Những thiếu hụt kiến thức tự chăm sóc dẫn đến hành vi không đúng, làm giảm hiệu quả điều trị, góp phần làm tăng sự xuất hiện các biến chứng, tăng chi phí điều trị, tăng tỷ “Thay đỗi kiến
Trang 1VŨ THỊ HƯƠNG NHÀI
THAY ĐỔI KIÉN THỨC T ư CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BÊNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRI NGOAI TRÚ TAI BÊNH VIÊN NÔI TIẾT • • • • • •
LUẬN VĂN THẠC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH - 2018
Trang 2VŨ THỊ HƯƠNG NHÀI
THAY ĐÒI KIÉN THỨC T ư CHĂM SÓC CỦA
NGƯỜI BÊNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
ĐIỀU TRI NGOAI TRÚ TAI BÊNH VIÊN NÔI TIẾT• • • • • •
LUẬN VĂN THẠC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 8720301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Vũ Văn Thành
NAM ĐỊNH - 2018
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN cứu
Tên đề tài: Thay đổi kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường
type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái sau can thiệp giáo dục năm 2018.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng và đánh giá sự thay đổi kiến thức tự chăm sóc
của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái sau can thiệp giáo dục năm 2018.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp trên một
nhóm đổi tượng có so sánh trước sau Thu thập sổ liệu bằng phỏng vẩn trực tiếp
108 người bệnh đái tháo đường type 2 đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái từ tháng 0 1 - 4 năm 2018, thông qua bộ câu hỏi đảnh giả kiến thức tự chăm sóc đái tháo đường.
Kết quả: Trước can thiệp, tỷ lệ người bệnh có kiến thức tự chăm sóc đạt ở
mức thấp là 19,4% Các thiếu hụt kiến thức của người bệnh trong nghiên cứu chủ yếu liên quan đến chế độ ăn uổng, tự theo dõi đường máu và nhận biết dấu hiệu của
hạ đường máu Người bệnh cỏ kiến thức tốt hom về hoạt động thể lực, tuân thủ dùng thuốc, phát hiện và tự chăm sóc phòng biến chứng Sau can thiệp, tỷ lệ người bệnh
cỏ kiến thức tự chăm sóc đạt ở mức cao là 91,7% Điểm kiến thức trung bình tăng
từ 17,3± 3,6trước can thiệp lên 25,2± 2,8 trên tổng sổ 30 điểm sau can thiệp 1 tháng Sự khác biệt cỏ ỷ nghĩa thống kê với p < 0,001.
Kết luận: Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường
type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái còn hạn chế Sau chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe, kiến thức tự chăm sóc của người bệnh được cải thiện đáng kể: tỷ lệ người bệnh có kiến thứctự chăm sóc đạt tăng từ 19,4% lên 91,7%, sự khác biệt có ỷ nghĩa thống kê vớip<0,001.
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đe hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết om chân thành tới các Thầy Cô trong Ban giám hiệu, cô giáo chủ nhiệm và các giảng viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi ừong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết om sâu sắc nhất tôi xin gửi lời cảm ơn tới Thầy TS Vũ Văn Thành - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn, góp ý, sửa chữa và động viên giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy cô trong Ban Giám hiệu, khoa Điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Yên Bái đã tạo điều kiện thuận lợi nhất, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và tiến hành nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, lãnh đạo và cán bộ y tế tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu Đồng thời, trân trọng gửi lời tri ân đến những người bệnh và người nhà đã đồng ý tham gia nghiên cứu, họp tác tốt và dành những tình cảm yêu quý cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu tại bệnh viện
Cuối cùng, xin ghi nhớ công ơn và dành tình cảm yêu thương tới gia đình đã luôn là điểm tựa vững chắc, là nguồn động viên, khích lệ to lớn giúp tôi vượt qua những khó khăn, nỗ lực học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Yên Bái, ngày lOtháng lOnăm 2018
Tác giả
Vũ Thị Hương Nhài
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trong nghiên cứu này hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác trước đây Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
Yên Bái, ngày 10 tháng lOnăm 2018
Tác giả
Vũ Thị Hương Nhài
Trang 71.4 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức tự chăm sóc của người
1.5 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với tự chăm sóc trong Đái
Trang 82.11 Sai số và biện pháp khắc phục 33
3.2 Thực trạng kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 của ĐTNC 393.3 Sự thay đổi kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 của ĐTNC
4.2 Thực trạng kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 của ĐTNC 564.3 Sự thay đổi kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 của ĐTNC
Phụ lục 3: Công cụ can thiệp
Phụ lục 4: Phiếu xin ý kiến đánh giá tính giá trị của bộ công cụ thu thập số liệu.Phụ lục 5: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu có xác nhận của địa bàn thu thập số liệu
Phụ lục 6: Thư đồng ý cho phép sử dụng bộ công cụ vào nghiên cứu
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT
1 ADA (American Diabetes Association):
2 BMI (Body Mass Index):
3 DSCKQ (Diabetes Self- Care Knowledge
Questionnaire):
4 DTD:
5 DTNC:
6 GDSK:
7 HbAlc (Glycated Hemoglobin)
8 IDF (International Diabetes Federation):
9 THA:
10 WHO (World Health Organization):
Hội Đái tháo đường Hoa KỳChỉ số khối cơ thể
Bộ câu hỏi kiến thức tự chăm sócbệnh đái tháo đường
Đái tháo đườngĐối tượng nghiên cứuGiáo dục sức khỏeHemoglobin gắn kết đường máuLiên đoàn Đái tháo đường quốc tếTăng huyết áp
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2 Đặc điểm về dân tộc, noi sống và hoàn cảnh sống của đối tượng nghiên
Bảng 3.3 Đặc điểm về trình độ học vấn và nghề nghiệp và thu nhập hàng tháng của
Bảng 3.9 Kiến thức về tự chăm sóc phòng biến chứng của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.12 Kiến thức về tuân thủ thực hành tự chăm sóc của đối tượngnghiên cứu 44 Bảng 3.13 Kiến thức về hậu quả không kiểm soát mức đường máu của đối tượng
Bảng 3.14 Sự thay đổi điểm kiến thức tự chăm sóc của đối tượng nghiên cứu sau
Bảng 3.15 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về hoạt động thể lực trước
Bảng 3.16 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đứng về chế độ ăn uống trước
Bảng 3.17 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về tự chăm sóc phòng
Bảng 3.18 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về tự theo dõi đường máu
Trang 11Bảng 3.19 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về tự theo dõi chăm sóc
Bảng 3.20 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về tuân thủ thực hành tự
Bảng 3.21 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về hậu quả của không
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, s ơ ĐỒ
Biểu đồ 3.4 Sự thay đổi mức độ kiến thức chung về tự chăm sóc của đối tượng
Biểu đồ 3.5 Sự thay đổi mức độ các nhóm kiến thức tự chăm sóc của đối tượng
Trang 13Theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2017, toàn thế giới có khoảng 425 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, tương đương cứ 11 người trưởng thành có 1 người mắc bệnh và có tới hơn 212 triệu người (50%) mắc bệnh đái tháo đường mà không được chẩn đoán [47] Châu Á là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi đái tháo đường với hơn 60% số người mắc bệnh trên toàn cầu, tập trung nhiều nhất ở hai nước Trung Quốc và Ấn Độ [60].
Việt Nam là quốc gia đang phát triển về kinh tế xã hội nên sự thay đổi lối sống góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường type 2 [60] Nước ta là một trong bốn nước thuộc khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhất với khoảng 3,5 triệu người trưởng thành (20- 79 tuổi) mắc bệnh, nhưng có tới 54% không được chẩn đoán, 85% chỉ phát hiện ra bệnh khi đã có biến chứng nguy hiểm [47]
Yên Bái là một tỉnh miền núi với điều kiện kinh tế- xã hội còn thấp, việc tiếp cận thông tin bệnh tật ở một số vùng còn nhiều hạn chế Theo báo cáo của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái, tính đến tháng 4/2018 toàn tỉnh có 1955 người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện và số người bệnh mắc đái tháo đường đang tăng lên nhanh chóng [2],
Đái tháo đường đặt ra gánh nặng lớn cho cá nhân người bệnh, gia đình và toàn xã hội Bệnh diễn biến âm thầm, nhưng để lại biến chứng nặng nề như: tai biến mạch máu não, bệnh tim mạch, mù lòa, viêm thần kinh [69] Cứ 8 giây lại thêm một người tử vong và cứ 30 giây lại có một người bị cắt cụt chi vì bệnh đái tháo
Trang 14đường [47] Phần lớn các quốc gia phải chi từ 5 - 20 % tổng chi tiêu y tế cho bệnh
đái tháo đường Với chi phí cao như vậy thì đái tháo đường thực sự là một thách thức đối vói hệ thống y tế và sự phát triển bền vững nền kinh tế của các nước [46]
Người bệnh đóng vai trò chủ yếu trong việc quản lý bệnh và một chương trình can thiệp giáo dục cho người bệnh họp lý sẽ góp phần nâng cao kiến thức tự chăm sóc, giúp quản lý bệnh tốt hơn [61] Tuy nhiên, trong thực tế khám chữa bệnh hàng ngày việc truyền thông giáo dục sức khỏe lại ít được chú trọng [56] Những thiếu hụt kiến thức tự chăm sóc dẫn đến hành vi không đúng, làm giảm hiệu quả điều trị, góp phần làm tăng sự xuất hiện các biến chứng, tăng chi phí điều trị, tăng tỷ
“Thay đỗi kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoai trú tai Bênh viên Nôi tiết Tỉnh Yên Bái sau can thiêp giáo duc năm 2018”
nhằm hai mục tiêu sau:
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh Đái tháo đường
1.1.1 Khái niêm m
Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF): “Đái tháo đường là một bệnh
mạn tỉnh xảy ra khi cơ thể không thể sản xuất đủ insulin hoặc không thể sử dụng được insulin, và được chẩn đoán bằng cách đánh giá mức độ tăng glucose trong máu” [46].
Theo Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA): “Đái tháo đường là một rối loạn
chuyển hóa được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường máu do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai Tăng đường máu mạn tỉnh trong ĐTĐ có liên quan đến các tắn thương lâu dài, rối loạn chức năng ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [24].
1.1.2 Phân loại Đái tháo đường
Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế năm 2017 và Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2017, Đái tháo đường được chia thành bốn loại: ĐTĐ type 1, ĐTĐ type 2, ĐTĐ thai kỳ và ĐTĐ các type đặc biệt[25], [47]
ĐTĐ type 1 chiếm khoảng 5-10% số trường họp ĐTĐ trên thế giới và thường xuất hiện ở trẻ em, trẻ vị thành niên ĐTĐ type 1 thường xuất hiện đột ngột với các triệu chứng: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhanh ĐTĐ type 1 còn được gọi là ĐTĐ phụ thuộc insulin, nếu không có insulin người bệnh sẽ chết
ĐTĐ type 2 là loại phổ biến nhất, chiếm 85-90% số người bệnh ĐTĐ trên toàn cầu, thường gặp ở nhóm người trưởng thành trên 45 tuổi Triệu chứng của ĐTĐ type 2 bao gồm: uống nhiều, tiểu nhiều, sút cân, mờ mắt nhưng không điển hình như ĐTĐ type 1 và thường được chẩn đoán khi đã kèm theo biến chứng ĐTĐ type 2 còn được gọi là ĐTĐ không phụ thuộc insulin, người bệnh có thể được điều trị bằng cách thay đổi lối sống kết họp dùng thuốc để kiểm soát đường máu
ĐTĐ thai kỳ gặp ở phụ nữ có thai và thường xảy ra từ tuần thứ 24 của thai
kỳ Triệu chứng ĐTĐ thai kỳ thường khó phân biệt với các triệu chứng thông
Trang 17thường khi mang thai Bệnh thường biến mất sau khi sinh nhưng có nguy cơ cao mắc ĐTĐ ở lần mang thai tiếp theo hoặc mắc ĐTĐ type 2.
ĐTĐ các type đặc biệt do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Khiếm khuyết chức năng tế bào beta, giảm hoạt tính của insulin do gen, bệnh lý của tụy ngoại tiết,
do thuốc hoặc hóa chất (glucocorticoid, điều trị HIV/ AIDS, sau ghép tạng) [26]
1.1.3 Yếu tố nguy cơ mắc Đái tháo đường type 2
Tuổi: Tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ, tim mạch và đột quỵ ngày càng cao ĐTĐ type 2 thường gặp ở người trên 45 tuổi và đang tăng lên đáng kể ở trẻ em và thanh thiếu niên[26]
Chủng tộc: Các nhóm chủng tộc khác nhau có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type
2 khác nhau, trong đó Người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Mexico, người Mỹ bản địa, người Thái Bình Dương và người Mỹ gốc Á có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao hơn[26]
Tiền sử gia đình: Những người có quan hệ huyết thống với người bệnh ĐTĐ
có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn, tỷ lệ cùng bị ĐTĐ của hai người sinh đôi cùng trứng
Môi trường và lối sống: ảnh hưởng tới sự gia tăng tỉ lệ ĐTĐ type 2 liên quan đến béo phì, ăn các loại thực phẩm giàu năng lượng, giàu carbohydrat, uống nhiều rượu bia và ít vận động Tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 ở những người thừa cân, béo phì (BMI >23) cao gấp 1,52 lần so với những người có BMI bình thường (18,5 < BMI
<23) [45] Tỷ lệ người sống ở thành thị mắc ĐTĐ cao hơn ở nông thôn Người hoạt động thể lực nhiều có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thấp hơn đáng kể so với những người có lối sống tĩnh tại Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh cao hơn 45% so với người
Trang 18không hút thuốc và nguy cơ vẫn cao sau 10 năm ngừng hút thuốc [58].
1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán Đái tháo đường type 2
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ căn cứ theo Quyết định số 3798/QĐ-BYT ngày 21 tháng 8 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Quy trình chuyên môn khám, chữa bệnh Đái tháo đường Type 2” dựa vào một trong bốn tiêu chí [5]:
a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) >126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ)
Hoặc:
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) > 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
1.1.5 Biến chứng của Đái tháo đường
ĐTĐ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nhưng hoàn toàn có thể ngăn ngừa các biến chứng này bằng cách kiểm soát đường máu sớm và chặt chẽ [55]
* Biển chứng cấp tỉnh:
- Hạ đường máu
Hạ đường máu xảy ra khi lượng đường trong máu xuống dưới 4 mmol/1
Trang 19(72mg/dl) Nguyên nhân gây hạ đường máu thường do: sử dụng quá liều thuốc hạ đường máu, ăn muộn giờ, ăn kiêng khem quá mức, luyện tập quá sức hay uống quá nhiều rượu Dấu hiệu nhận biết của hạ đường máu gồm: mệt mỏi, vã mồ hôi, đói, chóng mặt, run chân tay, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực [55].
- Tăng đường máu:đường máu tăng quá cao có thể gây hôn mê do nhiễm toan ceton hoặc do tăng áp lực thẩm thấu nặng [47]
* Biển chứng mạn tính
- Biến chứng tim mạch: Lượng đường trong máu tăng cao làm tổn thương các mạch máu trong cơ thể, hay gặp nhất là xơ vữa động mạch Từ đó gây ra các biểu hiện lâm sàng của thiếu máu cục bộ như đau ngực, nhồi máu cơ tim đe dọa tính mạng người bệnh Hơn 75% số người bệnh ĐTĐ tử vong do bệnh tim mạch [60]
- Biến chứng ở mắt: hệ thống mao mạch ở đáy mắt bị tổn thương gây ra các vấn đề về mắt Ở người bệnh ĐTĐ, đục thủy tinh thể có nguy cơ phát triển cao gấp
2 đến 5 lần, tăng nhãn áp cao gấp 2 lần Ngoài ra còn có thể gặp bệnh võng mạc, phù hoàng điểm[44]
- Biến chứng ở thận: Lượng đường trong máu cao kéo dài gây tổn thương các mạch máu nhỏ tại thận, làm suy giảm chức năng lọc, bài tiết của thận Nếu không điều trị sẽ dẫn đến suy thận không hồi phục [44]
- Biến chứng thần kinh[l 1]:
+ Bệnh thần kinh ngoại vi: Triệu chứng thường gặp là: tê bì, châm chích, bỏng rát, giảm nhận biết cảm giác đau, nóng lạnh đặc biệt ở bàn chân
+ Bệnh thần kinh tự chủ: tổn thương các dây thần kinh kiểm soát hoạt động
tự chủ và triệu chứng tùy thuộc vào cơ quan bị tổn thương như: nhịp tim nhanh, hạ huyết áp tư thế, tiêu chảy, táo bón Đặc biệt, do tổn thương thần kinh tự chủ, người bệnh mất cảm giác báo động khi bị hạ đường máu như cảm thấy đói, đổ mồ hôi, tim đập nhanh do đó không điều trị kịp thời có thể dẫn đến hôn mê
- Biến chứng về da: ĐTĐ gây ra các tổn thương trên da như: ngứa, phồng rộp, loét Lượng đường trong máu cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, cùng với sự chăm sóc kém có thể dẫn đến hoại tử[44]
Trang 201.1.6 Hậu quả của Đái tháo đường type 2.
ĐTĐ làm 1,5 triệu người tử vong vào năm 2012, đồng thời do mức đường máu quá cao là yếu tố nguy cơ gây các bệnh tim mạch và các bệnh khác làm thêm 2,2 triệu người chết 43% trong số 3,7 triệu người tử vong này dưới 70 tuổi [69] Năm 2017, toàn thế giới có khoảng 4 triệu người chết vì bệnh ĐTĐ [47]
Tỷ lệ bệnh lý võng mạc của người bệnh đái tháo đường là 35% [70] Bệnh lý võng mạc ĐTĐ gây ra 1,9% các trường họp suy giảm tầm nhìn nặng trên toàn cầu
và 2,6% các trường họp bị mù lòa trong năm 2010 [47]
Người trưởng thành mắc ĐTĐ có nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ gấp hai đến ba lần và có nguy cơ tử vong cao gấp hai đến năm lần người không mắc bệnh ĐTĐ [36]
ĐTĐ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy thận Dữ liệu tổng họp từ 54 quốc gia cho thấy ít nhất 80% trường họp bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD) là do bệnh ĐTĐ, cao huyết áp hoặc kết họp cả hai Tỷ lệ bệnh thận giai đoạn cuối do bệnh ĐTĐ đơn thuần dao động từ 12- 55%, cao gấp 10 lần so với người không mắc ĐTĐ [62]
Có sự liên quan chặt chẽ giữa ĐTĐ type 2 và các triệu chứng tràm cảm Tỷ
lệ mắc trầm cảm tăng lên 27% ở người bệnh ĐTĐ type 2 Đái tháo đường đòi hỏi người bệnh cần thực hiện các hành vi tự chăm sóc như thay đổi lối sống, tuân thủ điều trị; điều này gây ra gánh nặng tâm lý cho người bệnh và có thể dẫn đến trầm cảm Ngược lại, thuốc điều trị trầm cảm đã được chứng minh là một yếu tố nguy cơ gây ra bệnh ĐTĐ type 2 Người bệnh ĐTĐ type 2 thường có biểu hiện lo âu cao hơn 20% so với người không mắc bệnh [38]
Ngoài ra, khi mắc ĐTĐ, hệ thống miễn dịch cơ thể bị suy yếu làm cho cơ thể
dễ bị nhiễm vi khuẩn, virus trong đó điển hình hay gặp là bệnh về răng miệng và cúm; đồng thời cúm làm cho việc quản lý bệnh ĐTĐ type 2 khó khăn hơn khi khó kiểm soát được mức đường máu[69]
ĐTĐ và biến chứng của nó gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho bản thân người bệnh, gia đình, hệ thống y tế và nền kinh tế quốc gia Ước tính chi phí trực
Trang 21tiếp hàng năm của bệnh ĐTĐ đối với thế giới là hon 827 tỷ đô la Mỹ [63] Tổ chức IDF ước tính rằng tổng chi phí chăm sóc sức khoẻ toàn cầu đối với bệnh ĐTĐ đã tăng gấp ba lần trong giai đoạn 2003 đến 2013 Năm 2013, ĐTĐ gây ra 5,1 triệu trường họp tử vong và chiếm khoảng 548 tỷ đô la chi tiêu y tế (11% trong tổng số chi tiêu trên toàn thế giới) [45] Một nghiên cứu ước tính rằng tổn thất về GDP trên toàn thế giới từ năm 2011 đến năm 2030, bao gồm cả chi phí trực tiếp và gián tiếp của bệnh ĐTĐ sẽ là 1,7 nghìn tỷ đô la Mỹ, bao gồm 900 tỷ đô la Mỹ cho các quốc gia có thu nhập cao và 800 tỷ đô la cho các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình
1.2 Đăc điểm dich tễ hoc của bênh Đái tháo đường.
1.2.1 Tình hình Đái tháo đường trên Thế giới
Hiện nay, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi Các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một giảm thì ngược lại các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư đặc biệt là bệnh ĐTĐ và các rối loạn chuyển hoá ngày càng tăng [12]
Tỷ lệ mắc ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng và để lại những hậu quả nghiêm trọng Năm 2014, trên toàn thế giới có khoảng 422 triệu người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ, gấp bốn lần so với 108 triệu người mắc vào năm 1980 Tỷ lệ mắc bệnh tăng gàn gấp đôi, từ 4,7% lên 8,5% Ước tính đến năm 2035, tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng lên 10,1% - khoảng 592 triệu người [69] Từ năm 2010 đến năm 2030, ước tính số người trưởng thành mắc ĐTĐ sẽ tăng lên 69% ở các nước đang phát triển và tăng 20% ở các nước phát triển [64] Tỷ lệ mắc ĐTĐ ngày càng tăng hoặc giữ nguyên ở mọi quốc gia mà không giảm đi Với xu hướng này chỉ có một số quốc gia, chủ yếu
là Tây Âu còn có cơ hội đạt được mục tiêu ngăn chặn sự gia tăng của bệnh ĐTĐ vào năm 2025 [51]
Năm 2014, một nửa số người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ trên thế giói sống
ở 5 quốc gia: Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Brazil và Indonesia [42]
Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ đã tăng nhanh hơn ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình bao gồm: Indonesia, Pakistan, Mexico và Ai Cập đã thay thế các nước châu Âu, bao gồm Đức, Ukraine, Ý và Anh trong danh sách 10 quốc gia đứng đàu
Trang 22với tỷ lệ người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ cao nhất [42].
Theo số liệu mà IDF thống kê năm 2017, hầu hết các khu vực trên thế giới đều có sự gia tăng liên tục số người mắc bệnh ĐTĐ Khoảng 425 triệu người trên toàn thế giới, hay 8,8% người trưởng thành trong độ tuổi từ 20-79 mắc ĐTĐ, trong
đó có 221 triệu người là nam giới và 203,9 triệu người là nữ giới; 279,2 triệu người
ở thành thị và 145,7 triệu người ở nông thôn; số người mắc bệnh cao nhất là khu vực Tây Thái Bình Dương với 153,2 triệu người, cao gấp năm đến mười lần so với một số quốc gia ở Tây Âu có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất Như vậy cứ 11 người trưởng thành có 1 người mắc bệnh và có tới 193 triệu người (46,5%) mắc bệnh ĐTĐ mà không được chẩn đoán Ước tính đến năm 2040, toàn thế giới sẽ có khoảng 642 triệu người mắc bệnh ĐTĐ hay cứ 10 người trưởng thành có 1 người mắc bệnh [47]
Dữ liệu từ Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ, đến năm 2015 có khoảng 30,3 triệu người đã mắc ĐTĐ, chiếm 9,4% dân số Hoa Kỳ Tỷ lệ người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ tăng theo độ tuổi, chiếm 25,2% ở những người từ 65 tuổi trở lên [42] Ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi, 2 trong 5 người mắc bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán Khu vực Nam và Trung Mỹ, số người mắc bệnh ĐTĐ sẽ tăng lên 65% vào năm 2040 [46]
Châu Á là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi ĐTĐ, chiếm hơn 60% số người mắc bệnh trên toàn thế giới [60] Năm 2012, Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, tương ứng là 92,3 triệu và 63 triệu người trong
độ tuổi từ 20 đến 79 Các nước châu Á khác chịu gánh nặng lớn từ bệnh ĐTĐ bao gồm: Indonesia, Nhật Bản, Pakistan, Bangladesh, Malaysia và Philippines [43]
Đông Á và Nam Á là hai khu vực có số lượng người mắc ĐTĐ cao nhất trong năm 2014 là 106 triệu và 86 triệu người Nguyên nhân chủ yếu là do quá trình gia tăng và già hóa dân số [35]
ĐTĐ đang ảnh hưởng tới hơn 25 triệu người ở khu vực Đông Nam Á; do đó, làm tăng gánh nặng bệnh tật; đặc biệt, là ở bốn nước đông dân nhất khu vực: Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam Theo IDF năm 2017, chỉ riêng
Trang 23Indonesia có tới hơn 10,2 triệu người mắc bệnh, tiếp theo là Thái Lan với 4,2 triệu người Philippines và Việt Nam cùng có khoảng trên 3,5 triệu người mắc bệnh Tuy nhiên, có tới gần 14 triệu người bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán [47].
1.2.2 Tình hình Đái tháo đường ở Việt Nam.
Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự năm 2008 trên đối tượng 30-
69 tuổi sống tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 7% và tăng dần theo nhóm tuổi [8] Tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 theo Trần Minh Long năm 2010, nghiên cứu ở nhóm người từ 30 - 69 tuổi tại Nghệ An là 9,37%; Theo Ngô Thanh Nguyên điều tra đối tượng từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Biên Hòa năm 2011 là 8,1%; trong đó số mới chẩn đoán là 69,1%; Theo Huỳnh Nhân Hải, năm 2012 tại thành phố Vĩnh Long là 7,4%; Theo Cao Mỹ Phượng tại tỉnh Trà Vinh năm 2012 tỷ lệ mắc bệnh ở người trên 45 tuổi là 9,5% [15]
Tỷ lệ mắc bệnh theo điều tra 1.100 người dân tộc Khmer trên 45 tuổi tại tỉnh Hậu Giang của Nguyễn Văn Lành năm 2014 là 11,91% và theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Trí tại huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum năm 2016 là 3,7% [12],[20]
Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chổng Đái tháo đường
Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 với tổng số điều
tra là 11.191 người trong độ tuổi từ 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ cho thấy số người mắc bệnh ĐTĐ là 634 người, chiếm tỷ lệ 5,7% Cũng theo kết quả điều tra này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 cao gấp 4,42 lần những người dưới 45 tuổi Người bị tăng huyết áp cũng có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao hơn những người không mắc bệnh 3,45 lần Người có vòng eo lớn nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2,6 lần Những người có quan hệ huyết thống thế hệ thứ nhất vói người bệnh có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2,09 lần [3]
Theo kết quả điều tra về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ
Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tương đương khoảng hơn 2,5 triệu người [4]
Trang 24Tại tỉnh Yên Bái, theo nghiên cứu “Đánh giả tỷ lệ bệnh đái tháo đường và
các yểu tố liên quan ở lứa tuổi 30-64 tại tỉnh Yên Bái năm 2003,'> của Vũ Thị Mùi
và Nguyễn Quang Chùy cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 2,68% [14]
Năm 2004, theo nghiên cứu của Trần Thị Mai Hà về các yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ ở người trên 30 tuổi tại thành phố Yên Bái cho kết quả tỷ lệ mắc bệnh là 4,4% [9]
1.3 Tự chăm sóc của ngưòi bệnh đái tháo đường type 2
1.3.1 Khái niệm tự chăm sóc trong Đái tháo đường type 2
* Khái niệm "Tự chăm sóc".
"Tự chăm sóc" là một khái niệm đa chiều và có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng định nghĩa của Dorothea Orem nhất quán hơn cả Theo Orem, "Tự chăm sóc" được định nghĩa là "Thực hành các hoạt động mà cá nhân tự khởi xướng và thực hiện các hoạt động đó để duy trì cuộc sống, sức khoẻ và hạnh phúc" [27]
Trong nghiên cứu của Levin và Idler năm 1983 đã đề cập đến "Tự chăm sóc"
là những hoạt động được thực hiện trong việc nâng cao sức khoẻ, phòng bệnh, hạn chế bệnh tật và phục hồi sức khoẻ nhưng diễn ra bên ngoài và độc lập với hệ thống
y tế Cùng quan điểm đó, năm 1989 Haug và cộng sự cho rằng tự chăm sóc chỉ được thực hiện bởi người bệnh mà không có sự can thiệp của các chuyên gia [67]
Tuy nhiên, theo Hiệp hội Y khoa Anh (British Medical Association - BMA),
“Tự chăm sóc” không có nghĩa là tự mình quản lý mà không cần sự trợ giúp của chuyên gia y tế, nếu không chắc chắn về tinh trạng sức khỏe của mình cần tìm sự hỗ trợ của bác sĩ, điều dưỡng [31]
* Khái niệm “Tự chăm sóc trong Đái tháo đường type 2
Khái niệm “Tự chăm sóc trong bệnh ĐTĐ type 2” được định nghĩa là một quá trình của sự phát triển kiến thức và nhận thức bằng việc học cách tồn tại, thích nghi với tính chất phức tạp của bệnh ĐTĐ trong một bối cảnh xã hội Vì hầu hết sự chăm sóc hàng ngày cho người bệnh ĐTĐ được thực hiện bởi chính người bệnh và / hoặc gia đình của họ [61]
Trang 25Năm 2009, trong nghiên cứu của Nauck và cộng sự đã chỉ ra rằng 95% việc chăm sóc một người mắc bệnh ĐTĐ phải được đặt lên chính cá nhân và gia đình họ; trong đó, theo dõi lượng đường máu, tuân thủ điều trị và tuân thủ lối sống lành mạnh là trọng tâm [53].
1.3.2 Một số khuyến cáo về tự chăm sóc trong Đái tháo đường type 2
Theo khuyến cáo của Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2017, Hội Đái tháo đường Canada năm 2013 và Hướng dẫn chế độ ăn cho người bệnh ĐTĐ của Bộ Y
tế năm 2017 [5],[26],[32], bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
* Chế độ dinh dưỡng: đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu trong
quản lý bệnh ĐTĐ Không có một mô hình ăn uống nào phù họp với mọi người bệnh ĐTĐ mà cần dựa trên sở thích ăn uống, văn hóa, tôn giáo và mức sống của từng cá nhân [41]
- Đảm bảo đủ tổng năng lượng để giữ cân nặng bình thường Đối với người béo, càn giảm 3- 7% so với cân nặng nền giúp cải thiện việc kiểm soát đường máu
- Đảm bảo cung cấp cân đối năng lượng giữa protein, glucid và lipid theo tỷ lệ: protein = 15 - 20%; glucid = 55 - 60% ; lipid = 20- 35%
Trong đó: Glucid không thấp hơn 130g/ ngày để cung cấp glucose cho não Nên chọn nguồn glucid từ các loại ngũ cốc nguyên hạt, trái cây ; Lipid nên chọn các acid béo chưa no và Omega 3 (dầu thực vật, mỡ cá ); Protein nên chiếm 1- l,5g/kg trọng lượng cơ thể/ngày đối với người không suy chức năng thận Đối với người bệnh thận ĐTĐ thì khuyến cáo 0,8g/kg trọng lượng cơ thể/ngày Nên ăn cá ít nhất 3 lần/ tuần Đối với người ăn chay trường có thể bổ sung nguồn đạm từ các loại đậu (đậu phụ, đậu đen, đậu đỏ )
- Nên dùng thức ăn giàu chất xơ vì có tác dụng làm giảm glucose, cholesterol, tryglycerid Lượng chất xơ từ 25 - 50g/ngày hoặc 15 đến 25g/1000 kcal
- Dùng các thực phẩm có chỉ số đường máu thấp Quốc tế đã phân loại chỉ số đường máu của một số loại thực phẩm như sau: chỉ số đường máu cao là trên 70% (gạo trắng, bánh mì ừắng, dưa hấu ); trung bình: 56 - 69% (gạo lứt, cam ); thấp:
Trang 2640 - 55% (khoai lang, cà rốt, xoài, chuối, sữa chua ); rất thấp: nhỏ hơn 40% (lạc, đậu tương) Đảm bảo đủ vitamin, đặc biệt vitamin nhóm B.
- Thực phẩm nên chọn: gạo lứt, sữa gầy, các loại thịt nạc, thịt bò, thịt bê, thịt
gà bỏ da, các loại cá sông, cá biển ít béo Nên chế biến thức ăn dưới dạng luộc, nấu
- Thực phẩm nên tránh: các loại thịt nhiều mỡ, xúc xích, thịt hun khói, phủ tạng động vật, thịt ngan ngỗng, vịt; các loại cá béo (cá tra, cá nheo); các món được chế biến dạng chiên, xào
- Tránh các loại đồ uống có cồn (rượu, bia -không quá hai ly tiêu chuẩn mỗi ngày đối với phụ nữ trưởng thành và không quá ba ly tiêu chuẩn mỗi ngày đối với nam giới trưởng thành; một ly tiêu chuẩn: lOg cồn, cụ thể như : không uống quá 01 lon bia (330ml) / ngày, 150 - 200ml rượu vang đỏ/ ngày); các loại nước ngọt có ga, nước quả nhiều đường; bánh kẹo ngọt
- Hạn chếmuối: nên tiêu thụ dưới 2300 mg Na+, tương đương 5000 mg muối ăn/ ngày Nếu người bệnh ĐTĐ có kèm theo THA thì nên ăn lượng muối dưới 1500
mg Na+/ ngày
- Các yếu tố vi lượng: nên bổ sung các yêu tố vi lượng nếu thiếu, vì dùng Metformin lâu ngày có thể gây thiếu sinh tố B I2, nên chú ý đến tình trạng này nếu người bệnh có thiếu máu hoặc triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại vi
- Nên duy trì đều đặn thời gian và khoảng cách giữa các bữa ăn, không bỏ bữa
- Phân chia khẩu phần thành nhiều bữa để không gây tăng đường máu quá mức sau ăn Nếu do điều kiện lao động và sinh hoạt chỉ ăn được 3 bữa/ngày thì năng lượng phân phối 20% vào bữa sáng, 40% vào bữa trưa và 40% vào bữa tối
* Hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực là một thuật ngữ chung bao gồm tất cả các hoạt động làm tăng việc sử dụng năng lượng và là một phần quan trọng ừong kế hoạch quản lý bệnh ĐTĐ[12],[26]
Người bệnh ĐTĐ nên hoạt động thể lực từ mức độ vừa phải đến mức độ mạnh 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày/tuần hay tổng cộng 150 phút mỗi tuần, không nên ngưng tập hơn 2 ngày liên tiếp/tuàn Không nên ngồi liên tục quá 30
Trang 27phút Mỗi tuần nên tập kháng lực (kéo dây, nâng tạ) từ 2-3 lần Người già, đau khớp
có thể chia tập nhiều lần trong ngày, thí dụ đi bộ sau 3 bữa ăn, mỗi lần 10-15 phút Người còn trẻ nên tập khoảng khoảng 60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần Chú ý cần kiểm tra các biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh, bàn chân và
đo huyết áp, tàn số tim trước khi luyện tập Không luyện tập gắng sức khi mức đường máu > 250 - 270 mg/dL và ceton dương tính [4]
Một số hình thức tập luyện sức bền phổ biến:
+ Đi bộ: Trong số các loại hình thể dục thể thao củng cố và nâng cao sức khoẻ thì đi bộ có vị trí quan trọng và có tính đại chúng cao, đặc biệt là đối với những người cao tuổi Đi bộ với tốc độ lên đến 6,5 km/giờ thi trong một giờ có thể tiêu hao khoảng 300-400 kcal
+ Chạy: là loại hình vận động phổ biến nhất để nâng cao sức khoẻ Mới bắt đầu nên chạy với cường độ thấp, có thể xen kẽ giữa đi bộ và chạy trong khoảng 8-
12 tuần, sau đó tăng dần thời gian chạy khoảng 30 phúư buổi, ít nhất 3-4 buổi/ tuần
+ Bơi: Tiêu hao năng lượng của cơ thể trong khi bơi có nhiều đặc điểm khác biệt Ngay khi người bơi xuống nước, chưa thực hiện các động tác vận động, tiêu hao năng lượng của cơ thể đã tăng thêm 50% so với binh thường để giữ tư thế trong nước, tiêu hao năng lượng đã tăng 2-3 lần Do lực cản và tính chất dẫn nhiệt của nước lớn nên tiêu hao năng lượng khi bơi cao hơn khoảng 4 lần so với đi bộ cùng tốc độ, nên tập bơi 3 buổi/tuần, mỗi buổi khoảng 30 phút
+ Thể dục nhịp điệu: Để đạt được hiệu quả cần phải tham gia tập luyện thường xuyên, tối thiểu 2 lần/ tuần, mỗi lần 30 phút với cường độ cao, phù họp với lứa tuổi của mình, với yêu cầu có không dưới 2/3 số cơ của cơ thể tham gia vào quá trình vận động
* Tuân thủ dùng thuốc: Đối với người bệnh ĐTĐ type 2 khi thực hiện quản
lý lối sống trong vòng 2-3 tháng không hiệu quả thì sẽ phối họp với sử dụng thuốc
hạ đường máu đường uống hoặc đường tiêm [26]
* Tự theo dõi đường máu
Trang 28- Tần suất tự theo dõi đường máu của người bệnh ĐTĐ type 2 phụ thuộc vào phưong pháp điều trị: Người bệnh mới được chẩn đoán mắc bệnh và được kiểm soát đường máu bằng thay đổi lối sống nên tự theo dõi đường máu 2-3 tuần/ lần Nếu đang dùng thuốc hạ đường máu đường uống: 8-10 ngày/ lần Nếu đang dừng insulin
và đường máu đã tưorng đối ổn định có thể thực hiện 3 ngày/ làn.Trường họp người bệnh đang được dùng phác đồ insulin tăng cường hoặc insulin liên tục thì cần tự theo dõi đường máu ít nhất 3-4 lần/ ngày [5]
- Thời điểm tự theo dõi đường máu: Trước bữa ăn sáng (nhịn ăn); sau khi ăn
2 giờ, trước khi đi ngủ
- Theo dõi đường máu thường xuyên hon khi tăng hoạt động thể lực, thay đổi thói quen ăn uống hoặc thay đổi loại thuốc đang dùng
* Hút thuốc: Người bệnh ĐTĐ type 2 không sử dụng thuốc lá (kể cả thuốc lá
điện tử) [26]
* Chăm sóc bàn chân [4],
- Kiểm tra bàn chân hàng ngày: nên chọn một thời điểm cố định ừong ngày
để dễ nhớ (tốt nhất vào buổi tối trước khi đi ngủ), chọn nơi có ánh sáng tốt, sử dụng một chiếc gương để tiện quan sát lòng bàn chân, cần kiểm tra cả những kẽ chân, kẽ móng xem có vết xước, vết chai sạn, vết bỏng
- Thường xuyên vệ sinh bàn chân sạch sẽ: sử dụng xà phòng để rửa chân mỗi ngày, chú ý lau khô, nhẹ nhàng, không làm cọ xát mạnh Nếu da quá khô có thể sử dụng các loại kem giữ ẩm da, đặc biệt chú ý vùng gót chân, không thoa lên kẽ chân Cắt móng tay, móng chân thường xuyên, chú ý tránh cắt quá sát phần da
- Bảo vệ bàn chân: mang giày dép giúp tránh việc giẫm lên các vật sắc nhọn Tránh mang giày, dép, tất quá chật, dễ gây các vết phồng rộp ở da cần kiểm tra giày trước khi đi để đảm bảo không có bất cứ vật nào có thể gây tổn thương bàn chân
- Sát trùng da: khi bị trầy xước da, cần rửa chân sạch bằng nước ấm, thoa dung dịch sát trùng, rồi băng lại bằng băng cá nhân hay gạc vô trùng Nếu vết thương quá 2 tuần mà vẫn chưa lành thì người bệnh nên đi khảm để được bác sĩ tư vấn
* Vệ sinh răng miệng
Trang 29Người bệnh ĐTĐ type 2 cần vệ sinh răng miệng sau khi ăn bằng bàn chải hoặc chỉ nha khoa thường xuyên và khám nha sĩ định kỳ[26].
1.4 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức tự chăm sóc của người bệnh Đái tháo đường type 2.
Năm 2009, Pharm Adibe và cộng sự tiến hành khảo sát kiến thức tự chăm sóc trên 273 người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Đông Nam Nigieria Kết quả cho thấy kiến thức về tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ có liên quan đến giới tính, tuổi, trình độ học vấn, và số năm bị đái tháo đường Người bệnh là nữ giới, người bệnh trẻ tuổi (18-35 tuổi), người bệnh có trình độ học vấn cao và đã sống với bệnh ĐTĐ > 1 0 nãm có điểm kiến thức tự chăm sóc cao hơn Đồng thời kiến thức chung về bệnh ĐTĐ càng tốt thì điểm kiến thức về tự chăm sóc càng cao
[21].
Trong nghiên cứu đánh giá mức độ và các yếu tố quyết định kiến thức về ĐTĐ của 5114 người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở Kuwait năm 2009 do Adsani và cộng sự thực hiện, kết quả cho thấy điểm kiến thức trung bình về bệnh ĐTĐ là 58,9%, trong đó thiếu hụt kiến thức nhiều nhất ở các câu hỏi liên quan đến
tự chăm sóc, chế độ ăn uống [23]
Năm 2011, Odili đã đánh giá kiến thức của người bệnh ĐTĐ type 2 ở một thành phố thuộc Nigieria để từ đó tìm mối liên quan giữa các đặc điểm của người bệnh với sự thâm hụt kiến thức Kiến thức về bệnh ĐTĐ rất thấp (39,5% ± 16,7%)
Sự thiếu hụt kiến thức chủ yếu về chế độ ăn và tự theo dõi đường máu Thời gian mắc bệnh lâu hơn thì kiến thức về bệnh ĐTĐ tốt hơn [54]
Thungathurthi đã đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ type
2 tại khu vực Warangal của Ấn Độ năm 2012 Trong số 456 người bệnh tham gia nghiên cứu thì chỉ có 3,50% người bệnh ĐTĐ có kiến thức tốt, 29,38% người bệnh
có kiến thức trung bình, 67,12% người bệnh có kiến thức kém 87,5% người bệnh biết các hoạt động thể lực như tập thể dục, đi bộ và bơi lội là điều càn thiết cho sức khoẻ và duy trì nồng độ glucose trong máu Tuy nhiên, hầu hết người bệnh không thực hành các hoạt động thể lực nêu trên [66]
Trang 30Một nghiên cứu mô tả để xác định mức độ kiến thức tự chăm sóc và các yếu
tố liên quan của người bệnh ĐTĐ type 2 được thực hiện tại hai bang ở Nigeria bởi Jackson và cộng sự Kết quả cho thấy đa số ĐTNC (79,5%) trả lời đúng từ 70% câu hỏi trở lên Mức độ kiến thức tự chăm sóc có mối tưcmg quan với trình độ học vấn, thu nhập và thời gian mắc bệnh của ĐTNC [48]
Năm 2016, một nghiên cứu đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ type 2 ở Karnataka được thực hiện bởi Dinesh và cộng sự Với
400 người bệnh ĐTĐ type 2 thì 24% số người bệnh có kiến thức tốt về tự chăm sóc, 59% có kiến thức trung bình và 17% có kiến thức kém Trong số đó, hơn 70% không biết rằng bệnh thần kinh, nhiễm trùng da và các vấn đề về mắt có thể là một biến chứng của bệnh Đặc biệt 99,5% số người bệnh tham gia vào nghiên cứu này không kiểm tra bàn chân và giày dép hàng ngày [40]
Bên cạnh các nghiên cứu mô tả như trên thì một số nghiên cứu can thiệp cũng được thực hiện để nâng cao kiến thức tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ type 2
Một nghiên cứu cận thử nghiệm đánh giá trước sau trên cùng một nhóm được thiết kế để xác định ảnh hưởng của giáo dục sức khỏe lên tự chăm sóc của 100 người bệnh ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Tiểu bang Erzincan, Thổ Nhĩ Kỳ Trước can thiệp, ĐTNC được đánh giá kiến thức tự chăm sóc thông qua bộ câu hỏi Một chương trình giáo dục cho người bệnh được thực hiện một tháng một lần ừong vòng
ba tháng bao gồm các kiến thức liên quan đến bệnh ĐTĐ và tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ type 2 Một tháng sau lần can thiệp cuối cùng, ĐTNC được đánh giá lại kiến thức cho kết quả điểm trung bình kiến thức tự chăm sóc đã tăng lên đáng kể từ 63,51± 8,05 lên 93,80 ± 7,70 Kết quả cũng cho thấy can thiệp giáo dục có hiệu quả tích cực giúp người bệnh cải thiện khả năng tự chăm sóc [49]
Năm 2010, Dalma Alves Pereira và cộng sự thực hiện một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của can thiệp giáo dục lên kiến thức về bệnh ĐTĐ của người bệnh ĐTĐ type 2 Sau can thiệp, người bệnh có kiến thức tốt hơn nhiều so với đánh giá trước can thiệp ở tất cả các nội dung, đặc biệt kiến thức về chế độ dinh dưỡng tăng từ 45% lên 78,8%; kiến thức liên quan đến chăm sóc bàn chân tăng từ 11,5%
Trang 31lên đến 44,6% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khi có sự gia tăng về kiến thức sẽ thúc đẩy người bệnh thực hiện các biện pháp tự chăm sóc theo hướng thay đổi hành vi,
áp dụng những thói quen lành mạnh vào trong cuộc sống [57]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đánh giá kiến thức về bệnh ĐTĐ và tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ type 2 cũng được thực hiện
Các nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi về chế độ dinh dưỡng và chế độ tập luyện của người bệnh ĐTĐ type 2 đã chỉ ra rằng: Kiến thức của người bệnh ĐTĐ type 2 về chế độ dinh dưỡng và chế độ tập luyện còn chưa đầy đủ (62% người bệnh trả lời đúng trên 52% số câu hỏi theo nghiên cứu của Bùi Thị Khánh Thuận năm 2009 tại thành phố Hồ Chí Minh và theo nghiên cứu của Trần Hoa Vân,
Lê Minh Phượng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang thì có 69% người bệnh trả lời đứng các câu hỏi kiến thức về chế độ ăn, 65% người bệnh trả lòi đúng các câu hỏi kiến thức về chế độ tập luyện) [19] Nhưng theo nghiên cứu của Vũ Thị Tuyết Mai tại bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2014 thì có tới 70,2% người bệnh ĐTĐ type 2 có kiến thức chưa đạt về chế độ dinh dưỡng của người bệnh [13]
Trong cuộc điều tra kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh ĐTĐ tại Việt Nam năm 2011 do Nguyễn Vinh Quang và cộng sự tiến hành trên
13159 đối tượng đang sống tại tất cả các tỉnh/ thành phố của Việt Nam trong độ tuổi
từ 30-64 đã thu được một số kết quả về kiến thức bệnh ĐTĐ: tỷ lệ đối tượng có kiến thức chung về bệnh rất thấp là 57%; 26,0% có kiến thức thấp; 15,6% có kiến thức trung bình - khá và chỉ có 1,4% có kiến thức tốt Kiến thức về bệnh ĐTĐ không có
sự khác biệt nhiều giữa các vùng miền trên cả nước [16]
Trong nghiên cứu tình hình đái tháo đường và kiến thức, thực hành dự phòng biến chứng ở trên 2.400 người dân 30- 64 tuổi tại tỉnh Hậu Giang năm 2011 đã cho thấy chỉ có 25,9% đối tượng có kiến thức đúng về dự phòng biến chứng và những người có kiến thức đúng thì thực hành phòng biến chứng tốt hơn [10]
Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và hiệu quả một số giải pháp can thiệp phòng chống loét bàn chân cho người bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai (2010 - 2011) của Huỳnh Quốc Thắng cho thấy 77,46% người
Trang 32bệnh có kiến thức đúng về kiểm soát đường máu, ăn kiêng, tập thể dục, uống thuốc
và khám bệnh định kỳ nên có kết quả kiểm soát đường máu tốt hơn [17]
Trong nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi tự chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ type 2 khám và điều trị tại bệnh viện Chợ Ray của Nguyễn Thị Bích Đào và Vũ Thị Là cho kết quả điểm kiến thức ở mức kém chiếm tới 37,7%, mức điểm trung bình chiếm 20,8% và mức điểm tốt chiếm 41,5% [7]
Năm 2016, nghiên cứu đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ type 2 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên do Nguyễn Vũ Huyền Anh thực hiện đã chỉ ra rằng: có 37,4 % ĐTNC có kiến thức tụ chăm sóc ở mức Đạt, còn lại 62,6% là Không đạt Trong đó, người bệnh có kiến thức tốt về hoạt động thể lực nhưng còn thiếu hụt kiến thức về chế độ dinh dưỡng và tự theo dõi đường máu[l]
Một số nghiên cứu can thiệp giáo dục trong nước liên quan đến bệnh ĐTĐ cũng được tiến hành nhằm nâng cao kiến thức của người bệnh
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng truyền thông giáo dục về kiến thức, thái độ thực hành và các chỉ số kiểm soát trên người bệnh đái tháo đường type 2 của Nguyễn Thị Thu Thảo và Nguyễn Thanh Minh năm 2009 trên 161 người bệnh cho thấy chương trình truyền thông giáo dục có cải thiện tốt trên kiến thức, thái độ, thực hành và làm giảm có ý nghĩa thống kê HbAlc, đường máu lúc đói [18]
Trong đánh giá hiệu quả của chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức người dân tộc Khmer về bệnh ĐTĐ tại tỉnh Hậu Giang của Nguyễn Văn Lành năm 2014 đã chỉ ra: sau can thiệp giáo dục sức khỏe kiến thức về cách phòng chống bệnh tăng từ 52,3% lên 59,9%; cách phát hiện bệnh tăng từ 51,0% lên 80,5%; các yếu tố nguy cơ tăng từ 46,0% lên 79,5% [12]
* Những hạn chế của các nghiên cứu trước đây.
Có nhiều nghiên cứu đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh Đái tháo đường type 2 đã được thực hiện; tuy nhiên các nghiên cứu can thiệp điều dưỡng nhằm nâng cao kiến thức tự chăm sóc của người bệnh ở Việt Nam còn hạn chế, nhất là tại tỉnh Yên Bái chưa có nghiên cứu can thiệp nào về vấn đề này được công bố chính thức
Trang 331.5 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với tự chăm sóc trong Đái tháo đường type 2.
Giáo dục sức khỏe là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật; từ đó, họ có thể nhận
ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống; dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe, phát triển thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất
có thể được cho con người
Để quản lý tốt bệnh ĐTĐ type 2 yêu cầu người bệnh phải thực hiện theo các hướng dẫn về tự chăm sóc rất phức tạp, thực tế nhiều người bệnh thấy khó khăn để tuân thủ các hoạt động này trong cuộc sống hàng ngày Do đó, việc truyền thông GDSK hiệu quả của cán bộ y tế là rất quan trọng Truyền thông GDSK tốt sẽ tăng
sự hài lòng của người bệnh, tạo sự tin tưởng, cải thiện sự tuân thủ điều trị dẫn đến kết quả lâm sàng tốt hơn [28],[56]
Theo nghiên cứu của Beverly và cộng sự năm 2016 đã đưa ra một số kỹ thuật
có thể nâng cao hiệu quả truyền thông GDSK về tự chăm sóc cho người bệnh ĐTĐ type 2, đó là:
- Những nội dung quan trọng nhất về tự chăm sóc nên trình bày trước vì người bệnh thường có xu hướng tập trung lắng nghe và ghi nhớ những thông tin được trình bày đầu tiên
- Sử dụng cụm từ "Điều này rất quan ừọng ." khi trình bày các nội dung chính bởi vì người bệnh sẽ nhớ những điều được coi là quan trọng
- Nội dung hướng dẫn phải đơn giản nhưng rõ ràng và cụ thể
- Sử dụng các câu hỏi mở để người bệnh tự nói lên suy nghĩ, cảm xúc của họ khi thực hiện các hành vi tự chăm sóc
- Tích cực lắng nghe người bệnh
- Chuẩn bị tài liệu phát tay, tờ rơi cho người bệnh để họ củng cố những nội dung đã học và lưu giữ lại thông tin [28]
Trang 341.6 Học thuyết điều dưỡng và khung lý thuyết
Học thuyết Mô hĩnh niềm tin sức khỏe (The Health Belief Model- HBM) được xây dựng từ những năm 1950 bởi các nhà tâm lý xã hội thuộc Dịch vụ Y tế Công cộng Hoa Kỳ HBM là học thuyết được sử dụng rộng rãi như một khung lý thuyết hướng dẫn cho các can thiệp [65]
Nội dung của HBM là một người tham gia vào một hành vi sức khỏe nếu họ tin rằng: họ nhạy cảm hay dễ dàng mắc phải một bệnh trạng nào đó; tình trạng này
có thể tiềm ẩn những hậu quả nghiêm trọng; sẽ có một hành động, một can thiệp có thể hiệu quả trong việc làm giảm tính nhạy cảm hay mức độ nghiêm trọng của tình trạng; có những lợi ích khi thực hiện hành động và có những rào cản không đủ mạnh để ngăn chặn hành động
Có sáu thành phần chính hình thành HBM đó là: nhận thức nhạy cảm, nhận thức mức độ nghiêm trọng, nhận thức lợi ích, nhận thức rào cản, động lực thúc đẩy hành động và sự tự tin
* Áp dụng học thuyết HBM vào nghiên cứu.
Nhận thức nhạy cảm trong nghiên cứu này thể hiện rằng mọi ĐTNC tin rằng bất kỳ người nào cũng đều có thể mắc bệnh ĐTĐ type 2 và khi đã mắc bệnh, ai cũng có nguy cơ gặp phải những biến chứng nặng nề của bệnh nếu không được điều trị và chăm sóc kịp thời, đúng cách
Nhận thức mức độ nghiêm trọng thể hiện qua những hậu quả của bệnh ĐTĐ type 2 như: khoảng 4 triệu người tử vong vì bệnh này trong năm 2017, cứ 8 giây lại thêm một người tử vong và cứ 30 giây lại có một người bị cắt cụt chi vì bệnh ĐTĐ Ngoài ra, gánh nặng về kinh tế khi mắc bệnh là rất lớn [47]
Từ nhận thức nhạy cảm và nhận thức mức độ nghiêm trọng; ĐTNC sẽ nhận thức được mối đe dọa từ bệnh ĐTĐ type 2 đến sức khỏe và đời sống của họ là rất lớn, nếu không được điều trị và chăm sóc đúng cách Khi đó sẽ kích thích để họ tìm hiểu, nâng cao kiến thức chung về bệnh và kiến thức tự chăm sóc vì sự chăm sóc chủ yếu do chính người bệnh
Trang 35Nhận thức về lợi ích là khi ĐTNC nhận thức được rằng việc có kiến thức tốt
về tự chăm sóc tốt thì họ hoàn toàn có thể thích nghi với việc thay đổi lối sống mà không thấy quá khó khăn để tuân thủ, do đó sẽ hạn chế được những hậu quả do bệnh gây ra Tuy nhiên, trong quá trình nâng cao kiến thức tự chăm sóc, họ sẽ gặp phải những khó khăn, trở ngại về kinh tế, phong tục, thói quen, hoàn cảnh sống tác động Đó chính là nhận thức về rào cản của người bệnh Nhưng khi họ nhận thấy
họ có những triệu chứng nặng lên của bệnh hoặc thông qua các phương tiện truyền thông, GDSK, tư vấn sẽ là động lực thúc đẩy để họ nâng cao kiến thức tự chăm sóc, tạo tiền đề thay đổi hành vi lành mạnh cho sức khỏe Cùng với sự tự tin rằng họ có thể thay đổi được hành vi có lợi cho sức khỏe sẽ kích thích để họ trước hết phải thay đổi kiến thức tự chăm sóc
Từ tổng quan tài liệu và áp dụng học thuyết vào trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu như sau:
Yếu tố liền quan
Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Trang 361.7 Môt số đăc điểm của đia bàn nghiên cứu
Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái là bệnh viện chuyên khoa hạng II với quy
mô 60 giường bệnh, có 3 phòng chức năng, 5 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, với tổng số 54 cán bộ viên chức Trong năm 2017, bệnh viện tiến hành khám và điều trị ngoại trú cho 27.047 lượt người, đạt 115% kế hoạch
Trong năm 2017, Bệnh viện đã phối họp với các Trung tâm Y tế huyện, thị
xã, thành phố tổ chức khám sàng lọc cho các đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh Đái tháo đường tại thành phố, Tổ chức tập huấn về phòng chống bệnh Đái tháo đường cho 68 học viên là y tế thôn bản thuộc Trung tâm Y tế thành phố; đồng thời,
tư vấn lối sống lành mạnh và kiểm soát đường máu cho hơn 1.500 đối tượng tiền Đái tháo đường phát hiện sau khám sàng lọc từ năm 2010
Bệnh viện phối họp với trung tâm truyền thông GDSK xây dựng một phóng
sự về bệnh Tăng huyết áp và Đái tháo đường; treo băng rôn, khẩu hiệu hưởng ứng Ngày Đái tháo đường Thế giới (14/11) Đốn nay, bệnh viện đang duy trì tư vấn, GDSK cho 1955 người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú, dưới hình thức bác sĩ giải đáp thắc mắc của người bệnh trong khi khám mà chưa thực hiện các buổi tư vấn, GDSK của điều dưỡng về tự chăm sóc cho người bệnh ĐTĐ type 2
Trang 37Chương 2
2.1 Đổi tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là người bệnh từ 18 tuổi trở lên và đáp ứng các tiêu chuẩn như sau:
- Người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường type 2 trong vòng một năm tính đến thời điểm thu thập số liệu; đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện
Nội tiết Tỉnh Yên Bái tối thiểu 1 tháng (đã có đủ thời gian trải nghiệm tối thiểu để
đảnh giá trước can thiệp).
- Có khả năng tiếp nhận và trả lời các câu hỏi
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loai trừ:
- Người bệnh có diễn biến phải vào viện điều trị nội trú
- Người bệnh không tham gia đầy đủ các lần đánh giá và chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe trong nghiên cứu này
2.2 Thòi gian và địa điểm nghiên cứu.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018
- Thòi gian thu thập số liệu: từ tháng 01 đến tháng 4 năm 2018
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái
2.3 Thiết kế nghiên cứu.
Nghiên cứu can thiệp giáo dục có so sánh trước sau trên một nhóm ĐTNC
Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiền cứu
Trang 382.4 Mẩu và phương pháp chọn mẫu
- z (, 0) là giá trị z thu được từ bảng z tương ứng với giá trị a Với mẫu lực là
90% (P = 0,1), mức ý nghĩa 95% (a = 0,05), tương đương với giá trị Z(i_a) = 1,65 và Z(1-P) = 1,29
- Po là tỷ lệ người bệnh có kiến thức tự chăm sóc đạt trước can thiệp Theo nghiên cứu đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ type 2 tại tỉnh Điện Biên năm 2016 của Nguyễn Vũ Huyền Anh thì tỷ lệ người bệnh có kiến thức
- pi là tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt sau can thiệp Dự kiến trong nghiên cứu này, điểm trung bình kiến thức tự chăm sóc tăng lên 15% Do đó lấy pi = po + 15% = 0,374+ 0,15 = 0,524
Thay vào công thức ừên tính được n = 93
- Phương pháp chọn mẫu:
+ Chọn mẫu thuận tiện
+ Cách thức chọn mẫu: lựa chọn tất cả những người bệnh được chẩn đoán là ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú đến khám tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu, trong thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2018; nhóm nghiên cứu lựa chọn được 108 người đồng ý và tham gia đầy đủ các lần đánh giá, chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứuthực tế là n = 108
Trang 392.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Xây dựng và thử nghiệm bộ công cụ
Bộ công cụ nghiên cứu được nghiên cứu viên dịch sang tiếng Việt từ bộ công
cụ có sẵn bằng tiếng Anh (Diabetes Self-Care Knowledge Questionnaire - DSCKQ 30), sau khi được sự cho phép của tác giả và tham khảo bản dịch được sử dụng trong nghiên cứu của Nguyễn Vũ Huyền Anh tại Điện Biên năm 2016[1] Bộ công
cụ được ba chuyên gia về lĩnh vực ĐTĐ kiểm tra, chỉnh sửa, đánh giá tính giá trị(thông qua chỉ số hiệu lực Content Validity Index (CVI)) để đảm bảo tính chính xác, mức độ phù hợp về nội dung, ngôn ngữ và văn hóa với người Việt Nam (bao gồm 01 tiến sỹ và 2 bác sỹ chuyên khoa I về lĩnh vực điều trị ĐTĐ) Một số câu hỏi
có nội dung không phù họp với điều kiện thực tế đã được chỉnh sửa dựa trên khuyến cáo của Bộ Y tế về tự chăm sóc Sau đó, nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra thử trên 30 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu (những người này không tham gia vào ĐTNC) để hiệu chỉnh lại bộ công cụ cho phù họp và phân tích, đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ Kết quả thu được:
- Chỉ số item - CVI (iCVIs) dao động từ 0,6 đến 1 Chỉ số scale CVI (sCVI) đạt 0,83 cao hon mức đề xuất tối thiểu của Polit là 0,78 [59] Vì vậy, bộ công cụ được xây dựng có tính giá trị
- Hệ số Cronbach’s Alpha của bộ công cụ gồm 30 câu hỏi là 0,81; trong đó,
hệ số Cronbach’s Alpha theo từng phần là:
- Phần A (Thay đổi lối sống): 0,86
- Phần B (Tuân thủ thực hành tự chăm sóc): 0,84
Như vậy, kết quả cho thấy hệ số độ tin cậy Cronbach’s Alpha đều > 0,8;do
đó, chúng tôi sử dụng bộ công cụ này vào trong nghiên cứu
2.5.2 Các bước thu thập số liệu
- Bước 1: Tập huấn cho 3cộng tác viên là 3 giảng viên của Khoa Điều dưỡng, Trường Cao đẳng Y tế Yên Bái về mục đích, nội dung và cách thức điều tra
Trang 40- Bước 2: Tiến hành phỏng vấn, đánh giá kiến thức tự chăm sóc của ĐTNC (Tl) Người bệnh đái tháo đường type 2 đến khám định kỳ tại khoa Khám bệnh và tham gia nghiên cứu theo quy trình như sau:
Sơ đồ 2.2 Quy trình thu thập số liệu
Căn cứ vào sổ quản lý người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh, nghiên cứu viên lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn lựa chọn tham gia vào nghiên cứu và ngồi tại phòng tiếp đón Đối chiếu với sổ khám bệnh xác định được những người có tên trong danh sách và mời người bệnh sau khi lấy máu xét nghiệm xong thì quay lại phòng tư vấn giáo dục sức khỏe.Trong thòi gian người bệnh chờ kết quả xét nghiệm, nhóm nghiên cứu tiến hành đánh giá kiến thức
tự chăm sóc của người bệnhbằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu điều tra chuẩn bị sẵn (Phụ lục 2) Trước khi phỏng vấn, người bệnh được giải thích
về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu và quyền lợi của ĐTNC ĐTNC đồng ý tham gia đã ký vào bản đồng thuận (Phụ lục 1) và được hướng dẫn về hình thức tham gia, cách trả lời câu hỏi Thời gian phỏng vấn khoảng từ 25 đến 30 phút
- Bước 3: Tiến hành tư vấn, giáo dục sức khỏe cho ĐTNC theo chương trình can thiệp Hẹn lịch phỏng vấn lại sau 1 tháng
- Bước 4: Người bệnh được gọi điện thoại trước 2 ngày để nhắc lịch hẹn phỏng vấn lần 2 Tiến hành điều ừa kiến thức tự chăm sóc của ĐTNC sau can thiệp