1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên nghề của Trường Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương

102 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên nghề của Trường Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên nghề của Trường Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tế và dưới sự dẫn dắt khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Anh

Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm công tác Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được tác giả công bố dưới bất hình thức nào

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hải Lý

Trang 2

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hải Lý

Trang 3

5 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

15 KT-XH Kinh tế - xã hội

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG - BIỂU -SƠ ĐỒ 7

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Kết cấu luận văn 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ 12

1.1 Tổng quan chung về giảng viên 12

1.1.1 Khái niệm giảng viên 12

1.1.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên 12

1.2 Chất lượng giảng viên dạy nghề 14

1.2.1 Khái niệm chất lượng giảng viên dạy nghề 14

1.2.2 Tầm quan trọng của nâng cao chất lượng giảng viên nghề 16

1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng của giảng viên dạy nghề 19

1.3.1 Nhóm tiêu chí về phẩm chất 19

1.3.2 Nhóm tiêu chí về năng lực chuyên môn 22

1.3.3 Nhóm tiêu chí về kỹ năng 25

1.3.4 Sức khỏe 32

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên 33

1.4.1 Các nhân tố bên trong 33

1.4.1.1 Công tác tuyển dụng 33

1.4.1.2 Bố trí và sử dụng đội ngũ giảng viên 33

1.4.1.3 Chính sách đãi ngộ 34

1.4.1.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ giảng viên 34

1.4.2 Các nhân tố bên ngoài 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG ƯƠNG 37

Trang 5

2.1 Tổng quan về Nhà trường 37

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 37

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ 38

2.1.2.1 Về thực hiện nhiệm vụ chính trị 38

2.1.2.2 Về hợp tác đào tạo 39

2.1.2.3 Về nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế 40

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 40

2.1.4 Kết quả hoạt động đào tạo của Nhà trường 42

2.2 Thu thập dữ liệu cho nghiên cứu 48

2.3 Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên 49

2.3.1 Hiện trạng đội ngũ giảng viên 49

2.3.3 Nhóm tiêu chí về năng lực chuyên môn 52

2.3.4 Nhóm tiêu chí về kỹ năng 55

2.3.5 Sức khỏe 59

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên Nhà trường 60

2.4.1 Các nhân tố bên trong 60

2.4.1.1 Chính sách thu hút nhân lực 60

2.4.1.2 Bố trí và sử dụng đội ngũ GV 63

2.4.1.3 Chính sách đãi ngộ 64

2.4.1.4 Công tác đào tạo giảng viên 65

2.4.2 Các nhân tố bên ngoài 69

2.5 Đánh giá chung về chất lượng giảng viên Nhà trường 72

2.5.1 Những điểm mạnh 72

2.5.2 Những điểm yếu kém 74

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG ƯƠNG 76

3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng giảng viên nghề của Nhà trường 76

3.2 Những thách thức yêu cầu mới đối với đội ngũ Giảng viên trường 76

3.3 Một số giải pháp 77

3.3.1 Đào tạo phát triển đội ngũ giảng viên 77

Trang 6

3.3.2 Hoàn thiện công tác tuyển dụng giảng viên của trường nhằm lựa chọn được đội

ngũ giảng viên phù hợp với nhu cầu đào tạo 87

3.3.3 Xây dựng chính sách thu hút giảng viên có chất lượng tốt 95

3.3.4 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu, giảng dạy của giảng viên 97

3.3 Kiến nghị 98

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

DANH MỤC BẢNG - BIỂU -SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Số lượng đào tạo qua giai đoạn 2013- 2016 45

Bảng 2.3: Kết quả học tập nhóm môn cơ sở của chuyên ngành 46 Bảng 2.4: Kết quả học tập nhóm môn học chuyên ngành 47 Bảng 2.5: Thống kê kết quả tốt nghiệp của học sinh giai đoạn 2013 – 2016 47 Bảng 2.6 Cơ cấu giảng viên theo Khoa (Giai đoạn 2013- 2016) 50 Bảng 2.7: Tổng hợp thực trạng trình độ chính trị của giảng viên giai đoạn

2014-2016

50

Bảng 2.8: Đánh giá đạo đức, thái độ của GV với SV 51 Bảng 2.9: Cơ cấu giảng viên theo trình độ chuyên môn 52 Bảng 2.10: Trình độ ngoại ngữ, tin học của giảng viên Nhà trường 53

Bảng 2.12: Bảng khảo sát về kỹ năng của giảng viên 56 Bảng 2.13: Cơ cấu tuổi và thâm niên đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy 59 Bảng 2.14 Mức độ phù hợp giữa ngành nghề đào tạo và bố trí công việc 64 Bảng 2.15 : Thu nhập bình quân tháng của giảng viên 65 Bảng 2.16: Số lượng giảng viên được đào tạo mới 67 Bảng 2.17: Thống kê các khóa bồi dưỡng dành cho GV năm 2016 68 Bảng 2.18: Kết quả của sinh viên tốt nghiệp các Khoa năm học 2015-2016 73 Bảng 3.1: So sánh thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác tuyển

Sơ đồ 3.1: Quy trình tuyển dụng giảng viên của nhà trường 88

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực là một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của mỗi quốc gia Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động, cần phải tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng

Đối với giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) nói chung và lĩnh vực dạy nghề nói riêng, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng, địa phương và quốc gia phụ thuộc trước hết vào công tác đào tạo của hệ thống các trường dạy nghề nói chung, trong đó có các trường cao đẳng nghề Chất lượng đào tạo của các trường cao đẳng nghề phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng yếu tố đội ngũ giảng viên của mỗi trường luôn luôn có vị trí quan trọng, vai trò tiên quyết và có tính quyết định Chất lượng đội ngũ giảng viên của một trường cao đẳng nghề lại phụ thuộc phần nhiều vào công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đó

Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giảng viên trong các Nhà trường nói chung và đặc biệt là các trường cao đẳng nghề hiện nay đang được Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân quan tâm Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ mục tiêu: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh

tế quốc tế của đất nước” Để đạt mục tiêu đó, Đảng ta đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,

kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước”

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đápứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã có nhận định “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi

Trang 9

mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp”[2] Một trong các giải pháp đó là “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo”[2] Trên thực tế, đội ngũ nhân lực lao động trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và các cơ sở dịch vụ hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu mới của nền kinh tế hội nhập Điều này do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là chất lượng đào tạo trong các trường dạy nghề nói chung, trong đó có các trường cao đẳng nghề; mà chất lượng này lại phụ thuộc phần nhiều vào phẩm chất và năng lực của đội ngũ giảng viên dạy nghề (GVDN) trong các trường này

Cũng như các trường cao đẳng nghề trong toàn quốc, trong giai đoạn hiện nay, các trường cao đẳng nghề thuộc Bộ Công Thương đang tìm mọi giải pháp quản lý để nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực của đội ngũ GVDN nhằm làm cho họ đạt được Chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề (Ban hành theo Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH, ngày 29/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) Tuy nhiên, mọi sự nỗ lực của các trường này còn đang gặp các trở ngại như thiếu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và các giải pháp khả thi Từ đó dẫn đến tình trạng các kết quả đào tạo phát triển đội ngũ GVDN chưa cao Trên thực tế, đội ngũ giảng viên của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng giảng dạy; về kỹ năng sư phạm và kỹ năng dạy thực hành nghề trong thực tế sản xuất, khả năng tiếp cận kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới; cần được nâng cao năng lực bổ trợ (ngoại ngữ, tin học ) để đáp ứng tốt nhu cầu đổi mới và phát triển dạy nghề cho Nhà trường và có thể giúp Nhà trường đạt tiêu chuẩn là một trong 40 trường nghề chất lượng cao Sự hạn chế này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân là do công tác đào tạo đội ngũ giảng viên dạy nghề của trường còn những hạn chế và bất cập Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Các giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên nghề của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu nghiên cứu là đề xuất được phương hướng giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

Trang 10

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng giảng viên trường nghề

- Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ Giảng viên nghề Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện việc nâng cao chất lượng đội ngũ Giảng viên nghề Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Là chất lượng giảng viên dạy nghề tại trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào hoạt động nâng cao chất lượng giảng viên nghề của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương

4 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thu thập thông tin số liệu

Để tiến hành phân tích giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên nghề của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương, tác giả đã tiến hành thu thập cả dữ liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp

Thu thập dữ liệu thứ cấp:

Dữ liệu thứ cấp được tập hợp và tổng hợp từ các báo cáo tổng kết hoạt đào tạo qua các giai đoạn khác nhau, dùng cho việc phân tích và đánh giá chất lượng giảng viên của Nhà trường Ngoài ra số liệu thứ cấp còn được tập hợp từ các báo cáo, công trình nghiên cứu, các đề tài có liên quan đến nội dung nghiên cứu

Thu thập dữ liệu sơ cấp:

Dữ liệu sơ cấp được thu thập và thống kê từ bảng khảo sát dành cho giảng viên, sinh viên để phân tích đánh giá chất lượng giảng viên của Nhà trường

b Phương pháp phân tích tổng hợp

Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích gồm có: phân tích so sánh (tương đối và tuyệt đối) và phân tích mô tả

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng giảng viên trường nghề

Trang 11

Chương 2: Thực trạng chất lượng giảng viên của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG

GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ 1.1 Tổng quan chung về giảng viên

1.1.1 Khái niệm giảng viên

Theo Luật Dạy nghề thì giáo viên, giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong các trường cao đẳng nghề Giáo viên, giảng viên có nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định Điều lệ trường Cao đẳng nghề cũng xác định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của đội ngũ giảng viên

Đặc điểm của giảng viên Giảng viên là một nhà khoa học chân chính Cho nên, phẩm chất trí tuệ là yêu cầu rất cao đối với người giảng viên Từ chất sáng tạo đó biểu hiện trong năng lực hoạt động giảng dạy, trong hoạt động nghiên cứu khoa học và trong toàn bộ quá trình sáng tạo để hình thành nên toàn bộ nhân cách sáng tạo của một con người – sản phẩm cần thiết và tất yếu của quá trình dạy học Bởi vậy, hơn bất cứ một nghề nghiệp nào khác, nghề giảng dạy đại học đòi hỏi mỗi giảng viên phải phát huy năng lực sáng tạo của mình một cách cao nhất Một đặc điểm nữa là trong thời đại ngày nay, người giảng viên phải là một tấm gương sáng về đạo đức và tinh thần tự học, tự vươn lên để hoàn thiện mình Mỗi giảng viên là một mẫu mực về ý trí học, về tinh thần nhân ái, nhân văn thương yêu con người, quý trọng con người

1.1.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên

Giảng viên tham gia đào tạo nguồn lực con người, tạo ra lực lượng lao động mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội Nguồn nhân lực chất lượng cao chính là động lực phát triển của xã hội

Vai trò của giảng viên còn được thể hiện ở việc góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tạo ra lớp trí thức tài năng thông qua việc truyền đạt những kiến thức tiên tiến của văn minh nhân loại Tất cả những trí thức ấy sẽ góp phần xây dựng đất nước, nâng cao nội lực của quốc gia tạo nên vị thế cao của đất nước trên trường quốc tế

Giảng viên có vai trò góp phần nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia thông qua hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai Đảm nhận vai trò này, giảng viên đã, đang và sẽ góp phần nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia Giảng viên là những người có kiến thức và vốn hiểu biết rộng trong lĩnh vực chuyên môn Lực lượng giảng viên ở tất cả các trường ĐH, CĐ vì vậy đã trở thành đại diện

Trang 13

tiêu biểu cho hầu hết các ngành khoa học hiện có của quốc gia Giảng viên vừa là nhà giáo vừa là nhà khoa học Họ hội tụ đủ cả năng lực, phẩm chất của nhà giáo lẫn nhà khoa học Họ vừa giảng dạy, vừa tham gia NCKH Trí thức giáo dục đại học là một bộ phận đặc thù của trí thức Việt Nam

Vai trò của giảng viên được thể hiện:

* Đối với xã hội

Người giảng viên là người được trao sứ mệnh cao cả trong việc truyền đạt kiến thức khoa học, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những nhận thức về quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước Trau dồi kỹ năng sống, làm việc, rèn luyện đạo đức nhân cách Do

đó có thể ví người giảng viên như người trồng cây- cây có xanh, quả có ngọt hay không cũng có nghĩa là người thầy đã góp phần to lớn vào sự nghiệp “trồng người”- những con người hữu ích cho xã hội, góp phần thực hiện chiến lược con người cho sự nghiệp CNH- HĐH và kinh tế tri thức của Việt Nam

* Đối với nhà trường

Hiệu quả hoạt động của nhà trường là phần lớn do đội ngũ giảng viên tạo ra và

là lực lượng lao động nòng cốt của nhà trường giúp nhà trường phát triển thực hiện các nhiệm vụ chính trị- văn hóa- xã hội theo mục tiêu chiến lược và xây dựng được hình ảnh, uy tín của nhà trường, tạo sức hút đối với học sinh, từ đó có thể phát triển quy mô đào tạo của nhà trường

* Đối với học sinh

Giảng viên là người truyền đạt thông tin khoa học, là người trực tiếp giúp cho học sinh, sinh viên trang bị và định hướng cho sinh viên tính tự chủ trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học về ngành, nghề theo học, học sinh, sinh viên được rèn luyện

tư duy độc lập, tập nghiên cứu, sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề tạo động lực, lòng đam mê học tập, nghiên cứu tích lũy tri thức để trở thành người hữu ích cho xã hội

Giảng viên còn là tấm gương về phong cách mẫu mực , tri thức uyên thâm để học sinh, sinh viên noi theo rèn luyện Đồng thời là những hiểu biết cần thiết để giải quyết các vấn đề xã hội theo khả năng của mình hay nói cách khác là những kĩ năng sống cho học sinh, sinh viên

Giảng viên là người giúp cho mối quan hệ giữa học sinh, sinh viên và nhà trường, xã hội được thiết lập và phát triển

Trang 14

1.2 Chất lượng giảng viên dạy nghề

1.2.1 Khái niệm chất lượng giảng viên dạy nghề

Chất lượng giảng viên:

- Giảng viên là chức danh nghề nghiệp của nhà giáo làm công tác giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng Trên thế giới, nhà giáo đại học thường gắn với một chức

vụ khoa bảng hoặc do các trường đại học đề bạt hoặc do Chính phủ bổ nhiệm Ở Việt Nam, theo quy định của Luật giáo dục 2005, giảng viên là những nhà giáo làm nhiệm

vụ giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng và được phân chia thành các ngạch giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp

Giảng viên trước hết là một nhà giáo, vì thế chất lượng của đội ngũ giảng viên

được đánh giá trước hết qua các tiêu chuẩn cơ bản của nhà giáo, bao gồm: phẩm chất (đức) và năng lực (tài) là hai bộ phận tạo nên cấu trúc nhân cách của mỗi người

thầy giáo Phẩm chất nhà giáo là thế giới quan của họ (hay nói cách khác là phẩm chất chính trị của nhà giáo), nền tảng định hướng thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên Bên cạnh đó, phẩm chất, đạo đức, nhân văn của người thầy giáo thể hiện qua lòng thương yêu con trẻ, thương yêu học trò Năng lực nhà giáo chính là năng lực sư phạm bao gồm: năng lực chuyên môn; năng lực dạy học; năng lực tổ chức; năng lực thực hiện; năng lực giao tiếp; năng lực kiểm tra, đánh giá; năng lực giáo dục

Ngoài các tiêu chí đánh giá chất lượng thông qua những tiêu chuẩn chung của nhà giáo, xuất phát từ đặc thù về hoạt động giáo dục đại học (GDĐH), chất lượng của đội ngũ giảng viên còn được xem xét thông qua ba khía cạnh cơ bản là chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; năng lực và hiệu quả hoạt động khoa học; chất lượng các dịch vụ

xã hội

Do vậy chất lượng giảng viên được đánh giá qua 3 hoạt động sau:

Chất lượng hoạt động đào tạo: Với chức năng dạy học, giảng viên có nhiệm vụ

trang bị cho sinh viên những tri thức khoa học hiện đại, kỹ năng, kỹ xảo về một lĩnh vực khoa học nhất định; phát triển trí tuệ và năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, trang bị phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp tự học, tiếp thu cái mới, hình thành thế giới quan khoa học, các chuẩn mực xã hội và các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Do vậy, đòi hỏi người giảng viên trước hết phải có phẩm chất, năng lực của một nhà giáo, có nhân cách tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh, yêu nghề, yêu thương học trò, công bằng, tôn

Trang 15

trọng nhân cách của người học Đồng thời, giảng viên phải có năng lực chuyên môn tốt, có kiến thức chuyên sâu, làm chủ được tri thức, ham hiểu biết tri thức mới và không ngừng tìm tòi, học hỏi nâng cao trình độ, kỹ năng Bên cạnh đó, GVĐH phải nắm vững kiến thức và kỹ năng về dạy và học, có phương pháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung và trong từng chuyên ngành cụ thể

Chất lượng và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ: Đội ngũ GV được

biết đến như một lực lượng cán bộ học thuật có trình độ, chất lượng cao; bởi vậy, ngoài việc dạy học, GV phải chủ động tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) để bổ sung, cập nhật kiến thức, nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo; khuyến khích, hướng dẫn, rèn luyện cho sinh viên phương pháp học thông qua nghiên cứu, phát hiện

và giải quyết vấn đề thực tiễn Để làm được điều đó, người GV cũng phải biết nghiên cứu, tìm tòi, giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải

Chất lượng các dịch vụ xã hội: Đối với nhà trường và sinh viên, giảng viên cần

thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác quản lý, các công việc hành chính, tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho sinh viên Trong lĩnh vực chuyên môn, giảng viên làm phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự và tổ chức các hội thảo khoa học Đối với cộng đồng, giảng viên trong vai trò của một chuyên gia cũng thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung cấp thông tin, viết báo, áp dụng các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng, truyền bá kiến thức khoa học và nâng cao dân trí …

Tóm lại, chất lượng của đội ngũ giảng viên chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, từ chủ quan như năng lực, trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, kỹ năng sư phạm, phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu vươn lên của từng cá nhân cho đến các điều kiện, yếu tố khách quan như điều kiện, môi trường làm việc, công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng cũng như các chế độ, chính sách ưu đãi và cơ chế kiểm tra, đánh giá công nhận,…

Mặc dù có nhiều sự đổi thay trong quan niệm về vai trò và nhiệm vụ của nhà giáo đại học nhưng bản chất của nghề dạy học và đặc biệt là người dạy học trong thời đại mới là không thay đổi Cấu trúc chức năng của người giảng viên có thể thay đổi tùy theo nhu cầu xã hội, nhưng dù trong cấu trúc nào, cả ba chức năng giảng dạy, NCKH, cung ứng dịch vụ đều có mối liên hệ tương hỗ hết sức chặt chẽ Thực hiện đầy

Trang 16

đủ và toàn diện cả ba nhóm chức năng nêu trên quả là một thách thức lớn không chỉ cho từng giảng viên mà cho cả hệ thống giáo dục

1.2.2 Tầm quan trọng của nâng cao chất lượng giảng viên nghề

Có thể khẳng định giảng viên là yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục Luật giáo dục (điều 15 chương I) nêu rõ "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm

vụ của mình…" Với nhận thức hoạt động trung tâm của nhà trường là dạy học và giáo dục Để phát triển toàn diện sinh viên, thầy cô giáo là lực lượng trực tiếp thực hiện chương trình giáo dục của cấp học Chất lượng giáo dục của nhà trường phần lớn do đội ngũ giáo viên quyết định Do đó việc bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển nhà trường Tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện theo hướng chuẩn hóa là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục và chấn hưng đất nước Chất lượng đội ngũ trong mỗi nhà trường thể hiện ở nhiều mặt: Đủ về số lượng, hợp lý cơ cấu, đảm bảo về trình độ đào tạo và có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Thầy giáo, cô giáo phải là người hiểu sâu về kiến thức chuyên ngành, biết rộng về các bộ môn khoa học liên quan và có vốn văn hóa nói chung Bước sang thế kỷ XXI nền giáo dục hiện đại có những xu hướng đổi mới sâu sắc từ quan niệm về vị trí ,vai trò, chức năng của giáo dục đến nội dung và phương pháp giáo dục Sự đổi mới này tất yếu đặt ra những yêu cầu xây dựng, xây dựng lại đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng sự đổi mới đó Sự phát triển vũ bão của khoa học- công nghệ đòi hỏi mỗi giảng viên phải luôn bồi dưỡng, cập nhật thông tin, tri thức mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ

- Do yêu cầu phát triển khoa học công nghệ

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy không ngừng gia tăng của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự phát triển mạnh của công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, khoa học quản lý Sự thay đổi này làm cho giáo dục, đào tạo cũng phải thay đổi theo để tiếp cận và đón đầu các công nghệ cao đó Điều đó đòi hỏi người giảng viên phải có

Trang 17

trình độ chuyên môn và trình độ sư phạm cao để hoàn thành nhiệm vụ dạy học trong điều kiện mới

- Do yêu cầu của sự nghiệp đổi mới

Trước những yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ đổi mới đất nước về chiều sâu, thời cơ

và thách thức đan xen nhau trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập và hợp tác, việc đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là yêu cầu cấp bách cần giải quyết đối với chất lượng đào tạo tại các cơ sở dạy nghề nói chung và tại nhà trường nói riêng để khẳng định mình trong thời kỳ mới

- Do những hạn chế của đội ngũ giảng viên những năm qua

Trong thời gian qua, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ giảng viên trong Trường trong những năm gần đây được cải thiện đáng kể, do sự nỗ lực phấn đấu của Ban giám hiệu nhà trường nhằm xây dựng thương hiệu của nhà trường Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng kinh nghiệm của đội ngũ giảng viên vẫn còn tồn tại rất lớn, chủ yếu rơi vào đội ngũ giảng viên trẻ, đây là thực trạng phổ biến ở các trường nói chung Hiện nay, 100% giảng viên của Trường đều có trình độ đại học, cơ bản đã đạt trình độ thạc

sĩ, phải nói rằng đây là ưu điểm nổi trội của đội ngũ giảng viên của nhà trường Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng vẫn còn một số ít giảng viên kiến thức chưa rộng và thiếu chiều sâu Do thiếu kiến thức cơ bản hoặc không tiêu hoá được kiến thức vốn được đào tạo chắp vá không có hệ thống, mặt khác bản thân lại không có sự cố gắng vươn lên Cũng còn không ít giảng viên, chủ yếu là giảng viên trẻ chưa trải qua thực tiễn cuộc sống phức tạp, cho nên tính mẫn cảm cũng như độ nhạy bén trong xử lý tình huống sư phạm còn rất lúng túng Sự hấp dẫn trong các bài giảng thông qua nghệ thuật diễn giảng còn thiếu, còn yếu Hiện nay một số giảng viên trẻ chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn đổi mới hiện nay Đội ngũ giảng viên có trình độ và tay nghề giỏi còn mỏng, chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đào tạo trong giai đoạn mới Về phương pháp giảng dạy, hầu hết các giảng viên hiện nay đều sử dụng phương pháp truyền thống, thuyết trình là chủ yếu Số giảng viên sử dụng phương tiện dạy học tích cực còn chưa nhiều, chưa thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, sinh hoạt chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy

Hạn chế phổ biến nhất và cũng là vấn đề bức xúc nhất của nhà trường hiện nay

là kinh nghiệm, vốn kiến thức thực tiễn, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên Ở đây không đơn thuần chỉ là sự hạn chế về kinh nghiệm giảng bài chưa có chiều

Trang 18

sâu kiến thức, mà vấn đề là ở chỗ giảng viên chưa có vốn kiến thức thực tiễn sinh động, chưa thu hẹp được khoảng cách giữa lý thuyết, thực hành và thực tiễn, chưa biết vận dụng kiến thức tổng hợp vào bài giảng, chưa có nghệ thuật truyền đạt kiến thức, đặc biệt là những kiến thức thực hành phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên Trong quá trình thực hành giảng vẫn còn giảng viên mắc lỗi sư phạm, phân phối thời gian cho các nội dung trong từng bài giảng chưa khoa học, chưa thành thạo, sự kết nối giữa các nội dung trong bài giảng chưa thực sự lôgic Năng lực tự hoàn thiện, khả năng thích ứng với nghề sư phạm còn rất chậm chạp, phần do năng khiếu sư phạm hạn chế, phần do chưa thực sự cầu thị đã làm cho không ít bài giảng kém chất lượng Một số giảng viên lâu năm có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm chính trị nhưng chưa đủ khả năng gây ảnh hưởng tích cực làm chuyển biến đội ngũ giảng viên trẻ Chưa quán triệt được phương châm là giảng dạy những nội dung mà học sinh, sinh viên cần

Suy cho cùng, mọi hậu quả đều có nguyên nhân của nó trong đó nguyên nhân chủ quan có ý nghĩa quyết định Đó là do năng lực trình độ của một số giảng viên còn hạn chế cả về tri thức, thực tiễn và khả năng sư phạm Sự kém hiểu biết về tri thức, về năng lực lãnh đạo, quản lý chuyên môn Tất cả đều do chủ quan giảng viên chưa thực

sự yêu nghề, chưa tâm huyết với nghề, từ đó chưa thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân đối với nghề Do một bộ phận giảng viên chưa thực sự yêu nghề, nên chưa thực sự chủ động, tích cực trong việc học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, dẫn tới ý thức tự giác nghiên cứu, tự học hỏi, ham tìm tòi, sáng tạo để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm bị hạn chế Một số giảng viên chưa biết sử dụng thành thạo tổng hợp các phương pháp giảng dạy và vận dụng chúng một cách sáng tạo trong từng bài giảng cụ thể Không ít giảng viên dạy học theo phương pháp “ban phát kiến thức”, “rót nước vào bình” Một bộ phận giảng viên tính toán thiệt hơn lợi ích trước mắt đã làm giảm vị thế, giá trị của người giảng viên Việc tự đầu tư trang bị phương tiện cũng như sáng tạo công cụ phục vụ giảng dạy thực hành của giảng viên còn rất hạn chế, thậm chí có giảng viên chưa bao giờ nghĩ tới Có không ít giảng viên chủ quan, thoả mãn cho rằng có kinh nghiệm thực tế là có kinh nghiệm hướng dẫn thực hành cho học sinh, sinh viên và ngược lại, dẫn tới không chịu tìm tòi, học hỏi những giảng viên có học vấn cao và có bề dày kinh nghiệm trong giảng dạy Giảng viên trẻ tuy được đào tạo chính quy tại các học viện, nhà trường, được trang bị những kiến thức khá cơ bản, nhưng do thiếu vốn sống thực tiễn, kinh

Trang 19

nghiệm làm giảng viên, trình độ sư phạm nên năng lực thực sự vẫn còn bị hạn chế rất nhiều Bên cạnh đó do yêu cầu của các cơ quan, tổ chức cần được sử dụng một nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ có thể có được khi nhà trường có một đội ngũ giảng viên

có trình độ kiến thức và kỹ thuật giỏi

- Do yêu cầu của các cơ quan, tổ chức cần được sử dụng một nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ có được khi nhà trường có một đội ngũ giảng viên có trình độ kiến thức và kỹ năng giỏi

- Xuất phát từ vai trò của đội ngũ giảng viên, việc nâng cao chất lượng cho đội ngũ giảng viên nhà Trường hiện nay là rất cần thiết, là tất yếu khách quan, vừa có ý nghĩa quyết định vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược

1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng của giảng viên dạy nghề

dựng xã hội Tuy sự cống hiến của thầy giáo là rất thầm lặng nhưng nếu trở thành một người thầy giáo tốt là điều vô cùng hữu ích và rất mực vẻ vang Vì thế, Người dạy: Người thầy giáo tốt là người vẻ vang nhất Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng

vô danh

Nhiệm vụ của người thầy giáo không chỉ là sự truyền bá tri thức, phương pháp, tay nghề cho người học mà thầy giáo cũng như học trò, tất cả đều phải tham gia vào các công việc xã hội một cách thật tích cực Nhà trường phải gắn liền với thực tiễn xã hội, gắn liền với đời sống của nhân dân Đồng thời, Bác Hồ còn chỉ ra bản chất ưu việt của nền giáo dục trong xã hội mới là hoàn toàn khác với giáo dục trong xã hội cũ: Động cơ của người làm nghề thầy giáo không phải là mục đích kinh tế thuần túy mà là động cơ giáo dục gắn liền với mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể theo nhu cầu của xã hội, phải đáp ứng được lợi ích của nhân dân, vì sự mưu cầu hạnh phúc cho con người

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, người làm thầy giáo phải luôn là tấm gương không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; phải thường xuyên

Trang 20

tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để làm tấm gương sáng cho học trò noi theo, để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới trên mọi phương diện

Người thầy giáo phải luôn gương mẫu trong học tập, trau dồi trình độ chuyên

môn, tri thức khoa học, phải là tấm gương tự học với quan niệm “Sự học không bao giờ cùng” để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời đại trong quá trình xây dựng và

phát triển đất nước trước tình hình mới Đặc biệt là trong bối cảnh khoa học-công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay thì tấm gương tự học của người thầy càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Người thầy giáo luôn tự rèn luyện và trở thành tấm gương sáng

về đạo đức cách mạng cho người học nói riêng và mọi người nói chung noi theo Hình ảnh người thầy giáo luôn được xã hội xem là biểu tượng của văn hóa, là đại diện cho văn minh thời đại

Đạo đức của người giảng viên thể hiện ở hai chữ Tâm -Đức trong nghề dạy học của mình

Về cái “Tâm” đối với nghề giáo là một yêu cầu quan trọng không thể thiếu được Người thầy phải có tâm huyết với nghề mới có hứng thú, say mê chăm chút từng bài giảng, từng nội dung tiết giảng; mới thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu, chỉnh lý, bổ sung nội dung và phương pháp giảng dạy để đem lại hiệu quả cao nhất cho người học L.N.Tônxtôi đã nói: Để đạt được thành tích trong công tác, người thầy giáo phải có một phẩm chất - đó là tình yêu Người thầy giáo có tình yêu trong công việc là đủ cho

họ trở thành người giáo viên tốt

Cái “Tâm” người thầy giáo tốt không phải chỉ lòng yêu ngành, yêu nghề mà phải được biểu hiện thành những hành động cụ thể:

Thứ nhất, phải biết hiến thân cho nghề dạy học, biết hi sinh vì lợi ích tương lai,

vì học sinh thân yêu

Thứ hai, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm với nghề nghiệp Phải cảm thấy

sung sướng, hạnh phúc khi được đứng lớp Không có thái độ miễn cưỡng khi được phân công lên lớp

Thứ ba, luôn tìm tòi, học hỏi, sáng tạo để đem lại chất lượng cao nhất khi giảng

dạy, thầy giáo không bị giới hạn không gian (lớp học) và thời gian (08 giờ vàng ngọc), không phải bước ra khỏi lớp học là chấm dứt hoạt động sư phạm mà vẫn tiếp tục suy nghĩ về nội dung, phương pháp giảng, về thái độ tiếp nhận bài học của sinh viên để tự đổi mới

Trang 21

Thứ tư, nhiệt tình trong xây dựng đơn vị, chân thành trong giúp đỡ đồng

nghiệp

Ngoài ra, người thầy còn phải có cái “Đức”, “Đức” là yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi giảng viên Có “Tâm”, có “Tài” cũng chưa là người thầy tốt Bác Hồ đã từng nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng” Càng quan trọng đối với lĩnh vực giáo dục, để tạo ra nhân cách người học thì trước hết người thầy phải biết thuyết phục học sinh bằng chính nhân cách của mình

Muốn xây dựng được nhân cách cho người học, người thầy trước hết phải có

“Đức” thể hiện ở thái độ, tác phong chuẩn mực khi thực hiện giảng dạy và trong lối sống, trở thành tấm gương, vừa là người thầy, vừa là người cán bộ ưu tú, chuẩn mực cho người học noi theo Phải làm sao để mỗi người thầy không những là nhà sư phạm

mà còn là nhà mô phạm

Cái “Đức” của người thầy thể hiện ở sự hi sinh vô tư “tất cả vì học sinh thân yêu”, giúp đỡ người học một cách chân thành, không vì vụ lợi, không phân biệt đối xử, giúp đỡ trong hỗ trợ kiến thức phải đến nơi đến chốn; giúp đỡ không có nghĩa là cho điểm cao, dễ dãi đối với người học trong học tập Cái “Đức” ấy còn được biểu hiện ở

sự kiên quyết đấu tranh chống những cái xấu, cái sai trong xã hội, trong chính bản thân mình và trong đồng sự Bác Hồ dạy: Thầy giáo và học sinh phải thật thà Sống thật, nói thật, làm thật để cống hiến thật sự, để lời nói đi đôi với việc làm, làm có ích cho Tổ quốc, cho nhân dân và cho xã hội, cho chính bản thân mình

Ngày nay, những tình cảm tốt đẹp có tính truyền thống đó của người thầy vẫn

được duy trì Đảng và nhà nước ta cũng đã xác định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu", đã và đang làm những gì có thể đối với ngành giáo dục bởi tầm quan trọng và ý

nghĩa lớn lao của ngành đặc thù này đối với sự phát triển trong hiện tại cũng như tương lai của xã hội và đất nước Sứ mệnh "trồng người" hết sức thiêng liêng, cao quý nhưng cũng hết sức nặng nề được đặt lên vai người thầy

Trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức xã hội của người giảng viên được thể hiện:

- Nhận thức tư tưởng chính trị với trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng

và bảo vệ quê hương đất nước, góp phần phát triển đời sống văn hóa cộng đồng yêu

Trang 22

nghề, tận tụy với nghề; sẵn sàng khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục sinh viên

- Chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Thực hiện nghiêm túc các quy định của địa phương Liên hệ thực

tế để giáo dục sinh viên ý thức chấp hành pháp luật và giữ gìn trật tự an ninh xã hội nơi công cộng Vận động gia đình chấp hành các chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương

- Chấp hành quy chế của ngành, quy định của nhà trường, có nghiên cứu và có giải pháp thực hiện Thái độ lao động nghiêm túc, đảm bảo lên lớp đúng giờ, không tùy tiện bỏ lớp học, bỏ tiết dạy, chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy và giáo dục

ở lớp được phân công

- Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo, có tinh thần đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; luôn có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp; được đồng nghiệp, sinh viên và cộng đồng tín nhiệm

- Trung thực trong công tác; đoàn kết trong quan hệ đồng nghiệp; hết lòng phục

vụ nhân dân và sinh viên

1.3.2 Nhóm tiêu chí về năng lực chuyên môn

Trình độ học vấn-Học vị:

Theo Quyết định 58/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, thay thế Quyết định 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003, là đã quy định cụ thể học vị đại học là một trong 5 tiêu chuẩn bắt buộc phải có của giảng viên đại học

Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục là người thầy Dân gian Việt Nam nói “Không thầy đố mày làm nên” vẫn nguyên giá trị Giáo dục đại học là bậc đào tạo chuyên nghiệp chuyên sâu, phục vụ yêu cầu của nền kinh tế tri thức, tạo nguồn lực lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn cao Đối với các ngành nghề khác học vị không quá quan trọng, nhưng đối với Giảng viên học vị là yếu tố đầu tiên nhằm xác định năng lực của giảng viên, giảng viên là người truyền đạt tri thức, tri thức được hình thành do quá trình học tập nghiên cứu do vậy học vị là điều không thể thiếu Chất lượng giáo dục phản ảnh thể hiện chiến lược về con người của một quốc gia Trong hoàn cảnh nước ta đã vào WTO là vào nền kinh tế thị trường, giáo dục trở thành một loại hình kinh tế đặc biệt thuộc kinh tế tri thức do vậy chất lượng giáo dục

là thương hiệu, là vấn đề sống còn của các trường đại học

Trang 23

Kiến thức chuyên môn:

Trình độ chuyên môn của giảng viên có ảnh hưởng trực tiếp đến cả quá trình đào tạo Đó là kiến thức uyên bác và kỹ năng thực hành, là khả năng hiểu biết về nghề nghiệp, khả năng soạn thảo bài giảng, khả năng lựa chọn và sử dụng các phương pháp công cụ phục vụ cho bài giảng và môn học, đó còn là khả năng tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Người thầy một mặt là cống hiến, mặt khác

là thấm hút tri thức khoa học của loài người để truyền đạt cho thế hệ HSSV Như vậy,

để có uy tín trong giảng dạy ngoài việc phấn đầu về học hàm, học vị giảng viên còn phải được đào tạo bồi dưỡng thêm về trình độ chuyên môn, phương pháp và kinh nghiệm giảng dạy

Năng lực nghiên cứu khoa học:

Đối với một nhà trường luôn có hai nhiệm vụ cơ bản là giảng dạy và nghiên cứu khoa học (NCKH) là một công việc không thể thiếu đối với giảng viên các trường

vì NCKH vừa là đóng góp cho xã hội vừa là yếu tố quan trọng để người giảng viên nâng cao trình độ năng lực, nghiệp vụ cũng như phương pháp luận để làm giàu thêm kiến thức chuyên môn cho mình Đồng thời giúp cho giảng viên có năng lực tư duy, có phương pháp nghiên cứu tốt, có khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề thực tiễn, có khả năng định hướng, hướng dẫn cho sinh viên nghiên cứu khoa học

Nhìn chung, công tác NCKH của đại đa số giảng viên tại các trường cao đẳng, đại học còn rất hạn chế Đây là mặt yếu khá cơ bản, đáng được quan tâm đối với đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng, đại học của nước ta vì điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ giảng viên trong quá trình giảng dạy

Năng lực tư duy:

Năng lực tư duy của con người chính là khả năng vận dụng tổng thể các tri thức

đã có để tạo ra được những tri thức mới, tạo ra những giải pháp đúng đắn và thích hợp cho việc giải quyết những vấn đề đang được đặt ra trong thực tiễn Để tư duy, con người buộc phải sử dụng bộ máy các khái niệm, phạm trù, các tri thức nằm trong hệ thống các khái niệm, phạm trù đó Năng lực tư duy phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Nhưng, quan trọng và quyết định nhất vẫn là hệ thống các tri thức, trong đó đặc biệt là các tri thức tổng thể và khái quát - những tri thức triết học Mang tính khái quát, tổng quát, các tri thức triết học giữ vai trò định hướng chủ đạo Kết hợp với các tri

Trang 24

thức khác mà con người tích luỹ được, nó định hướng tư duy, cách suy nghĩ và hành động của họ

Chúng ta đang sống trong thời đại có quá nhiều biến động khó lường trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ Có những

dự báo khi mới đưa ra được coi là táo bạo nhất cũng bị thực tiễn vượt qua một cách nhanh chóng cả về mặt thời gian, quy mô, hiệu quả và khả năng tác động Thậm chí,

có những phát minh được coi là sự đột phá, nhưng chưa kịp ứng dụng thì đã có phát minh khác tiến bộ hơn thay thế Do vậy, nó đặt ra cho người giảng viên, cần phải rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy lý luận, tư duy biện chứng để có thể đảm nhận vai trò trách nhiệm của mình trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực

đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Sự vận động và phát triển của thực tiễn không những quy định mà còn đòi hỏi phải có sự vận động, biến đổi và phát triển của tư duy Tư duy đó vận động và biến đổi

ra sao phụ thuộc vào năng lực của từng chủ thể nhận thức, tức là phụ thuộc vào từng con người đang tiến hành các hoạt động nhận thức

Năng lực tư duy sáng tạo của người giảng viên trước hết thể hiện ở khả năng đúc rút kinh nghiệm, thu nhận, phản ánh, xử lý thông tin, để từ đó lựa chọn và khái quát tri thức lý luận phục vụ cho việc diễn giải, lập luận chứng minh làm rõ lý luận, đó

là việc nêu lên các tình huống có vấn đề để kích thích tư duy cho người học - đây là phương pháp được sử dụng mang tính phổ biến trong quá trình dạy học hiện nay Người giảng viên không chỉ dựa trên nhận thức cảm tính khi phân tích xử lý thông tin,

mà đó là quá trình nhận thức lý tính, nhận thức bản chất sự vật, hiện tượng Có một sự nhầm lẫn rất thường gặp ở một số người, đó là sự ngộ nhận rằng cảm tính là linh cảm,

từ đó họ đồng nhất cảm tính với linh cảm trí tuệ, hay là trực giác trí tuệ Thực ra đây là hai trình độ hoàn toàn khác biệt, không thể lấy nhận thức cảm tính thay cho linh cảm, trực giác Không phải bao giờ và bất cứ ai cũng có thứ linh cảm hay trực giác này Người giảng viên có những thời điểm sáng tạo, những tư duy đột phá hay những giờ giảng “thăng hoa” là nhờ có thứ linh cảm trí tuệ Đúng là ai cũng có nhận thức cảm tính, nhưng nếu chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính thì không thể đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng Trực giác trí tuệ chỉ những người có năng lực tư duy lý luận

ở trình độ khái quát cao mới có được Muốn vậy, người giảng viên cần phải có quá trình tích lũy kinh nghiệm bằng sự khổ công học tập, “dùi mài kinh sử”, tìm tòi tích

Trang 25

lũy tri thức nhiều năm, thậm chí suốt cả thời gian dài Mặt khác, người giảng viên còn phải có linh cảm, trực giác, để sáng tạo, phát hiện vấn đề mới và giải quyết một cách triệt để thì mới nâng cao trình độ tri thức và nghiệp vụ sư phạm để thu hút người học trong quá trình dạy học

Trình độ ngoại ngữ, tin học:

Ngoại ngữ và tin học là những yêu cầu không thể thiếu đối với giảng viên trong thời đại hội nhập ngày nay, giúp ích rất nhiều cho bản thân các nhà giáo trong việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề lý luận, các vấn đề chuyên môn và cả các vấn đề xã hội, thế giới Tin học và ngoại ngữ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giảng viên trong các trường cao đẳng nghề, cao đẳng và đại học nói chung, vì vậy trong quá trình tuyền dụng yêu cầu về ngoại ngữ và tin học cũng là một trong những tiêu chí được tổ chức

quan tâm

Thời đại ngày nay khoa học công nghệ và thông tin đang phát triển mạnh như

vũ bão, tri thức loài người ngày một tăng cao Kết quả của sự bùng nổ trên đã làm thay đổi nền giáo dục đào tạo của nước ta: chuyển từ việc lấy dạy làm trọng tâm sang lấy học làm trọng tâm; từ chú trọng dạy kiến thức- kỹ năng đang chú trọng dạy năng lực Điều đó cũng đặt ra cho sự nghiệp giáo dục đào tạo nhiều thách thức mới gay gắt, trong đó việc đào tạo và bồi dưỡng trình độ tin học, ngoại ngữ của giảng viên

Trong điều kiện bùng nổ thông tin và khoa học kỹ thuật, người giảng viên cao đẳng nghề cũng rất cần thiết phải có trình độ ngoại ngữ để đủ khả năng sử dụng tài liệu mới về thiết bị khai thác, vận hành thành thạo các thiết bị phục vụ cho dạy học Ngoại ngữ giúp cho giảng viên có khả năng giao lưu quốc tế để học hỏi những kinh nghiệm

về giảng dạy

1.3.3 Nhóm tiêu chí về kỹ năng

Kỹ năng giảng dạy:

Kỹ năng giảng dạy là khả năng cốt lõi của nhà giáo, là cách truyền đạt, dẫn dắt, lôi cuốn người học vào bài giảng, tạo hứng thú, say mê nghiên cứu cho HSSV trau dồi phương pháp luận khoa học, khả năng tự nghiên cứu để tích lũy và phát triển tri thức

Trong một thời gian dài, Giảng viên chúng ta được trang bị phương pháp để truyền thụ tri thức cho sinh viên theo quan hệ một chiều: Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận Với phương pháp giảng dạy này, các em sinh viên như một cái kho và thầy cô chúng ta đem bất kỳ một điều tốt đẹp nào của khoa học để chất đầy cái kho đó Kết

Trang 26

quả là học sinh học tập một cách thụ động, thiếu tính độc lập sáng tạo trong quá trình học tập

Theo quan điểm giáo dục hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác trong đó,

“học” là một hoạt động trung tâm Và, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập

do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa

rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt

Để đạt được điều ấy, trong quá trình dạy học, người thầy cần phải thức tỉnh trong tâm hồn các em học sinh tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) để học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập là một vấn đề cần thiết và không thể thiếu được Bởi, chỉ

có đổi mới PPDH, chúng ta mới góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ nghiêm trọng trong giáo dục hiện nay; chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới tham gia được vào “sân chơi” quốc tế trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và tiếp cận phương pháp giáo dục mới theo quan điểm giáo dục hiện đại

Vì những lẽ đó, việc đổi mới PPDH hiện nay không chỉ là phong trào mà còn là một yêu cầu bắt buộc với mọi giảng viên

- Lập kế hoạch dạy học trong năm học và từng học kỳ nhằm cụ thể hóa chương trình giáo dục cấp học theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo phù hợp với đặc điểm của trường và lớp được phân công giảng dạy Biết cách soạn giáo án theo hướng đổi mới, thể hiện các hoạt động dạy học tích cực của thầy và trò

- Xây dựng môi trường học tập thân thiện, hợp tác, lựa chọn và kết hợp tốt các PPDH thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp, phát huy tính năng động, sáng tạo, chủ động học tập của sinh viên

- Biết cách hướng dẫn sinh viên tự học, tự tìm hiểu

- Sử dụng hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp đối tượng sinh viên, sử dụng kết quả kiểm tra chính việc học tập của sinh viên một cách tích cực

Để tất cả các thầy cô giáo thực hiện tốt được nhiệm vụ theo xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay, công tác bồi dưỡng giáo viên có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục Thực hiện việc bồi dưỡng là nhiệm vụ được tiến hành

Trang 27

trong suốt quá trình công tác của giáo viên, với mục tiêu cập nhật, bổ sung kiến thức, đào tạo tiếp tục, đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ cho người giáo viên, giúp người giáo viên không ngừng nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu, rộng; có kĩ năng sư phạm lành nghề, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao

về chất lượng Muốn vậy, GV phải nghiên cứu để hiểu sâu chương trình, SGK, đọc và ghi chép nhiều tài liệu tham khảo; có thói quen ham đọc các sách báo, tạp chí khác để thu thập các thông tin hữu ích Đáng tiếc là nhiều GV và CBQLGD các cấp hiện nay còn ít đọc, ngại đọc, lười đọc, không chịu học hỏi Bài giảng vì thế mà nông cạn, không thiết thực, không sinh động, không hấp dẫn HS, CBQL công tác kém hiệu quả

Để cải thiện về chất lượng dạy học trên địa bàn Thị xã chúng ta hiện nay, con đường ngắn nhất là mỗi thầy cô giáo phải nhanh chóng thay đổi về nhận thức, việc bồi dưỡng, tự bồi dưỡng là cấp thiết đòi hỏi mỗi giáo viên, mỗi CBQL, mỗi nhà trường phải thực sự quan tâm Trước hết hiệu trưởng các nhà trường phải là người hiểu rõ hơn

ai hết về đội ngũ do mình quản lí để xây dựng một kế hoạch bồi dưỡng cho họ, trên cơ

sở những đề xuất của cá nhân cũng như tổ chuyên môn ở cơ sở; đồng thời tạo điều kiện tốt nhất có thể để cho đội ngũ của mình có thể để thường xuyên cập nhật, bổ sung những gì cần thiết cho mình nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất của người giáo viên; hiệu trưởng cần phối hợp tích cực với cơ quan quản lí cấp trên để tổ chức nghiêm túc việc bồi dưỡng, tự bồi dưỡng cho mỗi cán bộ, giáo viên; xây dựng mỗi đơn vị nhà trường thực sự là một “ Trung tâm bồi dưỡng giảng viên”.Vẫn biết là mỗi giảng vien đều có những khó khăn riêng nhưng nếu mỗi chúng ta đều nhận thức đầy đủ vai trò trách nhiệm trước sinh viên, trước nhân dân, mỗi người đều có một chút cố gắng, khắc phục khó khăn thì chúng ta sẽ làm được Chất lượng từng giờ giảng của các giảng viên

sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nước ta

Yêu cầu về năng lực sư phạm cho giảng viên trường cao đẳng nghề là những tri thức cơ bản, có hệ thống về tâm lý học, giúp cho họ hình thành kỹ năng nghiên cứu tâm lý và vận dụng các tri thức tâm lý học vào rèn luyện bản thân, có khả năng phân tích, giải thích và hiểu được tâm lý học sinh, sinh viên trên cơ sở khoa học Từ đó lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp để đạt được chất lượng và hiệu quả

Kĩ năng sử dụng CNTT trong quá trình dạy học

Khai thác tài liệu trên internet là công cụ rất hiệu quả và là kho tàng thông tin

vô tận có thể sử dụng trong dạy học Việc khai thác thông tin, kiến thức trên internet

Trang 28

đòi hỏi người giảng viên phải được trang bị những kiến thức, kĩ năng và những điều kiện nhất định

Trong thời đại công nghệ hiện nay, việc học của sinh viên cũng đã có nhiều thay đổi Thói quen học thuộc một cách thụ động nhường chỗ cho việc tự tìm tòi, khám phá Việc học và chơi ngày càng được gắn với máy vi tính nhiều hơn, thu hút các em nhiều hơn vào việc tìm tòi, khám phá

Giảng viên không thể bằng lòng với những thông tin có sẵn trên các trang sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Internet là nguồn thông tin không thể thiếu được của những người làm nghề dạy học

Khai thác thông tin từ Internet phải trở thành thói quen không thể thiếu được của mỗi giảng viên Rõ ràng, kỹ năng làm việc với máy tính trở thành kỹ năng tối thiểu của tất cả mọi người và đặc biệt là của người giảng viên

Khi khai thác, người giảng viên phải biết lựa chọn nguồn tài liệu đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng (chính xác, khoa học, khách quan và phải mang tính giáo dục

tư tưởng cho người học)

Lựa chọn nguồn thông tin phù hợp với nội dung bài học, với từng đối tượng, từ

đó làm cho người học nắm vững, hiểu sâu hơn nội dung của bài học Đây cũng là một biện pháp góp phần vào việc nâng cao hiệu quả dạy học theo hệ thống tín chỉ hiện nay

Kĩ năng giao tiếp trong dạy học

Giao tiếp trong dạy học có nghĩa người dạy cùng trao đổi, thảo luận, học hỏi những kinh nghiệm giáo dục từ thực tiễn giữa các cơ sở đào tạo, giữa các môn học, giữa các giảng viên trong các cơ sở đào tạo,… để cùng nhau nêu ra những ưu điểm, hiệu quả cao trong quá trình dạy học, đồng thời cũng từ trên cơ sở đó nêu ra những hạn chế, vướng mắc cần khắc phục để việc dạy học đạt hiệu quả tốt hơn

Trong phạm vi cụ thể, sự hợp tác tạo nên nhiều thành tựu quan trọng đối với mỗi cá nhân Kĩ năng hợp tác cần được rèn luyện ở mỗi giáo viên Sau đó, đến lượt mình, các thầy, cô giáo lại dạy cho sinh viên của mình cách hợp tác trong học tập và trong các lĩnh vực khác của cuộc sống Có như vậy, cũng là góp phần không nhỏ đến hiệu quả dạy học

Kĩ năng nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học

Kĩ năng nêu vấn đề và tự giải quyết vấn đề là một trong những nội dung quan trọng của người giảng viên trong quá trình dạy học

Trang 29

Trong cuộc sống nói chung và trong dạy học nói riêng suy đến cùng, đó là một chuỗi liên tục các vấn đề và giải quyết vấn đề “Vấn đề được nêu ra sau đó được giải quyết, một vấn đề khác lại nẩy sinh, vấn đề lại được giải quyết cứ như thế lặp đi lặp lại”

Nêu và giải quyết các vấn đề trong dạy – học đặc biệt là trong các bài học ở nhà trường cũng nên xem như giải quyết các vấn đề của cuộc sống Đặc biệt hơn là trong dạy học, người giảng viên biết dẫn đắt người học vào tình huống có vấn đề và nêu vấn

đề một cách rõ ràng, cụ thể, sau đó tổ chức cho người học hướng giải quyết vấn đề

Đây là một trong những biện pháp dạy học đem lại hiệu quả cao Để làm được điều đó, giảng viên cần phải luôn tự rèn luyện và bồi dưỡng kĩ năng nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học

Từ những năm 1960, GV đã làm quen với thuật ngữ "dạy học nêu vấn đề", nhưng cho đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo Cho người cho rằng thuật ngữ "nêu vấn đề" có thể gây hiểu lầm là GV nêu ra vấn đề để HS giải quyết, do đó đề nghị thay

"nêu vấn đề" bằng "gợi vấn đề" Thực ra, trước hết cần tập dượt cho HS khả năng phát hiện vấn đề từ một tình huống trong học tập hoặc trong thực tiễn Đây là một khả năng

có ý nghĩa rất quan trọng đối với một người và không phải dễ dàng mà có được Mặt khác, sự thành đạt trong cuộc đời không chỉ tùy thuộc vào năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn mà bước quan trọng tiếp theo là giải quyết hợp

lí những vấn đề được đặt ra Vì vậy, ngày nay người ta có xu hướng dùng thuật ngữ

"dạy học giải quyết vấn đề" hoặc "dạy học đặt và giải quyết vấn đề" hoặc "dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề"

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)

Tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau:

Trang 30

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phân tích giải quyết vấn đề

Giải thích sơ đồ:

- Phân tích vấn đề: làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm (dựa vào

những tri thức đã học, liên tưởng tới kiến thức thích hợp)

- Hướng dẫn HS tìm chiến lược giải quyết vấn đề thông qua đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề Cần thu thập, tổ chức dữ liệu, huy động tri thức; sử dụng

những phương pháp, kĩ thuật nhận thức, tìm đoán suy luận như hướng đích, quy lạ về quen, đặc biệt hóa, chuyển qua những trường hợp suy biến, tương tự hóa, khái quát hóa, xem xét những mối liên hệ phụ thuộc, suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lùi, Phương hướng đề xuất có thể được điều chỉnh khi cần thiết Kết quả của việc đề xuất

và thực hiện hướng giải quyết vấn đề là hình thành được một giải pháp

- Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp: Nếu giải pháp đúng thì kết thúc ngay,

nếu không đúng thì lặp lại từ khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìm được giải pháp đúng Sau khi đã tìm ra một giải pháp, có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác,

so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp lí nhất

Ưu điểm:

Trang 31

- Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho HS Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có HS sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết

- Đây là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều góc

độ khác nhau Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, HS sẽ huy động được tri thức

và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất

- Thông qua việc giải quyết vấn đề, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thực ("giải quyết vấn đề" không còn chỉ thuộc phạm trù phương pháp mà đã trở thành một mục đích dạy học, được cụ thể hóa thành một mục tiêu là phát triển năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực có vị trí hàng đầu để con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội)

Kỹ năng sắp xếp và tổ chức công việc:

Giảng dạy là một nghề đặc thù đòi hỏi sự chính xác về thời gian, tốc độ thực hiện kịp thời, tính linh hoat, tính hiệu quả trong chính vì vậy đòi hỏi người giảng viên cần biết sắp xếp và tổ chức công việc hợp lý để bài giảng của mình thật hiệu quả Mỗi một giảng viên cần có kế hoạch giảng dạy và sắp xếp cụ thể cho mỗi kỳ để có thể chuẩn bị bài giảng tốt nhất tránh bị chồng chéo công việc

Sơ đồ 1.2: Lập lịch tổ chức giảng dạy môn học

Muc tiêu đào tạo

Cơ sở vật chất

Kê hoạch giảng dạy học kỳ

Đối tượng học sinh

Chương trình môn học

Lập lịch giảng dạy

Kế hoạch giáo viên

Trang 32

Kỹ năng quản lý lớp học:

Đối với giáo viên, việc nâng cao hiệu quả trong việc dạy học luôn được đặt lên hàng đầu Để làm được điều đó, giáo viên cần phải tiến hành nhiều công việc như giảng bài, cố vấn, tổ chức và quản lý việc học Trong đó, việc quản lý lớp học là rất quan trọng vì đây là yếu tố cơ bản để nâng cao hiệu quả dạy và học Tuy nhiên, để quản lý học tập được tốt không phải là một việc dễ dàng, Công tác này đòi hỏi rất nhiều sự nỗ lực, cố gắng từ GV Để đạt được kết quả trong việc nâng cao chất lượng của công tác quản lý lớp, người giáo viên chủ nhiệm luôn luôn phải bám sát với lớp, tận tụy, gần gũi với các sinh viên Giảng viên phải hướng được sinh viên tham gia nhiệt tình vào môn học Để quản lý càng chặt chẽ GV cần có sự chuẩn bị chu đáo về

tất cả các khâu để chất lượng dạy học có hiệu quả hơn

1.3.4 Sức khỏe

Sức khỏe hay còn gọi là thể lực bao gồm cả yếu tố về thể chất lẫn tinh thần, phải đảm bảo được sự hài hòa bên trong và bên ngoài Chất lượng giảng viên được cấu thành bởi năng lực tinh thần và năng lực thể chất, tức là nói đến sức mạnh và tính hiệu quả của những khả năng đó, trong đó năng lực thể chất chiếm vị trí vô cùng quan trọng Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc; thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực, bởi nếu không chịu đựng được sức ép của công việc cũng như không thể tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp dạy học mới, những nghiên cứu mới

Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất và tinh thần sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, năng lực lao động chân tay Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thực tiễn Hiến chương của tổ chức ý tế thế giới đã nêu: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toạn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là bệnh tật hay thương tật” Sức khỏe vừa là mục đích đồng thời nó cũng là điều kiện của sự phát triển

Sức khỏe không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng giảng viên mà còn ảnh hưởng tới tất cả các ngành nghề khác Giáo dục là ngành đòi hỏi sự tập trung cao độ bền bỉ, đòi hỏi phải có sự đảm bảo về sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần do vậy giảng viên cần

có sức khỏe tốt mới hoàn thành được công tác giảng dạy

Trang 33

Theo nghiên cứu Một nghiên cứu tại trường Đại học Nevada chỉ ra sinh viên sẽ tập trung hơn, có khả năng ghi nhớ tốt hơn khi tham dự các giờ học do giáo viên có sức khỏe tốt, khả năng truyền đạt rõ ràng mạch lạc tạo thêm cảm hứng học tập cho sinh viên Do vậy yếu tố sức khỏe là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên

1.4.1 Các nhân tố bên trong

1.4.1.1 Công tác tuyển dụng

Tuyển dụng lao động là quá trình thu hút, nghiên cứu, lựa chọn và quyết định tiếp nhận một cá nhân vào một vị trí của tổ chức Quá trình tuyển dụng chính là một sự thích ứng giữa hai mảng cung và cầu trên thị trường lao động

Trên thực tế đối với mỗi đơn vị khi đưa ra yêu cầu tuyển dụng lao động phải dựa trên nhu cầu của đơn vị đối với đối tượng tuyển dụng như thế nào, quy trình xây dựng để tuyển dụng đối tượng lao động như thế nào, và nội dung tuyển dụng đã thực

sự được công khai, minh bạch xuất phát từ lợi ích của đơn vị chưa? Luôn là câu hỏi đặt ra đối với mỗi đơn vị tuyển dụng hiện nay để giúp cho các nhà quản lý quyết định đến tình trạng nhân lực hiện thời mình đang có đưa ra được các hoạch định chính sách quyết định đến tương lai của đơn vị mình quản lý Và trên thực tế chính sách tuyển dụng càng công khai thì lợi ích đạt được từ phía người được tuyển dụng và từ nhu cầu thực tế tại mỗi đơn vị sẽ đảm bảo được lợi ích cho đơn vị là tuyển dụng được người có năng lực theo yêu cầu và góp phần mang lại thành công cho đơn vị

1.4.1.2 Bố trí và sử dụng đội ngũ giảng viên

Sử dụng lao động một cách khoa học là tìm cách giao việc hoặc sắp xếp bố trí người lao động vào những công việc phù hợp với năng lực sở trường của họ hoặc bố trí theo chuyên ngành đào tạo của nhà trường Yêu cầu chung của sự phân công và hợp tác lao động là phải đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm sức lao động, phát huy tính chủ động sáng tạo của mỗi người, tạo điều kiện duy trì và nâng cao khả năng làm việc lâu dài cũng như hứng thú của người lao động, đồng thời đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn vật chất, kỹ thuật khác Sự phân công lao động và sự phối hợp một cách tích cực, hợp lý giữa các cá nhân, bộ phận trong tập thể sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác của mỗi cá nhân và hiệu quả hoạt động của cả tổ chức

Áp dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá thực hiện công việc của người lao

Trang 34

động trong tổ chức có ý nghĩa rất lớn đối với tổ chức cũng như đối với người lao động

- Đối với tổ chức: Thông tin và kết quả kiểm tra đánh giá thực hiện công việc của người lao động có thể dựa trên một số các tiêu chí sau:

+ Tiêu chuẩn đánh giá người lao động của đơn vị

+ Nội dung đánh giá người lao động

+ Phương pháp đánh giá

+ Các nguyên tắc đánh giá

Công việc kiểm tra, đánh giá của tổ chức đối với người lao động nên công khai, công bằng, chính xác cho các phòng ban chức năng trong đơn vị để làm cơ sở cho việc điều chỉnh nguồn nhân lực: tiền lương, đề bạt, thuyên chuyển và sa thải lao động cũng như lập kế hoạch giúp đỡ, đào tạo, bổ sung cho người lao động Và dựa trên kết quả kiểm tra, đánh giá của tổ chức giúp các phòng ban trong đơn vị xử lý thông tin về kết quả đánh giá người lao động đối với bộ phận của mình để bố trí và sử dụng lao động

có hiệu quả hơn trong công tác

- Đối với người lao động: thông tin kết quả kiểm tra, đánh giá có tác dụng: + Người lao động sẽ tự xác nhận lại mình so với yêu cầu của vị trí công việc đang đảm nhiệm, cũng như so sánh với các đồng nghiệp để từ đó có kế hoạch điều chỉnh và hoàn thiện bản thân

+ Đây là cơ hội tốt để đạt được tâm tư nguyện vọng của cá nhân: được đề bạt, được đào tạo bổ xung thêm kiến thức…

1.4.1.3 Chính sách đãi ngộ

Chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức bao gồm cả đãi ngộ về vật chất và khuyến khích về tinh thần: tiền lương, thưởng, phụ cấp chức vụ, khu vực, làm thêm giờ, trợ cấp khó khăn, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nhà công vụ và các dịch vụ xã hội được bao cấp một phần hoặc toàn bộ; lương hưu, nghỉ ốm, nghỉ đẻ, nghỉ phép hàng năm, tham quan du lịch; sự tôn vinh qua các danh hiệu của cơ quan, ngành

và Nhà nước trao tặng Chính sách đãi ngộ nêu trên, chính sách khuyến khích bằng lợi ích vật chất là cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, lợi ích vật chất và tinh thần đan xen nhau, trong phần thưởng về vật chất có phần thưởng về tinh thần, ngay cả mức lương cũng chứa đựng

1.4.1.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ giảng viên

Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên là quan trọng đối với tổ chức và cá

Trang 35

nhân Đối với các trường cao đẳng, đại học hiện nay các nhà lãnh đạo cần nhìn nhận việc đào tạo, bồi dưỡng giảng viên là nhiệm vụ cần phải có mục tiêu, chiến lược và kế hoạch trong quá trình lãnh đạo, cũng như nâng cao vị thế của nhà trường trong quá trình phát triển của nhà trường Hơn nữa, hàng năm cần dành một khoản ngân sách thỏa đáng cho đào tạo, phải kết hợp được giữa đào tạo lý luận với thực hành

Trong quá trình hoạt động nghiệp vụ, đội ngũ giảng viên phải luôn cập nhật kiến thức mới, phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ, nhà trường phải tạo điều kiện cho giảng viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cũng như rèn luyện nâng cao tay nghề, kiến thức tin học, ngoại ngữ… nhằm giúp họ ngày càng hoàn thiện hơn năng lực chuyên môn

Trong điều kiện khoa học và kỹ thuật phát triển như hiện nay, với công nghệ tiên tiến và hiện đại, người lao động phải luôn nâng cao trình độ văn hóa và nghề nghiệp chuyên môn để không bị lạc hậu Mặt khác, nhờ nâng cao trình độ nên người lao động tự tin hơn, ra quyết định tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn Họ sẽ tăng sự thỏa mãn đối với công việc, phát triển trí tuệ, thích ứng với kỹ thuật mới, luôn luôn sẵn sang tiếp nhận các công việc mới

Để công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực đáp ứng yêu cầu đặt ra của tổ chức, đòi hỏi phải chú trọng đồng thời tới toàn bộ nội dung bao gồm: xác định nhu cầu và mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, các phương thức đào tạo, việc đảm bảo điều kiện cho công tác đào tạo cũng như việc kiểm tra đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng

1.4.2 Các nhân tố bên ngoài

- Thứ nhất: Nhân tố trong nước

Trước hết đó là nhân tố vĩ mô gắn với luật pháp, chính sách và cơ chế của nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hoàn thành đề án đổi mới cơ chế tài chính, đề án học bổng và học phí của sinh viên; khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học thực hiện việc đào tạo theo nhu cầu xã hội, chất lượng cao, chi phí thấp, khuyến khích các trường đại học và cao đẳng liên kết với các doanh nghiệp trong đào tạo; xây dựng các trung tâm dự báo nguồn nhân lực và nhu cầu xã hội Trong kế hoạch phát triển trường hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chủ trương xây dựng chi tiết kế hoạch tài chính, đa dạng hóa nguồn tài chính, khai thác triệt để các nguồn nhân lực từ hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, hợp tác quốc tế để

Trang 36

xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực con người Đó là những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên trong các trường đại học khối kinh

tế và quản trị kinh doanh

Cơ chế chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đội ngũ giảng viên, cơ chế chính sách có thể khuyến khích hay kìm hãm việc bồi dưỡng nâng cao trình độ hoặc có thể làm thay đổi thái độ nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên Nhân dân ta có câu: “có thực mới vực được đạo”, một chế độ chính sách phù hợp sẽ thúc đẩy sự phát triển của đội ngũ giảng viên, ngược lại, chế độ chính sách không phù hợp sẽ tác động xấu tới đội ngũ giàng viên Để thực hiện tốt vấn đề này cần đảm bảo hài hòa lợi ích chung, công bằng nội bộ và đảm bảo các hình thức, cách thức chi trả, trao thưởng phù hợp nhất với nhu cầu và nguyện vọng đối với người lao động Chế độ chính sách đối với người lao động bao hàm tất cả các hình thức bù đắp mà tổ chức sẽ chi trả cho người lao động Nó bao gồm tiền lương, tiền thưởng và mọi thứ lợi ích khác mà người lao động nhận được từ tổ chức

- Thứ hai: Nhân tố quốc tế

Trước hết, đó là xu thế hội nhập về giáo dục của các nước trong khu vực Asean Đây là điều kiện tốt nhất để chúng ta học hỏi kinh nghiệm của các nước trong khu vực trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, gửi cán bộ giảng viên đi đào tạo ở nước ngoài, nâng cao trình độ khoa học

Mối quan hệ trong các lĩnh vực liên quan đến giáo dục và đào tạo trong cộng đồng quốc tế dưới hình thức song phương hoặc đa phương Nó là cơ sở để chúng ta nâng cao hơn nữa khả năng hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong quan hệ hợp tác về nghiên cứu khoa học, trong đào tạo sau đại học, trong đào tạo tiến sĩ có trình độ đạt chuẩn quốc tế, tham gia một cách tích cực và

có hiệu quả vào quá trình phát triển giáo dục đào tạo mang tính khu vực và toàn cầu, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa hiện nay

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG ƯƠNG 2.1 Tổng quan về Nhà trường

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương được thành lập

từ năm 1972 tại thôn Đông Thiên, xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh trì, Hà Nội (nay là số

193 phố Vĩnh Hưng, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, Hà Nội) với tên là Trường May mặc thuộc Tổng công ty Vải sợi may mặc Trung ương Đến năm 1981, Trường may mặc sáp nhập với Trường Điện máy Hà Bắc để hình thành Trường Dạy nghề May

đo và Sửa chữa hàng điện máy thộc Bộ Nội thương Qua các thời kỳ phát triển Trường Dạy nghề May đo và Sửa chữa hàng điện máy đã đổi tên thành Trường Dạy nghề Nội thương I và sau đó là Trường Dạy nghề Thương nghiệp Thực hiện quy hoạch mạng lưới các trường trực thuộc Bộ Thương mại, ngày 18/04/1994 Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký quyết định số 402/TM-TCCB thành lập Trường Cán bộ Thương mại Trung ương trên cơ sở hợp nhất Trường Dạy nghề Thương nghiệp và Trường Cán bộ Quản lý Thương nghiệp Năm 2007 chính phủ hợp nhất Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại, Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương được thành lập theo quy định tại Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Trường Cán bộ Thương mại Trung ương thuộc Bộ Công Thương

Từ khi được thành lập đến nay, Nhà trường luôn phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Nhà nước giao phó Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới, phát triển của đất nước, Nhà trường đã từng bước xây dựng và phát triển hoàn thiện về mọi mặt, từ việc xây dựng đội ngũ CB, GV đến việc xây dựng CSVC phục vụ cho giảng dạy, học tập Đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng GD-ĐT, cùng với việc mở rộng quy mô, phát triển thêm các loại hình, hệ đào tạo phục vụ yêu cầu của ngành Công Thương Trong năm tới nhà trường phấn đấu áp dụng hệ thống quản lý chất lượng QMS (Quality Management System) ISO 9001:2000 và QTM (Quản lý chất lượng tổng thể) nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ luôn tuôn thủ các quy định quy trình, đáp ứng các yêu cầu và thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng và các bên quan tâm, đồng thời cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục vụ cho các nhà đầu tư trong

Trang 38

và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu lao động

Với truyền thống 39 năm xây dựng và phát triển, Trường đã vinh dự được tặng thưởng Huân chương lao động hạng nhì, Huân chương lao động hạng ba và nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ

2.1.2.1 Về thực hiện nhiệm vụ chính trị

Xây dựng, đề xuất với cấp có thẩm quyền chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức, viên chức ngành Công Thương, tổ chức thực hiện theo phân công của

Bộ Công Thương

Tổ chức hoặc tham gia với các đơn vị liên quan biên soạn và lựa chọn giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành Công Thương theo quy định của Bộ Công Thương và quy định của pháp luật

Phối hợp với các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Công Thương xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; kinh phí hoạt động của Trường cho các nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng hàng năm trình Bộ Công Thương quyết định và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành Công Thương theo vị trí việc làm, theo tiêu chuẩn ngạch công chức (cán sự, ngạch chuyên viên, chuyên viên chính và tương đương), theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương theo quy định của pháp luật

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, quản trị doanh nghiệp thuộc ngành Công Thương theo quy định của pháp luật

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng hành chính

và kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương cho cán bộ, công chức, viên chức ngành Công Thương (quản lý thị trường; công tác thương vụ ở nước ngoài; thanh tra chuyên ngành Công Thương; xúc tiến thương mại…)

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản, nâng cao và chuyên sâu về hội nhập kinh tế quốc tế cho cán bộ, công chức, viên chức ngành Công Thương (bao gồm

cả hình thức kết hợp ở trong nước và ngoài nước) theo quy định của pháp luật;

Trang 39

Phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức đối với công chức, viên chức trong thời gian tập sự và bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện quy hoạch cán bộ

Tổ chức các lớp tập huấn, cập nhật kiến thức, pháp luật, các quy định có liên quan quản lý nhà nước của ngành Công Thương, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức khác cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động

Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu, điều tra, khảo sát, đánh giá nhu cầu, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ, ngành Công Thương theo quy định

2.1.2.2 Về hợp tác đào tạo

Phối hợp với Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên cao cấp cho các đối tượng công chức, viên chức ngành Công Thương

Tổ chức đào tạo nghề thuộc ngành Công Thương ở các cấp trình độ cho các đối tượng theo quy định của pháp luật

Hợp tác đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ, chuẩn hóa về chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành Công Thương cho công chức, viên chức, người lao động theo quy định của pháp luật

Hoạt động giáo dục và thực hiện chương trình giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên theo quy định của pháp luật, khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

Hợp tác với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động thực hiện đào tạo nghề, giáo dục định hướng, tư vấn, tạo nguồn cho xuất khẩu lao động theo quy định hiện hành

Thực hiện quản lý và cấp bằng tốt nghiệp, chứng chỉ, giấy chứng nhận tốt nghiệp cho người học, sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo, bồi dưỡng sau khi hoàn thành một chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo quy chế văn bằng, chứng chỉ của

hệ thống giáo dục quốc dân do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành, Bộ trưởng Bộ Công Thương và quy định của pháp luật

Trang 40

2.1.2.3 Về nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn trong lĩnh vực công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực cho ngành Công Thương theo nhiệm vụ được giao và quy định của pháp luật;

Điều tra, khảo sát, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin về cán

bộ, công chức, viên chức quản lý nhà nước và doanh nghiệp phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực ngành Công Thương;

Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu, xây dựng các chương trình, đề án, đề tài công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực ngành Công Thương theo phân công của Bộ;

Tổ chức các hội thảo khoa học liên quan đến phát triển ngành Công Thương, hội nhập kinh tế quốc tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực ngành Công Thương;

Thực hiện hợp tác với các tổ chức liên quan trong và ngoài nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức theo nhiệm vụ được giao và quy định của pháp luật;

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Tổ chức bộ máy của Nhà trường bao gồm: Ban Giám hiệu, các phòng chức năng giúp việc cho Hiệu trưởng và các tổ chức đào tạo Đến năm 2016, Nhà trường hiện có 187 CB, viên chức trong chỉ tiêu biên chế được Bộ Công Thương giao; trong

đó 85 GV trực tiếp giảng dạy

- Khoa Thương mại điện tử và Quản trị doanh nghiệp;

- Khoa Công nghệ Điện tử;

Ngày đăng: 01/03/2021, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w