1. Lý do chọn đề tài Điều 35, Hiến pháp (năm 1992) nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã viết “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”. [28] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh và khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nên tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. [15] Bởi vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà phải là xây dựng, phát triển trên tất cả cả lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa… do đó cần có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Muốn có nguồn nhân lực đó nhất thiết phải chú trọng phát triển GD - đào tạo vì GD đào tạo trực tiếp giúp con người nâng cao trí tuệ, hiểu biết và khả năng vận dụng tri thức, khoa học kỹ thuật, nên GD - đào tạo trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta. Hệ thống GD của Việt Nam hiện nay bao gồm: GD mầm non, GD phổ thông, GD nghề nghiệp, GD đại học và sau đại học. Trong thời gian qua, GD Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, hệ thống GD quốc dân được hoàn hiện hơn với các cấp, các bậc học, trình độ đào tạo, các loại hình và phương thức GD. Quy mô GD tăng nhanh, nhất là ở bậc đại học và dạy nghề. Các loại hình nhà trường ngày càng được đa dạng hóa, thu hút được nhiều người học; các trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong phổ cập GD. Dạy nghề nằm trong bậc GD nghề nghiệp là một bộ phận của hệ thống GD quốc dân, có chức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật - nghiệp vụ ở trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề theo nhu cầu của thị trường lao động. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, việc dạy nghề đã được quan tâm, ổn định và có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường lao động. Tuy nhiên, dạy nghề vẫn còn khó khăn, tồn tại, cần được đổi mới và hoàn thiện. Nâng cao chất lượng dạy nghề như là một đòi hỏi khách quan, một yêu cầu hết sức cấp thiết. Nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao chất lượng dạy nghề tức là nâng cáo chất lượng các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, trong đó có yếu tố tổ chức QL. Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương được thành lập theo quy định tại Nghị định 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Trường Cán bộ Thương mại Trung ương thuộc Bộ Công Thương. Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương là tổ chức sự nghiệp GD, khoa học công nghệ có thu, tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, hoạt động trên phạm vi cả nước trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khóa học và công nghệ về tổ chức, QL các nghiệp vụ và dạy nghề ở trình độ cao đẳng cho ngành Công Thương. Hơn 40 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường luôn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được bộ, ngành giao phó trong mọi thời kỳ. Đáp ứng nhu cầu học tập nâng cao trình độ và nghề nghiệp của HS cũng như cán bộ ngành công thương trực thuộc Bộ Công Thương. Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương đã xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường với nhiệm vụ trọng tâm là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nói chung, đặc biệt là cần phải có các biện pháp QL đồng bộ để nâng cao chất lượng dạy nghề nói riêng, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao đáo ứng nhu cầu phát triển KT - XH của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Để đóng góp một phần công sức trong việc nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy nghề tại Nhà trường, tôi chọn đề tài “Giải pháp quản lý chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương” để nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ QLGD.
Trang 1HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
_
LÊ THỊ HOÀI VINH
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ TẠI TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CÔNG THƯƠNG TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Bình
Trang 2HÀ NỘI, 2014
Trang 3Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu cùng cán bộ, giảng viên Trường Đào tạo,bồi dưỡng cán bộ Công thương Trung ương, các đồng nghiệp
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi được tham gia học tập và nghiên cứu
Mặc dù có nhiều cố gắng, xong thời giam nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các quý thầy,cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Hoài Vinh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
5 Giả thuyết khoa học 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 77
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 77
3.4.3 Đối tượng khảo nghiệm 78
3.4.4 Tiến trình khảo nghiệm 78
3.4.5 Một số công thức tính toán trong khảo nghiệm 78
3.4.6 Kết quả khảo nghiệm và phân tích kết quả 79
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Điều 35, Hiến pháp (năm 1992) nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam đã viết “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực công dân, đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc” [28]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh và khẳng
định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nên tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [15] Bởi vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ là công cuộc xây
dựng kinh tế mà phải là xây dựng, phát triển trên tất cả cả lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa… do đó cần có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng Muốn có nguồn nhân lực đó nhất thiết phải chú trọng phát triển GD - đào tạo vì GD đào tạo trực tiếp giúp con người nâng cao trí tuệ, hiểu biết và khả năng vận dụng tri thức, khoa học kỹ thuật, nên GD - đào tạo trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta
Hệ thống GD của Việt Nam hiện nay bao gồm: GD mầm non, GD phổ thông, GD nghề nghiệp, GD đại học và sau đại học Trong thời gian qua, GD Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, hệ thống GD quốc dân được hoàn hiện hơn với các cấp, các bậc học, trình độ đào tạo, các loại hình và phương thức GD Quy mô GD tăng nhanh, nhất là ở bậc đại học và dạy nghề Các loại hình nhà trường ngày càng được đa dạng hóa, thu hút được nhiều người học; các trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong phổ cập GD
Trang 8Dạy nghề nằm trong bậc GD nghề nghiệp là một bộ phận của hệ thống
GD quốc dân, có chức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật - nghiệp vụ ở trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề theo nhu cầu của thị trường lao động Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, việc dạy nghề đã được quan tâm, ổn định và có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường lao động Tuy nhiên, dạy nghề vẫn còn khó khăn, tồn tại, cần được đổi mới và hoàn thiện Nâng cao chất lượng dạy nghề như là một đòi hỏi khách quan, một yêu cầu hết sức cấp thiết Nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nâng cao chất lượng dạy nghề tức là nâng cáo chất lượng các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, trong đó có yếu tố tổ chức QL
Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương được thành lập theo quy định tại Nghị định 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Trường Cán bộ Thương mại Trung ương thuộc Bộ Công Thương Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương là tổ chức sự nghiệp GD, khoa học công nghệ có thu, tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, hoạt động trên phạm vi cả nước trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khóa học và công nghệ về tổ chức, QL các nghiệp vụ và dạy nghề ở trình độ cao đẳng cho ngành Công Thương Hơn 40 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường luôn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được bộ, ngành giao phó trong mọi thời kỳ Đáp ứng nhu cầu học tập nâng cao trình độ và nghề nghiệp của HS cũng như cán bộ ngành công thương trực thuộc Bộ Công Thương Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương đã xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường với nhiệm vụ trọng tâm là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nói chung, đặc biệt là cần phải có các biện pháp QL đồng
bộ để nâng cao chất lượng dạy nghề nói riêng, góp phần đào tạo nguồn nhân
Trang 9lực có trình độ tay nghề cao đáo ứng nhu cầu phát triển KT - XH của đất nước trong giai đoạn hiện nay
Để đóng góp một phần công sức trong việc nâng cao hiệu quả, chất
lượng dạy nghề tại Nhà trường, tôi chọn đề tài “Giải pháp quản lý chất lượng
dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương” để nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ QLGD.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xây dựng cơ sở lý luận về QL chất lượng dạy nghề
3.2 Phân tích thực trạng chất lượng dạy nghề và QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
3.3 Đề xuất các giải pháp QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán
bộ Công Thương Trung ương
5 Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, công tác QL chất lượng đào tạo tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương đã đạt được những kết quả
cụ thể đáng ghi nhận Tuy nhiên, trên thực tế còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, hạn chế trong công tác QL chất lượng dạy nghề tại nhà trường Theo đó,
Trang 10nếu áp dụng một cách đồng bộ các giải pháp QL thì công tác QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương sẽ được nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo trong những năm tới.
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương, nhằm chủ yếu tổng kết đánh giá thực tiễn về công tác QL chất lượng dạy nghề của nhà trường
từ năm học 2010 - 2011 đến năm 2012 - 2013 và đề xuất một số biện pháp QL chất lượng dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho các năm tiếp theo
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các văn bản, tài liệu thể hiện quan điểm, đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các công trình NCKH về QL chất lượng dạy nghề trong và ngoài nước để hình thành cơ sở lý luận của đề tài
Nghiên cứu các tài liệu lưu trữ, báo cáo tổng kết công tác dạy nghề các năm của nhà trường, báo cáo công tác đào tạo của Bộ Công Thương
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Điều tra bằng hệ thống phiếu hỏi với các đối tượng là CBQL, GV, HS nhằm tìm hiểu và đánh giá sơ bộ về thực trạng QL chất lượng dạy nghề của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương hiện nay
7.2.2 Phương pháp chuyên gia
Tiến hành xin ý kiến của chuyên gia am hiểu thông qua các buổi thảo luận, toạ đàm nhằm tìm hiểu thêm về thực trạng QL chất lượng đào tạo của nhà trường hiện nay; đồng thời xin ý kiến đóng góp về tiến trình nội dung, cấu trúc định hướng của đề tài
Trang 117.2.3 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát quá trình QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương nhằm đưa những đánh giá thực trạng về chất lượng dạy nghề và QL chất lượng dạy nghề tại nhà trường
7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ khác
Đề tài cũng tiến hành sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như:
- Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý và phân tích các số liệu, kết quả điều tra; đồng thời xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn một số CBQL
và GV nhằm làm rõ thêm một số nội dung đề cập trong phiếu hỏi, từ đó có nhận định đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo; phụ lục; đề tài được trình bày 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý chất lượng dạy nghề Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo,
Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
Chương 3: Giải pháp quản lý chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo,
Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển như
Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề dạy nghề và quản lí quá trình dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp Do đặc điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực- đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nước có khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực dạy nghề mà cả phương pháp, hình thức, qui mô dạy nghề cũng có sự khác nhau song có điểm chung là đều chú trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp
Thí dụ: ở Mỹ, đào tạo công nhân kỹ thuật được chú trọng và tiến hành ngày từ cấp THPT phân ban và các trường dạy nghề cấp trung học, các cơ sở
dạy nghề sau THPT HS tốt nghiệp được cấp bằng chứng nhận và chứng chỉ công nhân lành nghề và có quyền được đi học tiếp theo Thời gian đào tạo dao động từ 2 đến 7 năm tuỳ thuộc vào từng nghề đào tạo Các loại trường tư thuộc vào các công ty tư nhân mà công ty của họ khá lớn Các nhà trường trong công
ty đào tạo công nhân ngay trong công ty mình và có thể đào tạo cho công ty
khác theo hợp đồng.[11]
Còn ở Cộng hòa liên bang Đức đã sớm hình thành hệ thống dạy nghề và
hệ TCCN GD chuyên nghiệp là một bộ phận trung học cấp hai của hệ thống
GD quốc dân với các loại hình trường đa dạng Họ đã phân thành hai loại trình độ: ở trình độ 1 được xếp vào bậc trung học tương đương với THPT từ lớp 9
đến lớp 12, ở trình độ 2 được xếp cao hơn bậc sau THPT Ngoài trường phổ thông mang tính không chuyên nghiệp chỉ nhằm mục tiêu đào tạo chuẩn bị lên Đại học còn có các trường phổ thông chuyên nghiệp, trường hỗn hợp HS các loại trường này có thể vào học ở các trường Đại học chuyên nghành Sau khi
Trang 13tốt nghiệp chủ yếu HS ra làm việc sơ cấp Do các loại hình trường rất đa dạng nên không có mô hình tổ chức QL đồng nhất giữa các trường nhất là các bang khác nhau, có trường công lập, trường tư thục, có trường thuộc công ty tư nhân chuẩn bị phần nhân lực cho công ty mình [11]
Cho đến ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều bố trí hệ thống GD
kỹ thuật và dạy nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng, đại học
Do sớm có hệ thống dạy nghề nên các nước tư bản phát triển đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong quá trình đào tạo Quá trình dạy nghề cũng như quản
lí chất lượng dạy nghề liên tục được hoàn thiện, đổi mới để đảm bảo chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô trước đây cũng sớm quan tâm đến vấn đề chất lượng dạy nghề, với những đóng góp quan trọng của các nhà GD học, tâm lý học như X.I Arkhangenxki, X.Ia Batưsep, A.E Klimov, N.V Cudmina, Ie A Parapanôva, T.V Cuđrisep,.v.v [11] dước góc độ
GD học nghề nghiệp, tâm lý lao động, tâm lý học kỹ sư, tâm lý học xã hội Tuy nhiên, theo nhận xét của T.V Cuđrisep, những nghiên cứu trong lĩnh vực dạy học và GD nghề vào những năm 70 của thế kỷ XX còn mang tính từng mặt, một chiều nên chưa giải quyết được một cách triệt để vấn đề chuẩn bị cho thế
hệ trẻ ước vào cuộc sống và lao động Quá trình hình thành nghề lúc đó được chia làm 4 giai đoạn tách rời nhau, đó là: giai đoạn nảy sinh dự định nghề và bước vào học các trường nghề; giai đoạn HS lĩnh hội có tính chất tái tạo những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; giai đoạn thích ứng nghề và cuối cùng là giai đoạn hiện thực hoá từng phần hoạt động nghề Quan niệm trên theo T.V Cuđrisep đã tạo ra những khó khăn rất lớn trong quá trình học và dạy nghề Quá trình dạy nghề trở lên áp đặt và không thấy được mối quan hệ giữa các giai đoạn hình thành nghề
Cũng theo T.V Cuđrisep, để khắc phục những khó khăn, hạn chế trên cần thiết phải có nhận thức lại, theo tác giả sự hình thành nghề của thế hệ trẻ
Trang 14trong điều kiện của GD và dạy học là một quá trình lâu dài, liên tục và thống nhất Quá trình hình thành nghề trải qua bốn giai đoạn nhưng chúng có sự gắn
bó mật thiết với nhau Quan điểm này của tác giả đã tạo nên nhận thức mới về
sự hình thành nghề, là cơ sở khoa học để xây dựng mô hình dạy nghề và nâng cao chất lượng dạy nghề
1.1.2 Một số nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, những vấn đề về dạy nghề, quản lí chất lượng dạy nghề cũng được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi đó còn Tổng Cục dạy nghề Lúc đó, một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực GD nghề nghiệp, tâm lý học lao động (ví dụ như Đặng Danh Ánh, Nguyễn Ngọc Đường, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương ) đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu khác như Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [38] đã đi sâu nghiên cứu về quản lí chất lượng dạy nghề
Tuy nhiên, sau đó những nghiên cứu về dạy nghề, quản lí chất lượng dạy nghề ở nước ta bị lắng xuống, ít được chú trọng Chỉ đến những năm gần đây vấn đề dạy nghề tiếp tục được quan tâm nghiên cứu trở lại thông qua những đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lí GD Những nghiên cứu này đã ít nhiều khái quá hoá và làm rõ được những vấn đề lý luận và đề xuất những biện pháp quản lí góp phần nâng cao hiệu quả quản lí quá trình đào tạo nghề nói chung và hoạt động dạy nghề nói riêng
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Trang 15Có tác giả cho QL là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác Cũng có người cho QL là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm.
Có tác giả lại quan niệm QL là công việc kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra theo dõi thực hiện như kế hoạch QL là một nghề sử dụng quyền lực của tổ chức, thực hiện tác động, điều khiển có tổ chức tới một hệ thống hay một quá trình (của tự nhiên, xã hội, tư duy) Vận động theo quy luật khách quan, nhằm mục đích định trước của người QL và của tổ chức mà người QL tham gia
Có nhiều định nghĩa khác nhau về QL, ta có thể hiểu: "QL là sự tác động
có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đặt ra" [26]
Sự tác động này được mô hình hoá như sau:
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý [26]
Như vậy, có thể nói QL là phương thức tốt nhất để đạt đề mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức hay nói rộng hơn là một nhà nước QL bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định QL thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận, đó là chủ thể QL, là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm
Chủ thể
QL
Đối tượng QL
Mục tiêu QL
Phương pháp QL
Cụng cụ QL
Trang 16vụ QL, điều khiển và đối tượng QL là bộ phận chịu sự QL QL bao giờ cũng là
QL con người QL là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan QL xét về mặt công nghệ là sự vận động của các thành tố này có mối quan hệ tác động, tương hỗ với nhau như sơ đồ 1.1
1.2.1.2 Chức năng cơ bản của quản lý
QL là một loại lao động đặc biệt, lao động sáng tạo, hoạt động QL cũng phát triển không ngừng tìm Bản chất của hoạt động QL là sự tác động có mục đích đến tập thể người và tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu QL Chức năng QL
là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể QL nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động QL nhằm thực hiện mục tiêu QL phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, từng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán Có
4 chức năng cơ bản của QL liên quan mật thiết với nhau, đó là kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá và thông tin là trung tâm của QL Có thể mô hình hoá mối quan hệ giữa những chức năng QL như sau:
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa những chức năng quản lý [26]
Bên cạnh 4 chức năng cơ bản của QL, còn nhiều vấn đề liên quan khác như: dự đoán, động viên, điều chỉnh, đánh giá, thông tin, phản hồi Các chức năng QL tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình tự nhất định trong
QL không được coi nhẹ một chức năng nào
1.2.1.3 Quản lý giáo dục
Trang 17Cũng như khái niệm QL, QLGD được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau Theo tổng quát QLGD là sử dụng quyền lực của tổ chức, thực hiện tác động, điều khiển có tổ chức một hệ thống GD, tới một quá trình dạy và học
theo quy luật vận động khách quan, nhằm mục đích phát triển GD theo quan
điểm và kế hoạch định trước của người QLGD và mục đích thoả mãn yêu cầu
về số lượng, chất lượng con người cho sự phát triển KT - XH.
Như vậy, QLGD được hiểu một cách đầy đủ là hệ thống tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của những người làm công tác QLGD để làm cho hệ thống GD vận hành theo đường lối và nguyên lý của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà hạt nhân là dạy học, GD & ĐT thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu KT - XH, đổi mới và phát triển để đưa GD tiến lên trạng thái mới về chất thông qua thực hiện chức năng QTGD QLGD vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật
QLGD được hiểu là QL quá trình GD và đào tạo trong đó bao gồm QL quá trình dạy học diễn ra ở các cơ sở GD Tuỳ theo việc xác định đối tượng
QL, QLGD có nhiều cấp độ khác nhau và các quan niệm khác nhau
QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển
xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển GD thường xuyên, công tác GD không chỉ dành riêng cho thế hệ trẻ mà cho tất cả mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là thế hệ trẻ
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí: "QLGD thực hiện chức năng ổn định, duy trì đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền KT- XH, QLGD nhằm phối hợp với các ngành, các lực lượng xã hội tiến hành công tác xã hội hoá GD, huy động các nguồn lực và HTQT trong lĩnh vực GD - đào tạo QLGD thực hiện nhiệm vụ này thông qua việc thực hiện 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra" [12]
Trang 18QLGD có đặc điểm là bao giờ cũng chia thành chủ thể QL và đối tượng
bị QL, QLGD là QL việc đào tạo con người, việc hình thành và hoàn thiện nhân cách, việc tái sản xuất nguồn lực con người Đối tượng QL ở đây là những ai nhận được sự GD và đào tạo QL việc GD và đào tạo con người là loại hình QL khó khăn nhất, phức tạp nhất
QLGD bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược Thông tin là các tín hiệu mới, được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho các hoạt động QL Mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, quyết định là các thông tin điều khiển QLGD luôn có khả năng thích nghi tức là luôn biến đổi: Khi đối tượng QL mở rộng về quy mô thì chủ thể QL cũng có thể tiếp tục QL có hiệu quả bằng cách đổi mới quá trình QL thông qua các cấp trung gian
Quá trình GD là một thể thống nhất toàn vẹn với sự liên kết của các thành tố:
Bảng 1.1: Các thành tố của quá trình giáo dục
Mục tiêu đào tạo MT Lực lượng đào tạo (Thầy) Th
Nội dung đào tạo ND Đối tượng đào tạo (Trò) Tr
Quá trình GD phải làm cho các thành tố trên gắn kết với nhau, với nền tảng của quá trình đào tạo là MT - PP và Th - Tr - Đk là tác động của hoạt động QL vật chất hoá MT - ND PP để biến đổi đối tượng đào tạo có nhân cách mới
QL
NDĐK
MTTh
ND
Tr
Trang 19Sơ đồ 1.3: Quản lý Giáo dục [26]
Như vậy, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đến khách thể
QL nhằm đưa hoạt động GD đạt được mục tiêu mong muốn
1.2.2 Chất lượng đào tạo nghề
1.2.2.1 Đào tạo
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người có lĩnh hội và nắm vững tri thức kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài ngoài Về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với GD đạo đức, nhân cách” [40]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân để tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả” [35]
Như vậy, đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời GD phẩm chất đạo đức, thái độ cho người học để họ trở thành người cán bộ, công dân, người lao động có kiến thức, kỹ năng, nghề
Trang 20nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH, củng cố quốc phòng an ninh Quá trình này diễn ra trong các cơ sở đào tạo như: Các trường Đại học, Cao đẳng, THCN và dạy nghề… theo một kế hoạch, một chương trình, nội dung trong một thời gian quy định cho một ngành nghề cụ thể nhằm giúp cho người học đạt được một trình độ nhất định trong lao động nghề nghiệp.
Theo chúng tôi, đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho con người có lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái
độ một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho họ thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một sự phân công lao động nhất định Đào tạo là một loại công việc xã hội, một hoạt động đặc trưng của GD (nghĩa rộng) nhằm chuyển giao kinh nghiệm hoạt động từ thế hệ này qua thế hệ khác.
1.2.2.2 Dạy nghề
Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với
sự phân công lao động xã hội, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn sinh sống của con người và đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng Chính vì vậy, việc dạy nghề
là một vấn đề quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về dạy nghề Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm:
Tác giả William Mc Gehee cho rằng: “Dạy nghề là những qui trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục địch và các mục tiêu của công ty ” [39]
Trang 21Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số
76/2006/QH11.Trong đó viết: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để
có thể tìm được việc làm hoặc từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học ”[29]
Qua đó, ta có thể thấy dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại
là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc Dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân
Hiện nay, dạy nghề mang tính tích hợp giữa lí thuyết và thực hành Sự tích hợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người HS hôm nay, người thợ trong tương lai phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng tay nghề Đây là điểm khác biệt lớn trong dạy nghề so với dạy văn hoá
Dạy nghề cung cấp cho HS những kiến thức và kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết của một nghề Về kiến thức HS hiểu được cơ sở khoa học về vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ chức quản lí sản xuất để người công nhân kỹ thuật có thể thích ứng với sự thay đổi cơ cấu lao động trong sản xuất và dạy nghề mới HS được cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công cụ gia công vật liệu, các thao tác
kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả năng vận dụng vào thực tiễn
Đó là những cơ sở ban đầu để người HS người cán bộ kỹ thuật tương lai hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành; lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng GD đạo đức, lương tâm nghề
Trang 22nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của người học, đảm bảo tính GD toàn diện.
Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo đó là:
- Sơ cấp nghề: Đào tạo nghề trình độ sơ cấp trang bị cho người học nghề
năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề Thời gian học từ 3 tháng đến dưới 1 năm Kết thúc chương trình người học được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề
- Trung cấp nghề: Đào tạo nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho
người học kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc Thời gian học từ 1-2 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người tốt nghiệp THPT, 3-4 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người tốt nghiệp THCS Kết thúc chương trình người học được cấp bằng trung cấp nghề
- Cao đẳng nghề: Đào tạo nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho
người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm, có khả năng sáng tạo và ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế Thời gian từ 2-3 năm tùy theo nghề đào tạo với người tốt nghiệp THPT, 1-2 năm tùy theo nghề đào tạo với người tốt nghiệp trung cấp nghề cùng nghề đào tạo Kết thúc chương trình người học được cấp bằng cao đẳng nghề
Hình thức dạy nghề đang áp dụng chủ yếu hiện nay là:
- Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm
việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: Kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo tổ chức, đội sản xuất Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợ học nghề được một công nhân có trình độ tay nghề cao hướng dẫn Người
Trang 23hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch Với hình thức kèm cặp theo tổ, đội sản xuất, thợ học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những công nhân dạy nghề thoát ly sản xuất chuyên trách trình độ nghề nghiệp và phương pháp sự phạm nhất định.
- Các lớp cạnh doanh nghiệp: Là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm
đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực Chủ yếu dạy nghề cho công nhân mới đựợc tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới Hình thức đào tạo này không đòi hỏi có CSVC, kỹ thuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào điều kiện sẵn có của doanh nghiệp Chương trình đào tạo gồm hai phần: lý thuyết và thực hành sản xuất Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách, phần thực hành được tiến hành ở các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn
- Các trường dạy nghề: Đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển
trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, các Bộ, Ngành, cá nhân tổ chức các trường dạy nghề tập trung, qui mô lớn Khi tổ chức, các trường dạy nghề có bộ máy QL, đội ngũ GV chuyên trách và CSVC riêng cho đào tạo
- Các trung tâm dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường
dưới 1 năm Chủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên, người lao động
1.2.2.3 Chất lượng
Hiện nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng Thuật ngữ
“chất lượng” phán ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này với sự vật khác Theo quan điểm triết học, chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích lũy về lượng (quá trình tích lũy, biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật và hiện tượng
Trang 24Trong kinh tế thị trường ngày nay, có hàng trăm định nghĩa tổng quát về chất lượng khác nhau, chúng tôi xin nêu ra đây một vài định nghĩa theo các tư liệu khác nhau:
- Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [40]
- Theo Daniel T Seymour (1993) quan niệm “Chất lượng là sự phù hợp hay sự đáp ứng vượt trội các nhu cầu của khách hàng” và “Chất lượng nằm trong hệ thống của rất nhiều quá trình gồm các đầu vào, các quá trình và đầu
ra Khi trong hệ thống xảy ra sai sót thì chất lượng bị ảnh hưởng” [40] Sự
thoả mãn hay vượt trội nhu cầu của khách hàng đòi hỏi những đặc tính của sản phẩm phải thoả mãn một số yêu cầu nào đó của khách hàng về thị hiếu thẩm
mỹ, về mức độ tiện dụng, về khả năng sử dụng được để phục vụ một nhu cầu nào đó hay để sản sinh ra một lợi nhận mới
Như vậy, các quan niệm về chất lượng tuy có khác nhau, nhưng đều có chung một ý tưởng: chất lượng là sự thoả mãn một yêu cầu nào đó Thực vậy, trong sản xuất, chất lượng của một sản phẩm được đánh giá qua mức độ đạt các tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra của sản phẩm Còn trong GD đào tạo, chất lượng được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra của chương trình
GD đào tạo
1.2.2.4 Chất lượng dạy nghề
Chất lượng dạy nghề là một phạm trù động, đa nghĩa, nó phản ảnh nhiều
mặt của hoạt động dạy nghề, khó có thể tổng hợp khái quát bằng một định
nghĩa duy nhất Dựa vào các định nghĩa về chất lượng, một số tác giả đã đưa ra
một số định nghĩa và khái niệm về chất lượng dạy nghề dưới đây:
Từ điển GD học đưa ra khái niệm: “Chất lượng dạy nghề là kết quả của
quá trình dạy nghề được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân
Trang 25cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp
tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể”.
[40]
Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan
niệm về chất lượng dạy nghề không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường thể hiện ở người tốt nghiệp trong những điều kiện đảm bảo chất lượng nhất định, mà còn phải tính đến sự phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng dạy nghề mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường lao động như: quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí việc làm của nhà nước và người sử dụng lao
động Quan niệm này được thể hiện ở hình sau:
Sơ đồ 1.4 Quan điểm về chất lượng dạy nghề [39]
Kết quả đào tạo phù hợp với mục tiêu đào tạo - đạt chất lượng trong
Kết quả đào tạo
phù hợp với nhu
cầu sử dụng - đạt
chất lượng ngoài
Kết quả đào tạo
Trang 26Với quan điểm tiếp cận thị trường nêu trên, chất lượng dạy nghề có các đặc trưng sau:
- Chất lượng dạy nghề có tính tương đối: Khi đánh giá chất lượng dạy
nghề phải đối chiếu, so sánh với chuẩn chất lượng của nghề theo yêu cầu của
sản xuất
- Chất lượng dạy nghề có tính giai đoạn: chất lượng dạy nghề phải
không ngừng được nâng cao để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong quá trình phát triển của sản xuất và phát triển của khoa học công nghệ.
- Chất lượng dạy nghề có tính đa cấp: Phải đào tạo với một hệ chuẩn có nhiều cấp độ khác nhau: chuẩn quốc tế, chuẩn quốc gia, chuẩn địa phương để
đáp ứng được nhu cầu của nhiều loại khách hàng trong nền kinh tế nhiều thành
phần kinh
Quan niệm đúng về chất lượng dạy nghề, có ý nghĩa quyết định trong
việc thiết kế nội dung đào tạo phù hợp và tổ chức quá trình đào tạo, cung ứng nhân lực các cấp trình độ cho phát triển KT - XH trong nền kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế Về phía các cơ sở doanh nghiệp dù hoạt động với mục
tiêu nào thì cũng luôn phải đảm bảo cho “sản phẩm” của mình, nghĩa là phải cố gắng để có thể thỏa mãn tối đa các yêu cầu của “khách hàng”.
1.2.3 Quản lý chất lượng dạy nghề và giải pháp quản lý chất lượng dạy nghề
1.2.3.1 Quản lý chất lượng dạy nghề
a) Quản lý chất lượng
Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải QL một cách đúng đắn các yếu tố này Hoạt động QL trong các lĩnh vực chất lượng được gọi
Trang 27là QL chất lượng Có nhiều định nghĩa và khái niệm về QL chất lượng, có thể nêu ra một số định nghĩa và khái niệm dưới đây:
- Theo ISO 9000:2000 định nghĩa “QL chất lượng bao gồm các hoạt động phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng” [21]
- Theo TCVN 8402-1994: “QL chất lượng là tập hợp các hoạt động của chức năng quản lí chung, xác định chính sách chất lượng, mục đích và trách nhiệm, thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng” [21]
Từ các khái niệm nêu trên có thể hiểu: Quản lí chất lượng bao gồm các hoạt động phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức trong khuôn khổ
hệ thống chất lượng
QL chất lượng là quá trình thiết kế các tiêu chuẩn và duy trì các cơ chế
QL để sản phẩm đạt được các tiêu chuẩn xác định trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh dịch vụ QL chất lượng được hiểu qua các cấp độ theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.5 Các cấp độ quản lý chất lượng [21]
Kiểm soát
chất lượng
Đảm bảo chất lượng
QL chất lượng tổng thể
Phát hiện loại bỏ
Phòng ngừa
Cải thiện chất lượng
Giai đoạnMức độ
Trang 28- Kiểm soát chất lượng: là hoạt động QL chất lượng nhằm loại bỏ các thành tố hoặc sản phẩm cuối cùng không đạt chuẩn qui định hoặc làm lại nếu
có thể Kiểm soát chất lượng được thực hiện theo thông qua hình thức thanh tra, kiểm tra do các chuyên gia chất lượng, kiểm soát viên hoặc thanh tra viên tiến hành sau quá trình sản xuất hoặc dịch vụ
- Đảm bảo chất lượng: Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814, bảo đảm chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể sẽ đảm bảo đầy đủ các yêu cầu chất lượng
- QL chất lượng tổng thể (TQM): là cấp độ QL chất lượng cao nhất hiện nay, có quan hệ chặt chẽ với đảm bảo chất lượng, tiếp tục và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng QL chất lượng tổng thể là quá trình nghiên cứu những kỳ vọng và mong muốn của khách hàng, thiết kế sản phẩm và dịch vụ
để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên trong tổ chức đem lại lợi ích cho bản thân mỗi thành viên, cho tổ chức và cho xã hội
b) Quản lý chất lượng dạy nghề
Có nhiều quan niệm về QL chất lượng dạy nghề, có thể nêu ra một số quan niệm:
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Quản lí chất lượng dạy nghề thực chất
là tạo ra cơ chế chịu trách nhiệm của nhà trường dạy nghề trước người cung cấp tài chính, người sử dụng dịch vụ và toàn bộ xã hội” [40]
Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 – 94: “Quản lí chất lượng dạy
nghề là quá trình tổ chức thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lí toàn bộ quá trình dạy nghề nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động nghề (từ khâu tìm hiểu thị
Trang 29trường lao động, thiết kế chương trình dạy nghề đến công tác tuyển sinh, tổ chức dạy nghề và kiểm tra, đánh giá kết quả dạy nghề)” [21]
Trung tâm NCKH Tổ chức và Quản lí đưa ra khái niệm: “Quản lí chất lượng dạy nghề được sử dụng để mô tả các phương pháp hoặc các quá trình
tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề
theo mục tiêu đã đặt ra và đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động”
[21]
Từ các khái niệm này kết hợp với các khái niệm về quản lí cơ sở dạy
nghề và QL chất lượng, có thể đưa ra khái niệm về QL chất lượng đào tạo ở các cơ sở dạy nghề như sau: Quản lí chất lượng dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề
là hoạt động quản lí tác nghiệp trong nội bộ cơ sở dạy nghê và các hoạt động phối hợp với các đối tác bên ngoài để định hướng và kiểm soát hệ thống chất
lượng đào tạo nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo theo mục tiêu đã đặt ra và đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động
1.2.3.2 Giải pháp quản lý chất lượng dạy nghề
Theo từ điển tiếng Việt thì giải pháp là: "cách làm, cách giải quyết một việc cụ thể" [40] Như vậy, giải pháp là sự phối hợp các yếu tố khác nhau trong
hoạt động như kỹ thuật, phương tiện, công cụ, tình huống, môi trường, thời gian, công nghệ, các yếu tố tâm lý, xã hội và con người …Giải pháp là cấu trúc vĩ mô của phương pháp Nhưng một giải pháp có thể tồn tại trong nhiều phương pháp
Từ đó, chúng ta có thể hiểu giải pháp QL chất lượng là tổ hợp các tác động có định hướng của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đưa hoạt động
GD ở từng cơ sở và toàn bộ hệ thống GD đạt đến mục tiêu chất lượng
QLGD là một nghệ thuật, bởi vì đối tượng QLGD rất phức tạp và phong phú đòi hỏi các biện pháp QL của chủ thể QL cũng phải đa dạng phong phú với đối tượng QLGD Giải pháp QL chất lượng phải được xây dựng trên cơ sở tri thức khoa học GD Giải pháp QL chất lượng quan hệ chặt chẽ với nhau tạo
Trang 30thành một hệ thống các giải pháp QL Hệ thống các giải pháp QL giúp nhà QL thực hiện tốt các phương pháp QL đến đối tượng QL để đạt mục tiêu chất lượng GD.
Theo đó, giải pháp QL chất lượng dạy nghề là cách QL của nhà trường tập trung vào chất lượng dựa vào sự tham gia của tất cả thành viên của nhà trường nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn các yêu cầu của các tổ chức sử dụng nguồn nhân lực do nhà trường đào tạo ra và đem lại lợi ích cho các thành viên của nhà trường và cho xã hội
Các giải pháp QL chất lượng dạy nghề còn là cách thức tháo gỡ những khó khăn hoặc những mâu thuẫn xuất hiện, đồng thời cũng thúc đẩy những thành tựu đã đạt được trong thực tiễn hoạt động QL chất lượng dạy nghề nhằm triển khai hoạt động đó theo một lộ trình, trên một phạm vi, một quy mô phù hợp, cơ sở lý luận đủ có và phù hợp với thực tiễn của sự vận động xã hội Mặt khác, giải pháp QL chất lượng dạy nghề còn là chính sách, cách thức, phương thức của cơ quan QL các cấp tác động vào nhà trường nhằm ổn định, duy trì những thành tựu và đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động QL chất lượng dạy nghề
1.3 Nội dung quản lý chất lượng dạy nghề hiện nay
1.3.1 Quản lý chất lượng mục tiêu dạy nghề
QL chất lượng mục tiêu dạy nghề bao gồm việc chủ thể QL đào tạo thực hiện các chức năng QL (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra) để thực hiện các công việc chủ yếu sau:
- Xác định mục tiêu điều tra xã hội học để nắm bắt được nhu cầu xã hội
về đào tạo nguồn nhân lực theo chuyên ngành đào tạo (trong đó có nhu cầu người học và nhu cầu sư dụng người học)
Trang 31- Soạn thảo các phiếu điều tra cho các đối tượng (người học; cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp sử dụng người học) để nhận biết nhu cầu xã hội về đào tạo nhân lực theo chuyên ngành đào tạo;
- Tổ chức triển khai hoạt động điều tra xã hội học để nhận biết nhu cầu
xã hội về đào tạo chuyên ngành (phân công trách nhiệm, phân bổ tài lực và vật lực cho việc điều tra);
- Tổ chức việc tập hợp số liệu điều tra theo các đối tượng gửi phiếu điều tra và viết báo cáo khoa học về nhu cầu xã hội về đào tạo nguồn nhân lực theo chuyên ngành đào tạo;
1.3.2 Quản lý chất lượng nội dung chương trình, giáo trình, tài liệu dạy nghề
QL chất lượng nội dung, chương trình, giáo trình dạy nghề bao gồm việc chủ thể QL đào tạo thực hiện các chức năng QL nhằm thực hiện có hiệu quả các công việc chủ yếu:
- Tập hợp các chuyên gia gồm các thành phần chủ yếu như các CBQL,
GV, các nhà khoa học, đại diện cơ quan QLGD, đại diện các tổ chức sử dụng người học ) xây dựng chương trình chi tiết
- Xác định được các yêu cầu chung của chương trình chi tiết trên cơ chương trình khung của Bộ GD&ĐT và phương thức đào tạo (theo tín chỉ hay theo niên chế, chính quy tại chức, hay chuyên tu v.v )
- Xác định được mục tiêu dạy nghề của chương trình chi tiết (kiến thức,
kỹ năng và thái độ của người học sau khi tốt nghiệp khoá học) và đối tượng tuyển sinh
- Thiết lập được các khối kiến thức (kiến thức chung, kiến thức cơ sở, kiến thức chuyên ngành và kiến thức tự chọn) cùng thời lượng thực hiện trong chương trình chi tiết
Trang 32- Xác định được các nội dung trong chương trình được phân định theo các học phần và từng môn học của chương trình chi tiết để có chương trình cho khoá đào tạo.
- Xác định được các điều kiện thực hiện chương trình như tài chính, thư viện, thí nghiệm, học liệu, tài liệu tham khảo và các thiết bị dạy học khác để phục vụ cho dạy học đào tạo
- Xác định rõ phương thức đánh giá kết quả đào tạo như quy định về số lượng và thời gian các bài kiểm tra, thi hết môn học, thi tốt nghiệp và đánh giá kết quả đào tạo của khoá học theo chuyên ngành đào tạo
- Thực hiện việc thẩm định và ban hành chương trình đào tạo như tổ chức hội đồng thẩm định nhiệm thu chương trình chi tiết và ra quyết định ban hành chương trình
- Trên cơ sở chương trình chi tiết, tổ chức việc phân công soạn thảo, thẩm định giáo trình, in ấn giáo trình và các tài liệu tham khảo để phục vụ hoạt động giảng dạy của giảng vên và hoạt động học tập của HS
1.3.3 Quản lý chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giáo viên
QL chất lượng giảng dạy và NCKH của GV bao gồm việc chủ thể QL đào tạo thực hiện các chức năng QL nhằm thực hiện có hiệu quả các công việc chủ yếu:
- Soạn bài giảng (giáo án) của GV thông qua sự phân công của các các
Bộ môn trực thuộc trường hoặc các Bộ môn trực thuộc mỗi Khoa
- Hoạt động giảng dạy trên lớp của GV theo chương trình chi tiết đối với từng môn học trên cơ sở kế hoặc giảng dạy của khoá đào tạo (chủ yếu là theo thời khoa biểu)
- Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của GV theo quy định trong chương trình và việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học được thảo luận, triển khai và đánh giá từ từng bộ môn
Trang 33- Hoạt động thực hiện đổi mới các hình thức tổ chức dạy học được quy định trong chương trình chi tiết và việc triển khai các hình thức tổ chức dạy học tại các bộ môn.
- Hoạt động đánh giá kết quả học tập của HS được quy định trong chương trình như thực hiện việc ra đề, chấm bài, công bố kết quả và giải quyết các thắc mắc của HS
- Hoạt động nghiên cứu các đề tài NCKH của GV mà trong đó có các nội dung liên quan đến hoặc phục vụ cho hoạt động đào tạo chuyên ngành
- Tham gia một số hoạt động phát triển đội ngũ GV để đội ngũ này đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đạt chuẩn về trình độ đào tạo theo từng chuyên ngành
1.3.4 Quản lý chất lượng học tập của học sinh
QL chất lượng học tập của HS bao gồm việc chủ thể QL đào tạo thực hiện các chức năng QL nhằm thực hiện có hiệu quả các công việc chủ yếu:
- QL chất lượng tuyển sinh gồm các hoạt động tổ chức thi theo các kì thi quốc gia, hoạt động đón tiếp HS và bố trí nơi ở và các điều kiện sinh hoạt cho họ
- Tổ chức việc học tập trên lớp của HS theo thời khoá biểu các môn học trên cơ sở tổ chức lớp học, tổ học tập trong lớp để thực hiện các nền nếp theo quy định về quyền và nghĩa vụ của HS
- Tổ chức các hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp của HS tại ký túc xá của trường hay tại gia đình HS trên cơ sở các nội quy sinh hoạt và học tập của
Trang 34- Tổ chức các hoạt động theo lấy ý kiến của HS để nhận biết các nhu cầu của HS trong học tập, sinh hoạt và tham gia các hoạt động xã hội khác để có sự điều chỉnh trong QL hoạt động đào tạo.
1.3.5 Quản lý chất lượng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
QL CSVC và thiết bị dạy học bao gồm việc chủ thể QL đào tạo thực hiện các chức năng QL nhằm thực hiện có hiệu quả các công việc chủ yếu:
- Nắm bắt rõ yêu cầu cần phục vụ về CSVC và thiết bị đào tạo có trong chương trình đào tạo đối với từng môn học về phương diện lý thuyết và thực hành
- Tổ chức các hoạt động của thư viện để có đủ học liệu nói chung, các tài liệu khoa học như sách, giáo trình, tài liệu tham khảo, các phương tiện tra cứu
và cập nhật kiến thức cho giảng viên và HS
- Tổ chức các hoạt động của phòng thí nghiệm và phòng thực hành để tạo điều kiện cho GV và HS áp dụng lý luận vào thực tiễn, hình thành các kỹ năng nghề nghiệp
- Thực hiện việc huy động tài lực và vật lực từ mọi nguồn khác nhau để xây dựng, mua sắm, tự làm và trang bị CSVC và thiết bị đào tạo theo hướng đầy đủ, kịp thời và hiện đại
- Tổ chức các hoạt động hướng dẫn sử dụng, bảo quản CSVC và thiết bị đào tạo nói chung; công nghệ thông tin và truyền thông nói riêng cho GV và HS
1.3.6 Quản lý chất lượng kiểm tra - đánh giá kết quả dạy nghề
QL chất lượng kiểm tra - đánh giá kết quả dạy nghề bao gồm việc chủ thể QL đào tạo thực hiện các chức năng QL nhằm thực hiện có hiệu quả các công việc chủ yếu:
- Tổ chức việc ra đề kiểm tra của GV và trông coi việc làm bài kiểm tra của HS theo đúng quy định, trên cơ sở nội dung kiểm tra phải bám sát mục tiêu
về kiến thức, kỹ năng và thái độ HS
Trang 35- Tổ chức việc ra đề thi và việc coi thi các môn học, các học phần và thi tốt nghiệp của HS trên cơ sở quy định thi của Bộ GD&ĐT và trên cơ sở các mục tiêu đào tạo về kiến thức, kỹ năng và thái độ HS.
- Tổ chức việc đánh giá kết quả học tập của HS theo phương thức đào tạo niên chế đã quy định trong chương trình đào tạo chi tiết đã có, nhằm cho điểm và phân loại chính xác HS đảm bảo công khai và công bằng
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý chất lượng dạy nghề
1.4.1 Yếu tố khách quan
Các yếu tố khách quan thường đa dạng và phong phú, nhiều chiều quy định chiều hướng phát triển của sự vật và hiện tượng Đối với công tác QL chất lượng dạy nghề hiện nay, các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến qui mô, số lượng, cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo và ảnh hưởng đến chất lượng dạy
và học QL chất lượng dạy nghề thường phải chịu sự quy định của các yếu tố khách quan sau:
+ Thứ nhất là: các yếu tố về cơ chế, chính sách của Nhà nước: Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về các vấn đề liên quan đến dạy nghề và QL chất lượng dạy nghề
+ Thứ hai là: Môi truờng dạy nghề hiện nay, với xu thế tòan cầu hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi QL chất lượng đào tạo của Việt Nam phải được nâng lên đồng thời cũng tạo cơ hội cho GD nghề nghiệp Việt Nam nhanh chóng tiếp cận trình độ nghề nghiệp tiên tiến
+ Thứ ba là: yếu tố kinh tế, trong đó chú trọng hết sức tới tình hình phát triển của nền kinh tế quốc gia, sự tăng trưởng và phát triển của các ngành kinh
tế trong nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu ngành nghề và đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành nghề, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quản QL chất lượng dạy nghề Bên cạnh đó mức độ phát triển của từng vùng, miền có ý nghĩa phân bố địa lý các lĩnh vực dạy nghề
Trang 36+ Thứ tư là: Văn hóa, tâm lý, quan niệm chung của người dân về học nghề Những điều này có vai trò không nhỏ, ảnh hưởng tới xu hướng chọn nghề của giới trẻ, sự tập trung cho các ngành nghề có được ưa chuộng, việc lựa chọn học đại học hay học nghề đều ảnh hưởng không nhỏ tới QL chất lượng dạy nghề
+ Các nhân tố trên được gắn kết bởi nhân tố QL
* Nhóm các yếu tố về quá trình đào tạo
+ Nội dung chương trình đào tạo có phù hợp với mục tiêu đào tạo đã
được thiết kế có phù hợp với nhu cầu thị trường, yêu cầu người học.
+ Phương pháp đào tạo có được đổi mới, có phát huy tính tích cực, chủ động của người học, có phát huy cao nhất khả năng học tập của từng HS hay không ?
+ Hình thức tổ chức đào tạo có linh hoạt, thuận lợi, tiết kiệm chi phí cho người học không Có đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học hay không
Trang 37+ Môi trường học tập trong nhà trường có an toàn, có bị các tệ nạn xã hội xâm nhập không Các dịch vụ phục vụ học tập, sinh hoạt có thuận lợi và đáp ứng đủ cho HS hay không.
+ Môi trường văn hóa trong nhà trường có tốt không Người học có dễ dàng có đựơc các thông tin về kết quả học tập, lịch học, kế hoạch học và các hoạt động của nhà trường không
Trang 38Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở lý luận, chúng ta thấy rằng thực chất của nội dung QL chất lượng dạy nghề nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành các kỹ năng nghề, chuyên môn và nhân cách nghề cho HS học nghề
Trong chương này, tác giả đã đi tổng quan hóa lịch sử của vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó rút ra một số bài học nhất định trong quá trình nghiên cứu đề tài
Qua chương này, tác giả đã đi phân tích cụ thể từ một số khái niệm chủ yếu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu, trong đó có các khái niệm: QL; Các chức năng QL; QLGD; QL nhà trường; Chất lượng dạy nghề; QL chất lượng dạy nghề Đặc biệt, tác giả đã đưa ra được những nội dung QL chất lượng dạy nghề cũng như những yếu tố ảnh hưởng tới công tác QL chất lượng dạy nghề hiện nay
Như vậy, từ kết quả của việc xây dựng những nền tảng lý luận tác giả đã
có cơ sở để tiếp tục nghiên cứu khai thác thực trạng QL chất lượng dạy nghề tại Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương Từ đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhất giúp cho các nhà QL và các cấp QLGD thực hiện tốt nhiệm vụ này Các nội dung nghiên cứu được tác giả trình bày ở chương sau
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ TẠI TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG ƯƠNG
2.1 Giới thiệu khái quát về Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương được thành lập năm 1972, trong thời gian kháng chiến chống Mĩ cứu nước, với tên ban đầu là Trường May mặc thuộc Tổng công ty Vải sợi may mặc Trung ương tại thông Đông Thiên, xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì, Hà Nội (nay là số 193 phố Vĩnh Hưng, phường Vình Hưng, quận Hoàng Mai, Hà Nội) Đến năm
1981, Trường May sáp nhập với trường Điện máy Hà Bắc đề hình thành Trường Đào tạo nghề May đo và Sửa chữa hàng điện máy thuộc Bộ Nội thương Qua các thời kì lịch sử khác nhau, trường đã lần lượt đổi tên là Trường Đào tạo nghề Nội thương I, Trường Đào tạo nghề Thương Nghiệp
Thực hiện việc quy hoạch các trường thuộc Bộ Thương mại, ngày 18/04/1994 Bộ trưởng Bộ Thương mại đã quyết định số 402/TM-TCCB thành lập Trường Cán bộ Thương Mại Trung ương trên cơ sở hợp nhất Trường Đào tạo nghề Thương nghiệp và Trường Cán bộ quản lý Thương nghiệp
Đến năm 2007, khi Chính phủ hợp nhất Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại thành Bộ Công Thương, thì Chính phủ đã ra quyết định số 189/2007/NĐ-
CP ngày 27/12/2007 về việc thành lập trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương trên cơ sở tổ chức lại trường Cán bộ Thương mại Trung ương thuộc Bộ Công Thương
Từ khi thành lập cho đến nay, Nhà trường luôn phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phó Trong những năm qua,
Trang 40cùng với sự đổi mới, hội nhập của đất nước, Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán
bộ Công Thương Trung ương đã từng bước hoàn thiện về mọi mặt từ việc xây dựng đội ngũ cán bộ và GV đến việc xây dựng cơ cấu tổ chức và CSVC, thiết
bị dạy và học Đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng GD và đào tạo của nhà trường Nhà trường tiếp tục mở rộng quy mô, phát triển thêm các loại hình đào tạo, hệ đào tạo, ngành nghề đào tạo phụ vụ các yêu cầu của ngành Công Thương
Hiện nay Nhà trường đã vươn lên trở thành một trong những cánh chim đầu đàn của hệ thống đào tạo ngành Công Thương Trong những năm tới đây, Trường phấn đấu áp dụng hệ thống QL chất lượng (QMS) và hệ thống QL chất lượng tổng thể (TQM), ISO 9001:2000 nhằm cung cấp các sản phẩm đào tạo theo đúng quy trình, đảm bảo chất lượng và đáp ứng các yêu cầu, sự thỏa mãn của thị trường lao động, cung cấp nguồn nhân lực có kĩ thuật, thợ lành nghề phục vụ cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần vào sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa của nước nhà
Trước bề dày truyền thống hơn 40 năm và thành tựu đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng những phần thưởng cao quý như:
+ Huân chương Lao động hạng Ba (năm 2000);
+ Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 2004);
+ Huân chương Lao động hạng Nhất (2014)
Riêng năm học 2012 – 2013, Trường có 03 cán bộ, giáo viên được Bộ Công Thương tặng bằng khen; 7 cá nhân đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp Bộ
và 27 cá nhân đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở; 3 cá nhân được Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng Bằng khen và 6 cá nhân được Công đoàn Bộ Công Thương tặng bằng khen