Trong những năm qua, hoạt động công chứng ở nước ta có những đónggóp thiết thực vào việc cải cách thủ tục hành chính, góp phần lập lại trật tựtrong lĩnh vực giao dịch dân sự, kinh tế, th
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
KỸ NĂNG CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG
Chuyên đề: Những kỹ năng mà công chứng viên cần có trong việc soạn
thảo hợp đồng giao dịch
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 2
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu 2
II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG SOẠN THẢO VĂN BẢN CÔNG CHỨNG 2
1 Khái niệm 2
2 Quy định pháp luật về việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch 3
3 Nguyên tắc sạo thảo hoặc kiểm tra nội dung của văn bản công chứng 4
3.1 Hình thức văn bản chuyển tải chính xác bản chất pháp lý, nội dung của giao dịch hay hình thức pháp lý đơn phương 4
3.2 Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của mỗi bên 5
3.3 Nội dung văn bản công chứng phải thể hiện chính xác, đầy đủ, trọn vẹn ý chí của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật 6
4 Kỹ năng soạn thảo văn bản công chứng 9
4.1 Phần chủ thể 9
4.2 Phần nội dung (các điều khoản) 16
4.3 Lời chứng của công chứng viên 18
III CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN 18
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Việc công chứng, chứng thực đang dần trở nên phổ biến khi mà trongnhiều văn bản pháp luật hiện hành quy định rằng việc công chứng, chứng thực
là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hay của các giao dịch khác Như vậy,xét về bản chất pháp lý, văn bản công chứng không chỉ là sản phẩm nghềnghiệp của công chứng viên mà còn là công cụ, phương tiện ghi nhận ý chíchủ quan của mỗi bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch
Trong những năm qua, hoạt động công chứng ở nước ta có những đónggóp thiết thực vào việc cải cách thủ tục hành chính, góp phần lập lại trật tựtrong lĩnh vực giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại….Do văn bản côngchứng, nhất là những văn bản công chứng theo yêu cầu tự nguyện của ngườiyêu cầu công chứng vô cùng đa dạng về thể thức với các điều khoản, điềukiện hoàn toàn khác nhau nên khi soạn thảo hay hay kiểm tra văn bản côngchứng, công chứng viên cần phải trang bị cho mình những kỹ năng và tuânthủ những quy tắc nhất định Do vậy, việc nghiên cứu kỹ năng mà công chứngviên cần phải có trong việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch nhằm giúp mỗicông chứng viên tuân thủ theo pháp luật và đạo đức hành nghề công chứng
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về hoạt động soạn thảo văn bản công chứng Những văn bảnpháp luật quy định về hoạt động công chứng, kỹ năng soạn thảo văn bản hợpđồng, giao dịch của công chứng viên trong quá trình công chứng
II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG SOẠN THẢO VĂN BẢN CÔNG CHỨNG
1 Khái niệm
Khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 (dưới đây gọi là Luật Công
chứng) quy định : “Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã
được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này”.
Như vậy,văn bản công chứng được cấu thành bởi những bộ phận cơ bản là hợp đồng, giao dịch và phần lời chứng của công chứng viên Trong
đó phần nội dung hợp đồng, giao dịch nhằm ghi nhận ý chí chủ quan cũng
Trang 4như sự thỏa thuận của các bên tham gia giao kết, trong khi lời chứng chính là
bộ phận thể hiện vai trò, trách nhiệm của công chứng viên đối với bản hợpđồng, giao dịch đó
2 Quy định của pháp luật về việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch
Theo nội dung Điều 40 và Điều 41 Luật Công chứng, có hai văn bản
công chứng Loại thứ nhất là văn bản công chứng do công chứng viên soạn
thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng ( Điều 40), loại thứ hai là
văn bản công chứng được soạn thảo sẵn (Điều 41).
Văn bản công chứng được soạn thảo sẵn có thể được soạn thảo bởi nhiềuđối tượng khác nhau có hiểu biết về pháp luật như: luật sư, chuyên gia tưvấn,… hoặc chính bản thân người yêu cầu công chứng
Dù văn bản công chứng do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị củangười yêu cầu công chứng hay do người yêu cầu công chứng được soạn thảosẵn thì về nguyên tắc công chứng viên vẫn phải là cá nhân chịu trách nhiệmchính đối với tính “xác thực, hợp pháp” của nội dung văn bản công chứng
Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng khẳng định: “Công chứng là việc công
chứng viên của một tổ chứng hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch), tính chính xác, hợp pháp không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ Tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang Tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Thậm chí công chứng viên còn có quyền yêu cầu chỉnh sửa nội dung
văn bản công chứng cho phù hợp với quy định của pháp luật hay được từ chốicông chứng nếu người yêu cầu công chứng không đáp ứng đề nghị nêu trên
của công chứng viên “công chứng viên kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch;
nếu trong hợp đồng, giao dịch cơ điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức
xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật thì công chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền từ chối công chứng” (Khoản 6 Điều 40 Luật Công
Trang 5chứng) Vì vậy, công chứng viên khi trực tiếp soạn thảo hay kiểm tra, sửa
chữa nội dung văn bản công chứng, phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
3 Nguyên tắc soạn thảo hoặc kiểm tra nội dung của văn bản công chứng 3.1 Hình thức văn bản chuyển tải chính xác bản chất pháp lý, nội dung của giao dịch hay hình thức pháp lý đơn phương
- Công chứng viên cần kiểm tra các quy định của pháp luật có liên quan
để sử dụng hình thức hợp đồng phù hợp nhằm chuyển tải đúng nội dung cácthỏa thuận của các bên
- Nội dung của giao dịch (hay còn gọi là các điều khoản và điều kiện)của hợp đồng phải phù hợp với hình thức, tên gọi chính thức của hợp đồngcông chứng đó
- Khi soạn thảo hay kiểm tra nội dung văn bản công chứng trong trườnghợp công chứng theo sự tự nguyện yêu cầu của đương sự, công chứng viênkhông được phép sử dụng mẫu của hợp đồng (thậm chí là cả tên gọi của hợpđồng đó) đã được quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan nhằmtránh gây ra những nhầm lẫn không đáng có
3.2 Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của mỗi bên
Liên quan đến giao dịch công chứng thông thường sẽ có 3 bên hiện diệnmột cách trực tiếp hoặc gián tiếp trên văn bản công chứng, đó là: người yêu cầu công chứng, người thực hiện việc công chứng (bao gồm cả nhân viên phòng công chứng) và cá nhân tổ chức hành nghề tư vấn, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nên khi soạn thảo văn
bản hay kiểm tra dự thảo văn bản công chứng, công chứng viên cần phân biệt
rõ phạm vi trách nhiệm từng bên, thậm chí là từng cá nhân có mặt trực tiếptham gia giao kết hợp đồng đó Ví dụ: Người yêu cầu công chứng phải chịutrách nhiệm trước pháp luật nếu không trung thực khi xuất trình giấy tờ, tàiliệu tạo lập cơ sở pháp lý cho việc giao kết hợp đồng, giao dịch công chứng
(khoản 1 Điều 47 Luật Công chứng): “i) Người yêu cầu là cá nhân phải có
năng lực hành vi dân sự ii) Trường hợp người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó.iii) Người yêu
Trang 6cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó” Công chứng viên Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu
cầu công chứng về văn bản công chứng của mình (điểm g, khoản 1, Điều 17,Luật Công chứng) hay người yêu cầu công chứng giả mạo, không có năng lựchành vi dân sự hay tại Điều 46 Luật Công chứng quy định về lời chứng của
công chứng viên: 1) Lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao
dịch phải ghi rõ địa điểm, thời điểm công chứng, họ tên công chứng viên, tên
tổ chức hàng nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký và dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch đứng là chữ ký và dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng 2) Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết mẫu lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch.” Người phiên dịch
chịu trách nhiệm về bản dịch cũng như nội dung trao đổi giữa các bên, ngườilàm chứng chịu trách nhiệm về sự trung thực, khách quan trong phạm vi làmchứng của mình (khoản 2, khoản 3 Điều 47 Luật Công chứng)
3.3 Nôi dung văn bản công chứng phải thể hiện chính xác, đầy đủ, trọn vẹn ý chí của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật
Văn bản công chứng chính là hợp đồng đã được công chứng Văn bảncông chứng sẽ được cấu thành bởi hai bộ phận là nội dung hợp đồng và lờichứng của công chứng viên Bộ phận nội dung hợp đồng chuyển tải ý chí chủquan, nội dung thỏa thuận mà các bên chủ thể tham gia giao kết văn bản côngchứng hướng tới Bộ phận lời chứng của công chứng viên chính là phần thểhiện trách nhiệm của công chứng viên đối với nội dung văn bản công chứng.Sau khi Luật Công chứng 2014 có hiệu lực, thì lời chứng của công chứng viênbắt buộc phải tuân theo mẫu lời chứng được quy định tại Điều 46 Luật Côngchứng và đặc biệt mẫu lời chứng được ban hành kèm theo Thông tư06/2015/TT-BTP ngày 15/06/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng
Trang 7dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng Như vậy, bộ phận lời chứngnhằm đảm bảo nội dung văn bản công chứng không vi phạm điều cấm củapháp luật cũng như không trái đạo đức xã hội Cụ thể như sau:
a) Nội dung hợp đồng giao dịch, công chứng phải chuyển tải đầy đủ, trung thực ý chí chủ quan của các bên tham gia giao kết
Đây là một trong những yêu cầu quan trọng mà công chứng viên cầnphải tuân thủ khi tiến hành soạn thảo hoặc kiểm tra nội dung của hợp đồngcông chứng Điều 385 Bộ Luật Dân sự 2015 đã có khái niệm về hợp đồng dân
sự như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Trong khi đó Điều 274: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá trị, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).”
Như vậy, về bản chất pháp lý, văn bản công chứng chính là hợp đồnghay là hành vi pháp lý đơn phương được công chứng nên văn bản công chứng
chính là một trong những “Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự” (Điều 275 Bộ
Luật Dân sự 2015) Dưới góc độ dân sự, Bộ Luật Dân sự năm 2015 chia hợpđồng dân sự làm hai loại cơ bản là hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ
Khoản 1: “Hợp đồng song vụ là hợp đồng mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với
nhau” Khoản 2 “ Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng đơn vụ mà chỉ một bên có nghĩa vụ.” Như vậy, một hợp đồng song vụ quyền dân sự của bên này chính
là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại (như hợp đồng mua bán nhà ở), còn tronghợp đồng đơn vụ, chỉ có một bên có quyền trong khi bên còn lại chỉ có nghĩa
vụ (Ví dụ: hợp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện) Khi tiến hành giaokết hợp đồng công chứng, các bên yêu cầu công chứng đã tự do, tự nguyệnlàm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của mình.Khoản 2 Điều 3 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về các nguyên tắc cơ bản
của luật dân sự: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và
nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã
Trang 8hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” Sau khi hoàn tất thủ tục công chứng, hợp đồng giao dịch được công chứng sẽ có giá trị bắt buộc không chỉ đối với bên trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng mà còn đối với các bên có liên quan (Điều 5 Luật Công chứng).
Chính vì vậy, chỉ khi nào nội dung bản hợp đồng công chứng chuyển tải chínhxác, đầy đủ và trọn vẹn ý chí chủ quan của mỗi bên tham gia thì người yêucầu công chứng mới gánh chịu toàn bộ quyền cũng như nghĩa vụ phát sinh,
thay đổi, chấm dứt theo bản hợp đồng đó Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A yêu cầu
công chứng viên nhận một hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, tuy nhiên
do một sơ suất nào đó, nội dung văn bản đã không thể hiện, ghi nhận điều kiện tặng cho Như vậy hợp đồng tặng cho tài sản được công chứng đã không
chuyển tải đầy đủ ý chí của bên tặng cho Do vậy, bên tặng cho không bắtbuộc phải thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh, thay đổi hay chấm dứtdựa trên bản hợp đồng đó Chính vì hợp đồng dân sự nói chung hay hợp đồngcông chứng nói riêng làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự nên khi soạn thảo hay kiểm tra nội dung văn bản công chứng, côngchứng viên cần khẳng định được các điều khoản, điều kiện của văn bản côngchứng đó đã phản ánh trung thực trung thực, đầy đủ, trọn vẹn ý chủ chủ quancủa các bên tham gia giao kết hợp đồng công chứng Chỉ khi nào hợp đồngcông chứng thỏa mãn điều kiện trên thì mới trở thành cơ sở pháp lý để làmphát sinh thay đổi hay chấm dứt nghĩa vụ dân sự của những bên tham gia giaokết bản hợp đồng đó
Mặt khác, các nội dung điều khoản, điều kiện trong hợp đồng côngchứng phải rõ ràng, rành mạch để người có quyền và nghĩa vụ liên quan hiểutheo một nghĩa duy nhất, tránh gây phiền toái làm cho mỗi bên hiểu theo
hướng có lợi cho bản thân Ví dụ: Bà Nguyễn Thị A có di chúc lại cho con trai
là ông B và con dâu là bà C toàn bộ tài sản của bản thân sau khi chết Sau khi
bà A qua đời, bản di chúc nêu trên được mang tới tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền để tiến hành khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật Tuy nhiên lúc này ông B và bà C đã ly hôn Lúc này, theo ý kiến của ông B, chỉ khi nào bà C là “con dâu” của Bà A thì bà C mới có quyền
Trang 9hưởng di sản thừa kế Trong khi đó, bà C lại khẳng định mình có toàn quyền hưởng di sản thừa kế của bà A cho dù còn duy trì hôn nhân với ông B hay không Theo cách lập luận của bà C, việc bà A để lại thừa kế cho mình hoàn toàn xuất phát từ quan hệ tình cảm cá nhân rất tốt đẹp giữa hai người và không liên quan tới mối quan hệ mẹ chồng, nàng dâu do tên của C đã được khẳng định chính thức trong di chúc của bà A Như vậy, mỗi người lại có một
cách hiểu, cách giải thích hoàn toàn khác nhau về nội dung của văn bản dichúc Trong tình huống giả định ở trên, tranh chấp không đáng có xuất phát từcách hành văn thiếu chặt chẽ của công chứng viên khi soạn thảo di chúc cho
bà Nguyễn Thị A
b) Nội dung văn bản công chứng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Theo quy định tại Điều 123 Bộ Luật Dân sự 2015: “Giao dịch dân sự có
mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu” Trong khi tính pháp luật được quy định và chuẩn hóa trong các văn bản
quy phạm pháp luật thì phạm trù đạo đức lại không có được thuộc tính kể trên.Việc đánh giá một yêu cầu công chứng có phù hợp với chuẩn mực đạo đức xãhội hay không đôi lúc vô cùng phức tạp Tùy theo quan niệm, tập quán từngvùng miền mà khái niệm đạo đức lại có những thay đổi nhất định
4 Kỹ năng soạn thảo văn bản công chứng:
Dựa trên quy định của pháp luật và quá trình hành nghề công chứng,người ta chia văn bản công chứng thành 3 bộ phận: chủ thể tham gia xác lập,giao kết văn bản, những nội dung cần phải có của văn bản và lời chứng củacông chứng viên
4.1 Phần chủ thể:
Theo Bộ Luật Dân sự 2015, cách thức chia chủ thể tham gia giao kết hợpđồng, giao dịch dân sự thành 4 nhóm chính: (1)Nhóm cá nhân (Chương IIIPhần thứ nhất), (2) Pháp nhân (Chương IV Phần thứ nhất), Nhà nướcCHXHCNVN, (3) Cơ quan nhà nước ở Trung Ương (Chương V Phần thứnhất) (4) Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chứng khác không có tư cách phápnhân trong quan hệ dân sự (Chương VI Phần thứ nhất)
Trang 104.1.1 Cá nhân:
Cá nhân là chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất khi tham gia giao kết cáchợp đồng, giao dịch nói chung hay hợp đồng được công chứng nói riêng.HIện nay chưa có bất kỳ quy định nào hướng dẫn cách thức mô tả một cánhân khi người này tham gia giao kết hợp đồng công chứng, ngoại trừ nội
dung mẫu lời chứng số 01 (Mẫu lời chứng chung đối với hợp đồng, giao dịch
được ban hành kèm theo Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của
Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng) Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, do lời chứng luôn là bộ
phận đứng cuối cùng trong nội dung văn bản công chứng nên quy định kể trênchỉ áp dụng được cho phần lời chứng chứ không thể làm căn cứ cho việc mô
tả người yêu cầu công chứng, bởi lẽ bộ phận này luôn được đề cập đầu tiên tạiphần lớn các hợp đồng, giao dịch nói chung hay hợp đồng công chứng nóiriêng
Trên thực tế hành nghề, công chứng viên thường đưa ra những thông tinxoay quanh các khía cạnh sau đây: họ và tên, năm sinh, số giấy tờ tùy thân,ngày tháng năm cấp, cơ quan cấp và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạmtrú Do vậy, khi soạn thảo hợp đồng công chứng liên quan đến người yêu cầucông chứng là cá nhân, thì công chứng viên phải ghi nhận cụ thể những nộidung sau:
- Họ và tên: Đây là thông tin gắn liền với mỗi cá nhân con người kể từ
khi sinh ra cho đến khi chết đi, họ và tên cũng là nội dung bắt buộc phải cótrong giấy khai sinh theo mẫu thống nhất Như vậy, họ và tên là nội dungkhông thể thiếu khi công chứn viên cần mô tả nhằm cá biệt hóa một cá nhânnào đó
- Ngày tháng năm sinh: Đây là cơ sở pháp lý để công chứng viên có
thể xác định chính xác năng lực hành vi dân sự của cá nhân khi tham gia giaokết một bản hợp đồng cụ thể Và trong một số trường hợp xác định côngchứng viên cần phải ghi rõ ngày tháng năm sinh của người yêu cầu côngchứng để xác định chuẩn xác năng lực hành vi dân sự của cá nhân đó
Trang 11- Số giấy tờ tùy thân: Theo điểm c khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng
quy định về thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn thì
người yêu cầu công chứng cần phải nộp một bộ hồ sơ bao gồm “Bản sao giấy
tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng” Như vậy, sử dụng giấy tờ tùy
thân để xác định người yêu cầu công chứng là quy định mang tính chínhthống trong văn bản quy phạm pháp luật về công chứng nhằm kiểm tra nhậndạng cá nhân sẽ trực tiếp ký hoặc điểm chỉ vào văn bản công chứng
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Căn cứ vào Điều 12 Luật Cư trú
ngỳ 29/11/2006, đã được sửa đổi bổ sung ngày 20/6/2013, thì:
1) Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Nơi cư trú là nôi công dân cư trú thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ nhất định và đã đăng ký thường trú.
Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đang ký thường trú và
4.1.2 Tổ chức:
Để mô tả một doanh nghiệp, công chứng viên thường tập trung vào cácthông tin sau: tên, trụ sở chính, mã số doanh nghiệp, số giấy đăng ký doanhnghiệp, ngày tháng năm cấp và cơ quan cấp Cơ sở pháp lý để công chứngviên xác định là các Điều:Điều 4 (về giải thích từ ngữ), Điều 29 (về nội dung
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) và Điều 30 (mã số doanh nghiệp)
Luật Doanh nghiệp 2014 Cụ thể như sau: