NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN 1.1 Khái niệm công chứng viên Công chứng được định nghĩa là công việc mà trong đó người thực hiện công
Trang 1MỞ ĐẦU
I Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, hoạt động công chứng đã thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an toàn pháp lý, tạo ra môi trường pháp lý ổn định cho các giao dịch dân sự, kinh tế thương mại của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước
Có thể nói rong quá trình phát triển lĩnh vực công chứng nước ta cũng đã bộc
lộ những hạn chế, bất cập cả về mặt tổ chức và hoạt động làm ảnh hưởng đến các hoạt động giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại của xã hội, hạn chế sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng như sự hội nhập của nền kinh tế nước ta và cũng làm giảm đi hiệu quả quản lý của nhà nước trong lĩnh vực này Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên phần lớn là do hệ thống pháp luật nước ta nói chung và trong lĩnh vực công chứng nói riêng chưa đồng bộ, chưa hoàn chỉnh còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, nhiều quy định không còn phù hợp với sự phát triển Mặc dù Luật Công chứng đã ra đời đã giải quyết được một số vướng mắc nhưng những hạn chế nêu trên vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để Vấn đề đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực công chứng tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động công chứng phát triển Cùng với việc muốn làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn vai trò của công chứng viên đối với hoạt động công chứng Đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật về vai trò của công chứng viên, một nhân tố quan trọng trong việc phát triển của hoạt động công
chứng Đó là lý do tôi chọn đề tài: "Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của công chứng
viên – Đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật "
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Khái quát được pháp luật công chứng ở nước ta Phân tích và đánh giá
về vai trò của công chứng viên đối với hoạt động công chứng Trên cơ sở đó phân tích và đánh giá các yếu tố tác động đến hoạt động công chứng
Rà soát lại các quy định của pháp luật tìm ra sự hạn chế vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực công chứng và nâng cao hiệu quả của hoạt động công chứng Góp phần thực hiện mục tiêu cải cách tưpháp cũng như
Trang 2cải cách nền hành chính nhà nước trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
b Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình và xu hướng phát triển của pháp luật công chứng Đi sâu phân tích các quy định của pháp luật trong lĩnh vực công chứng và các chế định pháp luật khác có ảnh hưởng tới công chứng
3 Cơ cấu của bài báo cáo
- Phần mở đầu
- Nội dung
Chương 1: Quy định của pháp luật về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của công chứng viên
Chương 3: Đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật
- Kết luận
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN 1.1 Khái niệm công chứng viên
Công chứng được định nghĩa là công việc mà trong đó người thực hiện công việc trực tiếp đó là công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng đứng
ra chịu trách nhiệm thực hiện đối với tính hợp pháp, tính xác thực của giao dịch dân
sự, của hợp đồng đó bằng văn bản (sau đây được gọi chung là giao dịch, hợp đồng), đối với tính hợp pháp, tính chính xác và luôn phải đảm bảo đúng nguyên tắc không trái với đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, các văn bản từ tiếng việt sang tiếng nước ngoài cũng như các văn bản được dịch ngược lại từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây được gọi chung là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật thì các văn bản này phải được công chứng hoặc một số trường hợp là do ý chí của các
cá nhân, tổ chức vì muốn đảm bảo tính pháp lý cũng như những vấn đề phát sinh về sau sẽ luôn đảm bảo được thực hiện đúng như theo văn bản đã ký thì tự nguyện muốn đi công chứng văn bản đó
– Công chứng viên được Luật công chứng năm 2014 quy định rất cụ thể tại Điều 8 của bộ luật này đó là những cá nhân có đẩy đủ phẩm chất và tiêu chuẩn theo quy định và được đích thân Bộ trưởng Bộ tư pháp ký quyết định bổ nhiệm thì mới
có thể tiến hành hành nghề công chứng
– Theo quy định tại Điều 3, Luật công chứng năm 2014 thì công chứng viên
có chức năng xã hội đó là cung cấp các dịch vụ công mà được cơ quan Nhà nước tiến hành việc ủy nhiệm trong việc thực hiện nhằm đảm bảo đối với việc đảm bảo
an toàn pháp lý cho các bên tham gia trong hợp đồng, giao dịch đang yêu cầu được công chứng; công chứng viên có chức năng phòng ngừa đối với các tranh chấp về nội dung văn bản mà nếu không được công chứng thì có thể các tranh chấp này sẽ xảy ra; ngoài ra thì công chứng viên còn có trách nhiệm trong việc góp phần bảo vệ
Trang 4quyền, cũng như lợi ích hợp pháp của cá nhân, cũng như tổ chức yêu cầu công chứng và các bên liên quan khác; cuối cùng công chứng viên có chức năng tham gia vào việc thực hiện ổn định cũng như phát triển kinh tế – xã hội
1.2 Điều kiện, tiêu chuẩn công chứng viên
Luật công chứng đã có những quy định tạo điều kiện để những người có đủ tiêu chuẩn và trình độ muốn hành nghề công chứng được chủ động hơn trong việc trở thành công chứng viên
Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam trung thành với tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét bổ nhiệm làm công chứng viên:
a) có bằng cử nhân luật;
b) có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan tổ chức;
c) có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng, đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng;
d) Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng
e) Có sức khỏe bảo đảm hành nghề công chứng
* Thời gian đào tạo nghề công chứng và tập sự hành nghề công chứng được tính vào thời gian công tác pháp luật”
Dựa trên tiêu chuẩn công chứng viên, pháp luật quy định một cách rất cụ thể người thực hiện công chứng và nói chung các quy định đó cũng khá đúng đắn và hợp lý Tuy nhiên, tiêu chuẩn công chứng viên vẫn còn một số điểm hạn chế như:
Công chứng viên là người bảo vệ quyền lợi người công chứng nhưng cũng
có thể gây thiệt hại to lớn về kinh tế nếu thiếu hiểu biết hoặc làm việc tắc trách, bất cẩn Do vậy, những tiêu chuẩn đó so với yêu cầu thực tế còn sơ sài và làm nảy sinh rất nhiều bất cập Ví dụ: một số giao dịch liên quan đến bất động sản có biểu hiện công chứng “treo” Công chứng viên không qua đào tạo nghề công chứng ở một số
Trang 5văn phòng công chứng có tình trạng lôi kéo khách hàng, thực hiện hoạt động công chứng trái quy định
Việc luật công chứng cũng không quy định về tuổi hành nghề công chứng cũng là một điểm hạn, nếu công chứng viên cao tuổi sẽ hạn chế về sức khỏe, không đáp ứng được yêu cầu về tư duy về nghiệp vụ sắc bén, đòi hỏi cần có sự tinh thông Ngoài ra, còn một điểm hạn chế lớn của luật công chứng hiện hành đó là việc quy định các trường hợp được miễn đào tạo và miễn tập sự nghề công chứng bao gồm những người: “Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề
từ ba năm trở lên, là giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật”
Tuy đây là những người có trình độ pháp lý cao nhưng công chứng viên là nghề rất đặc thù, tính chịu trách nhiệm cao, văn bản pháp công chứng có giá trị pháp lý không phải chứng minh…do đó, những người này không cần phải đào tạo cũng không có lấy một ngày tập sự hành nghề là không phù hợp Thực tế có nhiều
vụ việc công chứng viên “sang ngang” kiểu này đã dẫn đến những vi phạm đáng tiếc
Để hoàn thiện hơn, cần sửa đổi Luật Công chứng theo hướng thu hẹp đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng, cụ thể là không miễn đào tạo cho đối tượng đã là điều tra viên, luật sư hành nghề từ 3 năm trở lên mà chỉ miễn đào tạo nghề công chứng cho người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, công chứng viên, giáo
sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật nhằm quy định chặt chẽ hơn về điều kiện được miễn đào tạo nghề công chứng; bổ sung quy định những đối tượng được miễn đào tạo phải tham gia khoá bồi dưỡng nghề công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm, trừ những người đã là công chứng viên mà thôi hành nghề công chứng tính đến trước thời gian bổ nhiệm tối đa là 5 năm
Trang 6Đồng thời, cần bổ sung quy định người được miễn đào tạo nghề công chứng cũng phải tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng, song được giảm 1/2 thời gian tập sự vì đây là những người đã có kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực pháp luật; bổ sung quy định về kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng nhằm đảm bảo và tăng cường chất lượng của việc tập sự hành nghề công chứng, đánh giá được hiệu quả và thực chất của việc tập sự
1.3 Quyền hạn của công chứng viên
Căn cứ theo quy định tại Điều 17, Luật công chứng năm 2014 có quy định thì công chứng viên có các quyền hạn như sau đây:
– Công chứng viên sẽ được công chứng các giao dịch dân sự, các hợp đồng cũng như các bản dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt theo đúng quy định của Luật công chứng 2014 đà thể hiện rõ ràng
– Công chứng viên có quyền tham gia thành lập các văn phòng công chứng riêng hoặc có thể tham gia làm việc dưới dạng hợp đồng lao động cho các tổ chức hành nghề công chứng khác mà mình lựa chọn tùy điều kiện và nhu cầu của mỗi công chứng viên
– Công chứng viên có quyền công chứng các văn bản, giao dịch, bản dịch theo quy định của pháp luật tuy nhiên nếu trong quá trình thực hiện mà công chứng viên xét thấy trong hợp đồng, bản dịch, giao dịch đó có nội dung trái với quy định của pháp luật, trái với đạo đức xã hội thì công chứng viên hoàn toàn có quyền từ chối đối với các công việc đó
– Công chứng viên có quyền thực hiện việc đưa ra đề nghị của mình đến các
cá nhân, cơ quan, cũng như đến các tổ chức mà xét nội dung thấy rằng có liên quan
để cung cấp các tài liệu, thông tin nhằm mục đích thực hiện được công việc của mình theo đúng tinh thần của pháp luật
– Công chứng viên còn có một số quyền hạn khác nhất định theo quy định của Luật công chứng năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có nội
Trang 7dung liên quan đến công chứng và nằm trong phạm vi quyền hạn của công chứng viên được thực hiện
1.4 Nghĩa vụ của công chứng viên
– Công chứng viên có nghĩa vụ phải tuân thủ đối với các nguyên tắc hành nghề công chứng đó là: luôn phải đảm bảo tính khách quan, trung thực trong công việc của mình; tuân thủ đúng theo tinh thần của hiến pháp và pháp luật đã quy định; đứng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về tính hợp pháp của văn bản mình đã công chứng; tuân thủ theo đúng quy tắc đạo đức nghề nghiệp của việc hành nghề công chứng, các nguyên tắc sát sườn của việc hành nghề công chứng
– Công chứng viên phải hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng cụ thể, tổ chức hành nghề công chứng này phải có đầy đủ các giấy tờ pháp lý về việc hành nghề là hợp pháp, đủ tư cách thực hiện nghề nghiệp
– Công chứng viên có nghĩa vụ thực hiện việc giải thích cho người yêu cầu công chứng được hiểu rõ về các quyền lợi cũng như các nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng, về ý nghĩa cũng như các hậu quả pháp lý có thể xảy ra của việc công chứng văn bản, hợp đồng, giao dịch dân sự, bản dịch đó Trường hợp nếu công chứng viên mà từ chối yêu cầu công chứng của người yêu cầu công chứng thì có nghĩa vụ phải giải thích rõ về lý do từ chối công chứng của mình cho người yêu cầu công chứng được biết hoặc bổ sung giấy tờ nếu trong trường hợp có thể bổ sung
– Công chứng viên có nghĩa vụ đối với việc tôn trọng cũng như bảo vệ quyền, các lợi ích hợp pháp của người có yêu cầu công chứng văn bản của họ Ở đây người yêu cầu công chứng được hiểu là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc người yêu cầu công chứng cũng có thể là cá nhân, tổ chức nước ngoài mà có yêu cầu công chứng đối với hợp đồng, giao dịch, bản dịch của họ
– Công chứng viên phải đảm bảo đối với nội dung mình đã công chứng luôn được tuyệt mật, không được tiết lộ nội dung mình đã công chứng cho người khác
Trang 8biết trừ trường hợp được sự đồng ý của người yêu cầu công chứng bằng văn bản hoặc trong một số trường hợp mà pháp luật có quy định rõ ràng về tính bảo mật của văn bản
– Ngoài việc thực hiện hành nghề công chứng thì công chứng viên còn có nghĩa vụ phải tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm theo quy chuẩn
để nâng cao nghiệp vụ cũng như cập nhập các quy định mới của pháp luật trong công tác hành nghề công chứng của mình luôn được chính xác và đúng quy định của pháp luật
– Công chứng viên có nghĩa vụ phải thực hiện việc tham gia các tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên theo quy định của nghề Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên được hiểu ở đây đó là những tổ chức hoạt động dưới cơ chế tự quản được thành lập và hình thành ở cấp trung ương và cấp tỉnh với mục đích đại diện cho công chứng viên cũng như nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên đang hoạt động công chứng
Các tổ chức công chứng này có các hoạt động cụ thể như tham gia cùng cơ quan nhà nước trong công việc tiến hành việc tổ chức đào tạo, tập sự hành nghề công chứng cũng như bồi dưỡng nghiệp vụ ngành; các tổ chức hành nghề công chứng tham gia trong việc ban hành các quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; tham gia ý kiến với các cơ quan có thẩm quyền trong các việc bổ nhiệm hay việc miễn nhiệm đối với công chứng viên, tham gia thành lập, sáp nhập các tổ chức hành nghề công chứng, chuyển nhượng, chấm dứt các hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng này và một số nhiệm vụ khác mà pháp luật quy định và có liên quan đến hoạt động công chứng theo quy định của Chính phủ; ngoài ra cuối cùng thì tổ chức hoạt động hành nghề công chứng còn có nghĩa vụ tham gia vào hoạt động giám sát đối với công việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng cũng như quy tắc của đạo đức hành nghề công chứng nhất định
– Công chứng viên có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản mình đã công chứng cũng như có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm trước người yêu
Trang 9cầu công chứng về văn bản mà công chứng viên đã công chứng Công chứng viên cũng có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của văn phòng công chứng mà công chứng viên đó là công chứng viên hợp danh đang làm việc
– Công chứng viên sẽ chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cũng như của tổ chức hành nghề công chứng mà mình làm công chứng viên và công chứng viên còn chịu sự quản lý của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên mà ở đó họ là thành viên của tổ chức xã hội – nghề nghiệp này
– Cuối cùng ngoài các nghĩa vụ trên thì công chứng viên còn có các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan theo quy định.
Trang 10CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN – ĐỀ XUẤT HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 2.1 Những bất cập trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công chứng viên
2.1.1 Đối với công chứng viên
Theo quy định của Luật Công chứng thì tiêu chuẩn để trở thành Công chứng
viên phải có đủ các điều kiện sau:
Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm Công chứng viên (theo khoản 1 Điều 13):
- Có bằng cử nhân luật;
- Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức;
- Có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng;
- Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng;
- Có sức khỏe bảo đảm hành nghề công chứng
Công chứng viên là một chức danh tư pháp, người được bổ nhiệm làm Công chứng viên phải có đủ các tiêu chuẩn và điều kiện nhất định Quy định như trên hoàn toàn hợp lý
vì hoạt động công chứng đòi hỏi tính chuyên môn và chuyên nghiệp cao Vai trò của Công chứng viên đối với xã hội là rất quan trọng, thông qua hoạt động của mình bảo đảm
an toàn pháp lý và tạo ra môi trường pháp lý ổn định cho các giao dịch dân sự, kinh tế thương mại của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Do vậy, một người muốn trở thành Công chứng viên để hành nghề công chứng ngoài trình
độ chuyên môn nhất định thì tất nhiên phải được đào tạo các kỹ năng nghiệp
vụ cơ bản mang tính đặc thù của nghề công chứng Nhưng cũng theo Luật Công chứng lại có những quy định sau: