1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng nhận thức giới tính của giáo viên và học sinh lớp 5 ở trường tiểu học phú hòa 1, thành phố thủ dầu một, bình dương

69 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Nhận Thức Giới Tính Của Giáo Viên Và Học Sinh Lớp 5 Ở Trường Tiểu Học Phú Hòa 1, Thành Phố Thủ Dầu Một, Bình Dương
Tác giả Nguyễn Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Quỳnh Như, Võ Tường Vi
Người hướng dẫn TS Đỗ Thị Nga
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Sư Phạm Tiểu Học
Thể loại Báo Cáo Tổng Kết Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 484,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với cách giáo dụctoàn diện có sự thống nhất giữa nhà trường và gia đình cùng thái độ thẳng thắn, khôngngại ngùng của phụ huynh và giáo viên, cách nhìn nhận vấn đề của trẻ cũng vô tư, coi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

BÌNH DƯƠNG

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC GIÁO DỤC

Bình Dương, 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

BÌNH DƯƠNG THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC GIÁO DỤC

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thanh Nhàn Nam, Nữ: Nữ

Trang 3

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Thực trạng nhận thức giới tính của giáo viên và học sinh lớp 5 ở trường

Tiểu học Phú Hòa 1, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.

- Sinh viên thực hiện:

1 Nguyễn Thanh Nhàn (trưởng nhóm)

- Lớp: D13TH04 Khoa: Sư Phạm

-Năm thứ:3 Số năm đào tạo: 4

2 Nguyễn Thị Thanh Phương

- Lớp: D13TH04 Khoa: Sư Phạm

-Năm thứ: 3 Số năm đào tạo: 4

3 Nguyễn Thị Quỳnh Như (MSSV: 1321402020155)

- Lớp: D13TH04 Khoa: Sư Phạm

-Năm thứ: 3 Số năm đào tạo: 4

4 Võ Tường Vi

- Lớp: D13TH04 Khoa: Sư Phạm

-Năm thứ: 3 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: TS Đỗ Thị Nga

2 Mục tiêu đề tài:

Tìm hiểu thực trạng nhận thức giới tính của HS lớp 5 ở trường tiểu học Phú

Hòa 1 từ đó đưa ra những giải pháp để giáo dục giới tính cho các em.

3 Tính mới và sáng tạo:

Đề xuất những giải pháp mới nhằm giáo dục giới tính cho học sinh

Trang 4

4 Kết quả nghiên cứu:

Báo cáo kết quả đề tài “Thực trạng nhận thức giới tính của giáo viên và họcsinh lớp 5 ở trường Tiểu học Phú Hòa 1, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương”

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng

và khả năng áp dụng của đề tài:

Tìm ra những giải pháp giáo dục giới tính mới góp phần nâng cao giáo dục giớitính cho học sinh Tiểu học nói chung và trường Tiểu học Phú Hòa 1 nói riêng

Ngày tháng năm

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực

hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Trang 5

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Nguyễn Thanh Nhàn

Sinh ngày: 30 tháng 08 năm 1995

Nơi sinh: Sông Bé

Lớp: D13TH04 Khóa: 2013 - 2017

Khoa: Sư Phạm

Địa chỉ liên hệ: 53/13 khu phố Bình Phước A, phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An,Bình Dương

Điện thoại: 0989550702 Email: thanhan.nguyen3008@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm

Trang 6

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1 Nguyễn Thị Quỳnh Như 1321402020155 D13TH04 Sư phạm

2 Nguyễn Thị Thanh Phương 1321402020180 D13TH04 Sư phạm

Trang 7

Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn lãnhđạo Trường Đại Học Thủ Dầu Một đã tạo mọi điều kiện về vật chất, tài liệu tham khảo,kinh phí giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại lớp, thư viện,khoa,

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn cô ĐỗThị Nga, cô là người đã trực tiếp hướng dẫn, đóng góp ý kiến, tìm ra những sai sót, tậntâm chỉ bảo và định hướng cho chúng tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, thực hiện vàhoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban Giám Hiệu, quýthầy cô và toàn thể các em học sinh khối lớp 5 trường Tiểu học Phú Hòa 1 thuộcThành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã cùng hợp tác, giúp đỡ chúng tôi thuthập số liệu, thông tin trong suốt khoảng thời gian tìm hiểu tại trường

Con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình, những người luôn theo sát, giúp đỡ con cả về thể chất cũng như tinh thần, luôn tạo điều kiện tốt nhất để con có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình

Với nền kiến thức còn hạn chế,bài viết không tránh khỏi những sai sót rất mong nhận được những lời góp ý của Quý thầy cô để đề tài nghiên cứu của mình được hoàn thiện và có thêm những kinh nghiệm quý báu nhất.

Một lần nữa chúng tôi xin chân thành được cảm ơn!

Bình Dương, ngày tháng năm 2016

Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài

LỜI CẢM ƠN

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nhận thức giới tính của HS lớp 5 3

4.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Phú Hòa 1 có 175 em học sinh 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Giả thuyết nghiên cứu 4

7 Tiến độ thực hiện đề tài……… …………4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục giới tính 5

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 6

1.2 Các khái niệm liên quan 8

1.2.1 Khái niệm giới 8

1.2.2 Sự phát triển giới về phương diện xã hội tâm lý 9

1.2.3 Sự phát triển của yếu tố sinh học giới 10

1.2.4 Khái niệm giới tính 11

1.2.5 Khái niệm giáo dụcgiới tính 12

1.2.6 Khái niệm nhận thức 13

1.2.7 Khái niệm nhận thức giới tính 14

1.3 Lệch lạc giới tính và biểu hiện của lệch lạc giới tính 16

1.4 Nội dung của giáo dục giới tính 17

1.5 Đặc điểm tâm sinh lí của tuổi tiểu học 19

1.6 Tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính đối với sự phát triển nhân cách học sinh 22

1.7 Nhiệm vụ của giáo dục giới tính ở trường tiểu học 23

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đôi nét về trường Tiểu học Phú Hòa 1 27

2.2 Thực trạng giáo dục giới tính ở trường tiểu học Phú Hòa 1 27

Trang 9

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề giáo dục giới tính 27

2.2.1.1 Quan điểm của giáo viên về vấn đề tích hợp giáo dục giới tính vào các môn học khác 27

2.2.1.2 Quan điểm của giáo viên về độ tuổi bắt đầu việc giáo dục giới tính 28

2.2.1.3 Những khó khăn thường gặp trong việc GDGT cho học sinh đối với giáo viên 29

2.2.1.4 Quan điểm của giáo viên về trách nhiệm GDGT 30

2.2.1.5 Quan điểm của giáo viên về việc trẻ không được GDGT 31

2.2.2.Thực trạng nhận thức của học sinh về vấn đề giáo dục giới tính 31

2.2.2.1 Nhận thức chung của học sinh về dấu hiệu của tuổi dậy thì 31

2.2.2.2 Nguồn cung cấp những kiến thức về giới tính cho học sinh 33

2.2.2.3 Nhận thức của học sinh về việc nên làm để giữ gìn vệ sinh cơ thể tuổi dậy thì 34

2.2.2.4 Những nhận thức cụ thể của học sinh về những đặc điểm, dấu hiệu của cơ thể 35

2.2.3 Thực trạng nhận thức của phụ huynh học sinh về vấn đề giáo dục giới tính.36 2.2.3.1 Nhận thức của phụ huynh học sinh về vấn đề giới tính 36

2.2.3.2 Mức độ trao đổi các vấn đề giới tính giữa phụ huynh và học sinh 37

2.2.3.3 Nhận thức về nguồn cung cấp những hiểu biết về giới tính cho quý phụ huynh 38

2.2.3.4 Thái độ của phụ huynh khi con của mình dậy thì sớm 39

2.3 Giải pháp nâng cao công tác giáo dục giới tính cho học sinh 40

2.3.1 Đối với phụ huynh 40

2.3.2 Đối với giáo viên 41

2.3.3 Đối với học sinh 41

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 43

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 45

1 Kết luận: 45

2 Kiến nghị 47

2.1 Đối với nhà trường 47

2.2 Đối với gia đình 47

2.3 Đối với xã hội 47

Trang 10

Thạc sĩ

Số lượngNhận thức giới tínhGiáo viên

Trung học cơ sởTrung học phổ thông

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, xu hướng dậy thì sớm ở trẻ ngày càng gia tăng trong độ tuổi tiểu học.Đặc biệt các bé gái có dấu hiệu phát triển cơ thể từ trước tuổi lên mười Đây là độ tuổicác em còn gặp nhiều khó khăn bởi sự phát triển không đồng đều giữa hai mặt tâm lý

và sinh lí, chưa sẵn sàng với những thay đổi trong cơ thể Nhiều em rơi vào tình trạnghoang mang, khủng hoảng tâm lí

Nguyên nhân trẻ dậy thì sớm ở trẻ có thể là do thời tiết, dinh dưỡng và sự pháttriền của xã hội đã kích thích sự phát triển của con người Thức ăn của chúng chấtlượng hơn,chúng có nhiều thời gian nghỉ ngơi, chơi thể thao, không bị phát triển mấtcân đối do lao động nặng trước tuổi Bên cạnh đó, thế giới mỗi ngày một đa dạng,phức tạp hơn, hàng loạt các hàng quán được mọc lên với đầy đủ các loại hình như:game, chat, cafe, phim ảnh, đang ngày càng xâm nhập vào lứa tuổi học sinh nóichung và học sinh tiểu học nói riêng

Chương trình giáo dục giới tính hay bị bố mẹ né tránh cho rằng giáo dục giớitính là việc của nhà trường và xã hội Nhưng thực tế hiện nay ở trường học, việc giáodục giới tính chưa được thực hiện đến nơi đến chốn nên học trò đang phải tiếp cậnkiến thức một cách “nửa vời” Nếu như ở cấp tiểu học học sinh học về giới tính ở lớpnăm thì lên cấp Trung học cơ sở, phải đợi tới lớp tám, giáo dục giới tính mới trở lại,chủ yếu nằm ở môn sinh học như cơ quan sinh dục nam/nữ, thụ tinh/thụ thai và pháttriển thụ thai, cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai Tới cấp Trung học phổthông, học sinh đều đã bước vào tuổi trưởng thành thì giáo dục giới tính lại chỉ đượcdạy theo kiểu “lồng ghép” qua các môn giáo dục công dân, văn học, địa lý, sinh học.Theo cô giáo Nguyễn Thị Phương, Phó Hiệu trưởng trường tiểu học Đoàn Thị Điểmtại Hà Nội nói rằng giáo dục giới tính bắt đầu được Bộ GD-ĐT đưa vào giảng dạy chohọc sinh từ lớp năm Cụ thể, trong sách Khoa học lớp năm, các em đã được học về

“sinh sản", phân biệt giới tính "nam hay nữ", "Cơ thể chúng ta hình thành như thếnào?" Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn đề giới tính hiện chưa hấp dẫn và vẫn mang nặngkiến thức khoa học nhiều hơn là tâm lý

Trang 12

Ở một số nước phương Tây, người ta giáo dục kiến thức về giới tính cho họcsinh từ rất sớm, giáo dục giới tính đưa vào nhà trường như một môn học bắt buộc,khoảng Chín, Mười tuổi, thậm chí là từ bậc mẫu giáo, bởi đó là cả một quá trình tìmhiểu, phát triển và tiếp thu các kiến thức phù hợp với từng lứa tuổi Với cách giáo dụctoàn diện có sự thống nhất giữa nhà trường và gia đình cùng thái độ thẳng thắn, khôngngại ngùng của phụ huynh và giáo viên, cách nhìn nhận vấn đề của trẻ cũng vô tư, coi

đó như một kiến thức vô cùng bình thường và tiếp nhận một cách tự nhiên, để khibước vào tuổi vị thành niên, những kiến thức quan trọng về giới tình, tình dục, sinhsản trở nên ‘bình thường’ hơn Đến lứa tuổi vị thành niên, nhà trường còn phát bao cao

su cho học sinh sau những buổi học về giới tính, quan hệ tình dục, sinh sản,… Khôngphải là vẽ đường cho hươu chạy, mà là phòng bệnh hơn chữa bệnh Xã hội phương Tâyquan niệm rằng những sự phát triển đó là tự nhiên, không nên ngăn cấm các em tìmhiểu về giáo dục giới tính, bởi nếu bị ức chế, kìm hãm quá và không hiểu biết về vấn

đề, hậu quả sẽ còn khôn lường hơn.Không chỉ các nước phương Tây mà ngay cả một

số nước trong khu vực lân cận như Malaysia, Singapore, Philippines, … cũng đã bắtđầu áp dụng các phương pháp giáo dục giới tính cho trẻ từ sớm.[14]

Ở Mỹ, họ dạy cho trẻ em ngay từ lớp Ba, lớp Bốn, từ những cái rất đơngiản:dạy cho trẻ biết yêu cơ thể mình, phân biệt những đặc điểm giới tính, trẻ con sinh

ra từ đâu Đến mười bốn, mười lăm tuổi thì các em bắt đầu được giáo dụcvề quan hệtình dục, làm sao để quan hệ tình dục có trách nhiệm và an toàn, phương pháp tránhthai, phòng tránh bệnh tật, đối phó với tình huống bị lạm dụng tình dục…[15]

Còn ở Việt Nam, dường như những điều này còn quá xa lạ Những giờ học vềgiới tính ở các trường học còn rất hiếm hoi, việc giảng dạy vẫn theo nguyên tắc lồngghép với các môn khác, cả cô trò đều ngại ngùng, không có giáo viên và không có cáctiết học chuyên biệt về vấn đề này Trong gia đình, ít bậc cha mẹ nào giảng giải chocon cái mình những kiến thức về giới tính Sai lầm của phụ huynh là luôn có tâm líchờ đợi cũng như giao phó việc giáo dục giới tính cho nhà trường Trong khi, thầy cô ởtrường cũng e ngại dẫn đến học sinh có thể bị ảnh hưởng bởi những mặt tích cực, tiêucực của thế giới bên ngoài hoặc ảnh hưởng bởi những trào lưu, ngộ nhận sai lệch vềquan niệm trong tình yêu, giới tính, cuộc sống….Vì thế không phải đến tuổi dậy thì gia

Trang 13

đình, nhà trường mới dạy về giới tính cho các em mà phải bắt đầu trong suốt giai đoạntuổi thơ của các em để trẻ từ từ nhận thức rõ nét dần và có phương pháp chăm sóc, bảo

vệ mình

Vì vậy, là một giáo viên tiểu học tương lai chúng tôi chọn đề tài “ Thực trạng nhận thức giới tính của giáo viên và học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học Phú Hòa 1, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương” làm đề tài nghiên cứu vì đây là một vấn đề

mang tính cấp thiết cần đưa giáo dục giới tính vào các trường tiểu học để từ đó giúpcác em hình thành tri thức về tâm sinh lí và các vấn đề về giới tính của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng về việc nhận thức giới tính của GV và HS lớp 5 ở trường

tiểu học Phú Hòa 1 từ đó đề ra những giải pháp để giáo dục giới tính cho các em được

tốt hơn

3 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Tìm hiểu thực trạng nhận thức giới tính của GV và HS lớp 5

- Phân tích một số yếu tố tác động đến nhận thức của HS lớp 5 về vấn đề giáo dụcgiới tính

- Đưa ra một số giải pháp về vấn đề nghiên cứu góp phần nâng cao việc giáo dụcgiới tính cho các em HS tiểu học

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nhận thức giới tính của GV và HS

lớp 5

4.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Phú Hòa 1 có

175 em học sinh

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Trên cơ sở những kiến thức về tâm lý,

giáo dục học về các vấn đề liên quan đến nhận thức giới tính Phân tích, tổng hợp cáctài liệu, các công trình nghiên cứu về nhận thức giới tính cho học sinh tiểu học Từ đó

hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 14

+ Phương pháp quan sát: Nhóm nghiên cứu tiến hành quan sát các hoạt động giáodục giới tính cho HS của trường Phú Hòa 1 trong năm học và quan sát có mục đíchbằng cách dùng biên bản quan sát ghi nhận các thông tin quan sát về: Biểu hiện tâm lý,thái độ và cách cư xử của các em học sinh thông qua các hoạt động như là thảo luậnnhóm, giao tiếp với bạn cùng giới và khác giới như thế nào…

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng bảng khảo sát giáo viên, phụhuynh, HS để tìm hiểu thực trạng nhận thức giới tính tại trường Tiểu Học Phú Hòa 1.+ Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS for windows để xử lýcác thông tin trong phiếu điều tra

6 Giả thuyết nghiên cứu.

Hiện nay, giáo dục giới tính là vấn đề nhạy cảm ở các trường tiểu học Một sốtrường chưa tổ chức tốt về việc quản lý, tập huấn và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụcho giáo viên, thiếu đội ngũ giáo viên tham gia giáo dục về giới tính ở lứa tuổi tiểu họcnên chưa mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục giới tính cho học sinh Nếu ở lứatuổi tiểu học hiện nay các trường tiểu học áp dụng các phương pháp giảng dạy, giáodục giới tính cho trẻ thì các em có thể nhận thức rõ hơn về các vấn đề phát triển về mặtsinh lí của các em, để từ đó các em có thể áp dụng những hiểu biết đúng đó vào đờisống hằng ngày của các em

7 Tiến độ thực hiện đề tài: 2015-2016

Trang 15

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục giới tính

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài.

Trong khi, ở các nước Phương Đông còn nhiều khó khăn trong việc giáo dụckiến thức về giới tính cho trẻ do những rào cản văn hóa truyền thống thì ở các nướcphương Tây thì vấn đề này lại rất cởi mở và được rất được quan tâm, được giáo dụcngay từ nhỏ

Ở Anh, Trẻ mầm non được học về giới tính Việc này được quy định trong phápluật nước Anh, cụ thể là trẻ em khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu được học về giới tính như mộtmôn bắt buộc cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở.[8]

Ở Malaysia trẻ em sẽ học giới tính từ khi lên Bốn Malaysia là một trong nhữngquốc gia tiên phong tại khu vực Đông Nam Á về công tác phổ cập giáo dục giới tínhcho trẻ em Chương trình học của các bé sẽ do Bộ Phát triển Phụ nữ, Gia đình và Cộngđồng, Bộ Giáo dục, những chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ biên soạn.[9]

Ở Thuỵ Điển là một trong những quốc gia tiên phong trong việc giáo dục giớitính cho trẻ em Những chương trình giáo dục giới tính cho học sinh đã được ThuỵĐiển triển khai từ năm 1942.Năm 1966, Thụy Điển đã chính thức đưa “Giáo dụcphòng tránh thai” và nhiều hoạt động khác về giáo dục giới tính lên truyền hình, phá

vỡ sự ngại ngùng cho phụ huynh khi trò chuyện với con em về vấn đề này “Giáo dụcphòng tránh thai” cung cấp đầy đủ kiến thức về phòng tránh thai cho các em ngay từkhi còn nhỏ Từ đó, các em sẽ biết cách tự bảo vệ mình để không bị lạm dụng về tìnhdục cũng như mang thai ngoài ý muốn.[10]

Nếu như tại nhiều quốc gia khác, cha mẹ thường cảm thấy ái ngại và bối rối,không biết phải mở lời với các con như thế nào về chủ đề giới tính thì tại Hà Lan, chủ

đề này được các gia đình đề cập đến rất thường xuyên trong những lúc quây quần bênnhau Hà Lan còn là một trong những nước có tỉ lệ mang thai tuổi vị thành niên thấpnhất trên thế giới (khoảng 0,5%)

Trang 16

Ở Pháp giáo dục giới tính được bắt buộc học vào năm 1973, quy định số giờdạy là 30 – 40 giờ của một học kì.

Ở Đức giáo dục giới tính được bắt buộc học vào năm 1970 Năm 1972 giáo dụcgiới tính được luật pháp quy định là trách nhiệm của chính phủ

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Ở Việt nam nhiều thập kỉ trước đây vấn đề giáo dục giới tính vẫn còn hạn chếbởi các phong tục, tập quán và được xem là điều “cấm kỵ” do đó người ta cảm thấykhó nói về vấn đề tình dục, giới tính, giáo dục giới tính nên việc nghiên cứu giáo dụcgiới tính hầu như né tránh và chưa được phổ biến

Ở Việt Nam tỉ lệ giáo dục giới tính trong trường học rất thấp Trong 10 năm gầnđây giáo dục giới tính đã được chú ý đẩy mạnh theo tinh thần của chỉ thị ngày24/12/1984 của chủ tịch hội đồng bộ trưởng về việc “xây dựng chính khóa, ngoại khóanhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về giới tính, về hôn nhân gia đình, dạycon cái và thực nghiệm ở trung học phổ thông”

Từ những năm 1980, công tác giáo dục giới tính ở nước ta bắt đầu được quantâm và được nghiên cứu trong một số các báo cáo khoa học giáo dục, các chuyên đề,các bài nghiên cứu

Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trường PhạmVăn Đồng ký đã nêu rõ: “ Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tổngcục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan, xây dựng chương trình chính khóa

và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, vềhôn nhân và gia đình và nuôi dạy con cái”

Năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, tình yêu,hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố như: Các tác giả Đặng Xuân Hoài, TrầnTrọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Nho, Bùi Ngọc Oánh,

Lê Nguyễn, Phạm Ngọc, Minh Đức, đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chitiết của giới tính và giáo dục giới tính Nhiều công trình nghiên cứu bước đầu làm cơ

sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh Những công trình này nêulên rất nhiều vấn đề phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở ViệtNam

Trang 17

Trong năm 1985 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp với côngđoàn ngành Đại học tổ chức hội thảo về vấn đề giới tính cho sinh viên các trường Đạihọc, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ Đoàn, các Bộ tuyên huấn ở các trườngĐại học và Trung học chuyên nghiệp ở các tỉnh phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh

về vấn đề giáo dục giới tính, trong đó khẳng định sự cần thiết của giáo dục giới tínhcho thanh niên và học sinh Tuy nhiên nội dung giáo dục giới tính vẫn chưa thực sựthỏa mãn nhu cầu của nhiều người

Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ đã triển khai phong trào giáo dục: “ Ba triệu

bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, giáo dục giới tính được đề cập đến việc giáodục con cái ở tuổi dậy thì Mặc dù vậy nó chỉ mang tính chất “ phong trào”

Năm 1988, đề án với quy mô nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giớitính cho học sinh có kí hiệu VIE/88/P09( gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chínhphủ, Bộ giáo dục và Đào tạo Viện khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và chophép thực hiện với sự tài trợ của chương trình Quỹ dân số Liên hiệp quốc( viết tắt làUNFPA) và UNESCO khu vực

Các công trình nghiên cứu giới tính hiện nay: Bài nghiên cứu '' Sức khỏe sinhsản thanh thiếu niên Việt Nam '' nằm trong chương trình điều tra ban đầu của RHIYA(Sáng kiến sức khỏe thanh thiếu niên châu Á ) do Tác giả Nguyễn Thị Thiềng, Tác giảLưu Bích Ngọc thực hiện [18] Bài viết “Người lớn là rào cản khi giáo dục giới tính”của tác giả Lê Hiền đăng trên báo Thanhnien online [19] Bài viết thuộc bản quyền củaviện Xã hội học của tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên viết về vấn đề “giáo dục giới tínhcho trẻ em trong gia đình” [20] Tác giả Đào Thị Vân Anh thuộc trung tâm Nghiên cứuGiáo dục Phổ thông cũng đã có bài viết “Cha mẹ với việc giáo dục giới tính trong giađình” [21] Bài viết “Giáo dục giới tính và thái độ của người lớn”của Tác giả ThụyAnh đăng trên wedsite Tuoitre.vn [22] Đề tài nghiên cứu khoa học “Nhận thức về việcgiáo dục giới tính của bậc cha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên” của sinh viên Lê ThịThu Hiền của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn [3]

Hiện nay, vấn đề giáo dục giới tính ở bậc tiểu học thì không được quan tâmnhiều Những năm gần đây việc giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học bắt đầu đượcbắt đầu được đưa vào chương trình học (môn khoa học lớp 5) nhưng chưa thực sựnhiều và thõa mãn được sự tìm hiểu của học sinh gây sự tò mò về sự phát triển của cơthể Bài nghiên cưu trên đây tìm ra các biện pháp giúp cho việc nâng cao giáo dục giới

Trang 18

tính cho học sinh trong nhà trường tiểu học nói chung và trường Tiểu học Phú Hòa 1,Thủ Dầu Một – Bình Dương nói riêng.

Trang 19

1.2 Các khái niệm liên quan

1.2.1 Khái niệm giới.

Theo hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam: giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò vàmối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ

em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểmgiới rất đa dạng và có thể thay đổi được.[11]

Theo wikibooks: Giới là khía cạnh chỉ về sự kiến tạo xã hội về văn hóa đối với

sự khác biệt giữa nam và nữ, nói cách khác giới là khái niệm chỉ đặc trưng xã hội gáncho nam và nữ Giới có các đặc điểm:

-Một phần bị quy định bởi giới tính, qua ảnh hưởng của 2 hoocmon Estrogen vàTestosteron

-Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà mang tính tập nhiễm

-Có tính biến thiên, có thể thay đổi bởi nhiều tác động

-Đa dạng, phong phú về nội dung, hình thức và tính chất

-Đặc điểm của giới

Theo Công đoàn công thương Việt Nam thì giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò củanam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội Những khác biệt về mặt sinh học giữanam và nữ là không thể thay đổi được Những đặc điểm có thể hoán đổi cho nhau giữanam và nữ được coi là thuộc về khía cạnh Giới Ví dụ: Phụ nữ cũng có thể mạnh mẽ vàquyết đoán Phụ nữ có thể trở thành lãnh đạo, phi công, thợ máy/kỹ sư… Ngược lạinam giới có thể dịu dàng và kiên nhẫn, có thể làm đầu bếp, nhân viên đánh máy, thưký… Những đặc điểm có thể hoán đổi đó là những khái niệm, nếp nghĩ và tiêu chuẩnmang tính chất xã hội Đó là sự khác biệt về Giới và nó thay đổi theo thời gian, khônggian…[16]

Theo tạp chí điện tử Thanh Niên Việt thì giới là một khái niệm xã hội học dùng

để chỉ đặc trưng quan hệ xã hội giữa nam và nữ Giới nói đến các đặc điểm về xã hội,liên quan đến vị trí, tiếng nói, công việc của phụ nữ và nam giới trong gia đình và xãhội Giới đề cập giá trị, việc phân công lao động hay các kiểu phân chia nguồn lực vàlợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể Chẳng hạn, khi nói đến phụ

Trang 20

nữ và nam giới, chúng ta thường nghĩ và hình dung về họ rất khác nhau về tính cách,cũng như ngành nghề mà phụ nữ và nam giới thường làm.[17]

Tóm lại có rất nhiểu định nghĩa về giới Nhưng trong bài nghiên cứu này chúng

tôi chọn cách hiểu “Giới là thuật ngữ đề cập đến các đặc điểm, vị trí, vai trò, mối quan hệ về mặt xã hội giữa nam và nữ, giữa trẻ em trai và trẻ em gái”

1.2.2 Sự phát triển giới về phương diện xã hội tâm lý.

Khi đứa trẻ ra đời sẽ nhanh chóng bị những yếu tố xã hội về giới gây ảnhhưởng Trẻ nhận ra mình là trai hay gái không phải bởi do cấu tạo cơ thể mà là do cáchđối xử của người lớn đối với chúng

Sự phát triển giới về phương diện xã hội- tâm lý của trẻ em nói chung, trẻ tiểuhọc nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn của giáo dục và văn hóa gia đình Trẻ càng nhỏthì ảnh hưởng về giáo dục giới của cha mẹ càng lớn Bố mẹ càng khuyến khích hoặckhông đồng tình với hành vi giới của trẻ thì trẻ càng nhanh tiếp thu và thể hiện vai giới

mà cha mẹ mong muốn

Bên cạnh gia đình, đối với trẻ em các lứa tuổi học sinh thì sự tác động củanhóm bạn cùng tuổi và của các phương tiện truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng.Ngoài ra, sự nhận thức và nhập vai giới về phương diện xã hội – tâm lý của trẻ em cònchịu sự tác động của yếu tố văn hóa trong cộng đồng.[4.160]

Theo chuyên viên tâm lý Trần Đăng Thảo, Văn phòng tư vấn Tổng đài 1088thành phố Hồ Chí Minh, tuổi dậy thì trung bình bắt đầu từ 10 đến 13 tuổi Lúc này cơthể các em có những thay đổi rõ ràng về mặt thể chất, kéo theo đó là những biến đổi vềmặt tâm lý, tình cảm

Về mặt tâm lý, tình cảm, trẻ ở tuổi tuổi vị thành niên sớm, bắt đầu hình thành tưduy trừu tượng và dần trưởng thành trong suy nghĩ,trẻ thường dễ rơi vào trạng thái lolắng, buồn rầu về những nhược điểm trên cơ thể mình Các em bắt đầu phát triển tưduy trừu tượng một cách rõ rệt và thích tò mò về những hành vi liên quan đến tìnhdục.Các em manh nha ý thức được mình không còn là trẻ con nữa nên mong muốnđược cha mẹ và người khác tôn trọng mình như một "người lớn thực thụ" Lúc này trí

tò mò thôi thúc trẻ có những hành động vượt ra khỏi khuôn khổ nhằm khám phánhững điều mới lạ để khẳng định mình đã lớn Đặc biệt các bé gái thường trở nên nhạy

Trang 21

cảm thái quá, dễ lo lắng, buồn rầu về những nhược điểm trên cơ thể của mình Đặcbiệt, các em luôn thích khám phá tò mò về cơ quan sinh dục và các hành vi liên quanđến tính dục Chính sự thay đổi về hormone và các đặc điểm sinh học của cơ thể đãthôi thúc các em quan tâm nhiều hơn đến bạn bè và nảy sinh tình cảm với bạn khácgiới Nhu cầu mở rộng "quan hệ xã hội" này cho thấy mong muốn tách khỏi sự bảo hộcủa bố mẹ, gia đình để từng bước khẳng định bản thân của trẻ.

Đây là giai đoạn phát triển mạnh về tư duy trừu tượng, kỹ năng phân tích vànhận thức cao hơn về hành vi của mình Do suy nghĩ còn non nớt nên các em không ýthức được những hậu quả từ hành vi của mình Vì thế lúc này cha mẹ cần quan tâm,dạy con biết chọn bạn mà chơi, không nên giao du với những đối tượng xấu

Chuyên viên tâm lý Đăng Thảo nhìn nhận, nhu cầu tìm hiểu về tâm sinh lý vàgiới tính của bản thân trẻ giai đoạn này là chính đáng và phù hợp sự phát triển lứa tuổi.Tuy nhiên phụ huynh vẫn còn tâm lý e ngại, tránh nói chuyện với con về nhữngchuyện tế nhị này Vì thế để thỏa mãn trí tò mò, trẻ thường tự lên mạng tìm hiểu hoặchọc hỏi từ bạn bè Đa phần những thông tin mà trẻ tìm được mang tính "kích thích bảnnăng" hơn là giáo dục giới tính Hơn nữa khi tự tìm hiểu trên mạng, trẻ rất dễ sa đà vàonhững trang web có nội dung xấu, đồi trụy, dẫn đến những nhận thức lệch lạc về tìnhyêu và tình dục

Vì thế, trong giai đoạn này cần có sự kết hợp kịp thời giữa gia đình và nhàtrường trong việc giáo dục về giới tính để trẻ bước vào giai đoạn đầu đời để trẻ có đủkiến thức và phương pháp để bảo vệ chính bản thân mình

1.2.3 Sự phát triển của yếu tố sinh học giới.

Trong suốt thời kì từ sơ sinh đến trước tuổi dậy thì ( khoảng 11-12 tuổi), các cơquan sinh dục của bé trai và gái phát triển bình thường nếu sự tiết hoocmônTestosterone không bị rối loạn

Khi đạt đến tuổi dậy thì các yếu tố sinh học lại một lần nữa can thiệp mạnh mẽvào sự phát triển giới của các em Một lượng lớn hoocmôn giới tính được tiết ra, kíchthích sự phát triển mạnh mẽ của các cơ quan sinh dục, xuất hiện những đặc tính giớithứ cấp và những nhu cầu giới trở nên cấp thiết Những sự kiện này kết hợp với khảnăng ý thức về bản thân đã giúp cho trẻ dậy thì nhận dạng giới tính bản thân và lựa

Trang 22

chọn giới tính một cách chắc chắn Trong các trường hợp trẻ trai bị hội chứng nữ hóathì đến tuổi dậy thì do lượng hoocmon nam tiết ra rất lớn dẫn đến cơ quan sinh dụcngoài có thể trở thành của nam Những bé gái bị hội chứng nam hóa có nhiều biểu hiệnnam tính hơn các bạn khác Điều này bộc lộ khá rõ ở tuổi trưởng thành.

Như vậy có thể nói yếu tố sinh học đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển giớicủa cá nhân Nhiểu công trình nghiên cứu về sự thay đổi giới tính do phẫu thuật đềucho thấy xu hướng quay trở lại giới tính ban đầuhoặc nhiều khó khăn về giới trongcuộc sống.[4.159]

1.2.4 Khái niệm giới tính.

Theo wikibook: Giới tính (sex) là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ vềmặt sinh học, gen và các yếu tố di truyền khác Giới tính có các đặc điểm:

-Bị quy định hoàn toàn bởi gen cụ thể là hai cặp nhiễm sắc thể XX và XY.

Trong đó XX là nữ và XY là nam

-Là yếu tố bẩm sinh, có ngay từ khi mới lọt lòng.

-Không phụ thuộc vào thời gian, không gian nào cụ thể Ở bất cứ nơi nòa trên

thế giới, vào bất kì giai đoạn lịch sử nào cũng đều giống nhau

-Là biểu hiện thể chất bên ngoài có thể quan sát được.

-Gắn chặt với chức năng sinh học, đặc biệt đối với nữ là tái tạo con người và

nuôi con

-Biến đổi theo quy luật sinh học, không phụ thuộc vào ý muốn của con người.

Theo từ diển tiếng việt: Giới tính là sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.Giới tính: là một khái niệm xuất phát từ môn sinh vật học chỉ các đặc điểm về

cơ thể, liên quan đến chức năng sinh sản của phụ nữ và nam giới Đây là những đặcđiểm khác biệt chỉ có ở phụ nữ hoặc nam giới Cụ thể là phụ nữ mang thai, sinh con,cho con bú, nam giới có râu, sản xuất ra tinh trùng để thụ thai… Những khác biệt nêutrên giữa phụ nữ và nam giới gọi là khác biệt sinh học, mang tính tự nhiên Khác biệtsinh học quan trọng nhất là phụ nữ và nam giới có chức năng sinh sản khác nhau: phụ

nữ mang thai, sinh con, cho con bú, còn nam giới có tinh trùng làm cho phụ nữ thụthai Sự khác biệt sinh học giữa phụ nữ và nam giới được gọi là giới tính.[12]

Trang 23

Giới tính dùng để nói về mặt cấu tạo sinh học của một con người là chính Baogồm cả bộ phận sinh dục ngoài (dương vật, âm vật ) và bộ phận hay đặc điểm sinhdục bên trong (nhiễm sắc thể, hoóc-môn, buồng trứng, tử cung )

Từ đây, chúng ta có người có giới tính Nam (Male), giới tính Nữ (Female) hayngười Liên giới tính (Intersex) - người cấu tạo sinh học không điển hình là nam haynữ.[13]

Nhìn chung có rất nhiều khái niệm về giới tính Tuy nhiên, trong nghiên cứu

của chúng tôi thì chúng tôi chọn cách hiểu “Giới tính chỉ giống đực hay cái, phái nam hay nữ của những sinh vật, trong đó có loài người.Giới tính là những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ”

1.2.5 Khái niệm giáo dục giới tính.

Theo Wikipedia: Giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng, miêu tả việc giáodục về giải phẫu sinh dục, sinh sản, quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệtình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai và các khía cạnh khác của thái

độ tình dục loài người Những cách giáo dục giới tính thông thường và thông qua cha

mẹ, người chăm sóc, các chương trình trường học và các chiến dịch sức khỏe cộngđồng

Theo Từ điển bách khoa về giáo dục: Giáo dục giới tính là giáo dục chức nănglàm một con người có giới tính, điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cáchcông khai và đầy đủ ở lớp từ nhà trẻ đến đại học, giúp học sinh cảm thấy an toàn và tự

do trong việc biểu hiện cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính

Theo Tác giả Huỳnh Văn Sơn ( Khoa tâm lý, Trường Đại học Sư Phạm Thànhphố Hồ Chí Minh), giáo dục giới tính hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nhiều nội dungnhư: Giáo dục việc phân biệt giới tính của mình với người khác, giáo dục kỹ năng tựbảo vệ bản thân, giáo dục về giới tính tuổi dậy thì, giáo dục về tình bạn – tình yêu, tâm

lý – tâm sinh lý hôn nhân…

Còn theo Tác giả Bùi Ngọc Oánh – Trung tâm tư vấn tình yêu và giáo dục hônnhân gia đình, thực tế, giáo dục giới tính là sự giáo dục toàn diện vào nhân cách conngười, đó là quá trình tác động vào con người, làm cho họ có nhận thức và thái độđúng đắn, đầy đủ về giới tính và quan hệ giới tính, hướng hoạt động của họ vào việcrèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới của họ, có quan hệ tốt và

Trang 24

phù hợp với người khác giới, chuẩn bị cho họ biết cách tổ chức tốt nhất cuộc sốngriêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển.

Tóm lại có rất nhiểu định nghĩa về giáo dục giới tính Nhưng trong bài nghiên

cứu này chúng tôi chọn cách hiểu“Giáo dục giới tính là quá trình tiếp nhận đúng đắn

về giới tính cũng như một số vấn đề liên quan đến giới tính, từ đó hình thành kiến thức

về giới tính từ đó có lối sống đúng, cuộc sống hạnh phúc hơn”

1.2.6 Khái niệm nhận thức.

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin: nhận thức là quá trình phản ánh biệnchứng của hiện thực khách quan vào bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động,sang tạo, trên cơ sở thực tiễn

Theo từ điển “Bách Khoa Việt Nam”: nhận thức là quá trình biện chứng của sựphản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, từ đó con người không ngừng tưduy và tiến gần đến khách thể.[29]

Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của conngười đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đếnthực tiễn.[30]

Theo quan điểm duy tâm, không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ýthức, do đó không thừa nhận nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan

- Duy tâm chủ quan, tất cả mọi cái đang tồn tại lả phức hợp những cảm giác củacon người Do đó, nhận thức theo họ, chẳng qua là sự nhận thức cảm giác, biểu tượngcủa con người

- Duy tâm khách quan, mặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới,song coi nhận thức cũng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự

tự nhận của ý niệm, tư tưởng tồn tại ở đâu đó ngoài con người

- Thuyết hoài nghi nghi ngờ tính xác nhận của tri thức, biến sự nghi ngờ thànhmột nguyên tắc nhận thức, thậm chí chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thếgiới bên ngoài

- Thuyết không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới Đối với họ, thếgiới không thể biết được, lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn

Trang 25

của cảm giác ra, con người không thể biết được gì nữa Quan điểm của thuyết hoàinghi và thuyết không thể biết đã bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự hiểu biết của loài người.

Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật siêu hình: Thừa nhận con người có khả năngnhận thức thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc conngười Tuy nhiên do hạn chế bởi tính siêu hình máy móc và trực quan nên chủ nghĩaduy vật trước C.Mác đã không giải quyết được thật sự khoa học những vấn đề của lýluận nhận thức Nhìn chung chủ nghĩa duy vật trước C.Mác chưa thấy đầy đủ vai tròthực tiễn đối với nhận thức.[31]

Tóm lại có rất nhiểu định nghĩa về nhận thức Nhưng trong bài nghiên cứu này

chúng tôi chọn cách hiểu “Nhận thức là quá trình con người tìm hiểu thế giới tự nhiên Trong quá trình này, con người lý giải vạn vật theo từng giai đoạn nhận thức của mình Từ đó tìm ra quy luật vận động phát triển, thay đổi và tiến hóa, bản chất và hình thức, hình thành và tiêu vong của thế giới vật chất và tinh thần.”

1.2.7 Khái niệm nhận thức giới tính.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Nhận thực giới tính (tiếng Anh: genderidentity), còn gọi là bản dạng giới, nhân dạng giới tính, là giới tính tự xác định của mộtngười Nhận thực giới tính không nhất thiết dựa trên giới tính sinh học hoặc giới tínhđược người khác cảm nhận và cũng không phải là thiên hướng tình dục Nhận thựcgiới tính có thể là: nam, nữ, người chuyển giới, không phải nam không phải nữ

Khái niệm Bản dạng giới và khái niệm thiên hướng tình dục là khác nhau Chẳng hạn, khi một người có giới tính khi sinh ra là nam, tự xác định giới tính (bản dạng giới) của mình là nữ và người này có sự hấp dẫn tình yêu, tình dục với người nam thì người đó không thuộc thiên hướng tình dục đồng tính luyến ái (đây là "Người chuyển giới" có xu hướng tình dục dị tính luyến ái) Ngược lại, một người đồng tính luyến ái nam thì người đó vẫn có sự xác định và biểu hiện giới tính của mình là nam (trùng với giới tính lúc sinh ra của họ), không phải sự xác định giới tính bên trong người đó là nữ, nhưng người này vẫn có sự hấp dẫn tình yêu, tình dục với người nam một cách lâu dài

Khái niệm nhận thực giới tính cũng khác với khái niệm thể hiện giới tính Không phải tất cả những người có sự xác định giới khác với giới tính lúc sinh ra thì

Trang 26

đều thể hiện giới tính đó ra bên ngoài bởi lý do xã hội hay những quy tắc xung quanh.[26]

Theo Hội ủng hộ hôn nhân đồng tính tại Việt Nam cho rằng: Bảng Dạng Giới(Dựa trên the Genderbread Person) được chia thành các dạng như sau:

-Nhận dạng giới: Nhận dạng giới là cách mà bạn nghĩ trong đầu bạn thuộc giới tínhnào Nó xuất phát từ não bộ, suy nghĩ của bạn Bạn nghĩ mình là Nam? Hay là nữ?Genderqueer là những người nghĩ họ không thuộc giới tính nào, hoăc chưa rõ giớitính, hoặc nghĩ mình có hai ba giới tính, hoặc lúc nghĩ mình là nam, lúc nghĩ mình là

nữ, hoặc thuộc một giới tính thứ ba chưa được đặt tên

-Thể hiện giới: Thể hiện giới là cách bạn thể hiện giới tính của bạn tự do, không épbuộc (dựa trên những quy định truyền thống về vai trò giới) qua cử chỉ, ăn mặc, hành

vi và tương tác với mọi người, mọi vật Bạn có thể nữ tính hoặc nam tính theo quanđiểm của bạn Androgynous là các thể hiện giới không thuộc một giới nào, lúc namtính, lúc nữ tính hoăc nữ tính và nam tính cùng một lúc

-Giới tính sinh học: Giới tính sinh học dựa vào cơ quan sinh dục, hooc-mon vànhiễm sắc thể Gái = âm vật, buồng trứng, NST XX; Trai = dương vật, tinh hoàn, NST

XY Buồng trứng sản sinh ra nhiều mon nữ, tinh hoàn sản sinh ra nhiều mon nam Lưỡng tính là người vừa có cơ quan sinh dục nữ, vừa có cơ quan sinh dụcnam, khi sinh ra, cha mẹ thường sẽ chọn giới tính cho người lưỡng tính

hooc Xu hướng tình dục, tình cảm: Xu hướng tình dục/tình cảm là sự hấp dẫn giới tínhdựa trên giới tính của bạn về cảm xúc, tinh thần, thể chất Bạn thích người khác giớigọi là dị tính Bạn thích người cùng giống gọi là đồng tính Bạn thích cả hai giới tính

là song tính.[27]

Theo giáo dục đào tạo: Nhân dạng giới tính hay còn gọi là bản dạng giới tính,

là giới tính tự thừa nhận của một người, có thể khác với giới tính sinh học hoặc giớitính do những người khác đánh giá về người đó Nhận dạng giới tính của một người cóthể là nam, nữ, đồng tính, hoặc không phải nam lẫn nữ

Trang 27

Ví dụ như một người về đặc tính sinh học là nam, nhưng bản thân họ tự nhậnthức mình là nữ Như vậy nhân dạng giới tính của họ là nữ, đồng thời mọi cử chỉ, hànhđộng của họ đặc trưng của phái nữ Họ có cảm tình và quan hệ với nam giới Nhưngkhác với người đồng tính, người đồng tính khi sinh ra tự ý thức được về giới tính sinhhọc của mình là nam hay nữ Họ biết giới tính của mình về mặt sinh học, cư xử và thểhiện đặc trưng của giới tính đó nhưng lại có xu hướng tình dục với những người cócùng giới tính với mình.

Trong nhiều trường hợp, vì những lí do ngoại cảnh, biểu hiện mà một số người

có sự ngộ nhận về giới tính của mình Đa số họ vì có một lí do nào đó mà nghĩ mình

có một dị biệt về giới tính so với cấu tạo sinh học ( tự nghĩ mình là người đồng tínhmặc dù không phải thế) [28]

Như vậy có rất nhiều khái niệm về nhận thức giới tính Tuy nhiên, trong nghiên

cứu của chúng tôi thì chúng tôi chọn cách hiểu :“Nhận thức giới tính là quá trình con người tìm hiểu những đặc điểm riêng biệt về giới tính giữa nam và nữ Trong quá trình này con người lí giải đặc điểm riêng biệt về giới tính tùy theo giai đoạn nhận thức của mình Từ đó tìm ra quy luật phát triển và hình thành được bản chất riêng biệt về giới tính.”

1.3 Lệch lạc giới tính và biểu hiện của lệch lạc giới tính

Hiện tượng lệch lạc giới tính là điều có thể xảy ra trong quá trình phát triển của trẻ.Dưới 3 tuổi, ở trẻ chưa thể hiện rõ ràng xu hướng giới tính, do vậy, sẽ là bình thườngnếu đôi khi trẻ bắt chước hành vi của cảhai giới Bắt đầu từ tuổi dậy thì (10 - 11 tuổi),trẻ được coi là lệch lạc giới tính khi không nhận ra một cách chính xác bản sắc giớitính của mình(không có cảm xúc là con gái hay là con trai), vì thế lúng túng trong việc

ăn mặc, cư xử xã hội Cũng có một số trẻ lệch lạc giới tính thể hiện ở chỗ có nhữngcảm xúc xao xuyến với các bạn đồng giới và không có những cảm xúc tương tự vớicác bạn khác giới

Theo bài báo Lệch lạc giới tính ở thanh thiếu niên đã đưa ra rất nhiều nguyên

nhân dẫn đến hiện tượng lệch lạc giới tính Trước tiên nguyên nhân của lệch lạc giớitính là do yếu tố sinh học đó là do bẩm sinh di tryền là do sự biến đổi hooc môn Nếuthực sự căn nguyên là yếu tố này thì việc điều trị là hoàn toàn không được mà cũngkhông nên điều trị vì như dân gian thường nói “ trời sinh ra thế” Người mắc chứng

Trang 28

này cũng rất đau khổ bởi họ phải sống trong một thể xác là giới khác mà không phải làhọ.

Nguyên nhân quan trọng thứ hai là do yếu tố tâm lý xã hộitác động và làm biếnđổi giới tính ở cá nhân đó Các nhà chuyên môn gọi đây là hiện tượng đồng tính luyến

ái giả

Một số bạn có vấn đề về lệch lạc giới tính do tập tính gây nên các bạn ngay từnhỏ thường bắt trước những hành vi của người khác giới Đó có thể là một thần tượngcủa bạn có thể là hình mẫu mà bạn quan tâm và yêu thích … Do đó ngay cả khi cónhận thức vẫn không thể phân biệt rõ ràng giới tính của mình Vì vậy hành vi thườnggiống như người khác giới như bé trai thường thích mặc váy, thích chơi búp bê, … Bégái thường thích mặc đồ con trai, thích chơi trò chơi con trai,… Lớn hơn chút nữa thìbiểu hiện về tình cảm cũng giống người khác giới …

Nhiều gia đình khi chỉ sinh được trẻ là con một giới nam hoặc nữ thường có ýnghĩ và sự ham muốn đứa trẻ trong bụng là đứa khác giới Ở Việt nam tàn dư của chế

độ phong kiến vẫn còn nhiều cặp vợ chồng luôn có áp lực về việc sinh con trai Chính

vì vậy khi người mẹ mang thai hay khi sinh đứa trẻ ra rồi khi không là giới nam hay

nữ mà mình mong đợi thường vẫn nghĩ đó là đứa trẻ mang giới mà mình mong ước.Chính tâm lý đó ám ảnh các bậc phụ huynh vàđiều đó trở thành vô thức của cha mẹ vàngay cả đứa trẻ Ngay cả khi đứa trẻ ra đời mọi suy nghĩ sinh hoạt các bậc phụ huynhđều đối sử với trẻ như là đứa trẻ không phải giới đó Điều đó vô hình chung tạo cho trẻmột ý nghĩ mình là giới đối lập chứ không phải giới mình đang mang

Nhiều trẻ sống trong một môi trường thiếu thốn tình cảm nhiều trẻ có hoàn cảnhbạo lực gia đình quấy rối ….Vì vậy khi nhận được sự chia sẻ của người khác thườngrơi vào tâm lý cảm thông và đồng cảm Có nhiều em gái khi điện đến Trung tâm nóirằng các em cảm thấy quý mến một bạn cùng giới vì cảm thấy bạn ấy có thể chia sẻvới mình có thể là chỗ dựa tình cảm mà các bạn khác giới lại không thể có được Tâm

lý hụt hẫng thiếu thốn tình cảm cộng với một nhân cách không ổn định thường rất dễrơi vào trạng thái thích và yêu người cùng giới

1.4 Nội dung của giáo dục giới tính.

GDGT có mục tiêu lớn là giáo dục trẻ trở thành con người phát triển toàn diện:

Có đạo đức phù hợp với kì vọng của xã hội, có tri thức khoa học, có sức khỏe Để

Trang 29

hoàn thành mục tiêu lớn ấy, giáo dục sức khỏe sinh sản có vai trò quan trọng vì nógiúp trẻ khám phá chính bản thân, biết tự bảo vệ và hưởng hạnh phúc trong cuộc sốngsau này Không riêng ở nước ta mà ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhữngvấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản cho vị thành niên đang nổi lên như những quantâm lớn của cộng đồng vì các lí do sau:

Trước hết, vì bối cảnh xã hội hiện đại có nhiều nguy cơ đe dọa sức khỏe sinh sảncủa vị thành niên nhất là ở những nước đang phát triển, nhiều cám dỗ và hoàn cảnhtiêu cực có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của tuổi vị thành niên( đua đòi lối sốnghưởng thụ, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc, ); sự đe dọa thường trực của nguy cơlây nhiễm HIV/AIDS mà vị thành niên chưa ý thức được đầy đủ; sự cần thiết phàikhống chế gia tăng dân số mà tuổi vị thành niên cần phải được giáo dục để có thể nhậpcuộc có hiểu quả; những nổ lực của xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo

vệ nòi giống và xây dựng nếp sống có văn hóa càng đòi hỏi phải quan tâm đến vịthành niên Những điều tra, khảo sát ở nước ta trong những năm gần đây về hành vitình dục đã cung cấp những thông tin đáng lo ngại: Quan hệ tình dục sớm dẫn đến hậuquả là gia tăng tỉ lệ nạo thai, mang thai, sinh đẻ cùng với những biến chứng tích thời

và lâu dài của những động thái này Nếu vị thành niên hành động theo bản năng thôthỉn, không phù hợp với những giá trị văn hóa, đạo đức thì sẽ ảnh hưởng đến hiều mặtcủa đời sống sức khỏe – đạo đức – phong tục tập quán – chất lượng nòi giống – kiểmsoát dân số - cũng như mối quan hệ nam nữ lành mạnh và có trách nhiệm

- Giáo dục sức khỏe sinh sản vừa đem lại lợi ích vừa phát huy được tiềm năngcủa chình vị thành niên Lợi ích trước tiên đối với tuổi vị thành niên là lớp người trẻtuổi, số đông đã sẵn có một vốn kiến thức cơ bản vể tự nhiên và xã hội, có nhu cầu cao

về hiểu biết, dễ tiếp thu những cái được coi là tiến bộ và hiện đại có thể trở thànhnhững tuyên truyền viên, những hạt nhân của cuộc vận động dân số và phòng chốngAIDS một cách tích cực nhất Từ đó, vị thành niên có hành trang kiến thức về sứckhỏe sinh sản – một nội dung quan trọng trong việc chuẩn bị để trở thành con ngườiphát triển toàn diện

Vì vậy, GDGT cho thanh thiếu niên đã trở thành một vấn đề cần được ưu tiênkhẩn cấp và cần tiếp tục sự duy trì sự quan tâm bằng cách: Nâng cao nhận thức về sứckhỏe cho vị thành niên, giúp họ có trách nhiệm trong hành vi tình dục, ý thức đượcnhững nguy cơ của nạo thai không an toàn, bảo đảm tiếp cận với thông tin, phát triển

Trang 30

chương trình giáo dục toàn diện cho vị thành niên cần nâng cao cuộc sống, có nhâncách, có niềm tin vào giá trị tích cực,bảo vệ sức khỏe,

Có thể nói rằng sự tiếp cận giáo dục sức khỏe sinh sản ở Việt Nam đã bắt đầu từthập niên 60 khi nhà nước phát động cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch Sau đó, với

sự ra đời của các văn bản như Luật hôn nhân và gia đình( bổ sung năm 1986), Luậtbảo vệ sức khỏe( năm 1989), Vì việc giáo dục sức khỏe sinh sản đã phát triển hơn vớinhiều hình thức.[2.157]

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam về vấn đề Giáo dục giới tính thì: Giáo dụcgiới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh dục, sinh sản,quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản, và các tráchnhiệm, việc tránh thai và các khía cạnh của thái độ tình dục loài người Giáo dục giớitính có thể được dạy một cách không chính thức, như nhận được thông tin từ ai đó từmột cuộc trò chuyện với bạn bè, anh chị em, các buổi vấn đàm, hội thảo….hay quatruyền thông, các trang mạng Ngày nay, hầu hết các quốc gia nhất là ở những nướcphát triển đã thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề giới tính nên đã đưa vào trongcác chương trình học tại các trường tiểu học hay trung học cơ sở Còn ở Việt Namthìvấn đề đưa chương trình giáo dục giới tính cho học sinh vào chính khóa đã đượcnhắc đi nhắc lại hơn 20 năm qua, nhưng ngành giáo dục vẫn chưa có những "độngthái" cần thiết để thực hiện yêu cầu trên, có thể là do truyền thống Việt Nam còn xemvấn đề giáo dục giới tính là vấn đề tế nhị và không nên nói ra hay giảng dạy nhiều.Chúng ta cần có những biện pháp đẩy mạnh hơn về vấn đề này.[3]

1.5 Đặc điểm tâm sinh lí của tuổi tiểu học.

Theo Việt Báo, thống kê từ năm 1994 trở về sau, tuổi dậy thì ở trẻ em Việt Nambắt đầu sớm hơn Ở giai đoạn này, trẻ thường có nhu cầu tìm hiểu, học hỏi về đời sốngtình cảm, tình dục của người khác phái Tuổi dậy thì bắt đầu từ 12-13 tuổi và chấm dứtvào khoảng 18 tuổi Trong giai đoạn này tính nết của trẻ cũng thay đổi đi đôi với sựphát triển của cơ thể (chiều cao tăng nhanh từ 8-15 cm/năm và kéo dài khoảng 2 năm).Lúc này trẻ luôn có ý muốn tách rời khỏi cha mẹ, có tính độc lập hơn trong nhữngquyết định của mình Đây là lúc mà việc giáo dục giới tính phải được bắt đầu Chúngcần hiều rõ về cơ thể mình hơn, về những sự cố sẽ xảy ra khi có quan hệ tình dục sớm

và nguy cơ nhiễm bệnh nguy hiểm Thông thường người lớn chúng ta hay né tránh

Trang 31

hoặc trả lời không rõ ràng về những điều mà chúng tò mò muốn biết Ngay cả các giáoviên về giáo dục giới tính cũng tỏ ra không mấy nhiệt tình trong việc tìm hiểu và giảiđáp các thắc mắc từ học sinh của mình Người lớn phải nhìn nhận vấn đề này theo khíacạnh tâm lý và khoa học, giáo dục giới tính phải là bước tiếp nối của giáo dục gia đìnhtrong suốt thời gian trẻ hình thành nhân cách Thái độ tích cực của chúng ta sẽ giúp trẻtránh được sai lầm Hướng dẫn, giải thích, chứ không răn đe, kết tội hay lẩn tránh Nênbiết, một khi thắc mắc chưa được giải tỏa thì trẻ sẽ tự đi tìm nguồn thông tin khác(sách báo, tranh ảnh, bạn bè) Dần dần, trẻ không còn tin tưởng ở cha mẹ nữa, trở nênkhép kín và phạm sai lầm một cách đáng tiếc Người lớn nên ứng dụng thực tế để ứng

xử và định hướng cho trẻ thay vì phải lệ thuộc vào phong tục tập quán truyền thống.Tạo cho trẻ những thói quen lành mạnh, rút tỉa kiến thức từ gia đình mình để đủ tự tinvượt qua giai đoạn khó khăn ở tuổi dậy thì Giáo dục giới tính ở học đường là sự bổsung cho những bài học trong gia đình Theo khảo sát thì trẻ rất thích nghe nói về giáodục giới tính Nó giúp trẻ hiểu rõ cơ thể của mình và cả những cảm xúc khác lạ đối vớibạn khác phái Tuy nhiên, hiện nay giáo dục giới tínhở học đường vẫn còn gói gọntrong chương trình môn Khoa học ở cuối cấp I, hay môn Sinh học ở cuối cấp II Tínhthiết thực của môn giáo dục giới tính chưa được nhìn nhận đúng mức khiến các em cóphần mất tự tin do vốn kiến thức còn khiếm khuyết Mà các kiến thức này có liên quanmật thiết với việc ngăn chặn tình trạng có thai sớm, phá thai vô ý thức, và mắc phảicác bệnh truyền nhiễm

Tâm lý chung của trẻ từ 10-12 tuổi đây là lứa tuổi mà chúng ta dễ nhận ra tâmtính, tánh tình của chúng nhất Lứa tuổi này thường hướng ngoại, thích hoạt động vàkhám phá, do đó dễ bị ngoại cảnh lôi cuốn Lứa tuổi chú trọng đến chuyện công bằngnên thiên về luật lệ (khi chơi thì chú trọng luật chơi, khi học thì để ý đến tính toán, vănphạm…) Vì vậy trẻ đã bỏ hẳn những chuyện thần tiên nhưng đồng thời lại ưa thíchchuyện phiêu lưu mạo hiểm Lứa tuổi này trí nhớ đã phát triển mạnh bên cạnh nhữngvấn đề thuộc phái tính Tuy nhiên, chúng thường đánh giá nhau theo những tiêu chuẩnphụ thuộc bên ngoài (con trai : học giỏi, khỏe mạnh, chơi hay, … con gái : tóc dài, mắtto…) Lứa tuổi đã có bạn thân, thường tụ tập thành nhóm chơi với nhau và rất dễ bịảnh hưởng nhau, thích làm nổi (dù là tiêu cực) để khẳng định cái tôi của mình trongnhóm hoặc trong một cộng đồng [23]

Trang 32

Bên cạnh đó còn có sự phát triển về thể chất như:Hệ xương còn nhiều mô sụn,

xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời

kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi củacác em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý

quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.Hệ cơ đang

trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy,nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động

từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực

quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thúvới các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ sinh lý này

mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy củacác em

Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểuhọc hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơisang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn

ra các hoạt động khác nhưhoạt động vui chơi: trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơivới đồ vật sang các trò chơi vận động.Hoạt động lao động: trẻ bắt đầu tham gia laođộng tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhàcửa, Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồngcây, trồng hoa, Hoạt động xã hội: các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào củatrường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,

Trong gia đình, các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể thamgia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neođơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao độngsản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ Trong nhà trường, do nội dung, tích chất, mục đíchcủa các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em vềphương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ýthức học tập tốt Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hộimang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt là các emmuốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình [24]

Trang 33

Theo thạc sĩ, bác sĩ Hoàng Thị Diễm Thúy, Trưởng khoa Thận - Nội tiết, Bệnhviện Nhi Đồng 2, dấu hiệu nhận biết bé gái dậy thì sớm là vú to ở các em dưới 8 tuổi(đang học lớp 2) hoặc có kinh dưới 9 tuổi rưỡi (hết lớp 3).

Bác sĩ cho biết, độ tuổi có kinh ở trẻ gái ngày càng sớm, trung bình cứ hai thế

hệ giảm đi một tuổi Hơn 90% trường hợp dậy thì sớm không có nguyên nhân Còn lạicác trường hợp khác là do có những bất thường vùng dưới đồi, tuyến yên (não),

u bướu buồng trứng…Ngoài ra, thói quen ăn thức ăn nhanh, lối sống ít vận động, xemtivi nhiều, chế độ dinh dưỡng dư thừa cũng góp phần khiến nhiều trẻ dậy thì sớm

Theo ghi nhận, hơn 50% trường hợp dậy thì sớm ở trẻ trai là do tổn thương thầnkinh trung ương, khối u ở não hoặc tổn thương thần kinh mắc phải do viêm nhiễm,phẫu thuật, chấn thương, xạ trị Dậy thì sớm khiến trẻ thấp lùn, các em cũng đối diệnvới nguy cơ bị lạm dụng tình dục, lão hóa sớm Tuy nhiên không phải trường hợp nàocũng cần chữa trị Các bác sĩ khuyến cáo chỉ điều trị can thiệp trên những trẻ bị dậy thìsớm “thật” tức là dậy thì sớm trung ương tiến triển Để chẩn đoán đúng bệnh, đúngnguyên nhân, cần phải thăm khám, đo tuổi xương, xét nghiệm máu, siêu âm tử cung.[25]

1.6 Tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính đối với sự phát triển nhân cách

học sinh.

Theo Sở Y tế Hà Nội cho rằng giáo dục giới tính rất quan trọng trong việc hìnhthành nhân cách của trẻ đang phát triển Xét cho cùng, hoạt động tình dục là một hoạtđộng tạo cho chúng ta thành những người đàn ông hay những người đàn bà, là điềumình định về vai trò giới tính và sinh sản của chúng ta Không có phần nào trong cuộcsống con người không chịu sự ảnh hưởng bằng cách này hay cách khác về giới tính

Khi trẻ đến tuổi trưởng thành thì gia đình và nhà trường sẽ là những người giáo

dục cho chúng hiểu rõ vấn đề này với các câu hỏi là: Chúng sẽ học gì?Chúng học như

thế nào?Chúng học với ai?

Nhiều bậc cha mẹ đã đóng vai trò chính trong việc giáo dục giới tính cho concái họ với hy vọng mang lại cho con cái họ những hiểu biết đúng đắn trước khi chúnghọc từ các bạn đồng trang lứa hay những người lớn tuổi khác

Nhiều cha mẹ không dám lãnh vai trò hướng dẫn con cái về vấn đề này thường dokhông đủ năng lực kiến thức Hay có khi họ e rằng con cái còn quá nhỏ có thể khiến

Trang 34

chúng quen với vấn đề tính dục quá sớm Ngược lại, khi con cái gặp những mẩu tinhoặc chứng kiến các tình huống làm chúng lúng túng, nhưng cảm thấy không thể traođổi với cha mẹ, đâm ra chúng không biết phải theo cách nào

Một số cha mẹ sợ rằng những điều dạy về giới tính ở gia đình và nhà trường cóthể làm tăng sự tò mò của trẻ Họ cho rằng việc này có thể khiến trẻ sớm biết về cácthử nghiệm tính dục.Thực ra sự giáo dục về giới tính có kết quả ngược lại, phần nàogiảm bớt sự tò mò của tuổi trẻ, vì khi đưa vấn đề ra thảo luận công khai, giúp trẻ nhận

ra mặt trái và mặt phải của vấn đề.Những trẻ được cha mẹ quan tâm chỉ dạy về vấn đềnày sẽ dễ dàng bộc bạch với cha mẹ những sự thể mà chúng gặp, giúp chúng giảmthiểu những nguy cơ có thể xảy ra

1.7 Nhiệm vụ của giáo dục giới tính ở trường tiểu học.

Sự thiếu vắng GDGT phù hợp trong gia đình cũng như ở nhà trường, xã hội làmột trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đáng báo động như: mang thai ngoài

ý muốn, phá thai không an toàn, lạm dụng tình dục, Một thực tế bấy lâu nay vẫn tồntại đó là chuyện khi con cái đưa ra câu hỏi về giới tính thì đa số phụ huynh thườnglảng tránh sang chuyện khác, sợ tâm lý “ vẽ đường cho hưu chạy” Nguyên nhân là bởi

họ không biết chia sẻ với con bắt đầu như thế nào và làm sao cho đúng, cho đủ Ở nhà,con trẻ không được bố mẹ trang bị kiến thức về giới, còn với ngành giáo dục, nhữngnăm gần đây đã đưa chương trình này vào giờ học cho học sinh từ lớp 4 nhưng vẫnchưa thật đầy đủ Nhiều giáo viên với tâm lý e ngại khi đề cập tới các vấn đề giới tínhnên không giảng dạy trực tiếp, đi sâu phân tích mà đi giải thích vòng vo, khiến họcsinh vừa tò mò vừa khó hiểu Đối với học sinh bậc THPT, lứa tuổi mà các em đã biếtngại ngùng và xấu hổ, việc học chung giờ giáo dục giới tính giữa các bạn nam và bạn

nữ khiến các em thường rơi vào trạng thái “ không dám nhìn mặt nhau” khi đã biết hếtcác vấn đề của bạn khác giới Hoặc có tình trạng thầy giáo dạy cho học sinh nữ, côgiáo dạy cho học sinh nam về các vấn đề giới tính, sức khỏe sinh sản khiến cả thầy vàtrò đều ngượng ngùng học qua loa đại khái, hoặc giao cho học sinh tự đọc phần kiếnthức đó ở nhà Ở trường thì được trang bị kiến thức kiểu “ nửa kín nửa hở”, về nhà, cácbậc phụ huynh lại càng lúng túng và bỏ qua việc trao đổi về giới tính với con em.Phương tiện internet, phim ảnh chính là cứu cánh mà phần lớn các em học sinh tìm

Ngày đăng: 21/06/2021, 22:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Hữu Dũng (1998), Giáo dục giới tính, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giới tính
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[3] Lê Thị Thu Hiền (2014), Nhận thức về việc giáo dục giới tính của những bậc cha mẹ có con ở độ tuổi vị thành niên, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức về việc giáo dục giới tính của những bậc chamẹ có con ở độ tuổi vị thành niên
Tác giả: Lê Thị Thu Hiền
Năm: 2014
[4] Dương Thị Diệu Hoa (Chủ biên)(2008), Tâm lí học phát triển, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học phát triển
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học SưPhạm
Năm: 2008
[5] Ngọc Hòa (sưu tầm và biên soạn) (2013), Sức khỏe giới tính tuổi vị thành niên, NXB văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe giới tính tuổi vị thành niên
Tác giả: Ngọc Hòa (sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 2013
[6] Bùi Ngọc Oánh (2008), Tâm lí học giới tính và giáo dục giới tính, NXB Giáo dục [7] Sách khoa học lớp 5, NXB Giáo dục.Và một số trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học giới tính và giáo dục giới tính
Tác giả: Bùi Ngọc Oánh
Nhà XB: NXB Giáo dục [7] Sách khoa học lớp 5
Năm: 2008
[2] Đào Xuân Dũng (2012), Giáo dục giới tình dành cho tuổi vị thành niên, NXB tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w