1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nhận thức về chế độ ăn uống và luyện tập thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh hải dương năm 2016

41 46 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LÊ THỊ HUỆ THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ LUYỆN TẬP THỂ LỰC CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN Đ

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ

LÊ THỊ HUỆ

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ LUYỆN TẬP THỂ LỰC CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH

VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2016

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

Nam Định – 2016

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ

LÊ THỊ HUỆ

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ LUYỆN TẬP THỂ LỰC CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH

VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2016

Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG NỘI

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN TS.BS Vũ Văn Thành

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình học tập lớp CKI khóa 3 và chuyên đề này, tôi

đã nhận được nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân Nhân dịp này,tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu – trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, phòng Quản lý đào tạo sau đại học, các thầy cô trong trường,

bộ môn Điều dưỡng nội trường Đại học điều dưỡng Nam Định

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.BS Vũ Văn Thành – Phó hiệu trưởng nhà trường Người thầy đã dành nhiều tâm huyết của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm chuyên đề để tôi hoàn thành khóa học này Tôi xin cám ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương, lãnh đạo Trung tâm tim mạch- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, làm chuyên đề và hoàn thành khóa học

Cuối cùng, tôi xin gửi tới ban Lãnh đạo, quý thầy cô lời cảm ơn sâu sắc và trân trọng Chúc ban Lãnh đạo, quý thầy cô luôn dồi dào sức khỏe, thêm niềm tin

để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế

hệ mai sau

Nam Định, ngày 25 tháng 04 năm 2016

Lê Thị Huệ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa 2

Lời cảm ơn 3

Mục lục 4

Danh mục các chữ viết tắt 6

Danh mục các bảng, hình ảnh 7

Đặt vấn đề 8

Mục tiêu của chuyên đề 9

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 10

1.1: Cơ sở lý luận 10

1.1.1: Định nghĩa 10

1.1.2: Phân loại giai đoạn tăng huyết áp 10

1.1.3: Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp 10

1.1.4: Những triệu chứng tăng huyết áp 12

1.1.5: Các biến chứng thường gặp của tăng huyết áp 12

1.1.6: Chế độ ăn uống và luyện tập cho người bệnh tăng huyết áp 14

1.2: Cơ sở thực tiễn 23

1.2.1: Tình hình nghiên cứu bệnh THA trên thế giới 23

1.2.2: Tình hình nghiên cứu bệnh THA ở Việt Nam 23

Chương 2: Thực trạng kiến thức về tuân thủ chế độ ăn uống và luyện tập thể lực của người bệnh THA điều trị tại bệnh viện tỉnh Hải Dương 26

2.1: Thực trạng kiến thức về tuân thủ chế độ ăn uống và luyện tập thể lực của người bệnh THA điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương 26

2.1.1: Đối tượng, phương pháp khảo sát 26

2.1.2: Kết quả khảo sát 26

2.1.3: Các ưu, nhược điểm và nguyên nhân 31

2.2: Các giải pháp nâng cao hiệu quả nhận thức về tuân thủ chế độ ăn uống và luyện tập thể lực cho người bệnh THA điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương 32

2.3: Kết luận 34

2.3.1: Thực trạng nhận thức về tuân thủ chế độ ăn, uống và luyện tập thể lực của người bệnh THA điều trị tại bệnh viện tỉnh Hải Dương 34

Trang 5

2.3.2: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả nhận thức về tuân thủ chế độ ăn, uống và luyện tập thể lực cho người bệnh THA điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương 34 Tài liệu tham khảo 35 Phiếu khảo sát 41

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTBMI Body Mass Index (chỉ số khối cơ thể)

HATT Huyết áp tâm thu

HATTr Huyết áp tâm trương

ISH International Society of Hypertension( Hội THA quốc tế)

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)GDSK Giáo dục sức khỏe

Trang 7

Bảng 2.5 Nhận thức của người bệnh tăng huyết áp về chế độ ăn, uống 30 Bảng 2.6 Tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp luyện tập thể lưc 31 Hình 1.3 Buổi tư vấn GDSK cho NB THA tại trung tâm tim mạch 33

Hình 1.4 Người bệnh tăng huyết áp điều trị nội trú tại trung tâm tim mạch,

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là một bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối đe dọa rất lớn đối với sức khỏe của con người Trong số các trường hợp mắc bệnh và tử vong do tim mạch có tới 35% - 45% nguyên nhân trực tiếp là do tăng huyết áp

Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) vào năm 2000 trên toàn thế giới có tới 972 triệu người bị tăng huyết áp và ước tính vào năm 2025 con số này

là 1.56 tỷ người Ngày nay, tăng huyết áp được xem là gánh nặng toàn cầu khoảng 64 triệu người sống trong tàn phế do biến chứng của tăng huyết áp

Tại Việt Nam , theo một điều tra gần đây nhất của viện Tim mạch Việt Nam tại 8 tỉnh /thành phố của nước ta thì tỷ lệ tăng huyết áp của những người từ 25 tuổi trở lên đã là 25,1% Nghĩa là cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị tăng huyết áp [7]

Báo cáo về sức khỏe hàng năm của tổ chức y tế thế giới nhấn mạnh: tăng huyết áp là “kẻ giết người số một” với nguy cơ tử vong cao gấp 5 lần nguy cơ từ hút thuốc lá và cao gấp 100 lần so với nguy cơ tử vong vì tai nạn từ lái ô tô [11] Tăng huyết áp được coi là kẻ sát nhân thầm lặng, nguy hiểm là vậy nhưng tăng huyết áp lại là căn bệnh diễn biến âm thầm, ít có dấu hiệu cảnh báo Những dấu hiệu của tăng huyết áp thường không đặc hiệu và người bệnh thường không thấy có gì khác biệt với người bình thường Nhiều khi người bệnh thấy có triệu chứng đau đầu xuất hiện thì ngay tiếp theo đó cũng là những giây phút cuối cùng của cuộc đời, do họ đã bị xuất huyết não nặng [6], [11]

Tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề như: tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim , suy tim ….làm tăng tỷ lệ tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng lao động của người bệnh, đồng thời làm tăng chi phí điều trị Tại Mỹ, chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp cho điều trị, chăm sóc người bệnh tăng huyết áp hàng năm lên tới 259 tỷ đô la Mỹ

Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc, chế độ ăn uống, tập luyện thể lực của người bệnh tăng huyết áp giữ một vai trò rất quan trọng

Trang 9

Vì vậy chúng tôi thực hiện chuyên đề :

“Thực trạng nhận thức về chế độ ăn uống và luyện tập thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2016” với hai mục tiêu sau:

MỤC TIÊU

1 Mô tả thực trạng kiến thức về chế độ ăn uống và luyện tập thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức về chế độ ăn uống và

luyện tập thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện đa

khoa tỉnh Hải Dương

Trang 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Cơ sở lý luận

1.1.1 Định nghĩa

Huyết áp là áp suất động mạch được tạo bởi sức đẩy của tim và sức ép

của thành động mạch

Có 2 chỉ số huyết áp (HA):

- Huyết áp tâm thu hay gọi là huyết áp tối đa là số đo biểu hiện lực đẩy từ tim

khi tim co bóp đẩy máu đi, bình thường HA tối đa dao động từ 90-139 mmHg

- Huyết áp tâm trương hay gọi là HA tối thiểu là biểu hiện trương lực của thành

mạch, bình thường từ 60-89 mmHg [8]

Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg

và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg (Theo WHO và ISH)

1.1.2 Phân loại giai đoạn tăng huyết áp

Giai đoạn HA tâm thu HA tâm trương

GĐ 1 140-159 (mmHg) 90-99 (mmHg)

GĐ 2 160-179 (mmHg) 100-109 (mmHg)

GĐ 3 >180 (mmHg) >110 (mmHg)

* Đối với người bệnh THA khi đo lần đầu:

HA(max) : 140-159 mmHg, HA (min): 90-99 mmHg cần khẳng định lại trong

vòng 1-2 tuần

Nếu đo HA lần đầu >160/100 mmHg thì có thể xác định là THA

Vì HA có thể lên xuống trong những điều kiện nhất định nên để biết một

người có tăng HA hay không thì không thể xác định qua một lần đo mà phải đo

nhiều lần trong ngày, thậm chí là trong tháng Khi đó người bệnh phải tuân thủ

những yêu cầu như: không hút thuốc lá hoặc uống cà phê trước khi đo khoảng 30

phút, tinh thần được thoải mái và phải đo đúng phương pháp [1] [16]

1.1.3 Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp

1.1.3.1 Tuổi và giới tính

Tuổi bắt đầu có THA thông thường là từ 30 tuổi trở lên, theo Pepara có

trường hợp THA từ năm 10 tuổi Theo tổ chức WHO tính khái quát: ở tuổi 35 cứ

20 người thì có 1 người THA, ở tuổi 45 cứ 7 người thì có 1 người THA và quá

65 tuổi thì cứ 3 người thì có 1 người THA Tại các nước công nghiệp phát triển

Trang 11

THA gây tử vong cả trực tiếp lẫn gián tiếp khoảng gần 30% tổng số tử vong, nhìn chung thì HA tăng ở lứa tuổi càng cao thì tỷ lệ tử vong càng lớn[14]

1.1.3.2 Tình trạng thừa cân béo phì và béo bụng

Chỉ số khối cơ thể (BMI) được sử dụng để chẩn đoán mức độ béo phì (BP), còn chỉ số WHR (tỷ số VB/VM) được sử dụng để chẩn đoán có béo bụng hay không Theo WHO thì béo bụng khi chỉ số WHR > 0,90 ở nam và WHR > 0,80

ở nữ [15]

Theo phân loại của WHO năm 2000 người béo là những người có chỉ số khối BMI > 23 Theo Tiểu ban công tác về béo phì của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương và Hội đái tháo đường châu Á đề nghị thang phân loại béo phì cho người trưởng thành châu Á thì thừa cân khi chỉ số khối BMI > 23

Chỉ số khối BMI có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ khối mỡ trong cơ thể Đã

có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các bằng chứng có liên quan giữa thừa cân với các bệnh tim mạch và THA, khi BMI tăng, thì tỷ lệ người có một hay nhiều các tình trạng bệnh tật cũng tăng lên

1.1.3.3 Thói quen về ăn uống

Một số nghiên cứu quan sát cho thấy ở các quần thể lớn, có thói quen ăn mặn thì tỷ lệ người bị THA cao hơn hẳn so với các quần thể có thói quen ăn nhạt hơn Natri trong chế độ ăn có thể tạo ra từ hai nguồn chính:

Phần cho thêm vào thức ăn (phần này phụ thuộc từng người) và nguồn có sẵn trong thực phẩm (trong quá trình chế biến hay có tự nhiên trong thực phẩm) HATT sẽ tăng theo lượng rượu vào, đặc biệt là những người trên 40 tuổi Nếu uống quá 60g rượu/ ngày thì khả năng THA càng rõ Những người hút thuốc lá trên 10 điếu trong ngày và uống rượu trên 100 ml trong ngày, liên tục trên 3 năm thì có HA cao hơn những người không uống rượu và không hút thuốc [2]

1.1.3.4 Thói quen hút thuốc lá

Trong thuốc lá có Nicotin; Nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch ngoại vi gây THA Hút 1 điếu thuốc lá HATT có thể tăng lên tới 11 mmHg, HATTr tăng lên tới 9 mmHg, kéo dài 20-30 phút Hút nhiều có thể có những cơn THA kịch phát nguy hiểm Nicotin còn làm tăng nhịp tim và THA, tăng nhu cầu oxy của các cơ tim Các oxyt cacbon do hút thuốc lá sinh ra làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu Hút thuốc lá còn là nguồn sản sinh ra các gốc tự do, tăng độ kết dính của tiểu cầu và làm giảm các HDL- c [4]

Hút thuốc lá là một yếu tố đe doạ quan trọng của bệnh, vì nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở người THA có hút thuốc cao hơn 50-60% so với những người THA không hút thuốc [15]

Trang 12

1.1.4 Những triệu chứng tăng huyết áp có thể có như [11]

+Đau đầu dữ dội

xơ vữa động mạch và làm hẹp mạch vành Khi bị hẹp động mạch vành nhiều, người bệnh thấy đau ngực, ngẹn trước ngực khi gắng sức, khi vận động nhiều, leo cầu thang, cơn đau giảm khi người bệnh ngừng gắng sức (triệu chứng bệnh

cơ tim thiếu máu cục bộ) Đau trước ngực có thể lan lên cổ, lan ra tay trái và ra sau lưng Nếu mảng xơ vữa động mạch bị nứt, vỡ thì trong lòng động mạch vành hình thành cục huyết khối, làm tắc động mạch vành làm người bệnh bị nhồi máu

cơ tim Khi bị nhồi máu cơ tim, người bệnh thấy đau dữ dội trước ngực, khó thở, toát mồ hôi, đau có thể lan lên cổ, lan ra tay trái, lan ra sau lưng

- Cao huyết áp làm cơ tim phì đại (cơ tim dầy lên)

- Người bệnh bị nhồi máu cơ tim do cao huyết áp sẽ có một vùng cơ tim bị chết, không thể co bóp được, dẫn đến suy tim Cao huyết áp lâu ngày làm cơ tim phì đại, nếu không được điều trị cao huyết áp cũng sẽ dẫn đến suy tim

* Các biến chứng về não:

- Xuất huyết não: Khi huyết áp lên quá cao, mạch máu não không chịu nổi

áp lực cao có thể bị vỡ, lúc đó người bệnh bị xuất huyết não, gây liệt nửa người, liệt hoàn toàn, nặng thì có thể tử vong (triệu chứng của người bệnh tùy vùng xuất huyết lớn hay nhỏ và tùy vị trí vùng xuất huyết)

Trang 13

- Nhũn não: Cao huyết áp làm hẹp mạch máu nuôi não (tương tự hư mạch vành), nếu mảng xơ vữa bị nứt, vỡ, làm hình thành cục máu đông, làm tắc mạch máu não gây chết 1 vùng não (còn gọi là nhũn não)

- Thiếu máu não: Cao huyết áp làm hẹp động mạch cảnh, động mạch não, làm máu bơm lên não không đủ khiến người bệnh thấy chóng mặt, hoa mắt, có khi bất tỉnh

* Các biến chứng về mạch ngoại vi:

- Cao huyết áp làm động mạch chủ phình to, có thể bóc tách và vỡ thành động mạch chủ dẫn đến chết người

- Cao huyết áp làm hẹp động mạch chậu, động mạch đùi, động mạch chân Khi động mạch chi dưới bị hẹp nhiều, người bệnh đi một đoạn đường thì đau chân, phải đứng lại nghỉ (đau cách hồi)

Đại đa số người bệnh bị cao huyết áp thường không có các dấu hiệu nào cảnh báo trước Quan điểm trước đây cho rằng cứ cao huyết áp là phải có đau đầu, mặt bừng đỏ, béo là hết sức sai lầm Nhiều người bệnh hoàn toàn cảm thấy bình thường, do vô tình khám sức khỏe mới biết bị bệnh Sự xuất hiện triệu chứng đau đầu đã có thể là biến chứng nặng nề của người bệnh cao huyết áp do

bị tai biến mạch máu não Do vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có nguy cơ cao (như lớn tuổi, béo phì, ít vận động, trong gia đình

đã có người thân bị cao huyết áp…) là hết sức cần thiết và quan trọng

Trang 14

Chỉ một số nhỏ (dưới 5%) là cao huyết áp có căn nguyên (tức là do hậu quả của một số bệnh lí khác: như hẹp động mạch thận, có khối u ở tuyến thượng thận…) Trên đa số người bệnh những dấu hiệu thể hiện bệnh không có gì khác biệt so với người bình thường Do vậy, rất nhiều người bệnh cho đến khi bị các biến chứng, thậm chí tử vong mới biết mình bị cao huyết áp hoặc mới hiểu rõ việc khống chế tốt cao huyết áp là quan trọng như thế nào

Cao huyết áp nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình

và xã hội

1.1.6 Chế độ ăn uống và luyện tập cho người bệnh THA

Vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân người bệnh Việc thay đổi lối sống đóng một vai trò quyết định Ví dụ: Tập luyện thể dục thể thao với mức độ phù hợp với từng cá nhân, ít nhất 30 phút/ngày và ít nhất 5 lần/ tuần Chế độ ăn hợp lý, duy trì cân nặng trong giới hạn bình thường

Để làm giảm nguy cơ cao huyết áp cần cố gắng giảm căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày, giảm căng thẳng tại nơi làm việc và trong gia đình Khi đã bị cao huyết áp rồi thì cố gắng tránh ăn mặn Cố gắng tránh rượu, bia, thuốc lá, các thực phẩm có nhiều mỡ động vật Nên ăn nhiều rau, trái cây (ăn nhiều trái cây là tốt đối với người không bị mắc bệnh đái tháo đường)

Trang 15

1.1.6.1 Chế độ ăn cho người bệnh THA

Hình 1.1: Thực phẩm nên dùng cho người bệnh tăng huyết áp

Nguyên tắc chung trong điều trị bệnh tăng huyết áp là phải phối hợp việc thay đổi lối sống và kiểm soát được huyết áp mục tiêu ở mức < 140/90mmHg, những người bệnh có kết hợp tiểu đường hoặc suy tim, suy thận phải kiểm soát huyết áp với huyết áp mục tiêu thấp hơn 130/85mmHg Bên cạnh việc dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, vấn đề ăn uống và tập luyện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc điều trị bệnh và phòng ngừa biến chứng của bệnh Trong những trường hợp mới bị tăng huyết áp ở mức độ nhẹ chỉ cần điều chỉnh chế độ

ăn và tăng cường tập luyện đã cải thiện đáng kể tình trạng bệnh (còn gọi là chế

độ điều trị tăng huết áp không dùng thuốc)

Người bị tăng huyết áp cần phải ăn nhạt, không quá 5-6g muối ăn/ngày ăn mặn sẽ gây giữ nước trong máu, gây tăng huyết áp Cần hạn chế ăn nhiều các thức ăn chế biến sẵn như giò, chả, đồ xông khói, các món muối, tẩm ướp, vì trong quá trình chế biến thường cho nhiều muối Ví dụ trong 3-4 lát bánh mỳ gối

đã chứa tới 2g muối ăn

Cần hạn chế tối đa chất béo trong khẩu phần ăn Không ăn thịt mỡ, bơ, loại

bỏ hết mỡ nhìn thấy trong quá trình chế biến, không ăn nước xào, canh xương, canh cá chưa vớt hết váng mỡ, không ăn da các loại gia súc, gia cầm, hạn chế ăn

Trang 16

dầu thực vật vì có chứa nhiều calo, uống sữa đã tách bơ Hạn chế tối đa dùng đường, bánh kẹo ngọt, uống rượu bia, không hút thuốc lá.Tăng cường ăn rau quả xanh, trái cây, chú ý ăn các thức ăn có chứa nhiều kali và magiê và các nguyên

tố vi lượng khác như khoai tây, rong biển, chuối, dưa hấu.Nếu người bị tăng huyết áp và thừa cân thì phải thực hiện chế độ ăn giảm calo, điều chỉnh cân nặng

về mức hợp lý

* Chế độ ăn được khuyến cáo hiện nay

Hình 1.2: Chế độ ăn, luyện tập cho người bệnh tăng huyết áp

Trang 17

- Người bệnh cao huyết áp nên :

+ Ăn chậm, nhai kỹ;

+ Ăn nhiều vào buổi sáng, tránh ăn nhiều vào buổi tối

+ Có thể nhịn ăn một buổi mỗi tuần và thay bằng uống nước trái cây

+ Giảm bớt kích cỡ các bữa ăn

- Hạn chế thức ăn nhiều năng lượng trong bữa ăn của người bệnh cao huyết

áp

+ Đường glucose, đường mía, chocolate, bánh kẹo ngọt sẽ dẫn đến béo phì

+ Ăn thịt nạc, bỏ da;

+ Ăn các món luộc, hấp, kho, nướng thay cho chiên, quay, xào;

+ Hạn chế thịt đỏ (thịt bò, thịt heo), bánh ngọt, nước ngọt, thực phẩm chứa nhiều chất béo bão hòa hay cholesterol (mỡ, nội tạng, da động vật, lòng đỏ trứng gà)

+ Hạn chế ăn nhiều thịt gà: Thịt gà chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, ăn nhiều sẽ khiến cho cholesterol và huyết áp tăng cao Do đó, không nên cho rằng thịt gà là thứ bổ dưỡng cho mọi người bệnh, nhất là người cao huyết áp Người cao huyết áp ăn nhiều thịt gà sẽ làm cho bệnh nặng hơn

+ Không nên ăn nhiều protein động vật: Người bị huyết áp cao kỵ dùng phủ tạng động vật (như gan, tim, bầu dục…) vì trong quá trình trao đổi, chất này sinh ra độc tố làm huyết áp bất ổn

- Thực phẩm người bệnh cao huyết áp nên dùng

+ Tăng cường các loại thực phẩm như: ngũ cốc thô, tôm, cá, gia cầm (bỏ da), đậu, hạt (hạnh nhân, đậu phộng, đậu lăng, hạt hướng dương)

+ Chế độ ăn giàu rau quả, ngũ cốc giúp giảm mỡ, giúp điều hòa huyết áp

Đó là nhờ vào chất xơ có trong các loại thực phẩm này Các chất xơ, nhất là chất

xơ tan trong nước, có khả năng hút nước và trương nở lên đến 8-10 lần trọng lượng ban đầu, qua đó có thể kết dính và đào thải nhiều cặn bã và chất độc hại ra khỏi cơ thể Đặc biệt, chất xơ cũng thu hút những acid mật do cơ thể sản sinh ra

để tiêu hóa các chất béo và đào thải chúng ra ngoài theo đường ruột Điều này buộc cơ thể huy động đến kho dự trữ cholesterol ở gan để tạo ra những acid mật mới dẫn đến hạ độ cholesterol Ăn nhiều rau quả còn giúp bảo đảm chế độ nhiều

Trang 18

potasium (kali) và ít sodium (Natri), yếu tố vô cùng quan trọng việc ổn định huyết áp Nhiều loại rau quả như: chuối, khoai tây, bơ, dưa hấu, đậu nành có lượng kali rất cao Tuy nhiên, khi chế biến rau quả tránh trộn thêm bơ hay sốt mayonaise

+ Uống sữa không chất béo

+ Tăng huyết áp thế bơ động vật bằng bơ thực vật (magarin)

* Ăn nhạt cho người bệnh huyết áp cao

- Natri làm tiết ra nhiều dịch tế bào, dẫn đến tim đập nhanh, huyết áp cao

- Natri khiến cho các mạch máu trở nên hẹp hơn so với bình thường, sẽ cản trở quá trình lưu thông máu, ảnh hưởng tới quá trình vận chuyện máu đến tim, gây nên chứng cao huyết áp

- Nhu cầu Na+ ở trẻ em và người lớn 200mg, trong khi, thông thường, hàng ngày chúng ta ăn vào 4.000 – 6.000mg (tương đương 10g-15g muối, lượng Na+ chiếm 40% trong NaCl) tức là cao hơn nhiều so với nhu cầu

- Mục tiêu: Giảm lượng muối tiêu thụ < 5g/ ngày, người bị cao huyết áp chỉ nên ăn khoảng 2-3g

+ Hạn chế ăn muối, nếm muối khi chế biến thức ăn

+ Giảm những thức ăn mặn như mắm, tương, dưa, cà…

+ Giảm 1 số thói quen của người Á Đông như chấm muối, chấm nước mắm

bị cao huyết áp nên kiêng uống rượu

- Nhiều nghiên cứu gần đây đều cho thấy mỗi ngày dùng khoảng 100g rượu vang đỏ sẽ có lợi cho hoạt động của hệ tim mạch Quả nho và rượu nho, đặc biệt

là trong vỏ nho và hạt nho có hàm lượng nhiều chất chống oxy hoá có thể giúp

Trang 19

làm tăng độ cholesterol tốt, giảm cholesterol xấu, bảo vệ thành mạch máu để phòng chống các loại bệnh tim mạch

- Hút thuốc làm tăng nhịp tim, tăng huyết áp và làm giảm lượng oxy cần thiết đến các tế bào và các cơ quan đồng thời làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch

- Trong cà-phê có chất gọi là caphê in, uống nhiều sẽ kích thích nhịp đập của tim, làm tăng huyết áp

- Người bệnh cao huyết áp nên kiêng uống trà đặc, nhất là hồng trà đặc vì

nó có nhiều chất kiềm, có thể làm cho đại não hưng phấn, bất an, mất ngủ, tim đập loạn nhịp, huyết áp tăng cao Trái lại, uống chè xanh lại có lợi cho việc điều trị bệnh cao huyết áp

- Kiêng dùng các thức ăn có vị cay hoặc thức ăn tinh (bột mỳ, các loại bánh ngọt ) vì chúng làm cho việc đại tiện khó khăn, dẫn đến táo bón Khi đại tiện khó khăn huyết áp sẽ tăng, từ đó có nguy cơ xuất huyết não [16]

* Tăng cường các yếu tố bảo vệ người bệnh tăng huyết áp qua chế độ ăn

- Thực phẩm giàu K(cà chua, khoai lang, nho, các loại đậu, chuối, khoai tây, bơ, nước ép cà chua, nước bưởi, dưa leo (chuột), nho, táo…), giúp làm giảm cao huyết áp

- Những thực phẩm có tính chất an thần, lợi tiểu nhẹ như: rau cải, cà chua, bầu bí, khóm, mía , cam, khoai lang, khoai tây, khoai môn, đậu xanh, đậu đen… (500g - 600g rau trái, 30-40g đậu đỗ/ngày) có thể làm hạ huyết áp

- Ngoài ra, ăn vài tép tỏi trong mỗi bữa ăn có tác dụng kiện tỳ, giải độc, tăng cường lưu thông khí huyết, hỗ trợ hạ huyết áp và cải thiện độ mỡ trong máu

- Ăn canh mộc nhĩ, khổ qua cũng có tác dụng rất tốt để giải độc, cải thiện

Trang 20

bão hòa có nhiều trong mỡ động vật, bơ, pho mát… Các nhà khoa học khuyên: khẩu phần ăn hàng ngày ( tính theo mức cung cấp năng lượng) không quá 1/10 là lượng mỡ bão hòa Vì vậy, nên ăn nhiều cá, hải sản và giảm các loại thịt đỏ như: thịt lợn, thịt bò; ăn giảm mỡ động vật và lòng đỏ trứng vì chúng có hàm lượng

mỡ bão hòa cao, là nguồn gốc phát sinh ra các chứng xơ vữa Do đó, các nhà khoa học khuyên nên chuyển dần chế độ ăn nhiều thịt sang ăn nhiều cá và đạm thực vật Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật, các loại dầu thực vật, dầu cá và một số hạt có chất béo như: hạt mè, hạt hướng dương, hạt hạnh nhân Acid béo omega-3 trong cá và các lạo hạt này có tác dụng làm hạ cholesterol xấu, tăng lượng cholesterol tốt và giảm nguy cơ máu đông Những loại hạt này còn có nhiều loại khoáng chất cần thiết để điều hòa huyết áp như magie

Nhiều nghiên cứu khoa học khác cho biết: chất xơ trong rau quả và những loại ngũ cốc thô như: gạo lức, bắp lức, các loại đậu có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm hạ huyết áp Các chất xơ, nhất là chất xơ tan trong nước, có khả năng hút nước và trương nở lên đến 8- 10 lần trọng lượng ban đầu, qua đó có thể kết dính và đào thải nhiều cặn bã và chất độc hại ra khỏi cơ thể Đặc biệt, chất xơ cũng thu hút những acid mật do cơ thể sản sinh ra để tiêu hóa các chất béo và đào thải chúng ra ngoài theo đường ruột Điều này buộc cơ thể huy động đến kho

dự trữ cholesterol ở gan để tạo ra những acid mật mới vì vậy làm giảm cholesterol máu Các loại đậu, nhất là đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành với nhiều chất xơ, chất khoáng và Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống tăng huyết áp những chất chống oxy hóa

Ngoài chất xơ và những vi chất khác, ăn nhiều rau quả còn giúp bảo đảm chế độ ăn có nhiều kali và ít natri là yếu tố vô cùng quan trọng giúp ổn định huyết áp Nhiều loại củ quả như: khoai tây, bơ, dưa hấu, đậu nành có lượng kali rất cao, đặc biệt là chuối ( tỷ lệ Kali/natri: 396/1) Do đó chuối có tác dụng rất tốt trong việc hạ huyết áp và chống đột quỵ

1.1.6.2 Tập luyện thể dục thể thao

Các nhà tim mạch hàng đầu thế giới đã khẳng định rằng tập luyện, rèn luyện sức khoẻ là một trong những phương pháp chữa bệnh bệnh tăng huyết áp hữu hiệu không dùng thuốc Cơ sở sinh lý của rèn luyện sức khoẻ ở người bệnh tăng huyết áp là điều hòa lượng cholesterol máu, kìm chế xơ vữa động mạch,

Ngày đăng: 24/02/2021, 14:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy An (2007), “Tăng huyết áp thầm lặng như thế nào?”, Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, (47),tr.445-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp thầm lặng như thế nào
Tác giả: Đào Duy An
Nhà XB: Tạp chí Tim mạch học Việt Nam
Năm: 2007
2. Nguyễn Thị Chính (2002), Tăng huyết áp đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 1-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim
Tác giả: Nguyễn Thị Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
3. Nguyễn Đức Công, Lê Gia Vinh và cộng sự (2005), “Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc và bề dày lớp mỡ dưới da ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát”, Tạp chí Tim mạch học, (41), tr.488-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc và bề dày lớp mỡ dưới da ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát
Tác giả: Nguyễn Đức Công, Lê Gia Vinh, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Tim mạch học
Năm: 2005
4. Phạm Tử Dương (2004), Bệnh tăng huyết áp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tăng huyết áp
Tác giả: Phạm Tử Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
5. Đoàn Dư Đạt, Đặng Thị Quận và cộng sự (2005), “Nhận xét các yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp tại khoa Tim mạch Bệnh viện Uông Bí – Quảng Ninh năm 2003 – 2004”, Tạp chí Tim mạch học, (41), tr.514-23.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét các yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp tại khoa Tim mạch Bệnh viện Uông Bí – Quảng Ninh năm 2003 – 2004
Tác giả: Đoàn Dư Đạt, Đặng Thị Quận, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Tim mạch học
Năm: 2005
6. Tô Văn Hải (2002), “Điều tra về tăng huyết áp động mạch ở cộng đồng Hà Nội, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học”, Tạp chí Tim mạch học 29, tr. 105- 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra về tăng huyết áp động mạch ở cộng đồng Hà Nội, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học”, "Tạp chí Tim mạch học
Tác giả: Tô Văn Hải
Năm: 2002
7. Nguyễn Đức Hoàng, Dương Vĩnh Linh (2004), “Nghiên cứu tỉ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Hương Xuân huyện Hương Trà, Thừa Thiên, Huế. Kỷ yếu toàn văn các đề tai khoa học”, Tạp chí Tim mạch học 37, tr. 26-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỉ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Hương Xuân huyện Hương Trà, Thừa Thiên, Huế. Kỷ yếu toàn văn các đề tai khoa học
Tác giả: Nguyễn Đức Hoàng, Dương Vĩnh Linh
Nhà XB: Tạp chí Tim mạch học
Năm: 2004
8. Hội Tim mạch học Việt Nam (2006), “Khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán , điều trị, dự phòng tăng huyết áp ở người lớn”.Khuyến cáo về các bệnh tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006-2010, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 1-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán , điều trị, dự phòng tăng huyết áp ở người lớn
Tác giả: Hội Tim mạch học Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
9. Phạm Gia Khải (2003), “Nghiên cứu theo chiều dọc tăng huyết áp vô căn ở người lớn “, Bộ Y Tế- Viện Tim mạch học Việt Nam 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu theo chiều dọc tăng huyết áp vô căn ở người lớn “
Tác giả: Phạm Gia Khải
Năm: 2003
10. Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt, Phạm Thái Sơn và cộng sự (2003), “Tỉ lệ tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ ở các tỉnh phia Bắc Việt Nam 2001- 2002”. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam; 33:9 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ ở các tỉnh phia Bắc Việt Nam 2001- 2002
Tác giả: Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt, Phạm Thái Sơn
Nhà XB: Tạp chí Tim mạch học Việt Nam
Năm: 2003
11. Phạm Gia Khải và cs (2000). “Đặc điểm dịch tễ học bệnh THA tại Hà Nội. Kỷ yếu toàn văn các đề tai khoa học”, Tạp chí Tim mạch học 29, tr. 258-282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học bệnh THA tại Hà Nội. Kỷ yếu toàn văn các đề tai khoa học
Tác giả: Phạm Gia Khải, cs
Nhà XB: Tạp chí Tim mạch học
Năm: 2000
12. Phạm Khuê (2000), “Tăng huyết áp”, Bách khoa thư Bệnh học- tập 1, Nhà xuất bản từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.265-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp
Tác giả: Phạm Khuê
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển bách khoa
Năm: 2000
13. Phạm Thị Kim Lan (2002), “Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ của người tăng huyết áp tại nội thành Hà Nội”, Luận văn tốt nghiệp BS chuyên khoa II – Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ của người tăng huyết áp tại nội thành Hà Nội”
Tác giả: Phạm Thị Kim Lan
Năm: 2002
14. Bùi Quang Kinh (1999), Bệnh tăng huyết áp,cách phòng và điều trị, Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tăng huyết áp,cách phòng và điều trị
Tác giả: Bùi Quang Kinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 1999
15. WHO/ISH (1999), " Hướng dẫn của WHO/ISH - 1999 về tăng huyết áp", Đặc san thời sự tim mạch học 7/1999, tr. 3-33.* Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn của WHO/ISH - 1999 về tăng huyết áp
Tác giả: WHO/ISH
Nhà XB: Đặc san thời sự tim mạch học
Năm: 1999
16. Ekind MS, Sacco RL. (1998), “Stroke risk factors and stroke prevention”, Semin Neurol, (18),pp.429- 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stroke risk factors and stroke prevention
Tác giả: Ekind MS, Sacco RL
Nhà XB: Semin Neurol
Năm: 1998
17. Kearney PM., Whelton M., Whelton PK., et al (2005), “Global burden of hypertension : analysis of worldwide data”, Lancet,365(9455), pp.217-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global burden of hypertension : analysis of worldwide data
Tác giả: Kearney PM., Whelton M., Whelton PK
Nhà XB: Lancet
Năm: 2005
18. Makris M.(2000), “Hyperhomocysteinemia and thrombosis”, Clin. Lab. Haem, 2000,(22), pp.133-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hyperhomocysteinemia and thrombosis
Tác giả: Makris M
Nhà XB: Clin. Lab. Haem
Năm: 2000
19. Paul K. Whelton (2004), “Epidemiology and the prevention of hypertension”, J Clin Hypertens,6(11),pp.636-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology and the prevention of hypertension
Tác giả: Paul K. Whelton
Nhà XB: J Clin Hypertens
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w