Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp trung của Trường Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp trung của Trường Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tế và dưới sự dẫn dắt khoa học của Tiến sĩ Đặng Vũ Tùng
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm công tác Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được tác giả công bố dưới bất hình thức nào
Hà N ội, ngày tháng năm 2017
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Quốc Thắng
Trang 2
TS Đặng Vũ Tùng đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Trong quá trình làm luận văn, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Quốc Thắng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP TRUNG TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 7
1.1 Tổng quan về quản lý 7
1.1.1 Khái niệm về quản lý 7
1.1.2 Vai trò và các chức năng của hoạt động quản lý 9
1.2 Cán bộ quản lý cấp trung 11
1.2.1 Khái niệm cán bộ quản lý 11
1.2.2 Phân loại cán bộ quản lý 12
1.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý 12
1.2.4 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung 13
1.3 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung 17
1.3.1 Khái niệm… 17
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá 17
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung 29
1.4.1 Nhóm nhân tố thuộc về bản thân cán bộ quản lý 29
1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường bên trong 30
1.4.3 Nhóm nhân t ố thuộc về môi trường bên ngoài 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
Trang 4CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP TRUNG CỦA TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CÔNG THƯƠNG TRUNG ƯƠNG 38
2.1 Sơ lược về Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương 38
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 38
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ các đơn vị trực thuộc 39
2 1.3 Một số đặc điểm hoạt động của Nhà trường 43
2.2 Khảo sát chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường 48
2.2 1 Thiết kế mẫu phiếu khảo sát 48
2.2.2 Tổ chức thực hiện 48
2.3 Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường… 49
2.3.1 Đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung 49
2.3.2 Thực trạng về phẩm chất cán bộ quản lý 51
2.3.2 Thực trạng về năng lực chuyên môn 52
2.3.3 Thực trạng về kỹ năng quản lý 56
2.3.4 Nhu cầu của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung 60
2.4 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường 62 2.4.1 Những mặt mạnh 62
2.4.2 Những mặt yếu kém 63
2.5 Những nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường 64
2.5.1 Về công tác quy hoạch cán bộ và đào tạo nguồn cán bộ quy hoạch 64
2.5.2 Về mức hấp dẫn của chính sách thu hút cán bộ quản lý giỏi 66
2.5.3 Về hoàn thiện tiêu chuẩn về quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý 68
2.5.4 Về công tác đánh giá và đãi ngộ đối với cán bộ quản lý 70
2.5.5 Về chính sách đào tạo và hỗ trợ đào tạo cho đội ngũ cán bộ quản lý 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP TRUNG CỦA TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG ƯƠNG 78
3.1 Định hướng chiến lược phát triển của Nhà trường 78
3.1.1 Định hướng phát triển chung 78
3.1.2 Những yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường 80
Trang 53.2 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Nhà
trường 82
3.2.1 Giải pháp 1: Đổi mới và hoàn thiện chính sách đào tạo và hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ cho từng loại cán bộ quản lý 82
3.2.2 Giải pháp 2: Đổi mới công tác quy hoạch thăng tiến, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý 87
3.2.3 Giải pháp 3: Đổi mới công tác đánh giá thành tích, nâng cao chế độ đãi ngộ cán bộ quản lý 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 101
Trang 66 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Khung năng lực cơ bản đối với đội ngũ CBQLCT 18 Bảng 2.1: Cơ cấu nhân sự Nhà trường giai đoạn từ 2014-2016 47 Bảng 2.2: Số lượng đội ngũ CBQLCT Nhà trường giai đoạn 2012-2016 49 Bảng 2.3: Đội ngũ CBQLCT theo độ tuổi, tỉ lệ nam/ nữ và thâm niên công tác
Bảng 2.4: Trình độ LLCT đội ngũ CBQLCT Nhà trường từ 2014-2016 51 Bảng 2.5: Mức độ CBQLCT được tạo điều kiện tham gia các lớp, khóa học về
lý luận chính trị, đường lối của Đảng, quản lý hành chính Nhà nước 51 Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn đào tạo của đội ngũ CBQLCT Nhà trường 53 Bảng 2.7: Được đào tạo đúng chuyên ngành quản lý hay liên quan đến lĩnh vực
Bảng 2.8: Tương quan giữa vị trí quản lý và chuyên môn đào tạo của đội ngũ
Bảng 2.13: Mức độ sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp, nghiên cứu tài liệu tiếng
Bảng 2.14: Thâm niên công tác của vị trí quản lý của đội ngũ CBQLCT Nhà
Bảng 3.1: Xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo cho đội ngũ CBQLCT Nhà
Trang 8Bảng 3.2: Khung tiêu chuẩn Trưởng phó các đơn vị cấp Phòng 89 Bảng 3.3: Một số đề xuất đổi mới chính sách đãi ngộ cho đội ngũ CBQLCT
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 2.2 Quan điểm về nâng cao chất lượng cho đội ngũ CBQLCT của đội
Sơ đồ 3.1 Quy trình xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý 83
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực là một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của đất nước Do đó,
để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, “nguồn tài nguyên” vô giá, vô tận của đất nước; phải có cách nghĩ, cách nhìn mới về vai trò động lực và mục tiêu của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; từ đó xây dựng các chương trình, kế hoạch và chiến lược phát triển nguồn lực phù hợp, phát huy tối đa nhân tố con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện đất nước
Ngày nay, chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển Nếu trước đây sự phát triển của một quốc gia chủ yếu dựa vào các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn tư bản, thị trường tiêu thụ, nguồn lao động…thì hiện nay chính tri thức lại có ý nghĩa hết sức lớn lao, góp phần tạo nên sự thịnh vượng, giàu có cho một quốc gia, mỗi lãnh thổ Xu thế toàn cầu hóa cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là sự ra đời của Internet đã làm cho các quốc gia, lãnh thổ ngày càng trở nên gần nhau hơn, qua đó sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn, và tất nhiên ưu thế cạnh tranh bao giờ cũng nghiêng về quốc gia, lãnh thổ
có nguồn nhân lực cao hơn, được đào tạo tốt hơn
Vấn đề được chọn có tính cấp thiết và quan trọng vì những lý do sau:
Một là, do vị trí, vai trò của Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương
Trung ương trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương
Bộ Công Thương là Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực từ công nghiệp đến thương mại, từ sản xuất đến tiêu dùng, phân phối hàng hóa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
Trang 11của đất nước Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước của Bộ Công Thương, từ nhiều năm nay, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức luôn được Bộ Công Thương chú trọng thực hiện Việc phát triển nguồn nhân lực ngành Công Thương đóng vai trò hết sức quan trọng trong triển khai, thực thi chính sách nhằm phát triển công nghiệp, thương mại của đất nước cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, đội ngũ cán bộ quản lý, người lao động hiểu biết về chủ trương, chính sách, quy định của nhà nước liên quan đến ngành Công Thương góp phần vào việc thực hiện cải cách hành chính hội nhập quốc tế sâu rộng
Hai là, đội ngũ cán bộ quản lý của Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương với tư cách là những chủ thể tiến hành các nhiệm vụ cụ thể, đây cũng chính là những yếu tố đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ nguồn nhân lực cho ngành Công Thương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Công Thương trong tình hình mới
Ba là, đánh giá đúng thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tại các đơn
vị sự nghiệp công lập và đề ra các giải pháp để đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tại các đơn vị sự nghiệp công lập, đây cũng chính là một trong bốn nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước trong giai đoạn Hội nhập quốc tế sâu và rộng
Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên đây, để đánh giá được thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý tại đơn vị sự nghiệp công lập, tìm ra những nguyên nhân mạnh, yếu và nhất là những nguyên nhân hạn chế nhằm xây dựng những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu mới của đất nước Vì vậy việc
nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp trung của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương” có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ quản lý luôn là những người đóng góp quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của một đơn vị, một tổ chức hay một đất nước Trong những năm chuyển đổi bước vào nền kinh tế thị trường, đội ngũ cán bộ quản lý tại các cấp, các ngành, các tổ chức đã dần có những bước thích nghi, trưởng thành và
Trang 12tiến bộ trong nhiều mặt Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những mặt hạn chế tồn tại nhất định đối với đội ngũ cán bộ quản lý do vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ của công việc trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu, rộng như hiện nay Để có được một đội ngũ cán bộ quản lý có chất lượng cao đáp ứng cả về phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn cũng như kỹ năng quản lý tốt đòi hỏi phải có nhiều sự quan tâm, đổi mới và có định hướng từ các cấp ,các ngành
Với mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, chủ đề “nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ quản lý” đã trở thành đối tượng nghiên cứu, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà quản lý, các nhà nghiên cứu cũng như các đề tài luận văn trong thời gian vừa qua
Trong “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tại các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND TPHCM” của Huỳnh Văn San (2008) tác giả có
đưa ra những tiêu chí đánh giá, các nguyên nhân tồn tại giải pháp điều chỉnh, tuy nhiên chủ thể đối tượng quản lý ở đây là các công chức Nhà nước, những tiêu chí đánh giá
đa phần dựa trên những tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, các giải pháp cũng mang tính đưa ra đường lối, phương hướng
Trong “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty than Hà Tu” của Ninh Văn Hùng (2007) tác giả đã đưa phương pháp
đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý dựa theo những chuẩn mực định lượng do chuyên gia phân tích, tuy nhiên trong việc đánh giá chất lượng của đội ngũ cán bộ chỉ căn cứ chủ yếu vào tiêu chí trình độ chuyên môn mà chưa nhắc tới nhiều tiêu chí khác cũng tác động không nhỏ tới chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý Các giải pháp của tác giả đưa ra cũng chưa có sự căn cứ vào kết quả phân tích thực trạng
Trong “ Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tại Công
ty TNHH MTV cầu Thăng Long” của Ngô Đức Long (2014) tác giả có đưa ra được
những nội dung, các tiêu chí, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Tuy nhiên việc phân tích thực trạng của tác giả còn đơn giản về số liệu, các giải pháp còn chưa mang tính thực tiễn cao
Tất cả những nghiên cứu trên chủ yếu là nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung Chưa đề cập và nhấn mạnh về
Trang 13vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung Các nhà quản lý cấp trung là lực lượng nòng cốt trong các tổ chức bởi họ chính là cầu nối liên kết giữa việc quản lý cấp cao với toàn bộ phần còn lại của tổ chức đó Họ như “keo hồ kết dính trung gian giữa các cấp cao hơn và thấp hơn cũng như ngang bằng cho các bộ phận khác Việc phân tích
và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung này đã gợi mở hướng nghiên cứu được thực hiện trong luận văn của học viên
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, đánh giá chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện, đẩy mạnh, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung tại đơn vị sự nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượng đội ngũ cán bộ cấp trung tại Nhà trường, cụ thể bao gồm:
- Trưởng, Phó các Phòng ban chức năng;
- Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Khoa đào tạo, bồi dưỡng;
- Giám đốc, Phó Giám đốc các Trung tâm trực thuộc của Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu tại Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán
bộ Công Thương Trung ương đặt tại 193 Vĩnh Hưng - Hoàng Mai - Hà Nội
Trang 14- Về mặt thời gian: Xuất phát từ điều kiện thời gian và các điều kiện khác cho nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý cấp trung của Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương giai đoạn từ 2012 đến năm 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thu thập thông tin số liệu
Để tiến hành phân tích giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương, tác giả
đã tiến hành thu thập cả dữ liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp
- Thu thập dữ liệu thứ cấp:
Dữ liệu thứ cấp được tập hợp và tổng hợp từ các báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo nhân sự, báo cáo tài chính và các nguồn số liệu khác qua từng thời kỳ, dùng cho
việc phân tích và đánh giá chất lượng cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường Ngoài
ra số liệu thứ cấp còn được tập hợp từ các báo cáo, công trình nghiên cứu, các đề tài có liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu sơ cấp:
Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp định lượng sử dụng phiếu điều tra khảo sát dành cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung để phân tích đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường
Mẫu điều tra (bảng hỏi) đối với 32 cán bộ quản lý cấp trung của Nhà trường
Phỏng vấn sâu: Được thực hiện đối với đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung Nhà trường về nhu cầu, mong muốn những ý kiến về giải pháp và định hướng nhằm nâng cao chất lượng cán bộ quản lý Nhà trường
b Phương pháp phân tích tổng hợp
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích gồm có: phân tích so sánh (tương đối và tuyệt đối) và phân tích mô tả
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, luận văn gồm 3 chương:
Trang 15Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung trong đơn vị sự nghiệp
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của Trường Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý cấp trung của Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Công Thương Trung ương
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN
LÝ CẤP TRUNG TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1.1 Tổng quan về quản lý
1.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu
Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
- Tailor: “Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”
- Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh
và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”
- Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định”
- Peter F Druker: “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích”
- Peter F Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản
lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công" Như vậy, đặc điểm lớn nhất trong lý luận của Peter F Dalark là cách nhìn hệ thống mở và chuyển động" Đây cũng là quan niệm cốt lõi trong tư tưởng triết học về quản lý của ông Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do
và phát triển
Trang 17Khi thực hiện một công việc, các nguồn lực đều có giới hạn và các tiến trình thực thiện phải thỏa mãn tất cả các điều kiện ràng buộc Vì vậy, các tiến trình cần được hoạch định cẩn thận để không dư thừa, điều khiển để thực hiện đúng, giám sát để phát hiện bất thường, đo lường để biết được mực độ hoàn thành
Quản lý, theo nghĩa chung nhất, là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra Quản lý là một hoạt động có tính chất phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến nhiều cá nhân, nhiều bộ phận Đó chính là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung
Sơ đồ 1.1: Quá trình của hoạt động quản lý
(Ngu ồn: Giáo trình Quản trị nhân lực - NXB Đại học Kinh tế quốc dân)
Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Quản lý là hoạt động do một hay nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm đạt được một mục tiêu nào đó có hiệu quả, là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để điều khiển nguồn lực thực hiện các tiến trình để giải quyết các vấn đề
Tóm lại, quản lý mới chỉ dừng lại ở quan niệm và có thể được hiểu là quá trình điều hành, phối hợp sắp xếp và bố trí nhân lực thực hiện các nhiệm vụ đã cho trước Là hoạt động phối hợp và sử dụng tối ưu các nguồn lực (con người, tài chính) trong tổ chức
Quản lý ở đây chỉ hành vi quản lý, là sự kết hợp của 3 phương diện:
- Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân
- Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên
Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý
Mục tiêu quản lý
Xác định
Thực hiện
Tác động quản lý
Tác động phản
ồ
Trang 18- Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được
những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể
Quản lý công việc thì nhấn mạnh: công việc cần có sức sản xuất và phải thông qua những công cụ phân tích, tổng hợp, kiểm soát và thí nghiệm
Quản lý nhân lực coi trọng nguồn nhân lực, làm cho họ có cơ hội, chủ động phát huy ưu điểm của mình, thoả mãn nhu cầu về chức năng và địa vị xã hội của họ trong công việc, đưa đến cho họ cơ hội, quyền lợi như nhau để mỗi người thể hiện giá trị, hoài bão của mình
1.1.2 Vai trò và các chức năng của hoạt động quản lý
Quản lý nhằm tạo ra sự thống nhất giữa ý chí trong tổ chức giữa những người quản lý và người bị quản lý; giữa những người bị quản lý với nhau
Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các đối tượng vào mục tiêu đó
Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân, tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt được mục tiêu quản lý
Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, động viên, uốn nắn các sai sót nhằm giảm bớt thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý
Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của mọi cá nhân tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả
Hoạt động quản lý là quá trình thực hiện các chức năng cơ bản sau đây:
- Dự đoán: Dự đoán được hiểu là phán đoán trước toàn bộ quá trình, các hiện
tượng mà trong tương lai có thể xảy ra trong sự phát triển của một hệ thống quản lý Dự đoán bao gồm các yếu tố thuận lợi, khó khăn, các yếu tố tác động của môi trường bên ngoài tới hệ thống và các yếu tố tác động của chính môi trường bên trong hệ thống
- Lập kế hoạch: Xây dựng các chương trình hành động nhằm xác định rõ: thực
hiện mục tiêu gì, bằng cách này với nguồn lực ra sao Bản chất là hoạch định, xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức phải hoàn thành trong tương lai và quyết định cách thức để đạt được những mục tiêu đó Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, nhằm xây dựng quyết định về mục tiêu, chương trình
Trang 19hành động và bước đi cụ thể trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý
- Tổ chức: Là quá trình xác định một cơ cấu về vai trò nhiệm vụ hay chức vụ
được hợp thức hóa, thông qua đó cho phép họ thực hiện các kế hoạch và hoàn thành mục tiêu của tổ chức Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, nhà quản lý
có thể phối hợp tốt hơn các nguồn lực, phối hợp các đơn vị riêng rẽ trong tổ chức thành một hệ thống để thực hiện mục tiêu Tổ chức chính là sự kết hợp, liên kết những
bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất
Sự phát triển của xã hội đã chứng minh rằng tổ chức là một nhu cầu không thể thiếu trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội
Một cơ cấu tổ chức được coi là hợp lý khi nó tuân thủ nguyên tắc thống nhất trong mục tiêu, mỗi cá nhân đều góp phần công sức vào mục tiêu chung của hệ thống Một tổ chức cũng được coi là hiệu quả khi nó được áp dụng để thực hiện các mục tiêu của hệ thống với mức tối thiểu về chi phí cho hoạt động của mình
- Động viên: Động viên nhằm phát huy khả năng vô tận của con người vào quá
trình thực hiện mục tiêu của hệ thống Khi con người tham gia vào một tổ chức để đạt một mục đích mà họ không thể đạt được khi hoạt động riêng lẻ Nhưng điều đó không nhất thiết là mọi người phải đóng góp và làm tất cả những gì tốt nhất đảm bảo cho mục đích và hiệu quả chung cao nhất Vì vậy, một trong những chức năng quản lý cần phải xác định những yếu tố tạo thành động lực thúc đẩy mọi người đóng góp có kết quả và hiểu quản tới mức có thể được cho hệ thống Động cơ thúc đẩy nói lên các xu hướng, ước mơ, nhu cầu, nguyện vọng và những thôi thúc đối với con người
- Điều chỉnh: Quá trình này giúp cho tất cả các hoạt động của tổ chức được
nhịp nhàng, ăn khớp, đồng điệu với nhau tạo ra sự thuận tiện và hiệu quả khi thực hiện các nội dung công việc Điều chỉnh nhằm sửa chữa các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động của hệ thống, để duy trì các mối quan hệ bình thường giữa bộ phận điều khiển và bộ phận chấp hành; giữa bộ máy quản lý với hoạt động của những cá nhân thực hiện sao cho nhịp nhàng, ăn khớp Sự điều chỉnh cũng rất phức tạp, vì bất cứ một sự rối loạn nào trong một bộ phận, một khâu nào đó cũng đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến những bộ phận khác của hệ thống
- Kiểm tra: Kiểm tra là để xem xét kết quả hoạt động của hệ thống, bao gồm cả
Trang 20việc đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động, là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý căn cứ vào mực tiêu và kế hoạch đã định Kế hoạch hướng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành mục tiêu, còn kiểm tra là xác định xem chúng hoạt động có phù hợp với mục tiêu và kế hoạch hay không
- Đánh giá: Nhằm cung cấp cho các cơ quan quản lý các thông tin cần thiết để
đánh giá đúng tình hình của đối tượng quản lý và dự kiến quyết định bước phát triển mới Đây là chức năng cuối cùng và rất quan trọng của quá trình quản lý đối với mọi
hệ thống, yêu cầu phải chính xác đối với các yếu tố định lượng và định tính Cách đánh giá có tầm quan trọng nhất định, nhưng tuyệt đối hóa phương pháp này và bỏ qua các định tính hoặc các yếu tố tiềm ẩn khác là các yếu tố khó đo lường được bằng con
số cũng khiến thông tin chưa thật chính xác Do đó đánh giá hiệu quả phải có thước đo phù hợp với mục tiêu theo quan hệ chính xác cao dựa vào các tiêu chuẩn của các yếu
tố cả định tính và định lượng
Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình tự chặt chẽ, trong quản lý không được coi nhẹ một chức năng nào
1.2 Cán bộ quản lý cấp trung
1.2.1 Khái niệm cán bộ quản lý
Cán bộ quản lý là đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của tổ chức Đội ngũ cán bộ quản lý thể hiện bộ mặt của tổ chức, đóng vai trò là chìa khóa thành công trong sự phát triển của tổ chức
Cán bộ quản lý là những người làm việc trong bộ máy, là người thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao.(Vũ Thu Hương, 2010)
Cũng có thể được hiểu: cán bộ quản lý là người có thẩm quyền ra quyết định dù được phân quyền hay ủy quyền
Một người cán bộ quản lý được xác định bởi ba yếu tố
- Có vị thế trong tổ chức với những quyền hạn nhất định trong quá trình ra quyết định
- Có chức năng thể hiện những công việc cần thực hiện trong toàn bộ hoạt động của tổ chức
Trang 21- Có nghiệp vụ thể hiện phải đáp ứng những đòi hỏi nhất định của công việc Người cán bộ quản lý trong tổ chức là người năng động, có bản lĩnh, dám đương đầu với thách thức; Tự tin, có phong cách chuyên nghiệp và quyết đoán; Xây dựng mục tiêu, kế hoạch hành động và đưa ra các giải pháp xử lí tối ưu cho mọi tình huống Bởi vậy, ông cha ta mới có câu: “Một người lo bằng một kho người làm” để thấy được vai trò của những người quản lý trong bất kỳ tổ chức, bộ máy nào trong đó
có tổ chức
1.2.2 Phân loại cán bộ quản lý
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, ta có các cách phân loại cán bộ quản lý theo các cách khác nhau Thông thường, cán bộ quản lý được phân loại theo ba tiêu chí chính: theo cấp quản lý, theo phạm vi quản lý và theo tính chất của lao động
1.2.2.1 Theo cấp quản lý:
Cán bộ quản lý cấp cao: là những người chịu trách nhiệm ra những chiến lược
quyết định hoặc có những ảnh hưởng lớn tới các quyết định chiến lược, đề ra các chính sách chỉ đạo quan hệ giữa tổ chức Đây là những người chịu trách nhiệm toàn diện đối với hoạt động của tổ chức
Cán bộ quản lý cấp trung: Là người điều hành việc thực hiện ra quyết sách, các
chính sách đưa ra bởi cấp cao Thiết lập mối quan hệ giữa những đòi hỏi của nhà quản
lý với năng lực của nhân viên Họ thường là những người phụ trách các phân hệ, các
bộ phận trong tổ chức
Cán bộ quản lý cấp cơ sở: Là những người chịu trách nhiệm về công việc của
các nhân viên Chỉ đạo, điều hành, giám sát hoạt động của người lao động
1.2.2.2 Theo phạm vi quản lý
Cán bộ quản lý tổng hợp: là người phụ trách tổ chức hay đơn vị tương đối độc
lập trong tổ chức
Cán bộ quản lý chức năng: là những người quản lý chức năng chuyên môn
riêng biệt như quản lý trong bộ phận tài chính, nghiên cứu, nhân lực…
1.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý
Đội ngũ là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức như đội ngũ cán
bộ công nhân viên, đội ngũ cán bộ khoa học…Có nhiều cách hiểu khác nhau về đội
Trang 22ngũ, nhưng có thể hiểu: Đội ngũ là một khối đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định” Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc
Theo đó có thể quan niệm: Đội ngũ cán bộ quản lý là tập hợp những cán bộ quản lý được tổ chức thành một lực lượng, có chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ
đó là: tạo ra “sản phẩm vật chất hoặc tinh thần”, thực hiện mục tiêu mà nhà nước - xã hội đề ra cho lực lượng, tổ chức của mình Họ làm theo một kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của Pháp luật nhà nước và Quy chế làm việc của tổ chức nơi công tác
Đội ngũ cán bộ quản lý là những người thực hiện nhiệm vụ quản lý tại tổ chức
Họ được tổ chức thành một lực lượng, có chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một người cán bộ quản lý cùng thực hiện các nhiệm vụ và được định hướng các quyền lợi theo các Luật được Nhà nước quy định Đội ngũ cán bộ quản lý là lực
lượng tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện công tác lãnh đạo quản lý nhằm thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đề ra
1.2.4 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung
Đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung (CBQLCT) là cầu nối giữa lãnh đạo cấp cao
và nhân viên trong tổ chức Đây chính là đội ngũ có trách nhiệm tổ chức triển khai và hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của người lãnh đạo tổ chức đến toàn thể nhân viên
Đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung giữ một vai trò hết sức quan trọng, nhờ có cán
bộ quản lý cấp trung mà dòng chảy thông tin của tổ chức sẽ được liên tục và thông suốt Có ý kiến cho rằng người lãnh đạo tổ chức chỉ biết đc 4% vấn đề của tổ chức, còn lại 96% vấn đề bị các nhà quản lý bên dưới che đậy Độ chính xác trong đánh giá đúng thực trạng của tổ chức của người lãnh đạo cấp cao phần lớn phụ thuộc vào báo cáo của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung Hơn nữa, đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung
Trang 23là nguồn quy hoạch quan trọng cho đội ngũ lãnh đạo cấp cao Đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung nắm giữ vị trí ở cấp trung gian nên họ vừa phải đáp ứng mong đợi của tổ chức, của lãnh đạo cấp cao và mong đợi của nhân viên Lãnh đạo cấp cao luôn mong đợi CBQLCT tổ chức, điều hành tốt hoạt động của đơn vị anh ta phụ trách, đạt được các mục tiêu của tổ chức, sử dụng quyền lực đúng thẩm quyền, năng động, sáng tạo trong giải quyết công việc, sử dụng các nguồn lực hiệu quả và có trách nhiệm, báo cáo lãnh đạo cấp cao kịp thời, đúng quy định…Nhân viên cấp dưới lại mong đợi từ người CBQLCT những thông tin chính xác về điều họ phải làm, công bằng, cung cấp nguồn lực đầy đủ, ủng hộ và quan tâm đến nhu cầu cá nhân của họ, mở ra con đường phát triển sự nghiệp cho nhân viên Mô hình kim tự tháp dưới đây thể hiện vai trò chính của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung của tổ chức:
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ phân cấp quản lý
(Ngu ồn: Giáo trình kỹ năng quản trị, NXB Đại học Kinh tế quốc dân)
Theo ICI, Viện Kiểm soát Nội bộ Hoa Kỳ, mô hình cơ bản của một tổ chức thông thường bao gồm 03 tầng: Thứ nhất, xây dựng môi trường quản lý, Thứ hai, hệ thống quản lý, Thứ ba, thực hiện các hoạt động trong hệ thống Ở tầng thứ nhất, vai trò, trách nhiệm thuộc về Ban quản lí cấp cao của doanh nghiệp (Hội đồng quản trị + Ban điều hành) với các công việc cụ thể như hoạch định chiến lược phát triển, xây
dựng môi trường doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, cơ chế kiểm soát môi trường, chuẩn bị nguồn nhân lực…Tầng thứ hai, vai trò và trách nhiệm thuộc về đội ngũ quản
Cấp cao: Lãnh đạo tổ chức: Đề
ta mục tiêu hành động
Cấp trung: Trưởng phòng, Giám đốc các đơn vị: Cụ thể hóa mục tiêu hành động
Cấp cơ sở: Tổ trưởng, nhóm trưởng: Trực tiếp giám sát và tham gia thực hiện mục tiêu
Trang 24lí cấp trung với các nhiệm vụ chính bên cạnh chuyên môn của mình là xây dựng hệ thống, triển khai các nhiệm vụ, yêu cầu của Ban quản lí cấp cao, triển khai công nghệ, kiểm soát nhân sự, quản trị rủi ro Cuối cùng, tầng thứ ba thuộc các nhân viên văn phòng với trình độ chuyên môn để thực thi đúng công việc của mình
Như vậy, trong một tổ chức, vai trò của mỗi một nhân sự thuộc và đảm nhiệm ở một tầng hoạt động đều rất quan trọng Nhưng trong đó, điều cần nhấn mạnh là vai trò của đội ngũ quản lí cấp trung đòi hỏi họ không thể chỉ cần có trình độ chuyên môn là
đủ “Vấn đề của họ không nằm ở chuyên môn vì có chuyên môn thì không đủ để đáp ứng trọng trách được đặt ra Họ phải có năng lực quản lí hệ thống, quản lí và quản trị rủi ro” Thực tế ở các doanh nghiệp coi nhẹ năng lực, vai trò của tầm quản lí cấp trung, đều đã cho thấy đó chính là “lỗ hổng chết người” khiến doanh nghiệp hoạt động mà mất đi khung xương sống, mất nền tảng vững chắc Sự nhầm lẫn vai trò giữa các tầng hoạt động ở nhiều doanh nghiệp cũng đã và đang lộ ra các lỗ hổng này
Với vai trò quan trọng như vậy, nâng cao năng lực của đội ngũ quản lí cấp trung là điều không thể thiếu Chỉ có nâng cao năng lực, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ quản
lí cấp trung theo những chuẩn mực quốc tế, mới có thể khơi gợi và phát huy khả năng
đề xuất, quản lí của nhân lực cấp trung, nói như Peter Ducker là “phát huy các ưu điểm của họ”
Đội ngũ CBQLCT nằm trong nhiều mối quan hệ khác nhau trong nội bộ cũng như ở bên ngoài tổ chức Trong từng mối quan hệ, CBQLCT lại có một vị thế khác nhau, vai trò khác nhau Trong tổ chức, CBQLCT là những người đứng đầu những bộ phận chức năng, vì thế quyết định của họ liên quan trực tiếp đến kết quả công việc và
họ phải chịu trách nhiệm trước cấp trên về kết quả công việc của đơn vị mình phụ trách Bên cạnh đó, họ cũng chính là những người tham mưu có trách nhiệm đề xuất
và tham mưu cho cấp trên về lĩnh vực chuyên môn mà họ phụ trách Dù làm việc tại tổ chức nào, CBQLCT cũng phải giữ nhiều vai trò khác nhau, cụ thể:
- Vai trò truyền thông tin: Đội ngũ CBQLCT là người truyền đạt thông tin về
mục tiêu hành động, sứ mệnh thực thi, chiến lược của tổ chức và các chủ trương của lãnh đạo cấp cao đến toàn bộ nhân viên trong đơn vị CBQLCT đôi khi cũng có vai trò
là người phát ngôn đại diện cho tổ chức khi được cấp trên ủy quyền
Trang 25- Vai trò ra quyết định: Với tư cách là nhà quản lý cấp trung gian, đội ngũ
CBQLCT luôn phải ra quyết định trong phạm vi thẩm quyền của mình Họ có làm tốt trong vai trò ra quyết định hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả công việc đảm nhận
- Vai trò quan hệ với con người: Trên cơ sở nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản
của người cán bộ quản lý, kết quả thấy rõ rằng người làm quản lý các cấp đều phải thực hiện chức năng tác động lên người khác vì bản chất của hoạt động quản lý là làm việc thông qua người khác Trong một đơn vị, đội ngũ CBQLCT thường nắm giữ nhiều vai trò khác nhau trong mối quan hệ với con người Đội ngũ CBQLCT sẽ là người báo cáo với lãnh đạo cấp trên và cũng là người lãnh đạo trong đơn vị của mình phụ trách, CBQLCT cũng là đại diện cho tổ chức khi làm việc với khách hàng và đối tác
- Vai trò quản lý: Đội ngũ CBQLCT hiển nhiên phải nắm giữ vai trò quản lý,
họ thực hiện các chức năng quản lý, chịu trách nhiệm về mảng công việc họ phụ trách tại tổ chức Phải đạt được mục tiêu thông qua nỗ lực của những người có trách nhiệm bằng việc sử dụng các thủ tục, quy trình, quy định của tổ chức phù hợp với văn bản pháp luật của Nhà nước quy định
- Vai trò lãnh đạo: Đội ngũ CBQLCT cũng phải giữ vai trò lãnh đạo Một cán
bộ nắm giữ vai trò Trưởng một đơn vị thuộc tổ chức thì rõ ràng phải thường xuyên
thực hiện chức năng lãnh đạo đơn vị của mình Nhiệm vụ của người lãnh đạo là thực hiện mục tiêu đúng, chính sách đúng và quy trình đúng Họ có xu hướng đạt được mục tiêu của đơn vị thông qua động viên, khuyến khích, giải quyết các mối quan hệ trong tập thể phụ trách và đưa ra tầm nhìn của đơn vị
- Vai trò là người tư vấn, tham mưu: Đội ngũ CBQLCT không những là người
tư vấn, tham mưu cho lãnh đạo cấp trên trong tổ chức mà còn là người tư vấn cho bản thân những cán bộ quản lý cấp dưới mình Đây là một điểm quan trọng và hiện đang
có sự thay đổi về tầm quan trọng của vài trò này trong một đơn vị CBQLCT không chỉ thực hiện chức năng chỉ huy đối với nhân viên mà còn phải là nhà tư vấn cho nhân viên của mình nhằm giúp nhân viên thực hiện tốt công việc được giao và đạt được mục tiêu của cá nhân họ
Trang 261.3 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung
1.3.1 Khái niệm
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã phát sinh ra sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động Một thực trạng đáng buồn ở nước ta là nguồn nhân lực quản lý trong tình trạng: vừa thiếu lại vừa thừa Thiếu nhân lực quản lý có chất lượng tốt trong khi lại dư thừa nhân lực quản lý chất lượng còn hạn chế Bài toán
về việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hay còn gọi nguồn nhân lực phù hợp là vấn đề luôn được đặt ra hiện nay hiện nay
Đề cập tới chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý là xem xét tới khả năng thực hiện quá trình quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý tại các đơn vị Thông thường điều này được phản ánh ở năng lực hoạt động và công tác quy hoạch nguồn đội ngũ cán bộ quản lý Hiệu quả của đội ngũ cán bộ quản lý có thể được đánh giá, xem xét thông qua hai mặt: hiệu quả của các quyết định quản lý và hiệu quả của mọi hoạt động trong tổ chức
Chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung là chất lượng của từng cán bộ quản lý cấp trung và đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung có đủ về số lượng, phù hợp về
cơ cấu, đáp ứng yêu cầu hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của tổ chức
Chất lượng của mỗi cán bộ quản ký cấp trung được đánh giá bằng phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, thái độ hành vi làm việc, tư duy quản lý, trình độ chuyên môn, kỹ năng tổ chức quản lý, kỹ năng tổ chức nhân sự, kỹ năng làm việc nhóm và sức khỏe để đáp ứng chức danh công việc, động viên thuyết phục người lao động và yêu cầu hoạt động của tổ chức
Chất lượng của mỗi cán bộ quản lý cấp trung và chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý cấp trung là hai vấn đề tương đối khác nhau nhưng gắn liền với nhau Có tất cả những cán bộ quản lý cấp trung tốt chưa chắc đã có đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung tốt nếu cơ cấu của đội ngũ này chưa thích hợp với hoạt động, mục tiêu phát triển và sự vận động của tổ chức Vì vậy khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung phải đánh giá mỗi người cán bộ quản lý cấp trung và cơ cấu của đội ngũ cán bộ quản
lý cấp trung với yêu cầu chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của tổ chức
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá
Trang 27Để thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý là: hoạch định, tổ chức, chỉ huy
và kiểm soát…thì người làm quản lý cần phải có những phẩm chất, năng lực và kỹ năng quản lý cơ bản Có thể phân các tiêu chí đánh giá chất lượng thành ba nhóm cơ bản sau: phẩm chất con người, năng lực quản lý và kỹ năng quản lý Trên cơ sở vai trò
và các nhiệm vụ của mình, mỗi người cán bộ quản lý cấp trung cần rèn luyện một số kiến thức, kỹ năng và thái độ như sau:
Bảng 1.1: Khung năng lực cơ bản đối với đội ngũ CBQLCT
V ề kiến thức, trình độ chuyên môn
1 Kiến thức bản thân
- Kiến thức quản lý
- Văn hóa khi làm việc
- Hiểu biết pháp luật
- Nắm được xu thế phát triển của tổ chức
- Coi trọng và biết cách thỏa mãn nhu cầu của người khác
2 Chuyên môn - Theo yêu cầu của từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể
V ề kỹ năng thực hiện công việc
3 Quản lý thời gian
và công việc
- Quản lý thời gian tốt
- Quản lý công việc theo thứ tự ưu tiên
- Có phương pháp tư duy hệ thống
- Hoàn thành đúng thời hạn, chất lượng tốt
- Ủy quyền, giao việc
4 Kỹ năng giao tiếp
- Khả năng diễn đạt rõ ràng, logic
- Khả năng gây ảnh hưởng và lắng nghe
- Khả năng thuyết phục
5 Kỹ năng quản lý
nhân sự
- Động viên, khuyến khích nhân viên
- Phát triển sự nghiệp của bản thân
- Xây dựng mối quan hệ với người khác
- Làm việc với nhiều người có cá tính khác nhau
Trang 28- Phát huy tối đa năng lực của các thành viên
- Định hướng cho nhóm hoàn thành mục tiêu
- Đảm bảo tiến độ thực hiện mục tiêu
- Tự hào là người cán bộ quản lý
- Sẵn sàng đối diện với thách thức công việc
12 Hoàn thiện và phát
triển bản thân
- Sáng tạo
- Tự học
- Rút ra kinh nghiệm từ sai lầm của người khác
(Nguồn: Tạp chí lao động xã hội,2010)
1.3.2.1 Nhóm tiêu chí về phẩm chất cán bộ
- Về phẩm chất chính trị:
Trước hết, sự biểu hiện cao nhất, tập trung nhất về phẩm chất chính trị của từng cán bộ quản lý doanh nghiệp hiện nay là phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, có lòng tự hào và tự tôn dân tộc, phải nắm vững và quán triệt được quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội theo quan điểm đổi mới của Đảng
Ở cán bộ quản lý cấp trung phải biết cụ thể hóa đường lối, quan điểm và nội dung quản lý, biểu hiện ở việc làm, kết quả cống hiến vào sự phát triển của tổ chức trong sự phát triển chung của đất nước
Có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, có bản lĩnh và kiên định trong công việc được giao Có ý chí và có khả năng đóng góp cho sự nghiệp chung của tổ
Trang 29chức Thích ứng với sự thay đổi của môi trường xung quanh, năng động, sáng tạo trong công việc, phục vụ lợi ích chung của cộng đồng
Có khả năng tự hoàn thiện, tự quản lý, đánh giá kết quả công việc của bản thân, đánh giá con người mà mình quản lý theo tiêu chuẩn chính trị
Biết biến nhận thức chính trị của mình thành nhận thức chính trị của mọi người, tạo được lòng tin và lôi cuốn mọi người cùng tham gia
Khi xem xét đánh giá phẩm chất chính trị của từng cán bộ quản lý cấp trung phải dựa vào việc xem xét người đó đã tìm tòi, đã cống hiến được gì vào sự phát triển của tổ chức, của địa phương, của ngành và cả nước, vào việc bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động trong đơn vị Đây chính là tiêu thức cơ bản nhất để đánh giá người cán bộ quản lý (Nguyễn Ngọc Quân, 2007)
- Về phẩm chất đạo đức:
Trước hết, người cán bộ lãnh đạo, quản lý đơn vị với tư cách là một công dân, phải sống và làm việc theo tiêu chuẩn đạo đức một công dân, phải lấy việc gương mẫu sống và làm việc theo pháp luật là tiêu chuẩn đạo đức cơ bản
Yêu cầu đặc thù của chức nghiệp quản lý doanh nghiệp là phải quản lý một tập thể con người, đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý phải biết chăm lo đến con người, tập thể, cộng đồng, biểu hiện qua việc làm phải công bằng, công tâm, khách quan, có văn hóa, tôn trọng con người, có đạo đức khi thực hiện nhiệm vụ
Là tấm gương cho những cá nhân trong đơn vị noi theo, điều đó đòi hỏi mỗi người cán bộ quản lý phải là người cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, khiêm tốn, trung thực, thẳng thắn, không tham nhũng, không cơ hội, không vụ lợi, thực hiện bình đẳng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền hạn và trách nhiệm Có ý thức tổ chức
kỷ luật, được lãnh đạo và quần chúng tín nhiệm tin yêu
- Về thái độ và hành vi làm việc:
Thái độ và hành vi làm việc là cách suy nghĩ và ứng xử có ý thức của từng cá nhân khi làm việc, Thái độ làm việc ảnh hưởng đến tinh thần làm việc, xu hướng tiếp thu kiến thức trong quá trình làm việc Cùng với kiến thức và kỹ năng, thái độ làm việc
là một trong 3 yếu tố quan trọng, cấu thành năng lực làm việc Ba yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau Một cá nhân nếu có kiến thức và kỹ
Trang 30năng nhưng thái độ đối với công việc không tốt thì kết quả công việc sẽ không tốt Thái độ làm việc được hiểu là quan điểm, quan niệm về giá trị, thế giới quan, suy nghĩ, tình cảm, ứng xử của cá nhân ấy đối với công việc mình đang đảm nhận Thái độ quản
lý bao gồm những quan niệm về giá trị, quan điểm, suy nghĩ, ứng xử, niềm yêu thích,
sự say mê của người làm quản lý đối với công việc Nhà quản lý có kiến thức và kỹ năng quản lý tốt chưa chắc kết quả công việc đã tốt nếu bản thân không yêu thích công việc hay nói rộng hơn là người đó không có thái độ tốt đối với công việc Thái độ và hành vi quản lý là yếu tố tác động, cải thiện nhất so với yếu tố kiến thức và kỹ năng Thái độ làm việc của nhà quản lý ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ làm việc của nhân viên dưới quyền, vì thế nếu cán bộ quản lý có hành vi thái độ làm việc tích cực sẽ có khả năng truyền lửa và lôi cuốn nhân viên làm việc tốt
1.3.2.2 Nhóm tiêu chí về năng lực quản lý
Với vị trí trung gian - cấp giữa của mình, cán bộ quản lý cấp trung đã và đang
có một vai trò hết sức quan trọng trong việc khai thác và sử dụng những nguồn lực sẵn
có để nâng cao kết quả công việc thực hiện Cán bộ quản lý cấp trung có những vai trò rất khác với lãnh đạo cấp cao của tổ chức cũng như nhân viên dưới quyền Vì vậy, năng lực của người cán bộ quản lý cấp trung là khả năng hoàn thành có kết quả những hoạt động được phân công từ cấp trên Năng lực bao gồm năng lực chuyên môn và tư duy tổ chức quản lý công việc
- Về tư duy quản lý:
Đây là kỹ năng đặc biệt quan trọng đối với cán bộ quản lý nói chung, họ cần có những tư duy chiến lược tốt để thực hiện những đường lối được đề ra từ người cán bộ lãnh đạo Có những chính sách đúng: hoạch định chiến lược và đối phó với những bất trắc, những gì đe doạ sự tồn tại, kìm hãm sự phát triển của tổ chức Cán bộ quản lý phải có khả năng tư duy hệ thống, nhân quả liên hoàn có quả cuối cùng và có nhân sâu
xa, phân biệt được những gì đương nhiên (tất yếu) và những gì là không đương nhiên (không tất yếu)
Đứng trước các tình huống phát sinh trong thực tiễn hoạt động của Nhà trường, cán bộ quản lý cần có tư duy tính logic, phân tích và lập luận một cách chặt chẽ Có
Trang 31tầm nhìn xa trông rộng để đưa ra các quyết định một cách nhanh chóng và phù hợp với tình hình
- Về trình độ chuyên môn:
Trí tuệ là yếu tố thiết yếu, quan trọng nhất của con người, của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cáo như đội ngũ cán bộ quản lý Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ yêu cầu người làm quản lý phải có học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và chủ động trong công việc, áp dụng được những kiến thức mới vào thực tiễn Năng lực trí tuệ biểu hiện ở khả năng đáp ứng được những thành tựu mới, sự nhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ được kỹ thuật công nghệ hiện đại Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa càng đi vào chiều sâu thì càng đòi hỏi năng lực về chuyên môn cao của đội ngũ nhân lực để nâng cao năng suất và hiệu quả lao động hơn nhiều lần
Trình độ học vấn thể hiện ở sự hiểu biết của chủ thể con người về các vấn đề của kinh tế, xã hội, là một tiêu chí hết sức quan trọng phản ánh chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, xã hội và sự phát triển của tổ chức Nếu tổ chức có đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ học vấn cao thì hoàn thành công việc dễ đạt kết quả cao, khả năng tiếp thu sẽ nhanh chóng Trình độ học vấn phản ánh chất lượng của nguồn nhân lực của tổ chức đó cao Trình độ học vấn, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện đảm bảo cho nguồn nhân lực hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá Trình độ chuyên môn nghiệp
vụ là điều kiện tiên quyết trong thực hiện các nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm công việc Trình độ là mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng chứng chỉ mà mỗi cán bộ nhận được thông qua quá trình học tập.Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn có sự khác nhau với từng ngành, từng ngạch nhân viên khác nhau Một tổ chức có đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, phù hợp với công việc thì phản ánh chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức đó cao
Trước hết, cán bộ quản lý đơn vị phải có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực được giao trách nhiệm quản lý, biết sử dụng và tập hợp các nhân viên dưới quyền, giao đúng
Trang 32việc và tạo điều kiện cho mọi người phát huy khả năng chuyên môn, nghiệp vụ phục
vụ nhiệm vụ và lợi ích chung của tổ chức Người quản lý phải là người nắm được chuyên môn để đưa ra quyết sách, chủ trương để chỉ huy, điều hành, kiểm tra công việc đó chứ không phải là chuyên gia trên lĩnh vực đó Vì vậy, năng lực chuyên môn của người quản lý là tư duy định hướng, nhận thức vừa về chiều rộng, vừa về chiều sâu Thực tế cho thấy: nhiều khi bố trí một chuyên gia rất giỏi chuyên môn vào vị trí lãnh đạo đã không đạt được hiệu quả như mong muốn
Phải có kiến thức về khoa học quản lý hiện đại trong hoạt động quản lý, điều hành phải xuất phát từ chuyên môn được đào tạo vận dụng trong điều kiện thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội để tìm lời giải, biện pháp cụ thể
1.3.2.3 Nhóm tiêu chí về kỹ năng quản lý
- Về kỹ năng tổ chức quản lý:
Người cán bộ quản lý cấp trung là những người trực tiếp tổ chức điều hành hoạt động của đơn vị mình phụ trách, do đó yêu cầu đặt ra cho người cán bộ quản lý là những yêu cầu mang tính cụ thể, thiết thực bao gồm: năng lực phân tích các tình huống; năng lực quyết sách và giải quyết các vấn đề thực tiễn; năng lực tổ chức và chỉ huy; năng lực liên kết phối hợp hành động
Là người có trình độ văn hóa trong giao tiếp, có sức khỏe và đủ năng lực chuyên môn, phản ứng nhanh nhạy, linh hoạt, có tầm nhìn và có khả năng hoạch định
tổ chức thực hiện, biết quan sát nắm bắt được các nhiệm vụ từ tổng thể tới từng chi tiết
để hoạt động của đơn vị sao cho đồng bộ và hiệu quả
Là người bình tĩnh, tự tin, tự chủ, quyết đoán trong công việc, có kế hoạch làm việc rõ ràng và thực hiện công việc theo kế hoạch được giao Có năng lực tham gia vào các quyết định tập thể và tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ thuộc phạm vi trách nhiệm của bản thân
Là người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có khả năng dự đoán trước mọi tình huống có thể xảy ra, biết phân phối nguồn lực và con người, chịu được áp lực của công việc
Là người có tác phong đúng mực, có thái độ chân thành, cởi mở; đồng thời hướng cho cấp dưới tác phong cộng tác, giúp đỡ lẫn nhau Biết sử dụng đúng tài năng
Trang 33từng người, đánh giá đúng con người, biết xử lý tốt các quan hệ trong và ngoài tổ chức (Nguyễn Ngọc Quân, 2017)
- Về kỹ năng tổ chức nhân sự:
Cán bộ quản lý giỏi là người có khả năng và biết cách tập hợp quần chúng, bố trí, sử dụng bộ máy và sắp xếp cá nhân vào những vị trí thích hợp, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và tài năng, thế mạnh của từng người để thực hiện tốt mục tiêu đã hoạch định Bởi vậy, người quản lý phải biết phối hợp hoạt động của các cá nhân thành một thể thống nhất để phát huy cao độ sức mạnh của cá nhân và tập thể, của bộ phận và toàn thể, của chủ quan và khách quan, giữa vật chất và tinh thần được hài hòa với nhau, mang lại lợi ích, hiệu quả trong công việc Biết động viên mọi người
và thuyết phục mọi người tham gia làm việc hăng say, nhiệt tình (Nguyễn Ngọc Quân, 2017)
- Về kỹ năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng CNTT cho quản lý:
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, kiến thức ngoại ngữ và tin học đã trở thành những kiến thức cơ sở, là phương tiện và công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý
Người quản lý không thể bằng lòng với những thông tin vốn có trên sách vở và tài liệu tham khảo Internet cũng chính là nguồn thông tin không thế thiếu của những người làm công tác quản lý
Khai thác thông tin từ Internet phải trở thành thói quen không thể thiếu được của mỗi cán bộ quản lý Rõ ràng, kỹ năng làm việc với máy tính trở thành kỹ năng tối thiểu của tất cả mọi người và đặc biệt là những người làm quản lý
Khi khai thác thông tin, người cán bộ quản lý phải biết lựa chọn nguồn tài liệu đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng và tính chính xác cao Việc lựa chọn nguồn thông tin phù hợp với bản thân, với từng lĩnh vực, từ đó làm cho người quản lý có thể nắm bắt và vận dụng tốt hơn vào thực tiễn công việc của mình
Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế nhìn chung trình độ ngoại ngữ và tin học của các cán bộ tại các đơn vị sự nghiệp còn hết sức hạn chế, chủ yếu mới dừng ở các kiến thức cơ bản Chưa tận dùng nhiều được lợi ích từ công nghệ thông tin qua các phương tiện, các phần mềm Điều này làm cản trở rất nhiều cơ hội đối với các cán bộ quản lý
Trang 34trong việc đàm phán, làm việc với các đối tác nước ngoài
Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ quản lý sẽ ảnh hưởng tới khả năng giao tiếp với đối tác, khách hàng nước ngoài của cán bộ quản lý cũng như việc đọc và tham khảo các tài liệu nước ngoài để tìm hiểu các mô hình, tư duy quản lý mới, tiến bộ của các nước trên thế giới Trình độ ngoại ngữ yếu kém chỉ dừng lại ở từ vựng, cấu trúc ngữ pháp kém mà hạn chế khả năng nghe nói cho thấy sự hạn chế về trình độ ngoại ngữ của cán bộ quản lý tại đơn vị sự nghiệp công lập Và cũng thể hiện một thực trạng của nhân lực đất nước trong đào tạo: Việc đào tạo thường chạy theo thành tích bằng cấp chứ chưa chú trọng tới việc ứng dụng kiến thức trong khi làm việc Kỹ năng về ngoại ngữ là yêu cầu ngày càng trở nên bức thiết đối với các cán bộ quản lý tại các đơn
vị sự nghiệp nói chung đặc biệt trong bối cảnh nước ta hội nhập kinh tế mạnh mẽ như hiện nay
1.3.2.4 Một số tiêu chí khác
- Về khả năng làm việc theo nhóm:
Nhóm không đơn giản chỉ là một tập hợp nhiều người làm việc cùng nhau hoặc làm việc dưới sự chỉ đạo của người quản lý Nhóm là một tập hợp những cá nhân có các kỹ năng bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung Vì thế, các thành viên trong nhóm cần có sự tương tác với nhau và với người trưởng nhóm để đạt được mục tiêu chung Các thành viên trong nhóm cũng phải
có sự phụ thuộc thông tin của nhau để thực hiện phần việc của mình Một nhóm làm việc trong tổ chức phải xây dựng trên tinh thần đồng đội, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau, ngoài ra còn phải tạo ra được một môi trường hoạt động mà các thành viên trong nhóm cảm thấy tự tin, thoải mái để cùng nhau làm việc, hợp tác và hỗ trợ nhau để đạt được mục tiêu đặt ra Là người cán bộ quản lý cấp trung, khi giữ vai trò lãnh đạo nhóm điều quan trọng là phải giúp cho các thành viên trong nhóm tin rằng sự cống hiến của mình cho tập thể được đánh giá đúng đắn, chính xác và nhận được sự tôn trọng, không
có sự nhập nhằng gây ảnh hưởng đến quyền lợi của mỗi người Những thành viên trong nhóm phải được xác định rằng thành quả của tập thể có được là từ sự đóng góp tích cực của mỗi cá nhân
Trang 35Kỹ năng làm việc nhóm nghĩa là những cách thức khiến nhiều người cùng thực hiện tốt một nhiệm vụ và hướng đến mục tiêu chung Cách làm việc này sẽ giúp các cá nhân bổ sung những thiếu sót cho nhau Tuy nhiên, thực tế khi làm việc nhóm sẽ không tránh khỏi những ý kiến trái chiều, những mâu thuẫn khiến nhóm dễ tan vỡ Vì vậy, là người cán bộ quản lý phải rèn luyện cho mình những kỹ năng làm việc nhóm cần thiết để xây dựng nhóm hoàn thiện, gắn kết hơn trong bất kỳ hoàn cảnh nào
Lắng nghe người khác: Khi đã là một nhóm phải biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến
của người khác, bởi trong chúng ta không ai hoàn hảo cả Những ý kiến có hay tới đâu
cũng sẽ có những thiếu sót, chúng ta là những người lắng nghe phải phát hiện ra thiếu sót
đó để góp ý giúp cho ý tưởng được hoàn thiện hơn Lắng nghe còn giúp các thành viên trong nhóm hiểu nhau hơn, biết được điểm yếu của nhau để cùng góp ý sửa chữa
Kỹ năng tổ chức công việc: Kỹ năng tổ chức công việc là nhiệm vụ của người
quản lý, người cán bộ quản lý phải có khả năng giao việc và giải quyết các vấn đề phát sinh trong nhóm, đảm bảo sự đồng đều giữa các thành viên với nhau để công việc không bị gián đoạn vì bất kỳ lý do gì Ngoài ra kỹ năng làm việc nhóm là phải biết cách tổ chức công việc Đây cũng là nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm, khi được giao việc các thành viên phải biết cách tiến hành công việc thế nào cho khoa học, không để tiến trình công việc quá chậm so với những thành viên khác, đảm bảo công việc được hoàn thành đúng tiến độ và thời gian
Trợ giúp và tôn trọng lẫn nhau: Trong cùng một nhóm các thành viên phải trợ
giúp lẫn nhau trong công việc, nếu đồng đội của mình gặp khó khăn hãy sẵn sàng chia
sẻ, giúp đỡ họ Việc làm này sẽ tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm lại với nhau Bên cạnh đó các thành viên cần tôn trọng lẫn nhau, không nên nghĩ rằng mình giỏi hơn người khác, tự đề cao mình và xem thường các thành viên khác Việc giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm chính là động lực lớn nhất để cùng làm việc và hướng tới mục đích chung cuối cùng
Có trách nhiệm với công việc được giao: Làm việc một mình hay nhóm người
cán bộ quản lý cũng cần luyện cho mình kỹ năng có trách nhiệm với công việc Khi làm việc một mình, kết quả không tốt thì chỉ bạn là người chịu trách nhiệm, nhưng làm việc nhóm thì khác Nếu bạn ỷ lại hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao nghĩa là
Trang 36bạn đang làm ảnh hưởng đến cả tập thể Khi đó công lao của những người cố gắng làm tốt cũng bị phủ nhận tất cả, bởi kết quả cuối cùng mới là thước đo kết quả công việc chứ không phải chỉ một phần công việc được hoàn thành
Khuyến khích và phát triển cá nhân: Đây là kỹ năng dành cho người cán bộ
quản lý nhóm, một thủ lĩnh có bản lĩnh và năng lực là một thủ lĩnh biết cách khuyến khích, tạo động lực , điều kiện cho các thành viên trong nhóm phát triển cá nhân ngay trong nhóm của mình Khi một cá nhân được khuyến khích và tạo điều kiện để phát triển chính là động lực để thành viên đó cố gắng hơn trong công việc và thấy giá trị của bản thân được nâng cao hơn
Gắn kết: Người quản lý cần biết cách gắn kết lại với các thành viên khác trong
nhóm nếu không bạn sẽ thấy lẻ loi, đôi khi cảm thấy mình không được trọng dụng trong nhóm Biết cách sát lại với mọi người, chỉ có sự gắn kết mới cho các bạn một nhóm hoàn hảo nhất Bởi khi đó các thành viên sẽ cởi mở hơn trong việc chia sẻ, giúp
đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như cuộc sống
Tạo sự đồng thuận: Nếu không có kỹ năng làm việc nhóm rất dễ gây ra mâu
thuẫn do có những ý kiến trái chiều giữa các thành viên trong nhóm Lúc này việc tạo được sự đồng thuận là rất quan trọng để nhóm cùng hướng đến lợi ích chung Để có được sự đồng thuận các thành viên ngoài việc nêu ý kiến phải biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác, biết cách phân tích đúng, sai và thuyết phục được đồng đội của mình
Thẳng thắn, khách quan: Khi làm việc nhóm người cán bộ quản lý cần bỏ qua
hết sự ích kỷ cá nhân, không chấp nhất những chuyện nhỏ, so sánh với các thành viên khác của mình, tránh va chạm, mâu thuẫn… Làm được việc này sẽ được các thành viên trong nhóm tin tưởng và nể trọng, đồng thời góp phần xây dựng sự đoàn kết trong nhóm, tạo động lực để cả nhóm cùng tiến lên Khi nhiều người đồng lòng cùng làm một việc chắc chắn kết quả mang lại sẽ cao hơn một người làm rất nhiều Phải luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm để nhóm của bạn được vững mạnh, hoàn thiện nhất
- Về thể lực của cán bộ:
Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con
Trang 37người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh Chăm sóc sức khoẻ
là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người Thể lực là cơ sở nền tảng để phát tiển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào các hoạt động thực tiễn
Các tiêu chí cụ thể của thể lực là: có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế giới; luôn tỉnh táo và sảng khoái tinh thần
Sức khoẻ là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng lao động Sức khỏe là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động, tất cả người lao động trong tổ chức cho dù ở chức vụ nào, đảm nhận công việc gì đều phải cần có sức khỏe tốt Sức khỏe ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội,
là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên
Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Hơn nữa, cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt
Trên thực tế, đánh giá sức khỏe thể chất của người lao động không chỉ dựa trên những tiêu chí đơn giản có thể cân đo được như chiều cao hay cân nặng mà còn dựa vào những tiêu chí phức tạp hơn như tình trạng nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉ làm do tai nạn lao động hay tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp, của người lao động trong kỳ Để lượng hóa được tiêu chí này trong công tác đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, có thể tiến hành phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và phân tích những biểu hiện của các chỉ tiêu đo lường sức khỏe thể chất trên
Trang 38Hiện nay, Bộ Y tế quy định ba trạng thái sức khoẻ của người lao động: loại A là loại có thể lực tốt, loại B là trung bình, loại C là yếu Yêu cầu về sức khoẻ của người lao động không chỉ là tiêu chuẩn bắt buộc khi tuyển dụng mà còn là yêu cầu được duy trì trong cả cuộc đời sự nghiệp của người lao động Người lao động phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể duy trì việc thực hiện công việc liên tục với áp lực cao Người lao động mà có thể lực, sức khỏe tốt thì sẽ đảm nhận công việc tốt, hoàn thành tốt mọi công việc, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực tốt
- Về thâm niên công tác:
Thời gian gắn bó với tổ chức cũng là một nhân tố để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trong đơn vị công tác Thông thường, những cán bộ có tuổi nghề gắn bó dài hơn sẽ có sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm nhiều hơn Đó là những nhân
tố tích cực phục vụ cho công tác quản lý và thực hiện nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung
Chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung là một chỉ tiêu tổng hợp về con người, chịu tác động tổng hòa từ nhiều yếu tố, có những yếu
tố thuộc về truyền thống, về sự vấn động của xã hội và của cá nhân người lao động, nhưng chủ yếu là do quá trình giáo dục, đào tạo, việc làm, thu nhập, năng suất lao động, quan hệ xã hội mà hình thành nên Đặc biệt, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung chịu ảnh hướng sâu sắc bởi các nhóm nhân tố như sau:
- Nhóm các nhân tố thuộc về bản thân nguồn cán bộ quản lý;
- Nhóm các nhân tố thuộc về môi trường bên trong;
- Nhóm các nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài
1.4.1 Nhóm nhân tố thuộc về bản thân cán bộ quản lý
Nhóm nhân tố này bao gồm:
Trình độ đào tạo của bản thân nguồn nhân lực quản lý
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết khả năng thực hành về chuyên môn nào
đó, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Cán
bộ quản lý cần phải có chuyên môn về nhiều ngành, lĩnh vực có liên quan đến lĩnh vực mình quản lý, phục vụ cho việc ra quyết định cũng như các chủ trương, chính sách trong phát triển của tổ chức và đơn vị phù hợp với yêu cầu của ngành và của xã hội
Trang 39Trình độ văn hoá và quyết tâm thực hiện nhiệm vụ:
Trình độ văn hoá là sự hiểu biết cơ bản của cán bộ quản lý về môi trường xung quanh và xã hội Trình độ văn hoá tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo cao Người có trình độ văn hóa sẽ có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tư duy tiến bộ vào công việc cụ thể, đồng thời trong quá trình làm việc họ không những vận dụng chính xác mà còn linh hoạt và sáng tạo để tạo ra hiệu quả làm việc cao nhất
Quyết tâm thực hiện nhiệm vụ thể hiện ở tinh thần trách nhiệm: Được hình thành dựa trên cơ sở những ước mơ khát khao, hy vọng cuả cán bộ quản lý trong công việc cũng như với tổ chức Trong tổ chức, nếu cán bộ quản lý thấy được vai trò, vị thế,
sự cống hiến hay sự phát triển, thăng tiến của mình được coi trọng và đánh giá một cách công bằng, bình đẳng thì họ cảm thấy yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào tổ chức, Đây là cơ sở để nâng cao tính trách nhiệm, sự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, cố gắng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, năng suất, chất lượng và hiệu quả trong công việc
Tư chất và năng khiếu bẩm sinh: Các yếu tố này gắn liền với khả năng, tư duy
quản lý của từng cán bộ lãnh đạo
Phương pháp tư duy và thực hành nhiệm vụ
1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường bên trong
Thứ nhất, về mức độ quan sát đúng của kết quả xác định nhu cầu và quy hoạch thăng tiến cho cán bộ quản lý giỏi và mức độ hợp lý của tổ chức đào tạo bổ sung cho cán bộ mới được bổ nhiệm:
Chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực về mặt toàn bộ và các loại nhu cầu khác Vì vậy, chất lượng của đội ngũ cán
bộ cấp trung phụ thuộc đáng kể vào mức độ chính xác của kết quả xác định nhu cầu
Mức độ chính xác của kết quả xác định nhu cầu và quy hoạch cán bộ quản lý cấp trung chỉ có được khi các cơ sở, căn cứ là đầy đủ và đạt độ chính xác cao Các cơ
sở, căn cứ xác định nhu cầu cán bộ quản lý là: các mục tiêu và chủ trương, đường lối phát triển của tổ chức trong chiến lược phát triển; các chỉ tiêu kế hoạch phương hướng trong tương lai, hệ thống định mức quản lý; nhu cầu thay thế cho đội ngũ cán bộ quản
lý nghỉ hưu và luân chuyển công tác…Ngoài việc xác định nhu cầu cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung còn cần phải có kế hoạch định hướng thăng tiến cho những người có
Trang 40trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý tốt và gắn bó lâu dài với tổ chức (từ 5 năm trở lên), đồng thời có triển vọng phát triển về mặt quản lý
Thứ hai, mức độ hấp dẫn của chính sách thu hút tuyển dụng ban đầu đối với đội ngũ cán bộ quản lý giỏi và mức độ hợp lý của việc tổ chức đào tạo bổ sung cho đội ngũ cán bộ mới được bổ nhiệm:
Những người quản lý giỏi (chuyên gia quản lý) là những người giỏi cả về lý thuyết lẫn thực tế Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, thực trạng hiện nay đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung là thiếu đội ngũ chuyên gia quản lý Môi trường cạnh tranh giành giật các chuyên gia quản lý ngày càng trở nên quyết liệt Một tổ chức chỉ giữ được và thu hút thêm được đội ngũ chuyên gia quản lý giỏi khi có các chính sách hấp dẫn và cách thức hợp lý Mức độ hấp dẫn của chính sách thu hút chuyên gia quản lý là mức
độ đáp ứng, phù hợp về mặt giá trị và cả về mặt cách thức trong những cam kết về chính sách thu hút, những ưu tiên thỏa mãn các mục đích cho ứng viên quản lý
Đổi mới chính sách thu hút thêm chuyên gia quản lý cho tổ chức trước hết phải thể hiện bằng những thay đổi hình thức đáp ứng nhu cầu đối với cán bộ quản lý và có mức độ nhiều hơn trước, hơn của những đối thủ cạnh tranh trong cùng một thời gian Mức độ đáp ứng, phù hợp cao tức là mức độ hấp dẫn cao
Bên cạnh đó, việc tổ chức đào tạo bổ sung là hoàn toàn cần thiết vì mục tiêu các điều kiện của từng tổ chức khác nhau là khác nhau Đào tạo bổ sung cũng cần có mục tiêu cụ thể, rõ ràng và tuân thủ nghiêm ngặt theo bài bản Việc giữ và thu hút thêm được những chuyên gia quản lý và đào tạo bổ sung hợp lý góp phần đáng kể trong việc làm tăng chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý
Thứ ba, về mức độ hợp lý của tiêu chuẩn và quy trình xem xét bổ nhiệm cán bộ quản lý ở tổ chức:
Trong nên kinh tế thị trường và bối cảnh hội nhập hiện nay, tiêu chuẩn của người cán bộ quản lý khác rất nhiều so với trước đây Phải từ nội dung, tính chất, các yêu cầu thực hiện, hoàn thành các loại công việc đối với chức danh quản lý cấp trung
để đưa ra các tiêu chuẩn đối với đội ngũ này tại tổ chức Ví dụ: trưởng phòng Kế hoạch, tài chính phải là người tốt nghiệp đại học chính quy chuyên ngành kinh tế hoặc