1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nhận thức và khả năng xử lý sốc phản vệ của điều dưỡng lâm sàng tại khoa nội tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ đầu năm 2017

34 84 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 522,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH LÊ THỊ HOA THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ KHẢ NĂNG XỬ LÝ SỐC PHẢN VỆ CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ Đ

Trang 1

1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LÊ THỊ HOA

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ KHẢ NĂNG XỬ LÝ SỐC PHẢN VỆ CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ ĐẦU NĂM 2017

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

Nam Định- 2017

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LÊ THỊ HOA

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ KHẢ NĂNG XỬ LÝ SỐC PHẢN VỆ CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ ĐẦU NĂM 2017

CHUYÊN NGÀNH: NỘI NGƯỜI LỚN

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ MINH CHÍNH

Nam Định, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện báo cáo chuyên đề, tôi đã nhận được sự hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ, gia đình và bạn bè Đến nay báo cáo chuyên đề đã được hoàn thành

Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

TS Nguyễn Thị Minh Chính, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành báo cáo chuyên đề

Tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các phòng ban và các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã cho tôi kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến Ban Giám đốc, các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh phú Thọ đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học này

Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn trân thành và sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và tập thể lớp chuyên khoa cấp I khóa 4 nhũng người đã giành cho tôi tình cảm và nguồn động viên khích lệ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa I Lời cảm ơn II Danh mục chữ viết tắt III Mục lục IV Danh mục bảng biểu V

Đặt vấn đề 1

Mục tiêu khóa luận 2

I Cơ sở lý luận và thực tiễn 3

1 Cơ sở lý luận 3

Các khái niệm sử dụng trong khóa luận 3

2 Cơ sở thực tiễn 15

II Liên hệ thực tiễn 17

1 Thực trạng nhận thức của điều dưỡng lâm sàng khoa nội tổng hợp về phòng chống sốc phản vệ 17

2 Các ưu và nhược điểm 19

3 Tồn tại và thách thức 20

III Đề xuất các giải pháp 22

IV Kết luận 23

Tài liệu tham khảo 24

Trang 7

VI

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốc phản vệ là tình trạng dị ứng đặc biệt nghiêm trọng có thể đe dọa đến tính mạng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời Nó có thể xảy ra trong vòng vài giây đến vài phút ngay sau khi tiếp xúc với dị nguyên như thuốc, thức ăn, nọc côn trùng…

Những năm gần đây, vấn đề SPV ngày càng được quan tâm nhiều hơn và người ta cũng nhận thấy tình trạng sốc phản vệ ngày càng gia tăng Các loại dược phẩm và thực phẩm có nguồn gốc từ hóa chất được sử dụng cho con người ngày càng phổ biến gây nên các phản ứng miễn dịch và dị ứng ngày càng nghiêm trọng dẫn đến nhiều trường hợp tử vong đáng tiếc Trong lĩnh vực y tế nhiều loại thuốc đưa vào cơ thể bằng bất cứ đường nào đều có thể gây phản vệ Ở người có cơ địa dị ứng thì sốc phản vệ có thể xẩy ra nhanh ngày sau khi mới dùng thuốc lần đầu, hoặc sau dùng thuốc vài ba lần sau Một người đã test nội bì âm tính nhưng vẫn có thể bị sốc phản vệ khi dùng thuốc do những lần dùng tiếp theo[9]

Ở nước ta cũng vậy, cùng với sự phát triển của các nghành công nghiệp hóa

mỹ phẩm, dược phẩm và tình trạng ô nhiễm môi trường là sự gia tăng tình trạng dị ứng trong đó có sốc phản vệ xảy ra ngày càng nhiều và có nhiều trường hợp tử vong đáng tiếc Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do sự lạm dụng thuốc, hóa

mỹ phẩm của người dân, sự hiểu biết chưa đầy đủ về sốc phản vệ của nhân viên y

tế Đó là khó khăn của ngành y tế mà người thầy thuốc, người bệnh, gia đình người bệnh và toàn xã hội nên quan tâm

Xét trong từng hoàn cảnh cụ thể chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của những nhân viên y tế, người giành giật từng hy vọng sống cho người bệnh không may bị sốc phản vệ ĐDV thường xuyên gần gũi, cận kề người bệnh hơn cả,

dễ dàng phát hiện những diến biến bất thường, và những xử trí ban đầu không tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả và chất lượng điều trị

Vì thế các tai biến và tử vong do sốc phản vệ có thể được giảm thiểu khi thầy thuốc nói chung và điều dưỡng nói riêng có đầy đủ kiến thức về sốc phản vệ như: Hiểu được những nguyên nhân gây ra sốc phản vệ, khai thác kỹ tiền sử dị ứng của người bệnh, chỉ định thuốc thận trọng, chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện cấp cứu…

Trang 8

Để phòng ngừa và giảm thiểu các tai biến, tử vong do sốc phản vệ gây ra Bộ

y tế đã có thông tư số 08/1999_ TT_ BYT ngày 01/05/1999 Hướng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản vệ

Theo một báo cáo nghiên cứu của Trần Thị Lý cùng cộng sự năm 2012 về khả năng nhận thức của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, kết quả cho thấy kiến thức của điều dưỡng còn nhiều hạn chế, không đồng đều.Tỷ lệ điều dưỡng hiểu sai về nguyên nhân chiếm 12,2%, trong đó nhóm nội là 2%, nhóm ngoại và chuyên khoa lẻ là 20% Trả lời sai về 1 số triệu chứng cả ba nhóm là 7,7%, điều dưỡng có tuổi từ 22- 29 và số có tay nghề < 5 năm chiếm 68,6% Trả lời sai về phòng chống sốc trung bình là 9,6% loại này chủ yếu gặp ở điều dưỡng trung học

và nhóm chuyên khoa lẻ Kể từ đó tới nay sự tác động của các phòng ban liên quan, vẫn chưa thể hiện được sự quan tâm tới vấn đề này theo đúng nghĩa Và hiện nay điều dưỡng khoa Nội tổng hợp của bệnh viện vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong nhận thức về xử trí sốc phản vệ

Do đó chúng tôi tiến hành viết chuyên đề: “Thực trạng nhận thức và khả năng xử lý sốc phản vệ của điều dưỡng lâm sàng tại khoa Nội tổng hợp bệnh viện

đa khoa tỉnh Phú Thọ đầu năm 2017” nhằm đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ của điều dưỡng trong phòng chống sốc để giúp cho Ban Giám đốc bệnh viện, lãnh đạo khoa phòng nắm được một cách tổng quát nhất thực trạng về kiến thức phòng chống sốc của điều dưỡng, từ đó có kể hoạch bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về chẩn đoán,

sử trí cấp cứu và phòng chống sốc Chuyên đề được thực hiện với 2 mục tiêu:

1 Mô tả nhận thức và thực trạng xử lý của điều dưỡng khoa Nội tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ về sốc phản vệ

2 Đề xuất một vài giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xử lý sốc phản vệ của điều dưỡng khoa Nội tổng hợp bệnh viên đa khoa tỉnh Phú Thọ

Trang 9

Sốc phản vệ đã được mô tả từ rất lâu trong các văn tự cổ của Trung Quốc và

Hi Lạp, chủ yếu liên quan đến thức ăn, gọi là “ đặc ứng” Trải qua nhiều năm đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện Nhưng mãi đến năm 1902, khi giáo

sư sinh lý học Charles Richat và cộng sự Paul Portier tiến hành tiêm độc tố của actini vào dưới da của chú chó Neptune đến lần thức ba, chó xuất hiện tình trạng: khó thở, nôn, ỉa đái bừa bãi và mất sau 25 phút Richet đặt tên cho hiện tượng này là sốc phản vệ (anaphylaxis) Từ đó, thuật ngữ sốc phản vệ được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới

Sốc phản vệ bao gồm anaphylactic shock và anphylactoid shock, là một hội chứng lâm sàng dễ nhận biết bởi sự xuất hiện đột ngột tăng tính thấm thành mạch

và sự nhậy cảm quá mức ở phế quản[3]

1.1.2 Nguyên nhân gây SPV[1;5]

Có nhiều nhóm nguyên nhân gây ra sốc phản vệ nhưng hay gặp là thuốc, thức ăn, nọc côn trùng Thuốc là nguyên nhân hay gặp nhất Theo một nghiên cứu ở Australia trong 105 trường hợp sốc phản vệ không do thức ăn thì có

64 trường hợp do thuốc Mọi loại thuốc đều có thể gây ra sốc phản vệ kể cả những thuốc điều trị dị ứng nhưng hay gặp nhất là kháng sinh, thuốc chống viêm giảm đau không steroid, thuốc gây tê, gây mê, dịch truyền, các loại thuốc cản quang có iot,

Trang 10

IX

thuốc chống nấm Tất cả các đường đưa thuốc vào cơ thể: bôi ngoài da, uống, tiêm dưới da, tiêm bắp, truyền tĩnh mạch, đặt âm đạo, thuốc nhỏ mắt đều có thể gây ra sốc phản vệ dù với liều rất nhỏ Sốc phản vệ do thức ăn hay gặp do trứng, lạc, sữa,

cá, tôm, cua, ba ba

Trong vòng 11 năm từ năm 1994 đến năm 2005, ở Australia có 5007 ca nhập viện sốc phản vệ do thức ăn Dị ứng thức ăn hay gặp ở trẻ em hơn người lớn Thức

ăn không những đóng vai trò là dị nguyên gây ra sốc phản vệ mà còn là cofactor gây ra sốc phản vệ Trong sốc phản vệ do luyện tập, thức ăn là yếu tố nguy cơ hay gặp nhất Loại thức ăn hay gặp là lúa mì, một số gia vị, thủy hải sản Sốc phản vệ do luyện tập liên quan đến thức ăn thường xảy ra trong vòng 2-4h sau khi ăn Sự phối hợp giữa thức ăn và luyện tập có thể gây ra sốc phản vệ, nhưng nểu chỉ ăn thức ăn trên hoặc chỉ luyện tập thì có thể không có triệu chứng SPV Nguyên nhân gây dị ứng ở trẻ em thường là đậu phộng, thủy hải sản Theo nghiên cứu của Kanny G và cộng sự năm 2001 tỷ lệ dị ứng thức ăn xấp xỉ 3,2% Hơn thế nữa, trong nghiên cứu này thức ăn là nguyên nhân phổ biến nhất gây sốc phản vệ Một nguyên nhân hay gặp nữa là nọc côn trùng như nọc ong đốt, rắn, bọ cạp cắn Sốc phản vệ được định nghĩa là một phản ứng toàn thân nguy hiểm đến tính mạng và là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, khởi phát nhanh có thể gây tử vong Trên lâm sàng, sốc phản vệ đặc trưng bởi tình trạng nổi ban đỏ, khó thở, hạ huyết áp, co thắt đường thở

Trên thế giới, theo những dữ liệu công bố mới, tỷ lệ sốc phản vệ ngày càng gia tăng trong những năm gần đây Ước tính, khoảng 1-2% dân số toàn thế giới có

ít nhất một lần sốc phản vệ trong đời, riêng Châu Âu là 4-5 trường hợp SPV/10.000 dân mỗi năm, ở Mỹ những năm gần đây là 58,9 trường hợp/100.000 dân hàng năm

Tỉ lệ tử vong của sốc phản vệ ước tính là 1% Nguyên nhân phổ biến nhất gây ra SPV là thức ăn, nọc côn trùng và thuốc Tần số chính xác của các loại nguyên nhân phụ thuộc và tuổi, địa lý, sự tiếp xúc, nó cũng phụ thuộc vào nguồn dữ liệu

Trong một nghiên cứu lớn gần đây 601 bệnh nhân bị sốc phản vệ ở Mỹ có tới 22% nguyên nhân do thức ăn, 11% do thuốc Penicilin và nọc côn trùng vẫn là những nguyên nhân phổ biến nhất

Thuốc cũng là nguyên nhân gây SPV hay gặp nhất Trong đó, các thuốc hay gặp phải kể đến kháng sinh, NSAIDs, radiocontrats, những thuốc sử dụng trong giai đoạn hậu phẫu là hay gặp nhất

Trang 11

Nghiên cứu của Liew WK và cộng sự năm 2009 cho thấy tại Úc, thuốc

là nguyên nhân hay gặp nhất gây tử vong do SPV Trong 105 trường hợp SPV không do thức ăn thì có tới 64 trường hợp là do thuốc Nhóm tuổi tử vong cao nhất là từ 55 tuổi trở lên, với số lượng tương tự ở cả nam và nữ Penicilline là nguyên nhân gây tử vong chủ yếu ở các nhóm tuổi từ 60-74 tuổi, tử vong do cephalosporin hay gặp ở nhóm từ 35 đến 74 tuổi

Có khoảng 3019 trường hợp sốc phản vệ do thuốc nhập viện tại Australia từ năm 1998 đến năm 2005 Nghiên cứu này cũng cho thấy, ở lứa tuổi trước dậy thì tỷ

lệ nam cao hơn nữ, ở nhóm >15 tuổi , tỷ lệ nữ cao hơn nam Tỷ lệ nhập viện cao nhất gặp ở nhóm tuổi 55 đến 84 tuổi (3,8/100.000)

Nghiên cứu ở Đức cũng cho thấy thuốc là nguyên nhân phổ biến gây SPV ở người lớn Trong nhóm này, kháng sinh và NSAIDs là nguyên nhân phổ biến nhất

Thức ăn cũng là một nguyên nhân phổ biến gây SPV, tần số phụ thuộc vào từng nghiên cứu từ 2-4% Dị ứng thức ăn thường xảy ra ở trẻ nhỏ nhiều hơn người trưởng thành Nguyên nhân gây dị ứng thức ăn ở trẻ nhỏ thường là các loại hạt và cây của chúng Koplin và cộng sự ghi nhận tỷ lệ nhập viện do sốc phản vệ do thức ăn đang tăng lên trên phạm vi toàn cầu Ví dụ, ở Australia, tỷ lệ này được ghi nhận trong giai đoạn 2004-2005 là 6 ca/ 100.000 dân mỗi năm, tăng 3,5 lần so với 11 năm trước đó Trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ lệ nhập viện do sốc phản

vệ do thức ăn cao nhất (trung bình 9,4 ca/ 100.000 dân mỗi năm), tốc độ tăng của tỷ

lệ nhập viện theo thời gian cũng cao nhất ở nhóm tuổi này Tỷ lệ nhập viện do sốc phản vệ do thuốc cũng tăng xấp xỉ 1,5 lần trong khoảng thời gian 8 năm, lên đến 2,6 ca/100.000 dân vào năm 2004-2005 Theo một nghiên cứu ở Đức, thức ăn là nguyên nhân hàng đầu gây SPV ở trẻ nhỏ và là nguyên nhân phổ biến thứ ba gây ra SPV

Nghiên cứu dân số ở Mỹ cho kết quả dị ứng với các loại hạt ở trẻ em tăng từ 0,4% năm 1997 đến 0,8 % năm 2002

Ở Úc, trong vòng 8 năm từ năm 1997 đến năm 2005 có 112 trường hợp tử vong do sốc phản vệ với thức ăn Trong số đó có 7 trường hợp thuộc nhóm 5-35 tuổi Trong tổng số 5007 ca sốc phản vệ với thức ăn nhập viện từ năm 1994 đến năm 2005, có hai nhóm tuổi gặp nhiều nhất là 0-4 tuổi và 15-29 tuổi.Vai trò của gới phụ thuộc vào nhóm tuổi cũng được xác định: trong nhóm tuổi < 15 tuổi, tỷ lệ nam cao hơn tỷ lệ nữ (1,5:1), ngược lại tr lệ nữa cao hơn nam (1,4:1) trong nhóm >15

Trang 12

Trong những nghiên cứu dựa trên dân số mới nhất của sốc phản vệ do bất kỳ nguyên nhân nào, SPV do nọc côn trùng chiếm khoảng 7,3-59% tổng số trường hợp được báo cáo

Tỷ lệ sốc phản vệ khác nhau giữa các nhóm nguyên nhân, từng lứa tuổi, từng vùng Thức ăn thường là nguyên nhân hay gặp ở trẻ em, thanh thiếu niên Thuốc và nọc côn trùng thường gặp ở lứa tuổi trung niên

Có nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến mức độ nặng và tỷ lệ tử vong của sốc phản vệ như: tuổi, các bệnh phối hợp, các thuốc đang dùng kèm theo, tiền sử cá nhân…Việc xác định những yếu tố này sẽ giúp làm giảm tỷ lệ tử vong do SPV

1.1.2.1 Danh mục các thuốc gây sốc phản vệ[4]

Sốc phản vệ và những tai biến do dị ứng thuốc xảy ra ngày một nhiều với những hậu quả nghiêm trọng nhiều trường hợp tử vong Các thuốc khi vào cơ thể (đều là hapten) phải kết hợp với protein trong huyết thanh hoặc mô mới trở thành dị nguyên hoàn chỉnh có đặc tính kháng nguyên gây nên phản ứng phản vệ

Các thuốc gây sốc phản vệ ngày càng nhiều, sau đây là những thuốc hay gặp: Penicillin, Streptomycin, Ampicillin, Vancomycin, Amoxycillin, Chloramphenicol, Cephalosporin, Tetracyclin Claforan, Trimazon Neomycin, Nevigram Kanamycin , Erythromycin Lincomycin, Polymycin B Gentamycin

Các thuốc chống viêm không steroid: salicylat, colchicin, mofen, indomethacin

Các vitamin: vitamin C tiêm tĩnh mạch là nguyên nhân gây sốc phản vệ hay gặp ở nước ta, tiếp sau là vitamin B1, vitamin B12 dạng tiêm

Các loại dịch truyền: glucose, nutrisol, alvesin, bestamin, tryphosan

Thuốc gây tê: procain, novocain, lidocain, thiopental

Thuốc cản quang có iôt: visotrat

Các hormon: insulin, ACTH, vasopressin

Trang 13

Các enzym: trypsin, chymotrypsin

Các thuốc khác: visceralgin, aminazin, paracetamol, efferalgan-codein

Hình 1 Nguyên nhân gây sốc phản vệ

1.1.3 Triệu chứng của sốc phản vệ[3]

Rất đa dạng, xuất hiện ở nhiều cơ quan Các triệu chứng biểu hiện khác nhau

ở tùy từng bệnh nhân nhưng đều có đặc điểm chung xuất hiện nhanh trong vài phút đến vài giờ Có những bệnh nhân chỉ nổi ban đỏ, phù Quincke nhưng cũng có bệnh nhân triệu chứng lâm sàng rầm rộ: khó thở, hạ huyết áp, có thắt thanh quản, đại tiểu tiện không tự chủ, vật vã kích thích Nhiều yếu tố làm tăng mức độ nặng và tỷ lệ tử vong của sốc phản vệ Chúng bao gồm tuổi, giới, các bệnh kèm theo như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, các bệnh mạn tính đường hô hấp, bệnh lý về tim mạch, mastocytosis hoặc những rối loạn tế bào mast đơn dòng, bệnh dị ứng nặng như viêm mũi dị ứng Một số thuốc dùng đồng thời như thuốc chẹn Beta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển cũng làm tăng nguy cơ

Trang 14

1.1.3.2 Hệ tuần hoàn và huyết động

Tình trạng giãn mạch thường có sớm trong sốc phản vệ do hậu quả tác dụng của các chất trung gian hoá học, giãn mạch, tăng tính thấm thành mạch nhanh dẫn đến giảm thể tích tuần hoàn (thể tích máu toàn phần và thể tích huyết tương đều giảm rõ rệt trong sốc phản vệ), nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp, áp lực động mạch giảm do giảm thể tích tống máu

Sự thiếu ôxy máu, giảm thể tích tuần hoàn dẫn đến toan máu và giảm co bóp

cơ tim là giai đoạn nặng của sốc phản vệ Vì thế cấp cứu giảm thể tích máu là một yếu tố chính trong sốc phản vệ

Trang 15

XIV

• Chẩn đoán xác định sốc phản vệ (Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốc phản

vệ của Hiệp hội Dị ứng thế giới năm 2011): Bệnh nhân được chẩn đoán sốc phản vệ khi có một trong ba tiêu chuẩn sau:

1 Các triệu chứng xuất hiện cấp tính ( trong vài phút đến vài giờ) ở da, niêm mạc hoặc cả hai (mày đay toàn thân, ngứa hoặc đỏ da, sưng môi, lưỡi ) và ít nhất 1 trong 2 triệu chứng sau:

a Triệu chứng hô hấp (khó thở, thở rít, ran rít, giảm lưu lượng đỉnh, giảm oxy máu)

b Tụt huyết áp hoặc các hậu quả của tụt huyết áp (ngất, đại tiểu tiện không

d Các triệu chứng tiêu hóa kéo dài (đau quặn từng cơn, nôn)

3 Tụt huyết áp xuất hiện vài phút đến vài giờ sau khi tiếp xúc với dị nguyên

mà người bệnh đã từng bị dị ứng:

a Trẻ em: giảm ít nhất 30% HA tâm thu hoặc tụt HA tâm thu so với tuổi

b Người lớn: HA tâm thu < 90 mm Hg hoặc giảm 30% giá trị HA tâm thu

+ Trẻ từ 1-2 tuổi: 80-140 lần/phút

Trang 16

1.1.5.2 Diễn biến trung bình

Bệnh nhân hoảng hốt, sợ chết, choáng váng, ngứa ran khắp người, khó thở,

co giật, đôi khi hôn mê, đau bụng, da tím tái, niêm mạc nhợt, đồng tử giãn, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt hoặc không đo được

1.1.5.3 Diễn biến nặng

Xảy ra ngay trong những phút đầu tiên với tốc độ chớp nhoáng Người bệnh hôn mê, nghẹt thở, da tím tái, mạch huyết áp không đo được, tử vong sau vài phút, hãn hữu kéo dài vài giờ

1.1.6 Điều trị cơ bản sốc phản vệ

- Ngừng ngay tiếp xúc với nguyên nhân gây sốc nếu có thể (thuốc đang dùng đường tiêm, truyền, uống, thuốc bôi)

- Nhanh chóng đánh giá tuần hoàn, đường thở, nhịp thở, ý thức, da, cân nặng

- Tiêm bắp epinephrine vào phần giữa –trước bên của đùi với liều 0,01mg/kg dung dịch 1:1000 (1mg/ml) đến liều tối đa 0,5mg (người trưởng thành) hoặc 0,3 mg(trẻ nhỏ), có thể tiêm nhắc lại sau 5-15 phút nếu cần thiết, hầu hết bệnh nhân đáp ứng sau 1 hoặc 2 liều

- Đặt bệnh nhân nằm ngửa hoặc tư thế thoải mái nếu có nôn hoặc tắc nghẽn đường thở, kê cao chân

- Các biện pháp khác:

+ Thở oxy mask 6-8l/phút

+Thiết lập đường truyền tĩnh mạch Khi có chỉ định truyền nhanh 1-2l dung dịch NaCl 0,9% (5-10ml/ kg trong 5-10 phút đầu tiên ở người trưởng thành, hoặc 10ml/kg ở trẻ nhỏ)

+ Tiến hành hồi sức tim – phổi khi cần thiết

Trang 17

- Solu – medrol (Methylrednisolon) lọ 40 mg tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch

02 lọ ở người lớn, 01 lọ ở trẻ em, có thể tiêm nhắc lại 4 – 6 giờ Cách dùng khác (theo tuổi)

+ Người lớn và trẻ trên 12 tuổi: 2 ống 40mg

Ngày đăng: 24/02/2021, 14:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Văn Cam ( 2006 ). Sốc phản vệ. Tài liệu huấn luyện định hướng nhi khoa, trang 32 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu huấn luyện định hướng nhi khoa
2. Nguyễn Thị Đông và cộng sự “ Đánh giá kiến thức của Điều dưỡng trong phòng chống sốc phản vệ tại trung tâm y tế Thanh Xuân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức của Điều dưỡng trong phòng chống sốc phản vệ tại trung tâm y tế Thanh Xuân
3. Nguyễn Năng An(1998)."Sốc phản vệ, phát hiện sơm dị ứng thuốc và dự phòng sốc pản vệ", Dược lâm sàng, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốc phản vệ, phát hiện sơm dị ứng thuốc và dự phòng sốc pản vệ
Tác giả: Nguyễn Năng An
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1998
4. Thông tin điều dưỡng số 45 tháng 04/2011 hội điều dưỡng Việt Nam trang 24 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin điều dưỡng số 45 tháng 04/2011 hội điều dưỡng Việt Nam
5. Hoàng Trọng Kim (2004). Xử trí sốc phản vệ. Thực hành lâm sàng Nhi khoa, nhà xuất bản y hoc TPHCM, trang 40 – 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành lâm sàng Nhi khoa, nhà xuất bản y hoc TPHCM
Tác giả: Hoàng Trọng Kim
Nhà XB: nhà xuất bản y hoc TPHCM"
Năm: 2004
6. Kỷ yếu 20 năm ngày thành lập Hội điều dưỡng toàn quốc lần thứ IV Hà Nội 10 - 20106 Khác
7. Trần Thị Lý và cộng sự. Khảo sát thực trạng của điều dưỡng trong phòng chống sốc phản vệ tại bệnh viện đa khoa Tỉnh Phú Thọ Khác
8. Phạm Đức Mục(2005). Phương pháp nghiên cứu điều dưỡng nhà xuất bản y học – Hà nội Khác
9. Thông tư số 88/ 199 – TT – BYT ngày 04/05/1999 Hướng dẫn phòng và chống sốc phản vệ Khác
10. Đoàn Bích Vân và các cộng sự. Đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ của điều dưỡng trong phòng chống sốc phản vệ tại trung tâm y tế quận Đống Đa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w