1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

sach giao vien tin hoc 6 chuong 4

32 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 431,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong c¸c bµi tríc chóng ta ®· nhÊn m¹nh cho häc sinh biÕt ®îc tÇm quan träng cña thao t¸c chän ®èi tîng (chän phÇn v¨n b¶n) khi cÇn thùc hiÖn mét lÖnh cô thÓ. §Ó thùc hiÖn ®Þnh d¹ng cÇn[r]

Trang 1

Chơng IV

SOạN THảO VĂN BảN

I Giới thiệu chơng

1 Mục tiêu của chơng

Mục tiêu của chơng này nhằm cung cấp cho học sinh một số kiến thức mở đầu về soạn thảovăn bản trên máy tính thông qua phần mềm soạn thảo Microsoft Word

Kiến thức

 Các chức năng chung của mọi hệ soạn thảo văn bản nh tạo và lu trữ văn bản, biên tập,

định dạng văn bản, in văn bản

 Những chức năng cơ bản nhất của Microsoft Word

 Soạn thảo văn bản tiếng Việt

Kĩ năng

 Sử dụng các nút lệnh và bảng chọn của phần mềm ứng dụng

 Trình bày văn bản rõ ràng và hợp lí

 Sử dụng một số chức năng trợ giúp của hệ soạn thảo văn bản

 Soạn thảo một vài văn bản đơn giản phục vụ học tập

Thái độ

Học sinh cần nhận thức đợc u điểm của soạn thảo văn bản trên máy tính, rèn luyện t duy vàcách làm việc khoa học

2 Nội dung chủ yếu của chơng

Chơng IV gồm 15 bài (09 bài lí thuyết và 06 bài thực hành, trong đó có một bài thực hànhtổng hợp cuối chơng) đợc dạy trong 30 tiết, 02 tiết/bài

Bài 13 L m quen vàm quen v ới soạn thảo văn bản;

Bài 14 Soạn thảo văn bản đơn giản;

Bài thực hành 5 Văn bản đầu tiên của em;

Bài 20 Thêm hình ảnh để minh hoạ;

Bài thực hành 8 Em “viết” báo tờng;

tr-3 Những điểm cần lu ý và gợi ý dạy học

Nội dung của chơng này là cung cấp cho học sinh một số kiến thức và kĩ năng tối thiểu để họcsinh có thể tạo ra các “sản phẩm” văn bản đơn giản nhất phục vụ học tập và sinh hoạt, chẳng hạn

nh thời khoá biểu hoặc những bài báo tờng đơn giản, nhng có hình ảnh minh hoạ

a Phần mềm

1 Phần mềm soạn thảo văn bản Microsoft Word đã đợc phát triển với nhiều phiên bản khác

nhau Tuy nhiên, những chức năng chính để soạn thảo văn bản của phần mềm là nh nhau, sự khácbiệt đợc thể hiện ở các tính năng nâng cao đợc bổ sung dần theo từng phiên bản và ở giao diện đ-

63

Trang 2

ợc cải tiến thuận tiện cho ngời sử dụng (kể cả việc thay đổi các tuỳ chọn trên hộp thoại, vị trí củacác lệnh trong các bảng chọn, ) Mục đích của chơng này là trình bày một số kiến thức và kĩ

năng ban đầu của soạn thảo văn bản mà không quá phụ thuộc vào phiên bản của phần mềm Khi

đã bớc đầu biết soạn thảo văn bản với một phiên bản Word, học sinh sẽ có thể tự mình khám phá

để nhanh chóng biết cách sử dụng các phiên bản mới hơn

Sách giáo khoa đã trình bày cách sử dụng phiên bản Microsoft Word trong bộ Office XP Đây

là phiên bản hiện đợc sử dụng phổ biến ở Việt Nam (mặc dù không phải là phiên bản mới nhất).Tại các trờng, địa phơng vẫn còn dùng các phiên bản khác, tuy có thể dùng để dạy soạn thảo vănbản, việc nêu sự khác biệt trong thao tác đối với từng phiên bản khác nhau sẽ rất mất thời gian vàkhông đồng nhất với nội dung đợc trình bày trong sách giáo khoa Vì vậy, để dễ dàng cho việcgiảng dạy giáo viên nên lu ý cài đặt nâng cấp lên phiên bản Office XP

b Nội dung

Nh đã trình bày ở phần chung, nội dung chơng này cũng đợc chia thành các bài Nội dungcủa mỗi bài đợc biên soạn để giảng dạy hoặc thực hành với thời lợng 2 tiết

Trong chơng này học sinh sẽ đợc học các kiến thức mở đầu về sử dụng một phần mềm cụ thể

là Microsoft Word để soạn thảo văn bản Đối với học sinh cấp THCS, việc trình bày các chứcnăng một hệ soạn thảo văn bản và kĩ năng thực hành để sử dụng các chức năng chỉ nên hạn chế ởnhững chức năng đơn giản nhất Giáo viên nên lu ý các điểm sau đây:

1 Các khái niệm cơ bản về văn bản và quy tắc soạn thảo văn bản trên máy tính

Kết quả quan sát nhiều năm cho thấy, học sinh chúng ta rất yếu trong diễn đạt, khả năng

“viết” văn bản còn rất hạn chế, ngay cả với những văn bản thông thờng nh đơn xin phép nghỉ học,bài báo tờng đơn giản, Các “sản phẩm” của học sinh nói chung còn mắc nhiều lỗi chính tả, lỗingữ pháp thông thờng, mặc dù học sinh đã đợc học một cách rất hệ thống trong các môn nhTiếng Việt, Ngữ văn Trong khi đó phần mềm soạn thảo chỉ là công cụ để trợ giúp việc soạn thảovăn bản Với các tính năng của phần mềm soạn thảo, chúng ta có thể tạo ra các sản phẩm rấtphong phú Tuy nhiên việc sử dụng các tính năng đó nh thế nào và ở ngữ cảnh nào lại rất phụthuộc vào kiến thức văn hoá của ngời sử dụng

Bên cạnh việc giới thiệu các chức năng chung của hệ soạn thảo văn bản và phần mềm soạnthảo văn bản cụ thể là Microsoft Word, các tác giả sách rất coi trọng đến việc bổ sung kiến thứcvăn hoá chung về văn bản và trình bày văn bản cho học sinh Chính vì thế nội dung sách giáokhoa đã trình bày lại các khái niệm cơ bản của văn bản, các thành phần cơ bản để tạo nên mộtvăn bản (mặc dù học sinh có thể đã đợc học ở các môn khác), cũng nh một số quy tắc tối thiểucần tuân thủ khi soạn thảo văn bản trên máy tính

Để đơn giản, trong sách giáo khoa khái niệm đoạn văn bản nhiều khi đợc gọi ngắn gọn là đoạn văn và đợc hiểu là phần văn bản đợc kết thúc bằng cách nhấn phím Enter (mặc dầu theo nghĩa thông thờng đoạn văn có thể gồm nhiều đoạn văn bản).

Giáo viên cần yêu cầu học sinh thực hiện đúng các quy tắc này ngay từ khi mới bắt đầu họcsoạn thảo trên máy tính, ví dụ nh cách sử dụng các kí tự nh ,? ( ) { } [ ] “ ”! ; và các kí tự khác,không xuống dòng bằng Enter nếu không phải là kết thúc đoạn, không sử dụng nhiều Enter đểtăng khoảng cách giữa các đoạn văn bản, không dùng nhiều kí tự trống để phân cách các từ,

Mặc dù sử dụng các lệnh trong bảng chọn là cách giao tiếp chuẩn và đầy đủ nhất, đối với học

sinh THCS chỉ nên yêu cầu sử dụng các nút lệnh một cách thành thạo, cha nên giới thiệu cách sử

dụng bảng chọn, hộp thoại và tổ hợp các phím tắt một cách kĩ lỡng Trong quá trình học tin họcsau này học sinh sẽ còn nhiều cơ hội để học các cách khác Vì thế trong đa số các trờng hợp sáchgiáo khoa cũng chỉ giới thiệu các thao tác với nút lệnh, trong trờng hợp không có nút lệnh tơngứng trên thanh công cụ mới giới thiệu cách sử dụng lệnh trong bảng chọn (ví dụ: khoảng cáchgiữa các đoạn văn bản, trình bày trang, )

Giáo viên nên lu ý đến hạn chế này, tránh giới thiệu dồn dập quá nhiều cách khác nhau khicần đạt đợc một kết quả cụ thể

Trang 3

Một phần mềm nh Word có rất nhiều lệnh với các chức năng khác nhau Không thể trình bàyhết cách sử dụng mọi lệnh hoặc mọi chức năng Tuy nhiên các phần mềm hiện nay đã đợc thiết

kế và phát triển để hỗ trợ khả năng tự học cách sử dụng phần mềm một cách tối đa Đối với học

sinh, điều quan trọng là giáo viên cần hớng dẫn cách thức chung để giao tiếp với phần mềm chạy

trên nền Windows nh cách sử dụng bảng chọn, các lệnh trong bảng chọn và các nút lệnh (tuytrong chơng III, khi học về hệ điều hành, học sinh đã đợc giới thiệu) Từ đó, trên cơ sở t duy, họcsinh có thể tự mình khám phá cách sử dụng các nút lệnh và bảng chọn khác mà không chỉ giớihạn trong những kiến thức đã đợc học

3 Tổ chức giảng dạy và đổi mới phơng pháp giảng dạy

Nội dung của chơng này thực chất mang tính thực hành Vì thế cách tổ chức tốt nhất là giảngdạy trong phòng máy tính Khi đó giáo viên chỉ cần trình bày phần lí thuyết một cách rất ngắngọn, phần thời gian còn lại học sinh có thể tự khám phá, tìm hiểu các tính năng của phần mềmngay trên máy tính dới sự hớng dẫn của giáo viên

Các tác giả khuyến khích việc giảng dạy dới dạng tổ chức các hoạt động cho học sinh Giáoviên chỉ nêu vấn đề, cách thực hiện và hớng dẫn, còn học sinh sẽ thực hiện, tự mình nhận xét vềcác kết quả nhận đợc, từ đó rút ra các kết luận chung Một số câu hỏi và bài tập cuối mỗi bàicũng đợc biên soạn theo định hớng này Kinh nghiệm cho thấy, với cách tổ chức này học sinh sẽtiếp thu kiến thức một cách chủ động, có hứng thú trong học tập, nhiều khi học sinh sẽ đạt đợcnhững kết quả bất ngờ, ngoài sự mong đợi của giáo viên Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động

nh thế chỉ có thể thực hiện đợc khi giảng dạy trong phòng máy tính Với những trờng có điềukiện về trang bị máy tính, giáo viên nên thực hiện giảng dạy theo cách này

Tại các trờng không có điều kiện về trang bị phòng máy tính, giáo viên nên chọn lọc cácphần lí thuyết để giảng dạy trớc khi học sinh làm bài thực hành liên quan Cách tổ chức tốt nhất

là học lí thuyết xen kẽ với các bài thực hành theo đúng thứ tự nh đợc trình bày trong sách giáokhoa Trong các giờ lí thuyết nên bố trí một máy tính hoặc máy chiếu để việc trình bày đợc trựcquan và dễ hiểu hơn Trờng hợp không có điều kiện làm nh vậy, giáo viên nên sử dụng các hình

vẽ đợc chuẩn bị sẵn để minh hoạ

Trong các bài thực hành, giáo viên có thể tổ chức để học sinh thực hiện theo từng nhóm Vớicách tổ chức này có thể khắc phục một phần tình trạng thiếu máy tính (mỗi học sinh đợc sử dụngmột máy), ngoài ra cách tổ chức theo nhóm dễ gây hứng thú cho học sinh, tăng cờng ý thức làmviệc cộng tác, tính thi đua tích cực và học sinh có thể học hỏi lẫn nhau cũng nh học hỏi thêm ởcác nhóm bạn khác

Mỗi bài thực hành có đề ra những yêu cầu tối thiểu, sản phẩm cần đạt đợc, nhng giáo viên cóthể thay đổi nội dung của văn bản cần gõ hoặc hình ảnh cần chèn (hoặc học sinh có thể tự chọn).Ngoài ra, tuỳ trình độ tiếp thu của học sinh, giáo viên có thể yêu cầu những bài làm thêm để rènluyện kĩ năng

Phần lớn các bài thực hành đều yêu cầu học sinh gõ nội dung văn bản Cần lu ý học sinh luyện

gõ bằng mời ngón, nh đã đợc thực hành trong chơng II, để các em có thói quen tốt khi làm việc vớimáy tính (mặc dù với nhiều giáo viên điều này cũng không phải là dễ dàng)

Giáo viên cần chuẩn bị cho học sinh kĩ lỡng trớc giờ thực hành để tận dụng thời gian sử dụngmáy Chẳng hạn giáo viên có thể đa trớc yêu cầu của bài thực hành và hớng dẫn cách tiến hànhbài thực hành đó, những công cụ nào sẽ sử dụng,… Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bị Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bịlãng phí thời gian mà tập trung tốt nhất để hoàn thành bài tập

Trong bài thực hành tổng hợp cuối chơng, học sinh đợc luyện gõ, chèn hình ảnh, bảng vàtrình bày văn bản Có thể xem kết quả của bài thực hành tổng hợp là yêu cầu tối thiểu của chơng

4 Câu hỏi và bài tập

Cuối mỗi bài đều có các câu hỏi và bài tập để học sinh ôn luyện kiến thức đã học trong bài.Học sinh có thể trả lời phần lớn các câu hỏi này nếu đọc lại nội dung kiến thức của bài Vớinhững câu hỏi và bài tập dạng này, giáo viên có thể yêu cầu hoặc h ớng dẫn học sinh trả lờingay sau bài giảng hoặc đầu giờ của bài giảng tiếp theo

Một vài câu hỏi sâu hơn đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, một số câu hỏi khác đ ợc đa ra dớidạng hoạt động để học sinh thực hiện và tự mình nhận xét, rút ra kết luận Tại những tr ờng có

điều kiện giảng dạy lí thuyết kết hợp thực hành ngay trong phòng máy, giáo viên cũng có thểyêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi này ngay sau phần giảng lí thuyết (xem nh là hoạt độngtrong giờ lí thuyết) Còn với những địa phơng không có điều kiện nh trên thì tốt nhất để lại cáccâu hỏi và bài tập dạng đó vào giờ thực hành

65

Trang 4

Giáo viên có thể chia lớp thành các nhóm để thảo luận về các câu hỏi đợc nêu ra, rồi đại diệncủa mỗi nhóm trình bày câu trả lời trớc lớp

4 Yêu cầu chuẩn bị

Học sinh đã đợc học về cấu trúc của các th mục, khám phá tài nguyên máy tính và mở thmục để truy cập tệp trong chơng III Tuy nhiên, để học sinh khởi động đợc các phần mềm mộtcách dễ dàng, giáo viên cần đặt sẵn các biểu tợng của các chơng trình cần thiết trên màn hình nền

và thiết đặt một số tham số chủ yếu

Cụ thể:

 Cài đặt sẵn phần mềm soạn thảo Microsoft Word, phần mềm gõ chữ Việt (chẳng hạn

VietKey, UniKey) và tạo biểu tợng của chúng trên màn hình (xem lại mục “Yêu cầu chuẩnbị”, chơng II)

 Thiết đặt sẵn kiểu gõ và bảng mã trong VietKey, phông chữ trong Word để học sinh thựchành gõ (xem hớng dẫn chi tiết hơn trong các bài 3, 4 và 5)

Những nơi có điều kiện nên chuẩn bị máy chiếu (hoặc ti vi màn hình lớn) để giáo viên vừatrình bày lí thuyết, vừa hớng dẫn và làm mẫu các bài thực hành Trờng hợp không có máy chiếu

có thể chuẩn bị tranh ảnh, hình vẽ sử dụng cho bài dạy

II.Hớng dẫn chi tiết

Bài 13 Làm quen với soạn thảo văn bản

A - Mục đích, yêu cầu

 Học sinh biết đợc vai trò của phần mềm soạn thảo văn bản, biết Microsoft Word (từ nay vềsau sẽ gọi ngắn gọn là Word) là phần mềm soạn thảo văn bản, nhận biết đợc biểu tợng củaWord và biết thực hiện thao tác khởi động Word

 Học sinh nhận biết và phân biệt đợc các thành phần cơ bản của cửa sổ Word: thanh bảngchọn, các nút lệnh trên thanh công cụ,

 Hiểu đợc vai trò của các bảng chọn và các nút lệnh, sự tơng đơng về tác dụng của các nútlệnh trên thanh công cụ và lệnh tơng ứng trong bảng chọn, biết mở bảng chọn, chọn cáclệnh trong bảng chọn và cách sử dụng các nút lệnh trên thanh công cụ

 Biết cách tạo văn bản mới, mở văn bản đã đợc lu trên máy tính, lu văn bản và kết thúcphiên làm việc với Word

B - Những điểm cần lu ý và gợi ý dạy học

1 Trong bài đầu của chơng, giáo viên có thể mở đầu bằng nhiều cách Cách mở đầu có vẻ tự

nhiên nhất là hớng dẫn học sinh cùng thảo luận về khái niệm văn bản và soạn thảo văn bản, cáchthức soạn thảo văn bản truyền thống, những khó khăn khi soạn thảo văn bản theo cách truyềnthống, từ đó dẫn dắt đến sự xuất hiện của các phần mềm soạn thảo văn bản và những tính năng uviệt của chúng

Với khái niệm văn bản, đây là một khái niệm khó có thể định nghĩa chính xác, mặc dù họcsinh đã đợc học trong các môn Tiếng Việt và Ngữ văn Đối với học sinh THCS giáo viên chỉ nênhạn chế ở các mô tả có liên quan đến các hoạt động hàng ngày của học sinh Cần nhấn mạnh đến

sự phong phú của các loại văn bản: văn bản có thể gồm một vài dòng ngắn nh chiếc nhãn vở.cũng có thể là nội dung quyển sách dày hàng nghìn trang, văn bản có thể chỉ gồm các con chữ,nhng cũng có thể có các hình ảnh minh hoạ,

Bên cạnh đó, thuật ngữ “soạn thảo văn bản” có thể nghe còn “xa lạ” đối với học sinh THCS.

Giáo viên cần giải thích rõ ràng rằng thực chất đó là công việc “viết” và trình bày nội dung vănbản (theo cách truyền thống), hoặc “gõ” và trình bày nội dung văn bản (bằng máy tính) So sánhhai cách tạo văn bản này, giáo viên có thể nêu ra những u việt của việc soạn thảo văn bản trênmáy tính Do hạn chế về thời lợng của bài học, mặt khác với mục đích gây hứng thú cho học sinhbằng việc để học sinh có thể thực hành ngay trên máy tính, những u điểm của soạn thảo trên máytính (so với soạn thảo theo cách viết truyền thống) đợc các tác giả trình bày trong bài đọc thêm 5.Giáo viên nên tham khảo bài đọc thêm này trớc khi giảng và khuyến khích học sinh đọc Tuynhiên đây không phải là một nội dung bắt buộc của bài Trong quá trình thực hành với Word họcsinh sẽ tự mình “khám phá lại” những u điểm này Giáo viên cũng có thể chuẩn bị một số vănbản trình bày đẹp, sản phẩm của một phần mềm soạn thảo văn bản, tốt nhất là Word, để các em

so sánh

Trang 5

Khi trình bày về phần mềm soạn thảo văn bản, giáo viên cũng nên nhắc lại rằng phần mềm

đ-ợc phát triển nhằm tạo ra công cụ hỗ trợ, tự động hoá các công việc của con ngời (có lẽ có baonhiêu dạng công việc thì con ngời cũng mong muốn có ngần ấy loại phần mềm) Word chính làphần mềm đợc viết để cùng với máy tính hỗ trợ công việc soạn thảo văn bản Giáo viên cũng nênnhấn mạnh rằng hiện có rất nhiều phần mềm soạn thảo văn bản khác nhau, nhng chúng có cùngnhững tính năng chung và trong số đó Word đợc sử dụng phổ biến nhất

2 Yêu cầu thứ hai của bài là học sinh nhận biết đợc biểu tợng của Word và biết một vài cách

khởi động Word Có nhiều cách khác nhau để khởi động một chơng trình, nhng ở đây giáo viênchỉ nên hạn chế giới thiệu hai cách khởi động Word đã đợc trình bày trong sách giáo khoa, thậmchí đối với học sinh mới bắt đầu làm quen với phần mềm máy tính cũng chỉ nên tập trung ở cáchnháy đúp chuột tại biểu tợng của Word trên màn hình nền Để giới thiệu điều này giáo viên cần

đặt sẵn biểu tợng của Word trên màn hình nền (xem Mục 4 Yêu cầu chuẩn bị ở đầu chơng).Trong chơng III, học sinh đã biết cách khởi động một phần mềm trong bài thực hành về hệ điềuhành Windows Bởi vậy, giáo viên có thể dành thời gian cho việc giới thiệu màn hình làm việc củaWord trong mục tiếp theo

3 Trong phần tiếp theo học sinh sẽ đợc giới thiệu để làm quen và nhận biết các thành phần

trên cửa sổ của Word Học sinh đã đợc biết các khái niệm cửa sổ, thanh bảng chọn, bảng chọn,nút lệnh và thanh cuốn trong chơng III Tuy nhiên cửa sổ của Word và các thành phần trên đó sẽcho những hình ảnh cụ thể hơn về giao diện của một phần mềm chạy trên nền Windows Giáoviên cần thông qua cửa sổ của Word để nhắc lại cho học sinh những kiến thức đã đợc trình bàytrong chơng trớc Có thể bắt đầu bằng việc yêu cầu học sinh nhắc lại những điều đã biết về cửa sổ

và các thành phần của cửa sổ, sau đó minh hoạ bằng hình ảnh cụ thể trên cửa sổ Word

Trên cửa sổ của Word đặc biệt lu ý học sinh đến vùng soạn thảo và cách sử dụng các thanhcuốn Riêng con trỏ soạn thảo sẽ còn đợc giới thiệu chi tiết hơn trong bài tiếp theo Do đây là giờ

lí thuyết có thể không có máy tính, giáo viên nên chuẩn bị sẵn các hình ảnh minh hoạ và dànhthời gian cho học sinh quan sát kĩ lỡng, kể cả các hình trong sách giáo khoa

4 Các thành phần quan trọng nhất trên mọi cửa sổ là các bảng chọn và các nút lệnh trên các

thanh công cụ Bằng việc giới thiệu cách mở bảng chọn và kích hoạt một lệnh trong bảng chọn,nên nhấn mạnh rằng đây là cách thức chuẩn để giao tiếp với các phần mềm ứng dụng chạy trênnền Windows Còn các nút lệnh cung cấp cách truy cập nhanh tới các lệnh thờng đợc sử dụngnhiều nhất trong các bảng chọn Tại những trờng học sinh có điều kiện sử dụng máy tính tronggiờ học này, có thể yêu cầu học sinh làm theo hai cách:

Cách 1: Mở bảng chọn File và kích hoạt lệnh New.

Cách 2: Nháy nút lệnh New trên thanh công cụ (nh giới thiệu trong sách giáo khoa).

Qua đó, học sinh thấy đợc sự tơng đơng của hai cách thực hiện và kết luận luôn về các bớc

thực hiện thao tác tạo một văn bản mới.

5 Trong mục mở văn bản đã có trên máy tính và lu văn bản, cần lu ý học sinh các điểm sau

đây:

 Khi mở văn bản cần chọn đúng th mục có lu tệp văn bản

 Khi lu văn bản, cần chọn để th mục sẽ chứa tệp xuất hiện trong ô Save As Kĩ năng này

học sinh đã đợc học ở phần thực hành Windows, nhng nên nhắc lại để củng cố

 Khi đặt tên tệp, chỉ cần gõ phần đầu của tên, còn phần đuôi theo ngầm định luôn là .doc.Việc đặt tên cho tệp trong Windows không bị hạn chế nhiều nh trong DOS, nhng cầntuân thủ một số quy định nhỏ học sinh đã đợc học trong chơng trớc

Mặc dù Windows cho phép đặt tên tệp với các kí tự có dấu của chữ Việt, nhng giáo viênkhông nên khuyến khích học sinh điều này, vì rất có thể các kí tự có dấu đó xung khắc với các kí

tự điều khiển của hệ thống Hiệu quả là khi mở tệp bằng cách nháy đúp ở tên tệp tin, có thể Word

sẽ thông báo lỗi tệp bị hỏng và không mở đợc văn bản

Để tăng sự hấp dẫn và tính thuyết phục, trớc khi trình bày thao tác lu tệp tin, giáo viên nên

gõ, hoặc yêu cầu học sinh gõ một vài kí tự vào văn bản mới

Hớng dẫn trả lời câu hỏi và giải bài tập

2 Nháy đúp biểu tợng của Word trên màn hình nền.

3 Thanh tiêu đề, thanh bảng chọn, các nút lệnh trên thanh công cụ, vùng soạn thảo, các thanh

cuốn

6 Nội dung em vừa gõ thêm có thể không có trong văn bản nếu trớc đó em không thực hiện

thao tác lu văn bản

67

Trang 6

Bài 14 Soạn thảo văn bản đơn giản

A - Mục đích, yêu cầu

Sau bài này, học sinh cần:

 Biết đợc các thành phần cơ bản của một văn bản

 Nhận biết đợc con trỏ soạn thảo, vai trò của nó cũng nh cách di chuyển con trỏ soạn thảo

 Biết các quy tắc soạn thảo bằng Word

 Biết cách gõ văn bản tiếng Việt

B - Những điểm cần lu ý và gợi ý dạy học

1 Sách giáo khoa mở đầu bài này bằng việc mô tả các thành phần cơ bản nhất của văn bản:

kí tự, từ, đoạn văn bản (đoạn văn) và trang Việc mô tả thống nhất các thành phần này là rất cầnthiết vì chúng sẽ là những đơn vị xử lí của phần mềm soạn thảo, nhiều tính năng của Word màhọc sinh sẽ học sau này có liên quan đến các đơn vị xử lí đó Mỗi tính năng của phần mềm soạnthảo tác động đến những đối tợng khác nhau, các đối tợng chính là các thành phần cơ bản hoặctập hợp các thành phần cơ bản nói trên Chẳng hạn, định dạng kí tự tác động đến các kí tự, địnhdạng đoạn văn tác động đến toàn bộ đoạn văn bản, trình bày trang có tác động đến dáng vẻcủa toàn trang,

Mỗi thành phần cơ bản có các thuộc tính nhất định, ví dụ nh kí tự có các thuộc tính về kíchthớc nh độ cao, độ sâu và chiều rộng, về kiểu chữ nh thờng, đậm, nghiêng, Các thuộc tính nàyxác định nên dáng vẻ của các trang văn bản

Trong các môn Tiếng Việt và Ngữ văn học sinh đã đợc biết về nhiều thành phần nh từ, câu và

đoạn văn, do đó sách giáo khoa không nhắc lại Trong số các thành phần nói trên, kKí tự là đơn

vị nhỏ nhất của mọi văn bản Bản thân các đối tợng đồ hoạ cũng thờng đợc xem nh là kí tự Mộtcách hình ảnh, có thể xem việc soạn thảo văn bản cũng giống nh xây một bức tờng từ những viêngạch Các kí tự trong văn bản đóng vai trò giống nh những viên gạch xếp thành hàng gạch và tạonên bức tờng Từ đó học sinh có thể dễ hình dung hơn kết quả ngắt dòng của đoạn văn Giáoviên nên lu ý học sinh rằng mặc dù không nhìn thấy trên văn bản, kí tự trống (dấu cách) cũng có

những thuộc tính của nó, đặc biệt là độ rộng tối thiểu Khác với các kí tự khác, độ rộng của kí tựtrống có thể co giãn để phù hợp với thuộc tính của đoạn văn bản chứa nó

Khi giảng các khái niệm này, giáo viên nên chuẩn bị một văn bản đủ dài để học sinh phânbiệt đợc trang in và trang màn hình, tốt nhất lthành phần văn bản có cả các yếu tố đồ hoạ

2 Con trỏ soạn thảo: Thông thờng, khi mới làm quen với soạn thảo văn bản học sinh thờng

không lu ý đến con trỏ soạn thảo và vai trò của nó Nhiều khi học sinh bị lẫn lộn giữa con trỏ

soạn thảo và con trỏ chuột Sách giáo khoa không nêu rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm con trỏ,

nhng giáo viên cần giải thích để học sinh phân biệt Con trỏ soạn thảo là một vạch đứng nhấp

nháy trên vùng soạn thảo, cho biết vị trí soạn thảo hiện thời Con trỏ chuột lại có dạng chữ I trênvùng soạn thảo và hình dáng con trỏ chuột có thể thay đổi thành dạng mũi tên hay mũi tên ngợchoặc các dạng khác khi ta di chuyển con trỏ chuột đến những vùng khác nhau trên màn hình Khi

gõ văn bản và nhất là khi sửa chữa những lỗi nhỏ trong văn bản, cần biết rõ vị trí hiện thời củacon trỏ soạn thảo Nếu học sinh không để ý đến điều này thì có thể những kí tự đợc gõ vào không

ở vị trí mong muốn, hoặc những kí tự không cần xoá lại bị xoá đi mất

Tại những nơi học sinh có điều kiện sử dụng máy tính khi học bài này, giáo viên có thể yêucầu học sinh tự thực hiện các thao tác di chuyển con trỏ soạn thảo bằng cách nháy chuột haynhấn các phím Home, End, nêu lên rằng một trong những đặc trng của soạn thảo bằng máy tính

là cho phép tách rời việc gõ văn bản và việc trình bày văn bản Đối với các phơng tiện soạn thảo

truyền thống (chẳng hạn nh máy chữ) ta không thể làm đợc nh vậy Với soạn thảo bằng máy tính

chúng ta mới có thể thực hiện các thao tác ảnh hởng đến toàn bộ văn bản sau khi chúng ta đã gõ

văn bản, chẳng hạn: Tìm kiếm và thay thế một nhóm từ, sửa chính tả, thống kê,… Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bị Đặc biệt là khảnăng lu trữ để sau này ta có thể sửa chữa và sử dụng lại

Các chức năng chung nên trình bày dới dạng tổng quát, không phụ thuộc vào một phần mềm

cụ thể nào, nh ng kèm theo các minh hoạ trực quan để HS thấy ngay thể hiện của chúng Trongcác hình 43-45 SGK có đ a ra minh hoạ cho hầu hết các chức năng này GV cũng có thể soạnmột số hình minh hoạ khác trên cơ sở các hình này

3 Quy tắc gõ văn bản:

Phần “Một số chức năng khác” chỉ cần nhấn mạnh những gì trực quan, dễ hình dung ngay,không cần phải liệt kê và bắt HS nhớ những chức năng các em cha đợc kiểm nghiệm Sau này,khi đã học qua, HS sẽ dễ dàng nhớ các nội dung này

Trang 7

Tuỳ theo trình độ HS và điều kiện thời gian, có thể cho HS tự đọc (ở nhà) nội dung của phầnnày để dành thời gian cho các vấn đề tiếp theo.

Phần hai “Một số quy ớc trong việc gõ văn bản” là một phần quan trọng, gồm hai nội dungchính:

Đơn vị xử lí trong văn bản.

Một số quy ớc trong việc gõ văn bản

3 Ngày nay, chúng ta thờng thấy iếp xúc nhiều với các văn bản đợc soạn thảo trên máy tính,trình bày khá lộn xộn, ngay cả trên những phơng tiện thông tin đại chúng nh báo chí, truyền hình

Sự lộn xộn không chỉ ở ngôn từ và các lỗi chính tả thông thờng mà còn ở cách sử dụng các dấuchấm câu Điều này gây ra sự phản cảm cho ngời đọc Theo chúng tôi, cần rèn cho học sinh ngay

từ nhỏ các thói quen viết (trên giấy) và gõ trên máy tính theo đúng các quy tắc nhất định về chínhtả, ngữ pháp và trình bày

Những quy tắc nêu trong mục 3 của bài này thực ra là những quy tắc gõ giúp cho phần mềmsoạn thảo văn bản kiểm soát việc tự động ngắt dòng, dàn trang một cách hợp lí nhất Lợi ích củaviệc tuân thủ các quy tắc đó đợc biểu lộ rõ rệt nhất khi chúng ta chỉnh sửa, thêm vào hoặc xoámột phần nội dung của văn bản Khi đó phần mềm soạn thảo sẽ dựa trên các thuật toán nhất định

để ngắt lại dòng và dàn lại trang Nếu không tuân thủ các quy tắc nói trong bài, rất có thể sau khidàn lại trang sẽ xảy ra hiện tợng nh dấu ngắt câu đứng ở đầu dòng hoặc dấu mở ngoặc đứng chơvơ ở cuối dòng

Tất nhiên việc tuân thủ các quy tắc này còn phụ thuộc vào thói quen trình bày của mỗi ngời,

ví dụ nh có thể quy ớc để một số dấu, chẳng hạn dấu chấm hỏi, chấm than cách từ đằng trớc đúngmột kí tự trống và một số văn bản cũng tuân theo quy ớc này Nhng khi đó ngời soạn thảo phải tựmình kiểm soát để dấu ngắt câu luôn cùng hàng với câu (bằng cách co chữ hoặc dãn chữ chẳnghạn) Tuy nhiên, ngay cả khi đã chú ý tới điều này trong lúc gõ văn bản, thì khi văn bản bị sửachữa, các dấu ngắt câu vẫn có thể bị thay đổi vị trí Bởi vậy tốt hơn hết là tuân theo quy ớc gõ cácdấu này sát vào từ bên trái

Tuy nhiên, để việc trình bày đợc nhất quán, đỡ tốn công sức khi chỉnh sửa văn bản và tạo tácphong có tính khoa học trong khi soạn thảo, giáo viên cần yêu cầu học sinh tuân thủ các quy tắcnày, kể cả với những văn bản đơn giản nhất

Giáo viên còn nên lu ý học sinh hai điểm sau:

 Mọi hệ soạn thảo văn bản đều tự động thực hiện việc xuống dòng và xem kí tự đợc gõvào bằng cách nhấn phím Enter là kí tự (điều khiển) cho biết điểm kết thúc của một đoạnvăn bản Thông thờng, mỗi khi dòng văn bản sát lề phải, học sinh thờng chủ động nhấnphím Enter để xuống dòng Giáo viên nên lu ý học sinh không cần quan tâm đến việcxuống dòng, chỉ nhấn phím Enter khi kết thúc một đoạn văn bản Điều này sẽ làm tăngtốc độ gõ văn bản

 Word không đủ “thông minh” để phân biệt mọi từ theo đúng ngữ nghĩa của chúng Wordxem một dãy các kí tự nằm giữa hai dấu cách là một từ

Ngoài ra cũng nên nhắc nhở học sinh rằng khi văn bản đợc gõ lần đầu tiên không nhất thiếtphải mất nhiều thời gian cho việc sửa chữa những lỗi nhỏ hoặc cho việc trình bày Các công việcnày có thể thực hiện về sau

là sản phẩm của những hệ soạn thảo văn bản, trong số đó cũng có những văn bản không tuântheo các quy ớc chung của việc soạn thảo, không tôn trọng ngời đọc Một yêu cầu quan trọng khibắt đầu học soạn thảo văn bản là phải tôn trọng các quy định chung này, để văn bản soạn thảo ra

đợc nhất quán và khoa học Trong các quy định chung đó, có thể chia thành các loại:

Thói quen trình bày (đặt các dấu chấm, phẩy, chấm phẩy, chấm hỏi, chấm than,… Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bị sát vào từ

đứng đằng trớc) Thật ra chúng ta cũng có thể quy ớc để một số dấu, chẳng hạn dấu chấm hỏi,chấm than cách từ đằng trớc đúng một kí tự trống và một số văn bản cũng tuân theo quy ớc này,vì lí do thẩm mĩ Nhng do hệ soạn thảo văn bản, cụ thể là MS Word, không thiết đặt cơ chế kiểmsoát, nên đôi khi xảy ra là toàn bộ câu ở dòng trên, còn dấu ngắt câu thì xuống dòng dới! Nếuquy ớc gõ các dấu này sát từ đằng trớc, thì những trờng hợp nh vậy không bao giờ xảy ra Cònnếu quy ớc để cách một kí tự trống, thì ngời soạn thảo phải tự mình kiểm soát để dấu ngắt câuluôn cùng hàng với câu (bằng cách co chữ hoặc dãn chữ chẳng hạn) Tuy nhiên, ngay cả khi đãchú ý tới điều này khi gõ văn bản, thì khi văn bản bị sửa chữa, các dấu ngắt câu vẫn có thể bị thay

đổi vị trí Bởi vậy tốt hơn hết là tuân theo quy ớc gõ các dấu này sát vào từ bên trái

Tính khoa học trong khi soạn thảo: Những công việc trình bày văn bản thông dụng nhất đều

có các công cụ thực hiện trong hệ soạn thảo văn bản Chẳng hạn, để lùi dòng thứ nhất của đoạn

69

Trang 8

văn vào một khoảng trắng, chúng ta có định dạng dòng đầu tiên (First Line) Sở dĩ không dùngcác kí tự trống để lùi dòng đầu tiên (mặc dù cũng cho hiệu quả nh vậy) bởi vì, thứ nhất làm nhvậy mất thời gian hơn, thứ hai không đảm bảo đoạn nào cũng lui vào một số kí tự trống giốngnhau

Một ví dụ nữa: Mọi hệ soạn thảo văn bản đều tự động thực hiện việc xuống dòng và dựa dùngphím Enter để biết khi nào đoạn văn kết thúc, để thực hiện các định dạng đoạn văn theo ngầm

định Bởi vậy, ngời soạn thảo văn bản cần tuân thủ điều này, không dùng Enter khi cha kết thúc

đoạn văn, để việc trình bày đợc nhất quán,… Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bị

Những điều trên GV có thể giải thích để HS hiểu sâu sắc hơn lí do của những quy định (màmới thoạt qua có thể thấy là những “bắt bẻ” vô lí) trong các hệ soạn thảo văn bản

4 Trong mục phần thứ ba “Gõ văn bản chữ Tiếng Việt trong soạn thảo văn bản”, giáo viên cóthể HS đợc trang bị những hiểu biết ban đầu về:

Các công đoạn xử lí chữ Việt trên máy tính

Các khái niệm cơ sở: chơng trình gõ, bộ mã, bộ phông chữ

Gõ chữ Việt theo một trong hai cách thông dụng (TELEX hoặc VNI)

GV nên bắt đầu bằng việc yêu cầu học sinh tìm hay gõ một số chữ Việt có dấu Học sinh tự

sẽ nhận biếtviệc cho HS tự tìm ra sự thiếu vắng các chữ đó ủa một số nguyên âm tiếng Việt và

đặc biệt là các dấu thanh trên bàn phím máy, đặc biệt là các dấu thanh Từ đó dẫn dắt đến sự cầnthiết phải sử dụng vi tính để thấy rằng bàn phím máy vi tính đợc chế tạo không phải để gõ tiếngViệt Do đó, chúng ta phải trang bị thêm các phần mềm tiện ích để hì mới có thể gõ chữtiếng

có một phần mềm để máy tính nhận biết việc gõ chữ Việt Phần mềm này đợc gọi chung là chơng

trình gõ hay bộ gõ Nhờ có chơng trình gõ mà, chẳng hạn, khi chúng ta gõ hai chữ e liên tiếp (ee)

theo kiểu TELEX, máy nhận biết chữ cái “ê” của tiếng Việt, hay khi gõ chữ a và phím số 1 (a1)

theo kiểu VNI, máy nhận biết chữ cái a và dấu sắc (á) của tiếng Việt,

Ta cũng biết rằng bên trong máy, dữ liệu đợc biểu diễn dới dạng mã hoá Chơng trình gõ sẽ

đặt tơng ứng (các) kí tự ta gõ vào với một mã trong máy biểu diễn cho một kí tự duy nhất

Trong bảng chữ tiếng Việt, mỗi nguyên âm mang dấu thanh (nh ă, ắ, ằ, ẳ, ẵ, ặ,… Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bị) cũng cần

đợc coi nh một kí tự và nh vậy tổng số các kí tự cần có để hiển thị tất cả các chữ tiếng Việt (chữthờng và chữ hoa) là 134

Bảng mã ASCII chuẩn (bảng mã duy nhất đợc dùng cho tới gần đây) là bảng mã 8 bit, có thểmã hoá cho 256 (= 28) kí tự, tuy nhiên ngoài 128 kí tự cơ bản chỉ còn lại 128 kí tự mở rộng có thểdùng cho chữ Việt Do vậy, một số kí tự trong số các kí tự cơ bản của bảng mã ASCII phải thaythế để dùng cho chữ Việt Việc định nghĩa mã ASCII nào cho kí tự chữ Việt nào phụ thuộc vàotừng bảng mã Từ đây phát sinh những phiền toái khi cùng một lúc tồn tại nhiều bảng mã tiếngViệt khác nhau Điều này làm cho việc trao đổi thông tin giữa các máy tính gặp rất nhiều khókhăn

Văn bản chữ Việt soạn từ máy tính này gửi sang máy tính khác có thể không hiển thị đúng

do việc các phần mềm soạn thảo dùng các bộ mã và phông chữ khác nhau Tình hình này đang

đ-ợc cải thiện khi chúng ta chuyển sang dùng bộ kí tự Unicode thống nhất và mọi phần mềm đều

hỗ trợ cho bộ kí tự này

Bộ kí tự Unicode cung cấp một cách duy nhất cho mỗi kí tự, cho mọi hệ máy tính, cho mọichơng trình và cho mọi ngôn ngữ Mỗi kí tự trong các loại chữ viết đều đợc gán cho một con sốduy nhất, gọi là điểm mã Các máy tính sẽ biểu diễn các điểm mã này bằng dãy các byte để xử líbên trong và cuối cùng cho hiển thị hình chữ tơng ứng với các điểm mã đó ra cho ngời dùng, nhquen thuộc Unicode đang ngày càng đợc dùng phổ biến trên thế giới, nhất là cho những hoạt

động xử lí thông tin toàn cầu nh thơng mại điện tử (E-commerce), học tập điện tử (E-learning)

(E-government),

Trong bài này có đa ra các cách gõ kí tự có dấu trong tiếng Việt theo kiểu TELEX và VNI

HS cần phải học thuộc một trong hai kiểu gõ này trớc khi bắt đầu thực hành soạn thảo trên máy

và sẽ thành thạo dần khi thực hành cụ thể

Trang 9

Tuy nhiên trong SGK không trình bày cách dùng phím nóng, chỉ giới thiệu hai cách đầu tiên

và nhấn mạnh rằng dùng nút lệnh để ra lệnh là cách làm rất thuận tiện trong Word Việc dùngphím nóng tuy có làm tăng tốc độ soạn thảo một cách đáng kể nhng thông thờng đợc dành chonhững ngời soạn thảo tơng đối thành thục

Trong mục “Soạn thảo văn bản đơn giản”, cần phân biệt rõ cho HS “con trỏ soạn thảo” códạng một vệt thẳng đứng nhấp nháy, cho biết vị trí soạn thảo hiện thời, khác với con trỏ chuột(thờng có dạng mũi tên hoặc chữ I) Khi gõ văn bản và nhất là khi sửa chữa những lỗi nhỏ trongvăn bản, cần biết rõ vị trí hiện thời của con trỏ soạn thảo HS mới làm quen với soạn thảo văn bảnthờng không để ý đến điều này và kết quả là những kí tự đợc gõ vào không ở vị trí mong muốn,hoặc những kí tự không cần xoá lại bị xoá đi mất

ở mục “Gõ văn bản”, nên chú ý đến một đặc điểm của hệ soạn thảo văn bản là trong khi gõ

ta không cần quan tâm đến việc xuống dòng Thông thờng, mỗi khi dòng văn bản sát lề phải, HSthờng chủ động nhấn phím Enter để xuống dòng GV lu ý HS là chỉ nhấn phím Enter khi kết thúc

một đoạn văn bản và không làm nh vậy vì sẽ không áp dụng đúng định dạng đoạn văn và điều này còn làm giảm tốc độ gõ văn bản.

Cũng nên nhắc nhở HS rằng khi văn bản đợc gõ lần đầu tiên ta không cần mất nhiều thời giancho việc sửa chữa những lỗi nhỏ hoặc cho việc trình bày Các công việc này có thể đợc làm vềsau một cách tự động và nhất quán

Một nội dung quan trọng trong mục này là chọn văn bản Bớc này HS rất hay quên, dẫn đếnnhững kết quả sai hoặc không thực hiện đợc lệnh yêu cầu GV nên nhấn mạnh rằng muốn máy

làm một điều gì đó thì cần yêu cầu rõ ràng không những tên thao tác cần làm (sao, xoá hay di

chuyển,… Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bị) mà cả đối tợng (phần văn bản) đợc tác động đến, bằng cách chọn nó.

Cuối cùng, cần cho HS hiểu bản chất của các thao tác biên tập văn bản: sao, xoá, cắt, di

chuyển; phân biệt giữa cắt và xoá cũng nh nhớ biểu t ợng của các chức năng này trên thanh công

cụ vì chúng rất hay đợc dùng trong quá trình soạn thảo Có thể giải thích thêm chức năng của vùngnhớ đệm Clipboard Clipboard là vùng nhớ tạm thời dùng chung cho các ứng dụng của Windows.Chúng ta có thể sử dụng clipboard để sao chép các đối tợng giữa những ứng dụng khác nhau hoặctrong cùng một ứng dụng nh sao chép các đối tợng trong cùng một văn bản hoặc trong những vănbản Word khác nhau Tuy nhiên, cần nhớ rằng Clipboard chỉ là vùng nhớ tạm thời

Đối với những địa phơng ít có điều kiện cho HS thực hành máy thì những giờ bài tập là rấtquan trọng

GV có thể đặt nhiều những câu hỏi để làm cho HS hiểu rõ hơn tính hợp lí của các quy địnhtrong hệ soạn thảo văn bản Chẳng hạn:

Vì sao trớc khi biên tập một nhóm kí tự phải chọn nhóm kí tự đó; còn giả sử nếu không có

gì đợc chọn thì các lệnh định dạng kí tự có tác dụng nh thế nào?

 Vì sao cần tuân thủ các quy ớc khi gõ văn bản, chẳng hạn vì sao các dấu phẩy, chấm, haichấm, chấm phẩy,… Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bị phải gõ sát vào kí tự cuối cùng của từ trớc đó?

Để gõ và hiển thị chữ Việt, giáo viên nên nhấn mạnh cho học sinh hai điểm:

 Cần có phần mềm gõ chữ Việt và tính năng gõ chữ Việt đợc chọn;

 Cần có các phông chữ Việt đợc cài đặt trên máy tính

Điều này tránh cho các em khỏi bỡ ngỡ khi thực hành, ví dụ khi không gõ đợc tiếng Việt thì

có thể tự kiểm tra, chẳng hạn tính năng gõ chữ Việt đã đợc chọn cha

Đối với học sinh THCS, sách giáo khoa không giải thích sâu về các vấn đề nh bảng mã, mốiquan hệ giữa bảng mã và phông chữ, hay kiểu gõ ở đây cũng không đi sâu giải thích nhng giáoviên cần GV lu ý:

 Hầu nh mọi phần mềm gõ chữ Việt đều hỗ trợ hai kiểu gõ thông dụng Telex và Vni

 Việc sử dụng kiểu gõ nào không phụ thuộc vào bảng mã hay phông chữ

 Mỗi loại phông chữ đều đợc thiết kế dựa trên một bảng mã Vì vậy khi gõ cần chọnphông chữ tơng ứng với bảng mã đang sử dụng

Khi đó nếu thấy học sinh gõ đúng quy tắc gõ chữ Việt, nhng chữ Việt không đợc hiển thị

đúng trên màn hình, giáo viên có thể hớng dẫn học sinh chọn lại phông chữ cho phù hợp với bảngmã HS, để có thể soạn thảo văn bản tiếng Việt, trên máy tính cần có chơng trình gõ tiếng Việt

(với chức năng gõ tiếng Việt đang bật) và bộ phông chữ Việt Điều này tránh cho các em khỏi bỡ

71

Trang 10

ngỡ khi bắt tay vào thực hành, ví dụ khi không gõ đợc tiếng Việt thì tự kiểm tra, chẳng hạn nh cóphải chức năng gõ tiếng Anh đang đợc kích hoạt hay không

Hiện tại ở nớc ta hai phần mềm gõ chữ Việt đang đợc sử dụng phổ biến là VietKey vàUniKey Giáo viên có thể cài đặt một trong hai phần mềm này cho mục đích giảng dạy Ngoài ra,

tuỳ theo tập quán gõ ở địa phơng, giáo viên có thể chọn một trong hai kiểu gõ Telex hay Vni, nh

-ng khô-ng yêu cầu học sinh phải biết cả hai kiểu gõ

Một điều cũng rất quan trọng là học sinh HS phải học thuộc một trong hai kiểu gõ tiếng Việt,

để hỗ trợ điều này, tốt nhất là giáo viênGV nên chuẩn bị sơ đồ bàn phím phóng to treo trớc lớp.Các bài tập chuyển đổi từ nhóm kí tự gõ theo TELEX (hoặc VNI) sang cụm từ tiếng Việt tơngứng và ngợc lại cũng rất có ích

Hớng dẫn trả lời câu hỏi và giải bài tập

2 Word phân biệt các từ sau đây: “Ngày”, “nay”, “khisoạn”, “thảo”, “văn”, “bản,chúng”, “ta”,

“thờng”, “sử”, “dụng”, “máytính” Lí do là Word xem dãy kí tự đứng giữa hai dấu cách làmột từ

3 Hai câu sai là câu đầu tiên và câu cuối cùng

4 Vì khi Word dàn trang dấu chấm câu có thể đứng đầu dòng.

5 Xem điểm 2, câu 4.

6 Phần mềm gõ chữ Việt và các phông chữ Việt.

Bài thực hành 5

Văn bản đầu tiên của em

1 Mục đích, yêu cầu

 Làm quen và tìm hiểu cửa sổ làm việc của Word, các bảng chọn, một số nút lệnh

 Làm quen với vị trí các phím trên bàn phím và biết gõ chữ Việt bằng một trong hai cách

gõ Telex hay Vni

 Bớc đầu tạo và lu một văn bản chữ Việt đơn giản

2 Nội dung

Đây là bài thực hành Word đầu tiên, giáo viên nên chuẩn bị trớc để học sinh có thể dễ dàngkhởi động Word một cách nhanh nhất và sau đó nhận đợc giao diện cần thiết

 Tạo biểu tợng của Word trên mành hình nền:

1. Nháy chuột vào nút Start, trỏ vào All Programs, sau đó trỏ vào Microsoft Word.

2. Nháy nút phải chuột, kéo thả ra màn hình nền

3. Thả nút phải chuột và nháy chuột để chọn Create Shortcut(s) Here trên bảng chọn tắt

Một biểu tợng tắt của Word sẽ đợc tạo trên màn hình nền Học sinh chỉ cần nháy đúp chuộttrên đó là có thể khởi động Word một cách nhanh nhất

 Hiển thị thanh công cụ chuẩn, thanh công cụ định dạng bằng cách mở bảng chọn View, nháy

Toolbars và đánh dấu các tuỳ chọn StandardFormatting

Trang 11

 Chuẩn bị một văn bản khoảng vài trang để học sinh có thể thực hành sử dụng các thanh cuốn.

 Hớng dẫn học sinh tạo th mục cho riêng mình và lu văn bản của mình

a) Khởi động Word và tìm hiểu các thành phần trên màn hình của Word

Trong phần này học sinh có thể tự mình thực hiện từng bớc theo đúng thứ tự đợc trình bàytrong sách giáo khoa Giáo viên chỉ cần hớng dẫn học sinh làm đúng các thao tác nh đã mô tả Sau khi thực hiện từng thao tác trong mỗi bớc, học sinh có thể tự mình rút ra kết luận Cuốicùng giáo viên cần tổng kết lại để học sinh hiểu đúng tác dụng của từng thao tác

b) Soạn văn bản đơn giản

Mục này là bài thực hành gõ tiếng Việt đơn giản Yêu cầu học sinh gõ đợc đầy đủ và lu trên

đĩa để sử dụng lại trong những bài thực hành sau Giáo viên cần lu ý học sinh những điểm sau:

 Khởi động phần mềm gõ chữ Việt (nếu cha đợc khởi động) và chọn kiểu gõ Giáo viên cóthể hớng dẫn học sinh chọn kiểu gõ hoặc chọn từ trớc trong khi thực hiện các công việcchuẩn bị

 Nhấn các phím Caps Lock hoặc Insert (Ins) để tắt chế độ gõ chữ hoa hoặc chế độ gõ đènếu học sinh vô tình chạm vào các phím này Thông thờng khi học sinh mới bắt đầu làmquen với việc soạn thảo trên máy tính thờng hay vô tình nhấn các phím này do cha quenvới bố trí bàn phím, cha thuộc cách gõ tiếng Việt, không để ý chế độ gõ,

 Thực hành gõ bằng mời ngón Thông thờng học sinh có xu hớng thích gõ nhanh Tuynhiên bài thực hành chỉ yêu cầu học sinh gõ bằng mời ngón và gõ đúng, qua đó ôn luyệnlại các thao tác gõ bàn phím đã đợc thực hành trong chơng II

 Giữ đúng t thế làm việc với máy tính: Ngồi thẳng lng, tầm mắt ngang màn hình, hai tay

c) Tìm hiểu cách di chuyển con trỏ soạn thảo và các cách hiển thị văn bản

Trong phần này học sinh thực hành thao tác di chuyển con trỏ soạn thảo trên văn bản mới tạo ra.Nội dung thực hành các cách hiển thị văn bản chỉ là nội dung bổ sung

Bài 15 Chỉnh sửa văn bản

A - Mục đích, yêu cầu

 Hiểu mục đích của thao tác chọn phần văn bản

 Biết các thao tác biên tập văn bản đơn giản: xoá, sao chép và di chuyển các phần vănbản

B - Những điểm cần lu ý và gợi ý dạy học

Trong bài này học sinh sẽ làm quen với các thao tác cơ bản trong biên tập văn bản: xoá, saochép và di chuyển các phần văn bản

1 Giáo viên có thể mở đầu bằng cách nêu nhiệm vụ chỉnh sửa một văn bản đã đợc viết trên

giấy để học sinh cùng trao đổi và liệt kê các biện pháp giải quyết Từ đó học sinh sẽ thấy đ ợcnhững nhợc điểm của việc soạn thảo văn bản bằng các phơng pháp truyền thống Cuối cùng giáoviên nêu lại những u điểm của soạn thảo văn bản trên máy tính, nh đã đề cập trong bài học thêm1

73

Trang 12

2 Nội dung bài học mở đầu bằng các thao tác xoá một vài kí tự trong văn bản và chèn thêm

nội dung văn bản Một lần nữa giáo viên cần lu ý học sinh nhận biết vị trí của con trỏ soạn thảo, sau

đó giới thiệu tác dụng của việc nhấn các phím Delete Backspace Cũng cần lu ý để học sinh biếtrằng trên một số loại bàn phím, phím Backspace là phím trên hàng số đợc đánh dấu bằng mũi tênngợc 

Xoá là một thao tác loại bỏ dữ liệu Đôi khi do nhầm lẫn hay vội vàng, chúng ta thờng xoá đinhững dữ liệu có ích Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh tác phong chuyên nghiệp khi làm việcvới máy tính thông qua thao tác này: hãy suy nghĩ cẩn thận trớc khi thực hiện thao tác xoá bất kì

đối tợng nào

Thông qua thao tác xoá, hãy nêu một u điểm nữa của việc soạn thảo văn bản trên máy tính,

đó là khả năng “khôi phục hiện trạng” sau khi thực hiện sai một thao tác, hoặc thao tác khôngmang lại kết quả mong muốn, bằng lệnh Undo Trong phần “Câu hỏi và bài tập” ở cuối bài

có nêu một vài câu hỏi dới dạng hoạt động để học sinh hiểu thêm về khả năng này Nếu học sinhkhông có cơ hội sử dụng máy tính trong bài học này, giáo viên nên để câu hỏi đó cho giờ thựchành tiếp theo

Một câu hỏi tự nhiên tiếp theo là nếu muốn xoá những phần văn bản lớn hơn thì làm thế nào?

Đây chính là nội dung của mục chọn phần văn bản

2 Chọn văn bản là một nội dung quan trọng Học sinh đã đợc học thao tác chọn tệp, chọn th

mục trong chơng trớc, trong bài này là chọn phần văn bản Bớc này học sinh rất dễ quên, dẫn đếnnhững kết quả sai hoặc không thực hiện đợc lệnh yêu cầu Giáo viên cần nhấn mạnh rằng muốn

máy tính thực hiện một điều gì đó thì cần yêu cầu rõ ràng không những tên thao tác cần làm (sao

chép, xoá hay di chuyển,… Khi tới giờ thực hành, học sinh sẽ không bị) mà cả đối tợng (phần văn bản) đợc tác động đến, bằng cách chọn nó.

Điều này không chỉ đúng trong soạn thảo văn bản mà còn đúng khi làm việc với mọi phần mềmkhác

3 Cuối cùng, cần cho học sinh hiểu bản chất của các thao tác biên tập văn bản: sao chép,

cắt, di chuyển các phần văn bản Giáo viên nên chỉ rõ sự khác biệt giữa cắt và xoá, giữa saochép và di chuyển, cũng nh nhớ biểu tợng của các chức năng này trên thanh công cụ vì chúng rấthay đợc dùng trong quá trình soạn thảo Có thể giải thích thêm chức năng của vùng nhớ đệmclipboard Clipboard là vùng nhớ tạm thời dùng chung cho các ứng dụng của Windows Chúng ta

có thể sử dụng clipboard để sao chép các đối tợng giữa những ứng dụng khác nhau hoặc trongcùng một ứng dụng nh sao chép các đối tợng trong cùng một văn bản hoặc trong những văn bảnWord khác nhau Tuy nhiên, cần nhớ rằng clipboard chỉ là vùng nhớ tạm thời và nên lu ý họcsinh rằng bộ nhớ đệm chỉ lu trữ phần nội dung đợc sao chép hay cắt lần cuối cùng

Từ phiên bản Office 2000 trở đi, bộ nhớ đệm của Windows, các ứng dụng nh Word còn sửdụng chung bộ nhớ đệm chung của Office (khác với bộ nhớ đệm của Windows) Bộ nhớ đệm này

có thể lu lại 24 nội dung sao chép khác nhau, nhờ vậy ta có thể dán 24 nội dung khác nhau vàovăn bản

Hớng dẫn trả lời câu hỏi và giải bài tập

3 Đây là câu hỏi dới dạng hoạt động của học sinh, học sinh tự thực hiện, tự khám phá và kết

luận Nên để lại câu này vào bài thực hành tiếp theo nếu khi học bài này học sinh không thể

1 Mục đích, yêu cầu

 Luyện các thao tác mở văn bản mới hoặc văn bản đã lu, nhập nội dung văn bản và kĩnăng gõ văn bản tiếng Việt

Trang 13

 Thực hiện các thao tác cơ bản để chỉnh sửa nội dung văn bản, thay đổi trật tự nội dungvăn bản bằng các chức năng sao chép, di chuyển.

2 Nội dung

1 Mục đích của bài a) là để học sinh luyện tập lại cách gõ văn bản chữ Việt thông qua một

đoạn văn bản ngắn và lấy nội dung để thực hành thao tác sao chép phần văn bản vào một văn bản

đã có Giáo viên nên chuẩn bị sẵn văn bản này, đề phòng trờng hợp học sinh cha lu đợc văn bảntrong bài thực hành trớc thì sẽ sao chép vào máy tính của học sinh Nh thế học sinh vẫn có thểthực hiện đợc các yêu cầu của bài thực hành 6

2 Bài b) nhằm mụch đích để học sinh phân biệt đợc hai chế độ gõ chèn và gõ đè, thực hành

gõ trong hai chế độ này Đây là nội dung không đợc trình bày trong sách giáo khoa nên có thểxem là nội dung bổ sung Lí do không đa nội dung này vào sách giáo khoa là do trên thực tế,những ngời đã quen soạn thảo văn bản trên máy tính hầu nh không bao giờ làm việc trong chế độ

gõ đè Với học sinh lần mới tập làm quen với máy tính, rất có thể các phím Insert hay Ins bị nhấnmột cách không cố ý Vì thế học sinh nên đợc giới thiệu làm quen và thực hành với cả hai chế độ

gõ và cách chuyển đổi giữa các chế độ gõ đó

3 Bài c) là một bài trọng tâm để học sinh thực hành các thao tác sao chép và di chuyển văn

bản từ các tệp văn bản khác nhau và đợc mở đồng thời Bài d) dành để học sinh thực hành lại cácthao tác đó trên cùng một văn bản, kết hợp với việc luyện gõ Trớc khi học sinh thực hành, giáoviên nên liệt kê lại thứ tự các thao tác sao chép và di chuyển văn bản để học sinh nhớ lại và thựchiện theo đúng thứ tự các bớc

Lu ý rằng đây mới là bài thực hành thứ hai, có thể học sinh vẫn cha thuộc cách gõ thậm chícha thuộc vị trí của các phím trên bàn phím Cần cho các em thời gian để luyện tập

Ngoài nội dung gõ đã cho trong bài thực hành, giáo viên có thể chọn các nội dung thích hợpkhác, miễn sao học sinh thực hiện đợc các thao tác đã học trong bài Lu ý rằng cha nên yêu cầuhọc sinh thực hiện các thao tác trên bằng cách sử dụng các lệnh trong bảng chọn Edit hoặc bằng

tổ hợp phím tắt Học sinh có thể tự tìm hiểu các cách này trong những bài thực hành sau

Bài 16 Định dạng văn bản

A - Mục đích, yêu cầu

 Hiểu nội dung và m ụ c ti ê u của việc định dạng kí tự, định dạng đoạn văn bản

và định dạng trang

 Hiểu các nội dung định dạng kí tự

 Thực hiện đợc các thao tác định dạng kí tự, định dạng đoạn văn bản cơ bản

B - Những điểm cần lu ý và gợi ý dạy học

1 Một cách tự nhiên và trực quan, giáo viên nên bắt đầu bài học bằng việc cho học sinh so

sánh hai văn bản, một văn bản đã có nội dung, nhng cha đợc định dạng và một văn bản khác vớicùng nội dung, nhng đã đợc định dạng (giáo viên nên chuẩn bị trớc hai văn bản này, có thể chohọc sinh xem trên máy hoặc in ra giấy) Học sinh sẽ tự mình nhận biết sự khác biệt giữa hai vănbản

Thông qua việc nhận xét về một trang văn bản có đầy đủ các yếu tố định dạng kí tự, địnhdạng đoạn văn và trình bày trang (có tiêu đề, có nội dung, ) học sinh có thể tự mình phát biểu đ-

ợc các u điểm của văn bản đã đợc định dạng: dễ đọc, dễ ghi nhớ và đẹp Trên cơ sở những gì các

em hiểu về định dạng (trình bày) văn bản, giáo viên có thể tiếp tục phát triển bài giảng bằng việctrình bày các loại định dạng, nội dung định dạng của từng loại Chú ý rằng trong sách giáo khoachỉ phân biệt hai loại định dạng: định dạng kí tự và định dạng đoạn văn bản, còn việc bố trí nội

dung văn bản trên trang in đợc gọi một cách dễ hình dung đối với học sinh là trình bày trang (một số tài liệu khác gọi là định dạng trang)

Khái niệm định dạng và các thao tác định dạng là một nội dung rất quan trọng trong soạnthảo văn bản Vì thế cần phải cung cấp kiến thức và kĩ năng định dạng cho học sinh một cách từ

từ, từng lợng nhỏ nội dung một Chính vì vậy sách giáo khoa đã chia nhỏ nội dung này thành haibài học Để học sinh dễ nhớ nên dành thời gian thực hành thích đáng cho các em

2 Về các nội dung định dạng kí tự chỉ nên tập trung vào các thuộc tính cơ bản của kí tự nh:phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ và màu sắc, trong đó ba thuộc tính đầu là quan trọng nhất Nên lu ýhọc sinh rằng màu sắc của các kí tự chỉ đợc hiển thị trên màn hình màu hoặc in trên máy in màu.Ngoài các thuộc tính trên, tuỳ khả năng tiếp thu của học sinh và điều kiện thời gian, giáo viên có

75

Trang 14

thể giới thiệu thêm các thuộc tính khác nh: các kiểu gạch chân, các hiệu ứng (có thể chọn trongphần dới của hộp thoại Font), khoảng cách giữa các kí tự (trang Character Spacing của hộp thoại

Font), Tuy nhiên theo các tác giả, đối với học sinh THCS chỉ nên giới hạn ở những nội dungtrong sách giáo khoa là đủ, thời gian còn lại nên dành cho học sinh thực hành trên máy hoặc thảoluận theo nhóm

3 Với định hớng đã nêu ở trên, khi giới thiệu các kĩ năng định dạng kí tự, yêu cầu chính làhọc sinh nhận biết và sử dụng đợc các nút lệnh định dạng kí tự trên thanh công cụ định dạng,

phần giới thiệu hộp thoại Font tiếp theo chỉ là kiến thức bổ sung chứ cha yêu cầu sử dụng Lí dogiới thiệu hộp thoại Font trong sách giáo khoa là để học sinh biết rằng ngoài việc sử dụng các nútlệnh trên thanh công cụ định dạng còn có một cách chuẩn tắc và đầy đủ hơn để định dạng kí tự là

sử dụng lệnh Font trong bảng chọn Format Điều này sẽ giúp học sinh khẳng định lại các kiếnthức đã học trong bài 13 về bảng chọn và nút lệnh Mặt khác, giới thiệu hộp thoại Font cũng làcách chuẩn bị để học sinh học cách sử dụng hộp thoại Paragraph trong bài tiếp ngay sau (bài 17).Một cách tự nhiên và trực quan để GV bắt đầu bài học là cho HS so sánh văn bản trong bàitập và thực hành 6 và văn bản cùng nội dung đó ở bài tập và thực hành 7, từ đó HS sẽ nêu nhữnggì các em hiểu về định dạng (trình bày) văn bản

Thông thờng thanh công cụ định dạng đã đợc hiển thị trên màn hình Word, tuy nhiên nếu vì

lí do nào đó mà trên màn hình cha có thì để làm xuất hiện nó chỉ chọn lệnh ViewToolbars rồichọn mục Formatting. Trong sách giáo khoa không nêu rõ tên thanh công cụ định dạng và thanh

công cụ chuẩn với lí do là cha cần thiết đối với lớp đầu tiên của cấp THCS

4 Trong bài này có những phần lí thuyết mới về định dạng kí tự, định dạng đoạn văn và định

dạng trang văn bản

Một số điểm cần lu ý khi giới thiệu các thao tác định dạng kí tự:

 Do giới hạn của chơng trình, SGK không thể nói đến việc sử dụng Kiểu (Style) trong địnhdạng, mặc dù đây là cách làm việc khoa học và hiệu quả nhất Giáo viên V cần nhấnmạnh để học sinh ghi nhớ rằng chỉ nhắc HS rằng việc định dạng có thể đợc thực hiện

trong quá trình gõ văn bản hoặc sau khi đã gõ toàn bộ văn bản Việc định dạng trong khi

gõ văn bản chỉ thích hợp khi cần định dạng ngay một vài kí tự (ví dụ chuyển sang kiểuchữ khác) và mục đích cũng nh đối tợng định dạng đã đợc xác định trớc Thông thờng uynhiên với các văn bản mà HS đang làm quen thì thông thờng nên tiến hành định dạng saukhi gõ văn bản

 Vai trò của thao tác chọn phần văn bản: Nếu không chọn trớc phần văn bản nào thì cácthao tác định dạng kí tự sẽ đợc áp dụng cho các kí tự sẽ đợc gõ vào sau đó

Hớng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập

3 Gõ một vài chữ Việt có dấu (đặc biệt là các chữ ở, ỡ, ử, ữ) và định dạng theo phông chữ đó.

Nếu chữ Việt không hiển thị đợc trên màn hình thì phông chữ không hỗ trợ tiếng Việt (lu ý

gõ theo cả hai kiểu Telex và Vni)

6 Có thể, nhng không nên dùng quá nhiều phông chữ trong một văn bản (tối đa 4).

Bài 17 Định dạng đoạn văn

A - Mục đích, yêu cầu

 Biết các nội dung định dạng đoạn văn bản

 Thực hiện đ ợc các thao tác định dạng đoạn văn bản cơ bản

B - Những điểm cần lu ý và gợi ý dạy học

1 Tơng tự nh khi giảng dạy về định dạng kí tự trong bài trớc, để bắt đầu bài học này giáo

viên cũng nên yêu cầu học sinh so sánh hai văn bản, một văn bản đã có nội dung, nhng cha đợc

định dạng và một văn bản khác với cùng nội dung, nhng đã đợc định dạng Học sinh sẽ rất dễnhận biết sự khác biệt giữa văn bản cha định dạng và văn bản đã định dạng các đoạn văn bản, vìcác kết quả định dạng loại này tác động nhiều đến toàn bộ trang văn bản

2 Các tính năng định dạng đoạn văn bản thờng đợc những ngời đã quen thuộc với việc soạnthảo trên máy tính sử dụng Những tính năng này, tuy không khó sử dụng, nhng thờng bị nhữngngời mới làm quen với Word bỏ qua Lí do là những ngời này cha quen với cách sử dụng các lệnhtrong bảng chọn Format, loại trừ một trờng hợp đơn giản là căn lề (do đã có sẵn nút lệnh trênthanh công cụ) Hơn thế nữa, ngời mới tập soạn thảo thờng có xu hớng sử dụng các dấu cách và

Trang 15

phím Enter để tạo ra các kết quả có vẻ nh chấp nhận đợc (ví dụ nh dùng nhiều phím cách để căngiữa một đoạn văn gồm vài từ, nhấn phím Enter để tăng khoảng cách giữa các đoạn văn, ) Yếu

điểm của cách làm “nhân tạo” này chỉ bộc lộ khi cần phải soạn thảo một văn bản dài nhiều trang,hoặc phải chỉnh sửa, thêm bớt nội dung của văn bản Trong trờng hợp này cơ chế dàn lại trangcủa phần mềm soạn thảo văn bản sẽ cho những kết quả bất ngờ, khó chấp nhận và việc chỉnh sửalại có khi mất nhiều thời gian hơn thời gian sử dụng các lệnh trong bảng chọn Có thể dễ dàng tạorất nhiều ví dụ để chứng minh điều trên

Vì thế một điều quan trọng là giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh hiểu rõ tầm quan trọngcủa việc định dạng đoạn văn bản một cách hợp thức bằng các lệnh (trong bảng chọn hoặc nútlệnh) Qua đó học sinh sẽ học tập đợc cách làm việc “chuyên nghiệp” với phần mềm soạn thảonói riêng và các phần mềm máy tính nói chung

3 nhiều nội dung Đđịnh dạng đoạn văn bản gồm việc thiết đặt nhiều thuộc tính khác nhaucủa đoạn văn bản Tuy nhiên đối với học sinh THCS chỉ nên yêu cầu sử dụng các tính năng vớinhững công cụ trực quan là các nút lệnh

Trớc hết cần giới thiệu để học sinh hiểu rõ các thuộc tính định dạng đoạn văn bản:

 Căn lề;

 Vị trí lề của cả đoạn văn bản so với toàn trang;

 Dáng vẻ của dòng đầu tiên (khoảng cách lề);

 Khoảng cách đến đoạn văn trên hoặc dới;

 Khoảng cách giữa các dòng trong đoạn văn

Giáo viên có thể phóng to các hình trong bài học này để minh hoạ trực quan cho học sinh dễquan sát

rong Các thuộc tính nói trên đợc liệt kê theo thứ tự thờng hay thay đổi nhất Có thể sử dụngcác nút lệnh trên thanh công cụ định dạng để thiết đặt các thuộc tính trên, loại trừ duy nhấtkhoảng cách đến đoạn văn trên hoặc đoạn văn dới Ngầm định thanh công cụ định dạng củaWord chỉ hiển thị các nút lệnh dùng để căn lề (các nút lệnh , , , ), các nút lệnh khác ít

đợc sử dụng hơn nên thờng không hiện sẵn Giáo viên cần thực hiện các thao tác chuẩn bị đểWord hiển thị sẵn các nút lệnh này trên thanh công cụ định dạng (hoặc có thể hớng dẫn học sinhthực hiện):

1 Nháy mũi tên bên phải thanh công cụ định dạng

2 Trỏ con trỏ chuột vào Add or Remove Buttons và sau đó trỏ vào Formatting

3 Nháy chuột để đánh dấu nút lệnh cần hiển thị trên bảng chọn hiện ra sau đó

Lu ý rằng nếu không hay sử dụng, các nút lệnh lại bị dấu đi nhờng chỗ cho các nút lệnh ờng đợc sử dụng gần đây hơn

th-4 Trong các bài trớc chúng ta đã nhấn mạnh cho học sinh biết đợc tầm quan trọng của thao

tác chọn đối tợng (chọn phần văn bản) khi cần thực hiện một lệnh cụ thể Khi giới thiệu các thaotác định dạng đoạn văn bản, giáo viên có thể giới thiệu các thao tác sau:

 Chọn cả đoạn văn bản;

 Chọn một phần đoạn văn bản;

Chỉ đặt con trỏ soạn thảo vào trong đoạn văn bản.

Với cả ba thao tác “chọn” trên, tác dụng của các lệnh định dạng đoạn văn bản là nh nhau Từ

đó hớng dẫn học sinh rút ra kết luận là các lệnh đinh dạng đoạn văn bản có tác dụng đến toàn bộ

đoạn văn bản, chứ không chỉ riêng thành phần đợc chọn và trong trờng hợp này việc đặt con trỏ

soạn thảo vào trong đoạn văn bản đồng nghĩa với việc cho Word biết đoạn văn bản cần địnhdạng

5 Trong số các nội dung định dạng đoạn văn bản nói trên duy nhất có việc đặt khoảng cách

đến đoạn văn bản trên hoặc đoạn văn bản dới là không có nút lệnh tơng ứng Để thực hiện địnhdạng cần mở hộp thoại Paragraph Sau khi giới thiệu cách sử dụng hộp thoại này, giáo viên hãy l-

77

Trang 16

u ý học sinh liên hệ và so sánh với hộp thoại Font đã học trong bài trớc, sau đó tìm các thuộc tínhtơng đơng với các nút lệnh trên thanh công cụ định dạng

Việc quan sát và nhận xét kĩ về hai hộp thoại này là bớc đầu giúp học sinh làm quen với cách

sử dụng hộp thoại của các phần mềm chạy trên Windows nói chung, vì vậy giáo viên nên dànhcho học sinh thời gian thích đáng

Học sinh vốn ham thích tìm hiểu, thử các chức năng mới (có thể cha đợc học) Giáo viên nênkhuyến khích ý thích này của các em, chỉ lu ý là vẫn phải đảm bảo yêu cầu chuẩn cho tất cả họcsinh trong lớp

Hớng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập

1 Không cần Chỉ cần đặt con trỏ soạn thảo trong đoạn văn bản.Đây là thao tác đơn giản nhất

4 Đợc Khi đó khoảng cách lề có giá trị âm (Lu ý: chỉ định dạng lề có giá trị âm bằng hộp thoại Paragraph, nút lệnh không có tác dụng)

6 Có tác dụng đối với toàn bộ đoạn văn bản.

 Để định dạng một đoạn văn bản, có thể chọn cả đoạn nhng có thể chỉ cần đặt con trỏ soạnthảo trong đoạn văn bản đó là đợc Định dạng sẽ đợc áp dụng cho toàn bộ đoạn văn đó

 Trong bài này, GV có thể nhấn mạnh cho HS rằng không nên nhấn phím Enter khi muốnlàm tăng khoảng cách gi ữa các đoạn văn Thay vào đó, dùng lệnh FormatParagraph và

điều chỉnh khoảng cách trớc (Before) hay sau (After) một đoạn văn sẽ làm cho văn bảnnhất quán và đẹp hơn

Việc định dạng trang nên đợc thực hiện trớc khi gõ văn bản tuy nhiên vẫn có thể định dạng trang sau khi gõ xong văn bản hay khi chuẩn bị in ra giấy Trong SGK chỉ trình bày hai tham số định dạng trang là kích thớc các lề và hớng giấy, để đảm bảo tính hoàn chỉnh của

bài định dạng Trong bài thực hành ngay sau bài này cũng không yêu cầu HS phải thực

hiện ngay việc định dạng trang Việc thực hành định dạng trang sẽ đợc tiến hành ở bài In

1 Mục đích, yêu cầu

 Luyện tập các kĩ năng tạo văn bản mới, gõ nội dung văn bản và lu văn bản

 Luyện tập các kĩ năng định dạng kí tự, định dạng đoạn văn

 Biết soạn và trình bày một văn bản hành chính thông thờng

 2 Nội dung

Bài a) không yêu cầu học sinh gõ nội dung cho văn bản mà chỉ yêu cầu mở một văn bản đã

có trên máy tính và thực hiện các định dạng theo mẫu cho trớc Do vậy, yêu cầu học sinh phải cósẵn văn bản đã gõ trong sau bài thực hành trớc Giáo viên nên nhắc lại cách mở văn bản, nhất làtìm đúng th mục chứa văn bản đã lu trong bài thực hành trớc (vì có lẽ học sinh đã quên) Trongtrờng hợp có học sinh cha có văn bản đó giáo viên có thể sao chép để học sinh vẫn có thể tiếnhành định dạng nh yêu cầu của thực hành.Lu ý rằng đây mới là bài thực hành thứ hai, có thể HS

Ngày đăng: 05/03/2021, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w