyền, )

Thứ ba, quyền và nghĩa vụ mỗi bên tham gia giao kết hợp đồng: Khi soạn thảo hay kiểm tra nội dung hợp đồng công chứng, công chứng viên và người yêu cầu công chứng cần dựa trên những quy định của pháp luật về quyền lợi và nghĩa vụ các các bên khi tham gia giao kết hợp để xác định chính xác, chi tiết quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên

Thứ tư, cam kết của các bên: Đây là phần nội dung nhằm ràng buộc trách nhiệm của người yêu cầu công chứng đối với một số nội dung được ghi nhận trong văn bản công chứng, thuộc phạm vi chịu trách nhiệm của người yêu cầu công chứng

Thứ năm, các trường hợp bất khả kháng cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp: Đây là một nội dung mang tính dự phòng cho những tình huống không hay có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hiện hợp đồng hay các tình huống thực tế diễn ra không nằm trong dự liệu của các bên tại thời điểm giao kết

Thứ sáu, giao kết hợp đồng: nội dung này nhằm đảm bảo cho người yêu cầu công chứng (các bên tham gia giao kết hợp đồng) khẳng định chắc chắn, dứt khoát ý chí cũng như khả năng nhận thức của bản thân trước khi chính thức giao kết bản hợp đồng đó dưới sự chứng kiến của công chứng viên

Ngày đăng: 06/03/2021, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w