1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khắc phục tình trạng quá tải tại khoa Nội Tổng hợp bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang hiện nay - thực trạng và giải pháp

26 564 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 409,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện có ý ngh a, không chỉ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, nâng cao uy tín và tạo ấn tượng tốt đẹp về phong cách phục vụ, chất lượ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Các hoạt động y tế là phần không thể thiếu được trong xã hội loài người, con người luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không những của bản thân mà của cả gia đình mình Không một ai lại sống mà luôn luôn khoẻ mạnh cả bởi sự thay đổi thường xuyên của môi trường sống cùng với sự vận động của thế giới tự nhiên Các hoạt động y tế mà con người sáng tạo ra cũng chính nhằm mục đích điều hoà những tác động không tốt của môi trường sống tới con người

Do đó, các hoạt động y tế là không thể thiếu được trong đời sống con người Tuy mỗi con người có cuộc sống khác nhau nhưng các hoạt động y tế lại đóng vai trò tác động chung tới từng người nhằm duy trì và phát triển giống nòi Qua những tác động to lớn của y tế tới đời sống con người như vậy cho nên mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội cần phải chú trọng và lấy mục tiêu chăm sóc sức khoẻ cho con người làm gốc, định hướng cho các chương trình kinh tế – xã hội khác

vì một mục tiêu chung là phát triển bền vững Điều này cũng được thể hiện xuyên suốt trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định một cách rõ ràng trong Nghị quyết TW4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII: Con người là nguồn tài nguyên quí báu nhất của xã hội, con người quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó sức khoẻ là vốn quí nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Do vậy, với bản chất nhân đạo và định hướng xã hội chủ ngh a trong nền kinh tế thị trường, ngành y tế phải đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân

Ở nước ta, tình trạng quá tải bệnh viện hiện nay là một vấn đề hết sức bức xúc, gây rất nhiều áp lực cho ngành y tế nói chung Khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện có ý ngh a, không chỉ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y

tế, nâng cao uy tín và tạo ấn tượng tốt đẹp về phong cách phục vụ, chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện trong lòng người dân mà còn đảm bảo sự công bằng trong khám chữa bệnh, thể hiện tính ưu việt của chế độ, đồng thời hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình

hình mới “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những

Trang 2

chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước” Trên tinh thần đó, Bộ Y tế đã

xây dựng và được phê duyệt tại Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg ngày 22/2/2008 phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2010 và tầm nhìn

đến năm 2020 với mục tiêu “Xây dựng và phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh phù

hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng dịch

vụ y tế ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển” Hiện nay, mạng lưới khám, chữa bệnh đã cơ bản đạt được những mục tiêu đề ra, đã phát triển đồng bộ cả y tế phổ cập và y tế chuyên sâu, bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và đạt được nhiều thành tựu đáng kể

Tuy nhiên, cùng với sự bất cập chung trong quá trình đổi mới của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, hệ thống khám chữa bệnh còn chưa thích ứng kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế xã hội; sự thay đổi về cơ cấu bệnh tật; nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân; trong những năm gần đây, hiện tượng quá tải bệnh viện trở nên ngày càng lớn, gây khó khăn, bức xúc cho người bệnh và cả cán bộ y tế ở hầu hết các bệnh viện trong cả nước Tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang, từ đầu năm 2010 số bệnh nhân nội và ngoại trú đều tăng cao

so với chỉ tiêu được giao Các đơn vị thường xuyên bị quá tải như: khoa Cấp cứu, khoa Khám bệnh, Nhi, Sản, Chấn thương Chỉnh hình, Nội Thần kinh, Nội Thận, Nội Tổng hơp … Bệnh viện đã và đang thực hiện nhiều giải pháp như tăng giường bệnh nội trú từ 754 lên 1000, sắp xếp lại quy trình khám bệnh, tăng cường trang thiết bị y tế… Nhìn chung, tình trạng quá tải có cải thiện nhưng chưa đồng bộ Tại khoa Nội Tổng hợp, dù đã có nhiều giải pháp được áp dụng như mở rộng mặt bằng, tăng số giường chỉ tiêu, đào tạo liên tục cho đội ngũ chuyên môn,… Nhưng cho đến nay thì

sự quá tải tại đây vẫn còn là một vấn đề bức xúc cần phải được quan tâm Vì vậy, tôi

quyết định chọn đề tài: “Khắc phục tình trạng quá tải tại khoa Nội Tổng hợp bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang hiện nay - thực trạng và giải pháp” để làm

Tiểu luận tốt nghiệp với hy vọng tìm ra các giải pháp giảm tải hữu hiệu, góp phần xây dựng khoa Nội Tổng hợp thành một khoa điều trị hiệu quả, an toàn và thân thiện không chỉ cho người bệnh mà còn cho cả cán bộ công chức trong Khoa, đáp ứng yêu cầu về chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân trong tình hình mới

Trang 3

Chương 1 VẤN ĐỀ VỀ QUÁ TẢI BỆNH VIỆN VÀ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

1.1 KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG HẬU QUẢ CỦA QUÁ TẢI BỆNH VIỆN 1.1.1 Khái niệm quá tải bệnh viện

Để đảm bảo hiệu quả, chất lượng của dịch vụ trong hoạt động của hệ thống khám, chữa bệnh, Tổ chức y tế thế giới và nhiều bằng chứng khoa học khuyến cáo công suất sử dụng giường bệnh không nên vượt quá 85% Khi công suất sử dụng giường bệnh vượt quá mức trên, đặc biệt khi công suất lên quá cao, trên 95% sẽ thường xuyên xảy ra tình trạng không đủ giường bệnh để tiếp nhận thêm người bệnh, đặc biệt là đối với các trường hợp cấp cứu Người bệnh sẽ phải nằm ghép trong trường hợp bệnh viện buộc phải tiếp nhận thêm, dẫn tới tình trạng quá tải bệnh viện

Do đó, quá tải bệnh viện được xem là hiện tượng quá đông người bệnh tới khám hoặc điều trị tại cùng một thời điểm vượt khả năng đáp ứng và sức chứa của một bệnh viện hoặc khoa trong bệnh viện

1.1.2 Nguyên nhân và hậu quả của quá tải bệnh viện:

Nguyên nhân:

Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu chiến lược Bộ Y tế và qua thực tiễn cho thấy, tình trạng quá tải bệnh viện hiện nay do các nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, một phần là do năng lực chuyên môn tuyến cơ sở còn hạn chế Đội

ngũ cán bộ y tế tuyến cơ sở, đặc biệt là tuyến huyện khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa vừa thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên môn, kỹ thuật Trong khi trang thiết bị ở một số bệnh viện không đầy đủ hoặc chưa được thay thế, bổ sung kịp thời nên chưa đáp ứng yêu cầu điều trị

Thứ hai, mặc dù tuyến dưới được trang bị đầy đủ, nhưng bệnh viện vẫn không

thể thu hút, giữ chân được cán bộ do điều kiện phát triển chuyên môn kỹ thuật, thu nhập của bác s tuyến dưới hạn chế Mặc dù ngành y tế đã tạo điều kiện, đưa các bác

s tuyến dưới đi đào tạo nâng cao trình độ, nâng cao tay nghề, nhưng sau đó họ lại có

xu hướng về các bệnh viên tuyến trên để tăng thu nhập hoặc phát triển chuyên môn

Trang 4

Thứ ba, do đời sống của người dân được nâng cao nên nhận thức về nhu cầu

chăm sóc sức khỏe đã nâng lên, họ thường có xu hướng lựa chọn dịch vụ tốt nhất Hơn nữa, điều kiện giao thông cũng như thông tin ngày nay hết sức thuận tiện, người dân dễ dàng tìm được nơi cung cấp dịch vụ chất lượng tốt hơn Tâm lý của người bệnh luôn coi trọng uy tín, chuyên môn, kỹ thuật của tuyến trên Do đó, tỷ lệ vượt tuyến bệnh viện dao động từ 50% - 80% ở các bệnh viện tuyến trên là do người bệnh tin tưởng vào uy tín của bệnh viện

Thứ tư, là hiện tượng người dân từ bỏ cơ sở y tế tuyến dưới, mặc dù vẫn có

các cơ sở đáp ứng tốt nhu cầu điều trị Đây là việc làm không cần thiết Đó là do chế

độ bảo hiểm y tế của nước ta hiện nay cho phép người dân mặc dù khám chữa bệnh

ở đâu vẫn được thanh toán một phần viện phí Do đó, người dân dễ dàng tự ý chuyển tuyến điều trị mặc dù yêu cầu điều trị chưa phức tạp đến độ cần tới chuyên môn, kỹ thuật quá cao

Những hậu quả của quá tải bệnh viện:

Quá tải bệnh viện từ lâu được các y văn thế giới chứng minh và xác định đây chính là nguyên nhân dẫn tới những hậu quả sau:

* Giảm chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc người bệnh:

- Đối với khám bệnh, điều trị theo đơn hoặc điều trị ngoại trú: người bệnh phải chờ đợi lâu khi khám bệnh, làm xét nghiệm, thủ thuật để giúp việc chẩn đoán bệnh; thời gian khám bệnh, tư vấn hạn chế

- Đối với điều trị nội trú: người bệnh phải chờ đợi lâu khi cần được cung cấp dịch vụ thủ thuật, phẫu thuật ; việc chăm sóc theo nhu cầu người bệnh bị hạn chế như phải nằm chung giường bệnh; việc hướng dẫn, thực hiện và kiểm tra về chăm sóc người bệnh như tư vấn bệnh tật, chia sẻ tình cảm, săn sóc ăn uống, ngủ nghỉ, tiếng ồn, các điều kiện vệ sinh cá nhân, uống thuốc, tiêm thuốc theo giờ, theo dõi người bệnh theo phân cấp hộ lý bị hạn chế

* Thời gian điều trị bị kéo dài do chờ đợi các kỹ thuật chẩn đoán, can thiệp hoặc do biến chứng trong quá trình điều trị;

* Giảm sự hài lòng và mức độ hợp tác của người bệnh và gia đình người bệnh với bệnh viện Sự bực bội, chán nản của người bệnh và gia đình người bệnh dẫn đến tình trạng hung dữ, thô lỗ và thậm chí lăng mạ nhân viên y tế, gia tăng các đơn thư khiếu nại, các hành vi gây hậu quả nghiêm trọng đối với bệnh viện và nhân viên y tế;

Trang 5

* Tăng tỷ lệ tai biến, biến chứng, điển hình là nhiễm khuẩn bệnh viện, tỷ lệ sai sót trong chuyên môn tăng như sai sót trong kê đơn, cho sai thuốc, sai liều dùng, nhầm lẫn về tần suất, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc;

* Gia tăng chi phí điều trị đối với người bệnh, bệnh viện và xã hội;

* Gây những tổn hại về sức khỏe tâm thần của bác s và nhân viên y tế, do phải làm việc trong điều kiện quá tải về công việc, thời gian và hạn chế không gian gây nên mệt mỏi, tâm trạng bức xúc, dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh trầm cảm hoặc gây cáu gắt, làm giảm khả năng chính xác trong thực hiện kỹ thuật, giảm sự tận tình trách nhiệm đối với người bệnh

1 2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG NHÀ NƯỚC TA

1.2.1 Quan điểm của Đảng ta về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: Công tác dân số, kế

hoạch hoá gia đình, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bình đẳng giới và tiến

bộ của phụ nữ đạt được một số kết quả quan trọng; mức hưởng thụ các dịch vụ y tế của nhân dân tăng lên, đặc biệt với trẻ em, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số Chỉ số phát triển con người không ngừng tăng lên; Việt Nam đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Thiên niên kỷ (trang 2) Bên cạnh đó, chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ còn thấp, hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Vệ sinh, an toàn thực phẩm chưa được

kiểm soát chặt chẽ (trang 5) Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng đã xác định

cần phải tập trung phát triển mạnh hệ thống chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để phát triển nhanh hệ thống y tế công lập và ngoài công lập; hoàn chỉnh mô hình tổ chức và củng cố mạng lưới y tế cơ sở Nâng cao năng lực của trạm y tế xã, hoàn thành xây dựng bệnh viện tuyến huyện, nâng cấp bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương Xây dựng thêm một số bệnh viện chuyên khoa có trình độ cao tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số vùng Xây dựng một số cơ sở khám, chữa

bệnh có tầm cỡ khu vực Khắc phục tình trạng quá tải ở các bệnh viện, đặc biệt là

bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế

tài chính của các cơ sở y tế công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch Chuẩn hoá chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng bệnh viện, từng bước tiếp cận với tiêu

Trang 6

chuẩn khu vực và quốc tế Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y

tế, khám, chữa bệnh và viện phí phù hợp; có lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân Thực hiện tốt chính sách khám, chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em và người dân tộc thiểu số, chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng chuyên môn, y đức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế Phấn đấu đến năm 2020 tất cả các xã, phường có bác s Phát

triển mạnh y tế dự phòng, không để xảy ra dịch bệnh lớn

Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX nhiệm kỳ 2015: tiếp tục xác định: công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt nhiều kết quả, mạng lưới y tế cơ sở, trang thiết bị được đầu tư nâng cấp, mở rộng theo hướng hiện đại (trang 19) Tuy nhiên ngành y tế có nhiều thay đổi về cơ cấu, tổ chức bộ máy ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến y tế cơ sở, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân, nhiều bệnh viện quá tải, tinh thần thái độ phục vụ của một bộ phận y, bác s chưa tốt (trang 27, 28)

Quán triệt quan điểm của Đại hội Đại biểu toàn lấn thứ XI, quan điểm tỉnh Đảng bộ An Giang lần thứ IX, Nghị quyết Đảng bộ bệnh viện Đa khoa Trung tâm

An Giang nửa nhiệm kỳ 2010-2015 cũng đã xác định: Bệnh viện đã đáp ứng tốt nhu

cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong và ngoài tỉnh, đặc biệt số lượt khám bệnh ngoại trú trong năm qua đã tăng đáng kể so với năm trước (tăng 21,5%).Công tác xã hội hóa y tế được đẩy mạnh góp phần giảm tải bệnh viện, cải thiện đời sống của CBVC Tuy nhiên, tình trạng quá tải cục bộ tại một số khoa chưa được cải thiện, nhiều khoa phòng hiện trong tình trạng quá tải nặng nề; trong khi cơ sở vật chất cũ

kỹ, xuống cấp, các trang thiết bị vừa thiếu, một số vừa lạc hậu, không đáp ứng đủ nhu cầu phục vụ người bệnh; nhân lực y tế thiếu trầm trọng, nhất là bác s ; chế độ đãi ngộ chưa phù hợp, chưa thu hút và giữ chân được người tài Bênh viện cần có biện pháp chống quá tải hiệu quả bằng công tác chuyên môn, quản lý và xã hội hóa

y tế

1.2.2 Những văn bản pháp lý

Quá tải bệnh viện vẫn là “căn bệnh” trầm kha, nhức nhối của ngành y tế, nhất

là các bệnh viện tuyến cuối Với người bệnh thì đây là mối lo sợ mỗi khi phải nhập viện điều trị Vấn đề giảm tải bệnh viện đã trở thành mục tiêu chiến lược không riêng của ngành y tế, mà của cả chính quyền địa phương, Chính phủ và Quốc hội

Trang 7

Để giải quyết vấn đề về quá tải đối với các bệnh viện, nhất là ở các tuyến cuối, thời gian qua Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện nhằm giải quyết tình trạng trên, có thể kể đến một số văn bản sau:

- Chương trình số 527/CTr-BYT ban hành ngày 18/06/2009 của Bộ y tế về

nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh vì mục tiêu đáp ứng sự hài lòng của người bệnh bảo hiểm y tế

- Quyết định số 92/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 9/1/2013 về việc phê duyệt Đề án Giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2013 – 2020

Trang 8

Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC VÀ HOẠT ĐỘNG KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM

AN GIANG TỪ NĂM 2010 ĐẾN 2012

2.1 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

2.1.1 Về cơ sở vật chất – Kỹ thuật

Khoa Nội Tổng hợp được thành lập vào tháng 7 năm 2009 từ khoa Nội Tổng quát Sau khi khoa này tách ra 2 khoa là khoa Nội Thần kinh và khoa Nội Thận, bộ phận còn lại của khoa Nội Tổng quát và tầng 2 ở khu vực mới xây (trước khoa Sản) hợp thành khoa Nội Tổng hợp Tuy nhiên, khoa Nội Thận vẫn phải nằm chung tầng trệt với khoa Nội Tổng hợp vì phòng Thận nhân tạo đã trang bị các thiết bị máy móc không thể di dời.Vì vậy, khoa Nội Tổng hợp có 3 trại (B cấp cứu, B lầu, B tiêu hóa)

và 1 phòng Đo điện tim nằm tách rời nhau nên khó khăn cho việc quản lý, bố trí phòng ốc và nhân sự

- Chỉ đạo tuyến và nghiên cứu khoa học

2.2 THỰC TRẠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP TỪ NĂM 2010 ĐẾN

Trình độ Chuyên môn (Đã có bằng tốt nghiệp)

Nhân viên khác Thạc sĩ CK I Bác sĩ Cử cử

nhân

Điều dưỡng

Trang 9

Đa số bác s của Khoa đều đã tốt nghiệp sau đại học (6/10), trên 98% điều dưỡng có trình độ trung cấp

Biên chế là 86 [(125 giường bệnh x 0.65) + 05 (phòng điện tim)], số hiện có

là 77, số nhân sự còn thiếu là 9, trong đó thiếu đến 5 bác s , nhưng đến nay vẫn chưa được bổ sung

Khám chữa bệnh:

Tổng số giường kế hoạch tăng lên hàng năm nhưng không đáp ứng được nhu cầu vì số bệnh nhân nội trú tăng nhanh, ngày điều trị trung bình đã đạt ở mức hợp lý

nên công Những suất sử dụng giường bệnh và tỉ lệ nằm ghép còn rất cao

2.2.2 Thành tựu đạt được và nguyên nhân:

 Những thành tựu:

Thực trạng quá tải tại Khoa là một vấn đề nhức nhối mà cấp ủy rất quan tâm

và đã đề ra nghị quyết cần có các giải pháp hữu hiệu để giảm tải cho Khoa Thực hiện chỉ đạo của cấp ủy cùng với sự nổ lực không ngừng của toàn thể cán bộ, viên chức và bằng nhiều giải pháp được thực hiện đồng bộ đã góp phần cải thiện được phần nào tình trang quá tải, quản lý tốt và phát triển Khoa một cách khá toàn diện, trong đó có một số mặt nổi bật như sau :

- Nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ y, bác sĩ nhằm chẩn đoán và điều trị cho người bệnh một cách chính xác và hiệu quả, góp phần giảm tải cho Khoa:

Khoa luôn tạo điều kiện và sắp xếp cho nhân viên trong Khoa tham gia nhiều lớp đào tạo; thường xuyên cập nhật phác đồ, điều trị đúng phác đồ và phù hợp chẩn

Giường

Kế hoạch

Số bệnh nhân nội trú

∑ Ngày điều trị

Ngày điều trị trung bình

Công suất sử dụng giường bệnh

Tỷ lệ nằm ghép

Tỷ lệ

tử vong và nặng xin về

6,1 (KH:7)

5,7 (KH:6,7)

5,9 (KH:6,7)

129,,9% 29,8% 0,46%

(KH<1,5%)

Trang 10

đoán; Bình bệnh án định kỳ hàng tháng và phân tích sử dụng thuốc theo Chỉ thị 05 các trường hợp nặng xin về, khó chẩn đoán và điều trị một cách nghiêm túc trên tinh thần vì người bệnh và vì sư tiến bộ của Khoa; nâng cao chất lượng giao ban, chất lượng hồ sơ bệnh án, kiểm thảo tử vong; Cập nhật thông tin y học qua báo chí, internet, sinh hoạt chuyên môn tại Khoa và các Hội nghị khoa học; Tham dự tất cả các buổi sinh hoạt chuyên đề khoa học kỹ thuật hàng tuần do bệnh viện tổ chức và thực hiện khám nghiệm tử thi để xác định nguyên nhân tử vong, đặc biệt là các trường hợp đột tử chưa rõ nguyên nhân Qua đó, trình độ chuyên môn của nhân viên được nâng lên một cách rõ rệt, 60% bác s của Khoa đều đã tốt nghiệp sau đại học và trên 98% điều dưỡng có trình độ trung cấp đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và giảm tải cho khoa

- Công tác tuyên truyền vận động và giáo dục, nâng cao ý thức của người dân phòng bệnh:

Hoạt động tuyên truyền và vận động mọi người tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bản thân, gia đình bằng cách phổ biến những kiến thức phổ thông và cách phòng ngừa các bệnh lý nội khoa thường gặp như tăng huyết áp, bệnh lý liên quan đến thuốc lá, tác hại khi thiếu Iốt, đái tháo đường và những biến chứng, loãng xương, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hen phế quản,viêm loét dạ dày…qua các buổi họp Hội đồng người bệnh hàng tuần tại Khoa, tại Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh An Giang hoặc tiếp chuyện Đài phát thanh, truyền hình An Giang

- Tổ chức tốt công tác nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân:

Công tác nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động thường xuyên luôn được lãnh đạo khoa quan tâm Thời gian qua, Khoa đã nghiên cứu được 6 đề tài Các đề tài này đều được hội đồng Khoa học kỹ thuật bệnh viện nghiệm thu Đặc biệt có 3 đề tài đạt giải trong hội thi Nghiên cứu Khoa học công nghệ cấp cơ sở, 1 đề tài được chọn đăng trong Tạp chí Y học TPHCM năm 2011, 1 đề tài được chọn báo cáo tại Hội nghị KHKT Đồng bằng sông Cửu ong mở rộng 2012 tại Cần Thơ, 2 đề tài được chọn báo cáo tại Hội nghị Nội khoa toàn quốc năm 2013 và được đăng trong Tạp chí Y học TPHCM năm 2013

- Triển khai áp dụng một số thiết bị - kỹ thuật mới có giá trị thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị:

Trang 11

Đặt CVP qua đường t nh mạch dưới đòn, Đặt CVP qua đường t nh mạch cánh tay, Nghiệm pháp dung nạp Glucose, Ứng dụng thang điểm blatchford trên bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên cấp.Thải sắt bằng máy tiêm truyền dưới da, kết hợp khoa chẩn đoán hình ảnh điều trị xuất huyết tiêu hóa qua nội soi

Nhờ áp dụng những thiết bị hỗ trợ trên thời gian qua đã góp phần không nhỏ trong việc chuẩn đoán chính xác được nguyên nhân gây bệnh từ đó đã rút ngắn được thời gian theo dõi và lưu trú điều trị bệnh, góp phần không nhỏ vào việc giảm tải cho khoa

- Công tác chỉ đạo tuyến dưới nhằm giảm tải cho tuyến trên:

Thời gian qua, khoa thường xuyên thông tin phản hồi cho tuyến dưới (qua thư góp ý ) các trường hợp chuyển viện cần rút kinh nghiệm như chẩn đoán, xử trí chưa phù hợp, chuyển viện không cần thiết…; thực hiện đề án 1816 theo sự phân công của bệnh viện

- Giáo dục y đức kết hợp với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:

Đảng ủy, Ban giám đốc và Ban chủ nhiệm khoa thường xuyên nhắc nhở giáo dục nhân viên về vấn đề y đức và kỹ năng giao tiếp, thực hiện tốt 12 điều y đức, gắn với “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà trọng tâm là học tập làm theo lời dạy của Bác “Thầy thuốc như mẹ hiền”

Ban chủ nhiệm khoa luôn lắng nghe và phản hồi các ý kiến đóng góp của người bệnh và thân nhân người bệnh trực tiếp hoặc qua các buổi họp Hội đồng người bệnh cấp khoa (hàng tuân), qua các phiếu thăm dò sự hài lòng của người bệnh, qua thùng thư góp ý, đường dây nóng và kịp thời chấn chỉnh ngay những thiếu sót nếu có

Đáp ứng sự hài lòng đối với người bệnh/ thân nhân người bệnh và cán bộ viên chức trong Khoa (không có phản ánh xấu về tinh thần thái độ phục vụ người bệnh hoặc các khiếu nại của cán bộ viên chức qua đơn thư góp ý, đường dây nóng bệnh viện, báo đài )

- Tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết y tế đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh:

Chỉ tiêu giường bệnh được tăng lên hàng năm, năm 2010 là 90 giường, năm

2011 là 115 giường và đến năm 2012 tăng lên là 125 giường đã góp phần giảm tải cho khoa Trang bị thêm một số trang thiết bị như máy tiêm điện, máy thải sắt, máy

Trang 12

đo điện tim, máy thử đường huyết, máy tiêm truyền tự đông… góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị

Nhìn chung, mọi hoạt động của Khoa đã tương đối đi vào nề nếp, ổn định và phát triển theo đúng định hướng chuyên sâu với chất lượng quản lý và điều trị chăm sóc người bệnh ngày càng được nâng cao ( tỷ lệ điều trị khỏi rất cao (85%), tỷ lệ tử vong và nặng xin về rất thấp (≤0,5%), không có tai biến khi thực hiện các thủ thuật, không có tai biến trong điều trị và chăm sóc làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh mạng và sức khỏe cho người bênh), môi trường điều kiện làm việc và đời sống của cán bộ viên chức từng bước được cải thiện

Nguyên nhân:

Nhờ được sự quan tâm và hỗ trợ tích cực của Ban giám đốc, sự đoàn kết và nhất trí cao trong Ban Chủ nhiệm khoa và Chi bộ Đảng, cùng với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ viên chức trong khoa và nhiều giải pháp đã được thực hiện đồng bộ một cách tích cực như:

- Tăng cường đào tạo, ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần quản lý tốt

và phát triển khoa một cách toàn diện;

- Qui trình khám, chữa bệnh nội trú luôn được quan tâm cải tiến theo hướng thuận lợi nhất cho người bệnh; trưởng khoa luôn nắm bắt và giải quyết kịp thời những bệnh nguy kịch, bệnh nặng, khó chẩn đoán và điều trị Đồng thời, tổ chức đi buồng thường xuyên ít nhất 3 ngày/tuần để xác định lại chẩn đoán, điều trị và cho hướng điều trị nếu cần;

- Qui chế bệnh viện, nhất là đối với một số qui chế chuyên môn còn yếu và bất cập (qui chế hội chẩn, chẩn đoán, sử dụng thuốc, chuyển khoa) không ngừng được củng cố và có những tiến bộ nhất định; Hội chẩn đúng quy chế, chuyển khoa kịp thời và chuyển viện sớm các trường hợp quá khả năng điều trị;

- Trong thực hành lâm sàng các bác s đã biết tận dụng chất xám qua qui chế hội chẩn để giải quyết thỏa đáng các trường hợp bệnh nặng và phức tạp;

- Thực hiện tốt các quy định về đảm bảo an toàn và sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc và điều trị;

- Áp dụng tối ưu các phác đồ điều trị, quy trình chăm sóc, quy trình chống nhiễm khuẩn và quy định sử dụng thuốc;

- Bố trí phòng ốc và phân công bác s phụ trách theo hướng chuyên khoa

Trang 13

- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, nâng cao chất lượng giao ban, kiểm thảo tử vong và bình bệnh án định kỳ mỗi tháng …

- Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, đồng thời làm tốt công tác nghiên cứu khoa học

- Xây dựng được đội ngũ CBCC có y đức và chất lượng về chuyên môn đáp ứng được sự hài lòng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân

2.2.3 Những hạn chế và nguyên nhân:

Những hạn chế :

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, thời gian qua công tác khắc phục

sự quá tải ở khoa vẫn còn một số hạn chế cơ bản sau:

- Tổng số giường kế hoạch tăng lên hàng năm nhưng không đáp ứng được nhu cầu vì số bệnh nhân nội trú tăng nhanh, công suất sử dụng giường bệnh và tỉ lệ nằm ghép còn rất cao dẫn đến tình trạng quá tải cho khoa

- Chính tình trạng quá tải với số lượng người bệnh đến điều trị tại Khoa quá đông, trong khi cơ sở vật chất chật hẹp, không khí nóng bức, không đủ giường phục

vụ, người bệnh phải nằm ghép Vì thế người bệnh phải chen chúc nhau, tấp nập, ồn

ào, ngột ngạt làm cho người bệnh cảm thấy mệt và khó chịu hơn Trong điều kiện như vậy, mà người bệnh lại phải chịu đựng sự đau đớn, lo lắng và thậm chí cả sự nguy hiểm của bệnh tật, càng gây thêm sự căng thẳng, bức xúc, phiền hà cho người bệnh và cho cả người nhà Do lượng bệnh quá đông, số lượng bác s lại quá thiếu nên người bệnh phải đợi chờ lâu, đến khi được khám bệnh, gặp bác s thì thời gian tiếp xúc quá ngắn, lại trong trạng thái mệt mỏi nên có khi không khai hết những triệu chứng cần thiết để giúp cho bác s có hướng chẩn đoán và điều trị chính xác Điều này cũng góp phần giảm đi chất lượng khám và điều trị Ngược lại, có những người bệnh khó tính, bị bệnh tật hành hạ, lại phải chờ đợi lâu nên họ rất dễ bức xúc, chỉ cần một sơ sót nhỏ của nhân viên trong thái độ phục vụ cũng đủ gây cho họ phiền hà

và phản ứng

- Tình trạng nhân viên phục vụ cũng hết sức căng thẳng, áp lực đè nặng cũng ảnh hưởng phần nào đến chất lượng điều trị cho người bệnh Đồng thời, thời gian tiếp xúc với người bệnh cũng quá ngắn, bác s không có đủ thời gian để tư vấn, hướng dẫn, dặn dò một cách kỹ lưỡng cho người bệnh Nhân viên đôi khi cáu gắt vì phải làm việc trong điều kiện quá tải như trên, hơn nữa số lượng nhân viên cũng

Ngày đăng: 15/03/2015, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w