1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả của bài tập thở cho người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị nội trú tại bệnh viện lao và bệnh phổi nghệ an năm 2018

77 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bài tập thở cải thiện hoạt động của cơ hô hấp và tối ưu sự chuyển động của cơ ngực, giảm khó thở cho người bệnh [28].. Chính vì vậy chúng tôi tiến hà

Trang 2

CHU THỊ NGUYỆT ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA BÀI TẬP THỞ CHO NGƯỜI BÊNH PHỔI TẮC NGHẼN MAN TÍNH ĐIÈU TRI NỒI TRÚ• • • •

TAI BÊNH VIÊN LAO VÀ BÊNH PHỔI • • • •

NGHÊ AN NĂM 2018

Chuyên ngành: Điều Dưỡng

Mã số: 8720301

LUẬN VĂN THẠC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: :PGS.TS Cao Trường Sinh

NAM ĐINH - 2018

Trang 3

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm khó thở trên người bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính và đánh giá hiệu quả của các bài tập thở trên người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu can thiệp được thực hiện cho

60 người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bao gồm 50 nam và 10 nữ có tuổi trung bình 62,28 ± 8,43 Trong thời gian từ tháng 12 năm 2017 đến tháng

6 năm 2018 Hướng dẫn người bệnh tập và thực hiện bài tập thở hoành kết họp với thở ra chụm môi khi thở ra theo khuyến cáo của Bộ Y tế năm 2017 Đánh giá hiệu quả sau thực hiện bài tập thở 6 tuần dựa trên Thang đo mức độ khó thở mMRC, Thang đo chất lượng cuộc sống CAT, và các chỉ số về chức năng thông khí bằng máy đo HI-801 của Nhật Bản

Kết quả: Sau 6 tuần thực hiện bài tập thở, mức độ khó thở của người

bệnh tham gia nghiên cứu đã cải thiện, giảm từ cao xuống thấp theo thang điểm mMRC (p < 0,001) FEVi từ 41,02 ± 12,78 trước can thiệp lên 45,93 ±11,31 sau can thiệp, FEVi/FVC từ 57,0 ± 10,17 trước can thiệp lên 61,69 ± 8,0 sau can thiệp Chất lượng cuộc sống mức độ nặng giảm đáng kể với p<0.05

Kết luân: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bài tập thở áp dụng cho bệnh nhân

bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị tại Bệnh viện lao và bệnh phổi Nghệ An

có sự cải thiện chức năng thông khí phổi và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh

LỜI CẢM ƠN

Trang 4

Với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong ban giám hiệu Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định, phòng đào tạo sau đại học - Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định, các bộ môn đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường.

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người Thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Sự dìu dắt và động viên của Thầy đã khích lệ, động viên em vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài

Em cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong hội đồng đã cho

em những nhận xét, lời khuyên bổ ích, góp ý chỉnh sửa để luận văn của em hoàn thiện nhất

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị trong khoa đã rất nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy Cô, các anh chị đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ , động viên và những người thân trong gia đình đã luôn sát cánh, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập

Nghệ An, ngày 12 thảng 7 năm 2018

Tác giả luận văn

Chu Thị Nguyệt

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn do chính tôi trực tiếp nghiên cứu dưới

sự hướng dẫn của Thầy hướng dẫn khoa học Nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên!

Nghệ An, ngày 12 thảng 7 năm 2018

Tác giả luận văn

Trang 5

Chu Thị Nguyệt

Trang 6

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 27

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 283.2 Đặc điểm khó thở trên người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 303.2.1 Các chỉ số của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp 33

Trang 7

Chương 4: BÀN LUẬN 414.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 414.2 Đặc điểm khó thở trên người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 424.3 Đánh giá hiệu quả của bài tập thở trên người bệnh phổi tắc nghẽn mạn

Trang 8

DANH MUC CÁC CHỮ VIÉT TẮTB

BDI Baseline Dyspnea Index (Chỉ số khó thở cơ bản)

Trang 9

DANH MUC CÁC BẢNG

Bảng 3.2 Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu 26Bảng 3.3 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (N = 60) 29Bảng 3.4 Điều kiện xuất hiện khó thở ở đối tượng nghiên cứu ) 30Bảng 3.5 Thời điểm xuất hiện khó thở của đối tượng nghiên cứu 30

Bảng 3.8 Đặc điểm co kéo các cơ hô hấp của đối tượng nghiên cứu 32Bảng 3.9 Giá trị trung bình của chức năng thông khí của đối tượng trước can

Bảng 3.10 Tình hạng mức độ khó thở phân bố theo giới của đối tượng nghiên

Bảng 3.11 Chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 35Bảng 3.12 Giá trị trung bình của chức năng thông khí sau can thiệp 35Bảng 3.13 Tình hạng mức độ khó thở của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp

Bảng 3.14 Chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên sau can thiệp phân bố

Bảng 3.15 So sánh giá trị trung bỉnh của chức năng thông khí trước và sau

Bảng 3.16 So sánh mức độ khó thở trước và sau can thiệp của đối tượng

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 10

Hình 1.1 Diễn biến bệnh của BPTNMT 8Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới ( N = 60) 28Biểu đồ 3.1 Tình trạng hút thuốc của đối tượng nghiên cứu (N = 60) 29Biểu đồ 3.2 Phân loại giai đoạn bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của đối tượng

Biểu đồ 3.3 So sánh chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp của đối

Trang 11

ĐẢT VẤN ĐỀ

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh lý đặc trưng bởi sự tăc nghẽn lượng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn và là một trong những bệnh lý gây tử vong cao hiện nay [3] Theo Tổ chức Y tế Thế giới từ năm

1990, ước tính có khoảng 2,21 triệu trường họp tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, chiếm 4,4% các nguyên nhân tử vong và đứng hàng thứ 6 trong các nguyên nhân tử vong hên thế giới Dự đoán rằng đến năm 2030 bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, sẽ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cao nhất ừên thế giới [16] Việt Nam có tỷ lệ mắc BPTNMT ở mức độ trung bình

và nặng trên 35 tuổi là 6,7% cao nhất khu vực châu Á Thái Bình Dưorng [15]

BPTNMT thực sự đã trở thành gánh nặng bệnh tật hên toàn cầu, vì tính chất phổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điều trị cao và hậu quả gây tàn phế Bệnh đang trở thành thách thức lớn đối với sức khỏe toàn cầu

Khó thở là một triệu chứng thường gặp nhất của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, chiếm 78% trong các triệu chứng của bệnh [3], [42] Khó thở làm giảm các hoạt động hàng ngày của người bệnh, do đó gây ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.Việc giảm chứng khó thở là một mục tiêu quan trọng của việc điều trị và chăm sóc cho người bệnh COPD Mặc dù thuốc được sử dụng để kiểm soát các triệu chứng của COPD, nhưng đó không phải là giải pháp lâu dài trong điều trị cho người bệnh Đối với người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính biết cách thở đúng

là một phần thiết yếu trong kỹ năng sống chung với bệnh Phương pháp thở đúng rất cần để cung cấp đủ oxy cho cơ thể, đồng thời giúp loại bỏ khí thải(C02) [33]

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bài tập thở cải thiện hoạt động của cơ hô hấp và tối ưu sự chuyển động của cơ ngực, giảm khó thở cho người bệnh [28] Việc duy trì các bài tập thường xuyên sẽ giảm lưu lượng khí cặn,

Trang 12

cải thiện chức năng p h ổ i, giảm tần số và thời gian nhập viện [56], giảm mệt mỏi [59], giảm lo lắng và trầm cảm và cải thiện chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh [55] Bài tập thở bao gồm các bài tập như thở chúm môi, liệu pháp thư giãn, thở chậm và sâu, thở cơ hoành [27], [59] Trong đó các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thở chúm môi (Pursed-lip breathing) và thở cơ hoành (Diaphragmatic breathing) là hai bài tập được sử dụng rộng rãi và có

ý nghĩa lâm sàng [43], [56], [23], [52], [55] Tuy nhiên, dù lợi ích của các bài tập cho người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã được chứng minh, song thực tế cho thấy nhiều người bệnh vẫn chưa thấy được lợi ích này Đánh giá hiệu quả của bài tập thở trên chính người bệnh để người bệnh nhận thức được lợi ích cho chính bản thân họ trong phục hồi chức năng hô hấp, kiểm soát bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời họ cần tin tưởng vào liệu pháp, tuân thủ và duy trì các hoạt động này Các nghiên cứu trước đây cũng đánh giá hiệu quả của bài tập thở trên một cỡ mẫu nhỏ với thời gian can thiệp ngắn và thiếu sự kiểm soát sự duy trì tập thở của người bệnh

Ở Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về tác dụng của tập thở đối với sức khoẻ nói chung và với các bệnh hô hấp nói riêng Tuy nhiên các nghiên cứu này đang lồng ghép tập thở vào chương trình phục hồi chức năng hô hấp, chưa có nghiên cứu riêng về hiệu quả của các bài tập thở nên chưa thấy được lợi ích của các bài tập thở trên chính người bệnh Chính

vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này để đánh giá hiệu quả của bài tập thở cho người bệnh COPD làm cơ sở cho người điều dưỡng tự tin trong việc quản lý triệu chứng, phục hồi hô hấp cho người bệnh và hỗ trợ điều trị cho người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

MỤC TIÊU

Trang 13

1 Mô tả đặc điểm khó thở trên người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa bệnh phổi ngoài lao bệnh viện lao và bệnh phổi Nghệ An năm 2018

2 Đánh giá hiệu quả trước và sau khi áp dụng bài tập thở cho người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa bệnh phổi ngoài lao bệnh viện lao và bệnh phổi Nghệ An năm 2018

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.1.1 Định nghĩa

Theo GOLD (Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease) 2005:

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Tiếng Anh: Chronic ObstructivePulmonary Disease - COPD) là một tình trạng bệnh lý hô hấp mạn tính đặctrưng bởi sự tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn Hiệntượng tắc nghẽn này thường tiến triển từ từ tăng dần và liên quan đến một quátrình viêm bất thường của phổi dưới tác động của ô nhiễm khí thở

Ở Canada COPD cũng được coi là gánh nặng lớn về sức khoẻ Theo nghiên cứu của Trung tâm theo dõi sức khoẻ quốc gia của Canada (NPHS) đã khẳng định 750.000 người Canada bị viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng được chẩn đoán bởi các bác sỹ lâm sàng Tỷ lệ mắc tăng theo tuổi và phân bố như sau: 4,6% ở độ tuổi từ 55 - 64,5% ở độ tuổi từ 64 - 74 và 6,8%

ở độ tuổi trên 75 [19]

Tại Nhật Bản nghiên cứu của Fukuchi Y và cộng sự (2004) trên 2343 người trên 40 tuổi tỷ lệ rối loạn thông khí của các đối tượng là 8,6% trong đó nam: 16,4% và nữ: 5,0% [25]

Trang 15

Ở Trung Quốc có tỷ lệ số người mắc BPTNMT so vói các nước khác cùng khu vực là khá cao Từ nãm 1990-2010, tổng số người Trung Quốc mắc BPTNMT tăng 66,73%, từ 30,90 triệu (95% CI = 21,28-40,02) năm 1990 lên 51,52 triệu (95% CI = 44,26 - 63,93) trong năm 2010 Mức tăng này nổi bật nhất ở độ tuổi trung niên từ 30 tuổi đến 64 tuổi [21].

1.1.2.2 Tình hình trong nước

COPD là một bệnh hô hấp phổ biến ở nước ta trong những năm qua Báo cáo của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự trong Hội nghị Lao và Bệnh phổi tháng 6 năm 2011 cho biết tỉ lệ BPTNMT trong cộng đồng dân cư Việt Nam

từ 40 tuổi trở lên là 4,2%; ừong đó nam là 7,1% và nữ là 1,9% Nếu chia theo khu vực thì nông thôn là 4,7%, thành thị là 3,3% và miền núi là 3,6% Các yếu tố nguy cơ cho BPTNMT tại Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới là hút thuốc, vốn gây tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 4 lần Các tác giả cũng chú ý đến chất đốt sinh khối và cho thấy đun bếp với củi, rơm rạ làm tỉ

lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 2 lần so với khí đốt Ngoài thuốc lá và chất đốt sinh khối, tình trạng ô nhiễm môi trường và đặc biệt là lao phổi đã làm tăng tỉ

lệ mắc BPTNMT tại Việt Nam [14]

Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Viết Nhung (2010) nghiên cứu tình hình dịch

tễ Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT chung toàn quốc ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu là 2,2%, tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam là 3,4 và nữ là 1,1%

Tỷ lệ mắc BPTNMT ở lứa tuổi 40 là 4,2%, trong khi ở nhóm dưới 40 tuổi,

tỷ lệ chỉ là 0,4% Có sự khác biệt rõ rệt giữa tỷ lệ BPTNMT ở nam/nữ ở lứa tuổi này (7,1% và 1,9%) Trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên, miền Bắc tỷ lệ mắc BPTNMT là cao nhất (5,7%) so với miền trung là 4,6

% và miền nam là 1,9 %.[11]

Nghiên cứu của Ngô Qúy Châu, tỷ lệ mắc COPD trong dân cư Hà Nội

là 2%, ở Hải Phòng là 5,56% Như vậy, cứ 100 người dân sẽ có 2-6 người mắc COPD Tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm (từ 1996 -

Trang 16

2000) theo bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần X, có 904 người khi ra viện được chẩn đoán BPTNMT (25,1%) là bện lý đứng hàng đầu, trong đó có 142 người bệnh (15,7%) có biến chứng tâm phế mạn, tỷ lệ nam/nữ là 2,13 Lứa tuổi thường gặp nhất là trên 50 tuổi (81,6%) đều có tiền sử hút thuốc lào, thuốc lá hoặc cả hai loại [4].

1.1.3 Các yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến bệnh phổi tắc nghẽn như sau [3]:

- Hút thuốc lá: là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Khoảng 15- 20% số những người hút thuốc có triệu chứng lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và có khoảng 80 - 90% các bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có hút thuốc lá Khói thuốc lá ảnh hưởng xấu đến cuyển động lông chuyển của biểu mô hô hấp, ức chế chức năng đại thực bào phế nang và tăng sinh các tuyến chất nhầy Thuốc lá gây tăng kháng lực đường hô hấp, giảm hoạt tính Antiprotease và kích thích bạch cầu phóng thích men tiêu protein

- Yếu tố môi trường

+ Ô nhiễm môi trường: tiếp xúc nhiều vói bụi và hóa chất nghề nghiệp (hơi, chất kích thích, khói), ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà

+ Nhiễm trùng đường hô hấp: nhiễm trùng có liên quan đến nguyên nhân cũng như tiến triển của BPTNMT Những người hút thuốc có thể bị viêm tắc đường thở ngay khi chỉ nhiễm trùng đường hô hấp Nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em dưới 8 tuổi gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường

hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi Nhiễm vius, đặc biệt virus hợp bào hô hấp có nguy cơ làm tăng tính phản ứng phế quản, làm cho bệnh phát triển

-Yếu tố cá nhân

Trang 17

+ Tăng tính phản ứng của phế quản: là yếu tố nguy cơ phát triển bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Tăng tính phản ứng phế quản gặp với tỷ lệ 8 - 14%

ở người bình thường

+ Thiếu a l - antitrypsin: là yếu tố di truyền được xác định chắc chắn gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.1.4 Cơ chế bênh sinh

Đặc điểm bệnh sinh của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là quá trình viêm nhiễm thường xuyên toàn bộ đường dẫn khí và nhu mô Xâm nhập đại thực bào, tế bào lympho T và bạch cầu đa nhân trung tính Các tế bào viêm giải phóng ra rất nhiều chất trung gian hoạt mạch gồm: leucotrien B4, interleukin

8 và các chất khác có khả năng phá hủy cấu trúc của phổi và hoặc duy trì tình hạng viêm tăng bạch cầu đa nhân trung tính

Hít phải khói bụi và các chất độc, hút thuốc có thể gây ra tình trạng viêm cũng như phá hủy cấu trúc phế quản phổi

Trang 18

1.1.5 Diễn biến của bệnh

+ FEVi> 80% (so với trị số lý thuyết)

Trang 19

+ Có hoặc không có triệu chứng (ho, khạc đờm)

- Giai đoạn III (mức độ nặng):

+ FEVi/FVC < 70%

+ 30% < FEVi < 50% (so với trị số lý thuyết)

+ Thường có triệu chứng (ho, khạc đờm)

- Giai đoạn IV (mức độ rất nặng):

+ FEVi/FVC < 70%

+ FEVi< 30% (so với trị số lý thuyết)

Kèm theo triệu chứng của suy hô hấp mạn hoặc tâm phế mạn

1.2 Khái quát về khó thở, chất lượng cuộc sống và các bài tập thở

1.2.1 Khó thở

Khó thở là một thuật ngữ được các tác giả định nghĩa dưới nhiều góc

độ khác nhau, nó có thể bao gồm: "khó khăn khi lao động và khó chịu khi hít thở” [24], hoặc “cảm thấy không khí bị thiếu hụt, một cảm giác không thoải mái khi thở” [30] Trong một tuyên bố chính thức về cập nhật phân tích cơ chế, đánh giá và quản lý khó thở của Hoa Kỳ (ATS) (2012) [18] các tác giả cho thấy rằng một triệu chứng chỉ có thể được mô tả bởi trải nghiệm của người bệnh Các tác giả đã đề xuất một định nghĩa rộng hơn về khó thở: “là trải nghiệm chủ quan về cảm giác khó chịu của hơi thở bao gồm những cảm giác khác biệt có tính chất thay đổi cường độ”

Khó thở làm ảnh hưởng tới các khía cạnh của cuộc sống người bệnh như là khó khăn khi làm việc, mệt mỏi, đau đớn, hạn chế vận động Đối với những người bệnh được chẩn đoán COPD tiến triển, khó thở là một dấu hiệu quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống, người bệnh bị hạn chế về mọi mặt và được ví như là đang “tồn tại” chứ không phải là

“sống” [35]

Trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, phổi thường mất tính đàn hồi, giảm sự giãn nở của các phế nang Những thay đổi này là do kết quả của hít

Trang 20

khói thuốc lá kéo dài gây kích thích đường hô hấp, tăng sự phù nề của niêm mạc, dẫn đến tăng sức cản đường thở Từ đó làm cho người bệnh hô hấp không hiệu quả Việc phòng ngừa, giảm và làm dịu các triệu chứng khó thở

mà không ảnh hưởng đến việc điều trị nên là một nhân tố không thể thiếu trong chăm sóc cho người bệnh COPD [24]

1.2.1.1 Đo lường mức độ khó thở

Có ba phưong pháp đánh giá đo khả năng khó thở với các hoạt động sinh hoạt hàng ngày như Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (mMRC), chỉ số khó thở cơ bản (BDI) và sơ đồ Chi phí Oxy (OCD) [30] Mỗi thang đo này đều có những lợi ích và hạn chế Trong thực hành lâm sàng, thang đo mMRC vẫn là quy mô phổ biến nhất, nó dự đoán khả năng sống sót của bệnh nhân COPD, tương quan tốt với điểm số tình trạng sức khoẻ [22], Hạn chế của nó bao gồm

sự thiếu liên kết với bất kỳ tham số về sự suy yếu sinh lý và chức năng

Thang đo BDI [30] là một phương pháp đánh giá khó thở tại thời điểm ban đầu (BDI) Ngoài ra thang đo còn đánh giá sự suy yếu chức năng, mức

độ công việc và mức độ nỗ lực để hoàn thành công việc nào đó Nó phức tạp hơn thang đo mMRC nên cũng tốn nhiều thời gian hơn

Thang đo OCD được thiết kế để đo tỷ lệ hoạt động theo số lượng chi tiêu calo cho hoạt động đó [30] Thang đo OCD được mô tả là đường thẳng dọc 100mm tương ứng với 13 hoạt động được liệt kê dọc theo các điểm khác nhau phù hợp với yêu cầu oxy ngày càng tăng đối với mức độ hoàn thành công việc của họ Người bệnh được yêu cầu cho thấy mức độ hoạt động gây khó thở bằng cách đánh dấu một điểm trên đường thẳng đứng Điểm số của OCD được tính bằng cách đo khoảng cách từ dưới cùng của đường thẳng tới chỗ đánh dấu, tính bằng milimet Nó đơn giản và dễ quản

lý Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh nhân đều tham gia vào tất cả các hoạt động được mô tả dọc theo đường thẳng và một số cần hướng dẫn lặp đi lặp lại để đánh dấu tại một điểm thích hợp với họ

Trang 21

Nghiên cứu của Ozalevli và Ucan (2006) quan sát thấy điểm số chứng khó thở do mMRC có tương quan với đo phế dung khí (FEVi) Thang đo mMRC là thang đo được sử dụng phổ biến nhất vì tính đơn giản, dễ quản lý

và được xác nhận là dấu hiệu hữu ích ừong COPD [47]

Tóm lại khó thở được đo lường bởi thang điểm mMRC (Medical Research Council, nhờ thang điểm mMRC đã được chuẩn nên có thể sử dụng

để so sánh trực tiếp giữa nghiên cứu này với nghiên cứu khác Nhằm đánh giá mức độ khó thở của người bệnh COPD trước và sau chương trình điều trị phục hồi chức năng hô hấp Nguyễn viết Nhung và cs (2010) đã sử dụng thang điểm mMRC với 5 mức độ phân bố điểm từ 1 đến 5, tương ứng với từng giai đoạn bệnh của bệnh nhân COPD Nhờ có thang điểm khó thở mMRC có giá trị và đáng tin cậy mới được áp dụng trong những thập niên gần đây, các nhà nghiên cứu có thể lượng giá được tác động của chương trình điều trị phục hồi chức năng hô hấp trên triệu chứng khó thở [11]

1.2.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh COPD

Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới: “Chất lượng cuộc sống là sự nhận thức của mỗi cá nhân về tình trạng hiện tại theo những chuẩn mực về văn hóa và sự thẩm định về giá trị của xã hội mà cá nhân đó đang sống Những nhận thức này gắn liền với kỳ vọng và những mối quan tâm của cá nhân đó” [29] Như vậy chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng không chỉ bởi

Trang 22

sức khỏe mà còn bởi các yếu tố khác nhau như sự hài lòng trong công việc, chất lượng nhà ở, an ninh tài chính, gia đình và tương tác xã hội, và sự hài lòng về tinh thần [54].

1.2.2.2 Chất lượng cuộc sổng của bệnh nhân COPD

Chất lượng cuộc sống của người bệnh COPD được nhiều tác giả nghiên cứu và đều có kết luận rằng COPD ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người bệnh [50], [49], [57], [17],[46]

Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại một bệnh viện tư nhân trong số 40 người bệnh bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Điểm trung bình của toàn bộ chất lượng cuộc sống là 54,97 ± 13,83, trong khi 47,80 ± 16,66 đối với thể chất, 59,26 ± 12,69 đối với xã hội, và 59,51 ± 15,17 đối với các lĩnh vực tâm lý, cho thấy có sự suy giảm về sức khoẻ thể chất cao hơn [50]

Nghiên cứu của Kendrova (2015) ở Slovakia, chất lượng cuộc sống - sức khỏe (CLCS - SK) người bệnh COPD bị hạn chế [39] Nghiên cứu của Zamzam (2012) tại Hy Lạp chỉ ra CLCS của bệnh nhân COPD bị giảm sút và

ở giai đoạn càng nặng CLCS càng thấp [57] Ở Ấn độ, Ahmed (2016) cũng chỉ ra rằng: CLCS chung của người bệnh COPD là thấp (Mean ± SD: 38,9 ± 25,1) và sự khó thở có tương quan với CLCS (r:0,28; p=0.002; r:0,59, p<0,001) [17]

Như vậy qua khái quát các nghiên cứu cho thấy rằng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, ngăn ngừa người bệnh tham gia các hoạt động xã hội, hạn chế hoạt động hàng ngày Vì vậy việc đo lường CLCS là rất cần thiết để đánh giá được mức độ tác động của bệnh, từ đó có những biện pháp can thiệp thích họp để cải thiện CLCS cho người bệnh

1.2.2.3 Đo lường chất lượng cuộc sổng của người bệnh COPD

Có ba loại thang đo để đo chất lượng cuộc sống chuyên biệt cho người bệnh COPD thường được sử dụng rộng rãi là thang CRQ - Chronic

Trang 23

Respiratory Disease Questionnaire và thang SGRQ - Saint George's Respiratory Questionnaire và CAT - COPD Assessment Test Cả ba thang đo đều có giá trị, độ tin cậy tương tự và đều nhạy cảm với sự thay đổi của chất lượng cuộc sống có liên quan đến sức khoẻ của người bệnh Tuy nhiên, CRQ

và SGRQ là những bảng câu hỏi rất phức tạp và tốn nhiều thòi gian để hoàn thành [46] Đối với người bệnh COPD cần có một công cụ đơn giản và ngắn gọn đã được xác nhận để đo lường tác động của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong thực hành lâm sàng và đánh giá tình trạng sức khỏe, chất lượng cuộc sống và giao tiếp giữa người bệnh với nhân viên y tế thuận lợi hơn Nghiên cứu của Jones (2009) đã xây dựng nên bộ công cụ CAT với Cronbach’s a=0.88 [38] CAT là một bản câu hỏi đơn giản, ngắn gọn để đánh giá và theo dõi COPD Theo nghiên cứu của Okutan và cs (2013) thang đo CAT được phân loại là nhẹ, trung bình, nặng và rất nghiêm trọng Nó có mối quan hệ đáng kể giữa cách phân loại về các đặc điểm của bệnh nhân COPD và bệnh nhân khó thở Tác giả khuyến nghị rằng phân loại CAT tương thích với mức

độ nghiêm trọng của COPD [46]

Ngiên cứu của Thái Thị Thùy Linh và Lê Thị Tuyết Lan (2012) về ứng dụng của bộ câu hỏi CAT phiên bản tiếng Việt để đánh giá chất lượng cuộc sống ở người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, kết quả là bộ câu hỏi CAT

có mối tương quan với thang đo SGRQ (r =0,5,p<0,0001), mMRC (r=0,31, p<0,05), FEVi(r=0,21, p<0,05) [9] Các tác giả kết luận bộ câu hỏi CAT rất hiệu quả trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Thang đo CAT là một bảng câu hỏi ngắn gọn, đơn giản, bệnh nhân có thể tự làm để đánh giá tình trạng sức khỏe của họ và tác động của BPTNMT.Thang đo CAT bao gồm 8 câu hỏi với các vấn đề về tình trạng ho, khạc đàm, khó thở, nặng ngực, hoạt động, giao tiếp xã hội, giấc ngủ, sức khỏe Mỗi câu hỏi sẽ có thang điểm từ 0 đến 5

Trang 24

Tóm lại, trong nghiên cứu này chứng tôi sử dụng bộ câu hỏi CAT để đo lường chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân COPD.

1.23.Bài tập thở

1.23.1 Khái niệm tập thở và các bài tập thở

Tập thở là kỹ thuật làm tăng cường sự hô hấp hệ thống bằng cách cải thiện hệ thống thông khí, tăng cường hô hấp cơ bắp, và tăng sức chịu đựng

Để giúp làm giảm các triệu chứng khó thở của người bệnh các nhà vật lý trị liệu đã đưa ra nhiều bài tập thở, trong đó có hai bài tập thở: bao gồm thở cơ hoành (Diaphragmatic breathing) và thở chúm môi (Pursed - lip breathing) có

ý nghĩa lâm sàng và được nhiều tác giả nghiên cứu

Thở chúm môi

Trong COPD, đường dẫn khí có khuynh hướng đóng lại trước khi bệnh nhân kết thúc thì thở ra, như thế sẽ dẫn đến nguy cơ không đẩy hết luồng khí thở ra và gây tình trạng ứ khí cặn; nếu bệnh nhân không thể đẩy hết luồng khí thở ra ngoài thì sẽ khó có thể hít thở sâu vào và đương nhiên là luồng khí thở vào sẽ bị lượng khí cặn ứ trong phổi pha trộn làm cho nồng độ oxy trong không khí ở phế nang giảm đi, dẫn đến hiệu quả trao đổi oxy giữa không khí

và máu mao mao mạch ở phế nang giảm đi rất nhiều, điều đó làm cho bệnh nhân luôn trong tình trạng khó thở Thở chúm môi làm cho đường dẫn khí luôn mở thông và do đó khí thở có thể được thoát hết ra ngoài Thở chúm môi cũng giúp giảm tốc độ của nhịp thở ra đặc biệt khi bệnh nhân cố gắng tăng nhịp thở lên để thu nhận oxy cho nhu cầu cơ thể trong lúc hoạt động thể lực Thở chúm môi dường như là một cách hiệu quả để giảm khó thở, cải thiện khoảng cách đi bộ [43] và trao đổi khí [59]

Thở cơ hoành

Các nhà nghiên cứu kết luận thở cơ hoành tăng cường cử động hô hấp của lồng ngực Ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do tình trạng ứ khí trong phổi nên lồng ngực bị căng phồng làm hạn chế hoạt động của cơ hoảnh

Trang 25

Vì cơ hoành là cơ hô hấp chính, nếu cơ hoành hoạt động kém sẽ làm thông khí ở phổi kém và các cơ hô hấp phụ phải tăng cường hoạt động Tập thở cơ hoành sẽ giúp tăng cường hiệu quả của động tác hô hấp, đặc biệt là cơ hoành

và tiết kiệm năng lượng Thở cơ hoành còn cải thiện thông khí phổi, tăng cường trao đổi khí cải thiện khí thải trong máu [60] ,[52]

1.2.3.2 Một số nghiên cứu về bài tập thở

Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng áp dụng các bài tập thở cho người bệnh là một cách điều trị hiệu quả đối với các triệu chứng phổi khác nhau [33] Tập thở hay thở có kiểm soát làm giảm khó thở bằng cách, cải thiện việc trao đổi khí, tăng sức mạnh và độ bền của cơ hô hấp Một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng tập thở cải thiện tình trạng mệt mỏi, lo âu, tăng cường chất lượng cuộc sống cho người bệnh [33], [59] Theo nghiên cứu của Zakerimoghadam và cs (2011) tiến hành nghiên cứu trên 60 bệnh nhân nhập viện, các đối tượng được phân chia ngẫu nhiên thành nhóm thực nghiệm và nhóm kiểm soát Đối với nhóm thực nghiệm thực hiện các bài tập thở sau 10 ngày kết quả cho thấy với những người bệnh thuộc nhóm thực nghiệm có sự cải thiện mức độ mệt mỏi, trước can thiệp (55,766%) và sau can thiệp (40,166%) [59] Theo nghiên cứu của Helen (2013) trên 200 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính , kết quả sau khi trải qua bài tập thở, trong nhóm thực nghiệm mức độ khó thở đã được giảm đáng kể (p<0,001) và có sự cải thiện trong chất lượng của cuộc sống của người bệnh [33]

về lợi ích của hai bài tập thở chúm môi và thở cơ hoành cũng được chỉ ra trong các nghiên cứu Theo nghiên cứu của Gosselink (2003) đã báo cáo rằng thở cơ hoành làm tăng thể tích khí phế nang, tăng việc hít thở và thở chúm môi làm cải thiện và kéo dài thời gian thở ra, hạn chế sự chít hẹp đường thở [27],

Nghiên cứu của Nield M.A và cộng sự (2007) trên 40 đối tượng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với 14 đối tượng thở chúm môi và 13 đối tượng tập

Trang 26

cơ hô hấp và các nhỏm đối chứng thì hiệu quả sau khi can thiệp có sự khác biệt đáng kể về chỉ số khó thở và điểm chất lượng cuộc sống ở tuần thứ 4(p=0,03) trên nhóm đối tượng thở chúm m ô i Trong nghiên cứu này tác giả cũng đã chỉ ra lợi ích của thở chúm môi so với tập luyện cơ hô hấp Tác giả nhận thấy rằng thở chúm môi là một kỹ thuật đơn giản, không yêu cầu thiết bị thực hành như với tập cơ hô hấp Thở chúm môi có thể được sử dụng mỗi giờ

và với mọi hoạt động, kể cả đi bộ Tập thở chúm môi có thể được kết họp vào thói quen hàng ngày của người bệnh và do đó người bệnh sẽ ít bị quên và việc tập thở sẽ được duy trì [43]

Trong nghiên cứu của Garrod và cộng sự (2005) đã nghiên cứu sự tác động cần thiết của thở chúm môi trên khoảng cách đi bộ ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên 69 người bệnh COPD có FEV1 ở mức trung bình được tuyển chọn thực hiện đi bộ Kết quả cho thấy với nhóm đối tượng áp dụng phương pháp thở chúm môi tuy không cải thiện nhiều về mức độ khó thở nhung người bệnh lại có khả năng đi bộ lâu hơn mà không cần nghỉ nghơi nhiều như nhóm không áp dụng thở chúm môi [26]

Nghiên cứu của Seo và cộng sự (2017) về ảnh hưởng của bài tập thở cơ hoành và thở chúm môi cho người bệnh hô hấp mạn tính Ba mươi đối tượng được chi thành 2 nhóm 15 đối thượng thuộc nhóm can thiệp thực hiện bài tập thở trong 4 tuần Khi so sánh mức độ hoạt động cơ hô hấp của nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng trước và sau can thiệp cho thấy sự khác biệt đáng

kể ở tất cả các phần (p<0,05) ở nhóm thực nghiệm không có sự khác biệt (p>0,05) Các tác giả cũng cho thấy rằng sử dụng các bài tập thở làm tăng hoạt động của các cơ hoành đồng thời làm tăng hoạt động của các cơ hô hấp

Từ đó cải thiện được tỉnh trạng thông khí phổi, tăng cường trao đổi khí [52]

Tóm lại, qua phần tổng quan của các nghiên cứu về bài tập thở, chúng tôi thấy rằng các nghiên cứu chưa có có một kết luận rõ ràng về hiệu quả của các bài tập thở, chưa có sự thống nhất trong kết quả của các nghiên cứu Do

Trang 27

đó không làm rõ được vai trò của các phương pháp Nguyên nhân có thể do

sự hạn chế của các nghiên cứu chưa chú trọng vào việc kiểm soát, duy trì thời gian tập thở khi người bệnh xuất viện, mặc dù một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng duy trì tập thở trong một thời gian dài thì hiệu quả sẽ cao hơn Trong nghiên cứu của chứng tôi sẽ chú trọng xây dựng chương trình kiểm soát việc tập thở của người bệnh qua kênh người bệnh và người nhà của người bệnh, người chăm sóc chính và gần gũi với người bệnh nhất Đe thực hiện được điều này trong quá trình can thiệp ngoài tác động đến người bệnh thì phải kết họp giáo dục cho người nhà - người chăm sóc chính của người bệnh về tầm quan trọng của tập thở và sự cần thiết khi duy trì sự tập thở cho người bệnh

1.2.3.3 Đo lường bài tập thở

Để đo lường hiệu quả của phương pháp tập tập thở ngoài đo lường chức năng thông khí (CNTK), cần phải đánh giá mức độ khó thở và chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau thực hiện can thiệp Trong đó

đo CNTK được coi là cách đánh giá khách quan tắc nghẽn lưu lượng thở là chìa khoá để chẩn đoán và theo dõi COPD, giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm Ngoài ra đây còn là phương pháp tốt nhất để phát hiện, đánh giá mức độ nặng và theo dõi tiến triển lâm sàng cũng như đánh giá đáp ứng điều trị và tiên lượng ở người bệnh COPD Đo chức năng thông khí chúng ta đo hai chỉ

số FEVi và FVC Khi FEVi giảm xuống < 1 lít thì chỉ có khoảng 50% số bệnh nhân sống thêm trên 5 năm [20]

Ở người bệnh COPD đo CNTK có thể thấy những thay đổi sau:

- FEVi giảm, mức độ giảm tuỳ theo mức độ bệnh

- Dung tích sống thở mạnh (FVC) giai đoạn đầu có thể bình thường nhưng sẽ giảm khi bệnh tiến triển nặng

- Tỷ số FEVi/ FVC < 70% nhưng ở giai đoạn nặng của bệnh FEVi và FVC cùng giảm

1.3 Tóm tắt địa bàn nghiên cứu

Trang 28

Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Nghệ An là bệnh viện trực thuộc sở y tế Nghệ An với chức năng là một bệnh viện cấp tỉnh chuyên khám, tư vấn và điều trị bệnh lao và các bệnh phổi cho người bệnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An

và một số người bệnh của các tinh bạn, đồng thời làm nhiệm vụ chỉ đạo tuyến gồm 20 huyện, thị, thành, trong đó có cả một số trại giam của Bộ Công an Bệnh viện với quy mô 460 giường bệnh có 203 cán bộ nhân viên, 7 khoa lâm sàng, 3 khoa cận lâm sàng và các phòng chức năng Với chức năng khám chữa bệnh, dự phòng bệnh tật cho nhân dân, đây là địa điểm khám chữa bệnh hàng đầu cho người bệnh phổi tại tỉnh Nghệ An

Khoa bệnh phổi ngoài lao với lượng người bệnh BPTNMT hiện có là

100 người với các mức độ bệnh khác nhau Trung bình một ngày bệnh nhân vào khoa là 3 người đến 4 người Như vậy trong khoảng 3 tháng với dự kiến

60 đối tượng nghiên cứu thì nhóm nghiên cứu đảm bảo được cỡ mẫu đề ra

Chương 2

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 29

Đối tượng nghiên cứu là người bệnh được chẩn đoán BPTNMT đang điều trị nội trủ tại khoa bệnh phổi ngoài lao của bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An.

* Tiêu chuẩn chọn:

- Người bệnh được chẩn đoán COPD giai đoạn II trở lên, chưa tham gia vào bất kỳ chương trình tập thở nào trước đó đồng ý tham gia vào nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Người bệnh có vấn đề về thần kinh hoặc bệnh tim mạch không ổn định, suy hô hấp

- Người bệnh không có khả năng họp tác: thính lực, thị lực kém, sa súttrí tuệ

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

- Giai đoạn 1: Thông qua đề cương nghiên cứu và hội đồng đạo đức

Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2017

- Giai đoạn 2: Làm can thiệp và lấy xong số liệu: Từ tháng 1 đến tháng

4 năm 2018

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại Khoa bệnh phổi ngoài lao của bệnh viện lao và bệnh phổi Nghệ An

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp tập thở trên 1 nhóm có đánh giá trước - sau can thiệp

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Chọn mẫu toàn bộ: chọn toàn bộ người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn, trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2018 Cỡ mẫu có 65 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn tại thời điểm trước can thiệp Trong quá trình can thiệp có 5 người bỏ cuộc Do vậy, nghiên cứu chỉ phân tích số liệu và thể hiện kết quả với 60 người bệnh

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Trang 30

Chọn mẫu toàn bộ người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đủ tiêu chuẩn nghiên cứu nằm điều trị tại khoa bệnh phổi ngoài lao của bệnh viện lao

và bệnh phổi Nghệ An từ tháng 1/2017 đến tháng 4/2018

2.5 Quá trình thu thập số liệu

Sau khi nhận được sự đồng ý của Hội đồng đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và được sự đồng ý của Ban Giám Đốc bệnh viện lao

và bệnh Phổi Nghệ An, chúng tôi sẽ gặp Trưởng khoa và Điều dưỡng trưởng Khoa nội hô hấp để giải thích mục đích cũng như quy trình thực hiện nghiên cứu

*Quy trình thu thập thông tỉn/dữ liệu: Gồm 3 bước:

Bước 1: Tiến hành đánh giá, lấy số liệu trước can thiệp

- Đối tượng nghiên cứu được chúng tôi giải thích tính chất, mục tiêu và

ý nghĩa của nghiên cứu Các đối tượng nghiên cứu cũng được yêu cầu cung cấp thông tin cơ bản về biến nhân khẩu học thông qua phỏng vấn

- Giải thích, hướng dẫn bộ công cụ đo lường mức độ khó thở và chất lượng cuộc sống cho các đối tượng tham gia nghiên cứu Chúng tôi sẽ đọc từng câu cho người bệnh và người bệnh trả lời, người nghiên cứu điền vào

Trang 31

Bước 2: Tiến hành can thiệp

- Người bệnh vào viện đa số được điều trị trong 2 tuần Sau khi qua cơn cấp tính chúng tôi hướng dẫn tập thở cho người bệnh Như vậy người bệnh sẽ được tập trong 10 ngày ở viện và 4 tuần thực hiện tại nhà

- Mỗi ngày chúng tôi hướng dẫn tập thở cho khoảng 3-4 NB Những người bệnh trong nhóm tập hôm đó sẽ được tập trung tại phòng thở khí dung của khoa Tại đây người bệnh sẽ được hướng dẫn các bài tập thở Khi người bệnh đã quen và thành thạo các bài tập, người bệnh tập tại phòng bệnh của mình

- Các tài liệu hướng dẫn liên quan đến việc thực hiện tập thở đã được bác sỹ Trưởng Khoa thông qua và được trao cho mỗi người bệnh trước khi tập thở

- Những ngày đầu mới tập người bệnh tập thở 3 lần/ ngày (sáng, trưa, tối) mỗi lần ít nhất 10 phút Những ngày sau khi người bệnh đã quen thì có thể mỗi lần 15 phút, 20 phút Người bệnh được hướng dẫn thở cơ hoành trước, sau khi hoàn thành thở cơ hoành thì chuyển ngay sang thở chúm môi Nếu người bệnh mệt có thể nghỉ khoảng 5 phút mỗi lần tập Sau khi đã thành thạo người bệnh sẽ kết họp hai phương pháp thở trong cùng một nhịp thở

- Quá trình tập luyện của NB tại khoa được chúng tôi giám sát hàng ngày Các nhân viên phụ trách từng phòng cũng đã nhắc nhở người bệnh trong phòng mình tập luyện đều đặn Trong quá trình thực hiện người bệnh và người chăm sóc chính của người bệnh đã được cho biết về lợi ích của bài tập thở và tầm quan trọng của việc duy trì việc tập thở

- Sau khi người bệnh xuất viện vẫn duy trì bài tập thở Việc kiểm soát

sự duy trì tập luyện tại nhà của nhóm can thiệp được chúng tôi kiểm soát qua điện thoại Thăm hỏi người bệnh và nhắc nhở họ tập luyện hằng ngày Đồng thời kiểm soát qua kênh người chăm sóc chính của người bệnh để biết quá trình tập luyện của người bệnh

Trang 32

Bước 3: Đánh giá sau can thiệp

- Sau khi tái khám, người bệnh theo lịch hẹn đã được đánh giá lại mức

độ khó thở bằng thang đo mMRC, đo chất lượng cuộc sống bằng thang đo CAT và đo chỉ số FEVi và FVC bằng máy đo HI-801 Nhật Bản tại phòng khám của bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An

2.6 Biến số nghiên cứu

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cửu

ST T

M ã

biến

T ên biến

Đ ịn h ngh ĩa

C á ch thu thập

Giới Là sự khác biệt về mặt sinh

học giữa nam giới và nữ giới

Quan sát, tham khảo hồ

sơ bệnh án

Nhị phân

Nghềnghiệp

Là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát triển cuộc sống cho người bệnh

Phỏng vấn Thứ bậc

Trình độ học vấn

La lớp học cao nhất đã hoàn tất trong hê thống giáo dục quốc dân mà người bệnh đã

theo hpc

Phỏng vấn Thứ bậc

Hoàn cảnh gia đinh

Là tình trạng người bệnh sống cùng gia đình hay sống

Trang 33

Tìnhtrạnghútthuốc lá

Là tình trạng ngýời bệnh ỗang hút thuốc hay ỗang hút hay không hút thuốc

Là hoàn cảnh tác ỗộng dẫn ỗến xuất hiện cõn khỏ thở của ngýời bệnh

Phỏng vấn Biến độc

lập

Thờiđiểmxuấthiệntrongngày

Là thời gian người bệnh xuất hiện cơn khó thở Phỏng vấn Định danh

Tính chất khó thở

Là cảm giác của người bệnh khi xuất hiện những cơn khó

Là số nhịp thở người bệnh thở ra và hít vào trong lphút Đếm nhịp thở

Địnhlượng

Là cảm giác chủ quan khó chịu của người bệnh do nhu cầu trao đổi khí của cơ thể không được đáp ứng khi người bệnh thực hiện công

việc nào đó

Phỏng vấn Thứ bậc

Trang 34

Nhận thức của mỗi cá nhân

về tình trạng hiện tại theo những chuẩn mực về văn hóa và sự thẩm định về giá trị của xã hội mà cá nhân đó

D im ÍT tích sn n p th ả m anh Đo chức năng

thông khí phổi

Địnhlượng

6

Chỉ sổ

FEVi

Chỉ số FEVi

Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính

Đo chức năng thông khí phổi

Địnhlượng

FVC

Chỉ số đánh giá tình trạng tắc nghẽn đường thở

Đo chức năng thông khí

Địnhlượng

2.7 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

Công cụ thu thập số liệu trong nghiên cứu này gồm:

* Biến nhân khẩu học: tuổi, giới, nghề nghiệp, tình trạng học vấn, hoàn cảnh

gia đình, tình trạng hút thuốc lá Các biến này được thu thập qua bộ câu hỏi chuẩn bị trước (Phụ lục 1)

* Thang điểm mMRC

Thang điểm mMRC được sử dụng để đánh gia mức độ khó thở của người bệnh BPTNMT và cũng là thang điểm chuẩn để đánh giá mức độ khó thở ở những người bệnh có vấn đề về hô hấp Thang điểm mMRC với 5 mức

Trang 35

độ phân bố điểm từ 0 đến 4 tương ứng với từng giai đoạn bệnh của người bệnh Độ khó thở càng nặng khi điểm càng cao.

3 Khó thở phải dừng lại sau khi đi bộ lOOm (hoặc sau vài phút)

trên đường bằng

4 Khó thở nhiều đến nỗi không thể rời khỏi nhà hoặc khó thở khi

thay quằn áo

*Thang đo chất lượng cuộc sổng CAT

Thang đo CAT gồm 8 câu hỏi với các vấn đề về tình trạng ho, khạc đờm, khó thở, nặng ngực, hoạt động, giao tiếp xã hội, giấc ngủ, sức khỏe Mỗi câu hỏi sẽ có thang điểm từ 0 (không ảnh hưởng) đến 5 (ảnh hưởng nặng nề) Thang đo đã được kiểm chứng trong nghiên cứu của Thái Thị Thuỳ Linh [9] trên người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có mối tương quan (R>0.37) với thang đo SGRQ scale, mMRC và FEVi

Điểm trung bình tổng thể được tính bằng cách cộng lại điểm của 8 câu hỏi Điểm trung bình tổng thể càng thấp nghĩa là CLCS càng tốt Theo nghiên cứu của Okutan và cs thang đo CAT được phân loại thành 4 mức độ: nhẹ, vừa, nặng và rất nặng với các mức điểm như sau [44]

- < 1 0 điểm: Anh hưởng nhẹ: BPTNMT gây vài vấn đề và ngăn BN làm 1-2 việc họ muốn làm

Trang 36

- 1 0 - 2 0 điểm: Anh hưởng vừa: BPTNMT là một trong các vấn đề quan trọng nhất BN.

- 2 1 - 3 0 điểm: Ảnh hưởng nặng: BPTNMT ngăn BN làm hầu hết các việc họ muốn Khó thở khi đi lại xung quanh nhà, khi thay quần áo, khó thở

cả khi nói Mệt, mất ngủ về đêm vì ho, nặng ngực Sợ tập thể dục và mọi việc dường như là quá sức Sợ hãi, hoảng loạn, bất lực không thể kiểm soát được bệnh

- 31 - 40 điểm: Anh hưởng rất nặng: BN không thể làm tất cả mọi việc

mà họ muốn

* Đo chức năng thông khí

Đo chức năng hô hấp được thực hiện nhờ phế dung khí

Kĩ thuật đo FVC và FEVi sau test hồi phục phế quản: Máy đo chức năng thông khí được cài đặt đủ điều kiện tiêu chuẩn Trước khi đo người bệnh được nghỉ ngơi 15 phút, nới lỏng quần áo, không sử dụng các thuốc giãn phế quản trước đó 6 giờ Khi đo người bệnh ngồi thoải mái, kỹ thuật viên hướng dẫn hít vào tối đa sau vài nhịp thở bỉnh thường rồi thở ra thật nhanh, mạnh và hoàn toàn hết sức qua ống thổi bằng miệng vào máy đo, mỗi lần đo 3 lần, chọn lần đo có kết quả tốt nhất

Tiêu chuẩn đánh giá

Dựa vào thang điểm mMRC để đánh giá mức độ khó thở từ nhẹ đến nặng tương ứng với mức mMRC 1 đến mMRC 5 Đo chất lượng cuộc sống bằng bộ câu hỏi CAT: Đánh giá là nhẹ khi điểm CAT <10 điểm Vừa khi điểm CAT từ 10-20 điểm Nặng khi điểm CAT từ 21-30 điểm Rất nặng khi điểm CAT từ 31-40 điểm

Đo chức năng thông khí bằng máy đo HI-801 Nhật Bản với các chỉ số: FEVi, FVC và FEV,/FVC

Trang 37

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

Dữ liệu được làm sạch trước khi nhập và phân tích bằng cách sử dụngphần mềm phân tích dữ liệu SPSS 20.0

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu đã được sự cho phép của hội đồng đạo đức trường Đại họcĐiều dưỡng Nam Định, được sự đồng ý của ban giám đốc Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An thông qua trước khi tiến hành nghiên cứu

Các bài tập thở được các nghiên cứu kết luận là an toàn Nên khi người bệnh tập thở sẽ không gây bất lợi cho người bệnh

Những người bệnh tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện, được giải thích rõ về mục đích, ý nghĩa, lợi ích của nghiên cứu và nếu đồng ý tham gia sẽ ký vào bản đồng thuận Đảm bảo giữ bí mật các thông tin mà các cá nhân đã cung cấp

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số.

Trong nghiên cứu này, sai số có thể gặp là:

- Đo chức năng phổi: Kỹ thuật viên được chọn đo thông số phải thành tạo về kỹ thuật đo Kỹ thuật đo phải đúng quy trình Nếu có nghi ngờ về kết quả đo thì tiến hành đo lại

- Đối tượng ở nhóm can thiệp không duy trì việc tập thở: kiểm soát việc duy trì tập thở của người bệnh bằng cách trong quá trình hướng dẫn tập thở cho người bệnh cần giải thích cho người bệnh và người chăm sóc chính cho người bệnh biết ý nghĩa của việc duy trì việc tập thở và nhắc nhở người bệnh bằng điện thoại và trao đổi qua điện thoại với người chăm sóc chính của người bệnh về quá trình tập luyện của người bệnh khi ra viện

Trang 38

Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN cứu

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới (n = 60)

Kết quả bảng 3.1 cho thấy, hơn V t người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính chủ yếu là ở nhóm tuổi 6 1 - 7 0 tuổi và tỷ lệ ở nam cao hơn nữ Không có

ý nghĩa thống kê khi so sánh sự khác biệt nhóm tuổi giữa nam và nữ với p>0,05

Độ tuổi trung bình của người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 62,28 ± 8,43, trong đó tuổi trung bình của nam là 62,48 ± 8,33 và tuổi trung bình của nữ là 61,3 ± 9,32

Ngày đăng: 26/02/2021, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Viết Nhung và Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Thị Xuyên (2010). Nghiên cứu tình hình dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam.Tạp chỉ Y học thực hành, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chỉ Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Viết Nhung và Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Thị Xuyên
Năm: 2010
13. Đào Bích Vân và Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Viết Nhung (2010). Hiệu quả điều trị phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân COPD tại bệnh viện lao và bệnh phổi trung ương. Tạp chí Y học thực hành, 2(48-53) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Đào Bích Vân và Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Viết Nhung
Năm: 2010
15. Đinh Ngọc sỹ (2015). Hội nghị khoa học Tiếp cận mới trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Trung Tâm Truyền Thông - Giao Dục sức Khoe Trung Ucmgl.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Tâm Truyền Thông - Giao Dục sức Khoe Trung Ucmgl
Tác giả: Đinh Ngọc sỹ
Năm: 2015
16. Adeloye D, Chua s, Lee c et al (2015). Global and regional estimates of COPD prevalence: Systematic review and meta-analysis. Journal o f Global Healt, 5(2), pp. 415 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal o f Global Healt
Tác giả: Adeloye D, Chua s, Lee c et al
Năm: 2015
17. Ahmed M.s, Neyaz A, Ahmad N (2016). Ealth-related quality of life of chronic obsppuctive pulmonary disease patients: Results from a community based cross-sectional study in Aligarh, Uttar Pradesh, India. Lung India : Official Organ o f Indian Chest Society, 33(2), pp.148-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lung India : Official Organ o f Indian Chest Society
Tác giả: Ahmed M.s, Neyaz A, Ahmad N
Năm: 2016
18. Banzett RB, Parshall MB, Schwartzstein RM, Adams L, et al. (2012) An official American Thoracic Society statement: update on the mechanisms, assessment, and management of dyspnea. Am J Respir Crit Care Med. 185(4), pp. 435-452 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Respir Crit Care Med
12. Vũ Thị Bích Thảo (2016). Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân mắc bệnh phổ tắc nghẽn mạn tính tại phòng quản lý BPTNMT và HPQ Bệnh viện Lao và Phổi Ninh Bình năm 2016. Bệnh viện lao và bênh phổ Ninh Bình Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w