Mật khác, trong thời gian gần đây, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhiều thủ đoạn mới xuất hiện như lừa đáo chiếm đoạt tài sản qua việc sử dụng thẻ tín dụng giả, lừa đảo
Trang 2TR Ư Ờ NG Đ Ạ I H Ọ C L U Ậ T H À NỘI
LÊ ĐÃNG DOANH
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHÔNG TỘI
CHUYÊN NGÀNH: Tội phạm học và Đ iều tra tội phạm
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 TS TRƯƠNG QUANG VINH
2 TS TỪ VĂN NHŨ
HÀ N Ộ I - 2008
Trang 3Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo các tài liệu và
g trình nghiên cứu của các tác giả khác về những vấn đề có liên quan, các tài
ýU tham khảo này có chỉ dẫn nguồn cụ thể.
Tôi cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và không
có sự sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình nào của người khác đã công bố.
TẢC GIA
L Ê Đ Ả N G D O A N H
Trang 4Chương 1 - Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam 13
1.1 Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (1996 - 2006) 13
1.2 Diễn biến của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (1996 - 2006) 34
1.3 Cơ cấu và tính chất của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
( 1 9 9 6 - 2 0 0 6 ) 44
1.4 Một số đặc điểm nhân thân người phạm t ộ i 561.5 Người bị hại trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài s ả n 63
Chương 2 - Tình hình đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm này ở Việt Nam 68
2.1 Tinh hình đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
( 1 9 9 6 - 2 0 0 6 ) 68
2.2 Nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 79
2.2.1 Nguyên nhân và điểu kiện xuất phát từ những tác động tiêu
cực của các yếu tố kinh tế - xã h ộ i 802.2.2 Nguyên nhân và điều kiện bắt nguồn từ yếu tố tâm lí xã hội và
những hạn chế trong cải cách hành chính, trong công tác giáo dục,
tuyên truyền, phổ biến pháp l u ậ t
2.2.3 Nguyên nhân và điều kiện xuất phát từ những tổn tại, thiếu sót
trong hoạt động quản lí kinh tế, quản lí trật tự, an ninh xã hội 96
2.2.4 Nguyên nhân và điều kiện xét từ góc độ nhữrig bất cập, tổn tại
trong công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1 * *2.2.5 Nguyên nhân và điều kiện do những hạn chế trong quy định
của pháp l u ậ t 119
Chương 3 - M ột sô giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
3.1 Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1293.2 M ột số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội lừa
đảo chiếm đoạt tài s ả n 139
Trang 5hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, tuyên truyền và phổ
biến pháp l u ậ t 145
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lí kinh tế, quản lý trật tự an ninh xã hội trong một số lĩnh vực cụ t h ể 152
3.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan Tư pháp trong đấu tranh phòng, chống tội p h ạ m 172
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường cơ sở pháp lí cho công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 183 Kết luận chương 3 192 PHẦN KẾT LUẬN 194
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG Bố CỦA TÁC GIẢ 198
TÀI LIỆU THAM KHẢO 199
PHẨN PHỤ LỤC 206
Trang 6Viêì t đầy đủ Viết tắt là
Trang 71 Bảng 1.1 Số vụ án lừa đảo CĐTS mà Toà án đã giải quyết( 1996 - 2006) 14
2 Bảng 1.2 Số lượng người phạm tội lừa đảo CĐTS đã bị xét xử (1996 - 2006) 16
3 Bảng 1.3 Tổng hợp sô'vụ và sô'người phạm tội lừa đảo CĐTS (1996 - 2006) 17
4 Bảng 1.4 Hệ số về số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS (1996 - 2006) 18
5 Bảng 1.5 Tỉ lệ số vụ lừa đảo CĐTS trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt (1996 - 2 0 0 6 ) 20
6 Bảng 1.6 Tỉ lệ số người phạm tội lừa đảo CĐTS trong nhóm tội xâm phạm
sở hữu có tính chiếm đoạt (1996 - 2 0 0 6 ) 22
7 Bảng 1.7 Mức tăng, giảm bình quân hàng năm và mức tăng, giảm so với
năm 1996 về số vụ và số người phạm tội (1996 - 2006) 34
8 Bảng 1.8 Mức tăng, giảm của số vụ phạm tội là tội ít nghiêm trọng, tội
nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (2001 -2 0 0 6 ) 37
9 Bảng 1.9 Mức tăng, giảm của số người phạm tội ít nghiêm trọng, tội
nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (2001 - 2 0 0 6 ) 39
10 Bảng 1.10 Tỷ lệ vụ phạm tội là loại tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và
tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (2001 - 2006) 44
11 Bảng 1.11 Tỉ lệ số người phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội
rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (2001 - 2006) 45
13 Bảng 1.13 Tỷ lệ các thủ đoạn lừa dối thực tế qua nghiên cứu 594 vụ án 52
14 Bảng 1.14 Các biện pháp xử lí và hình phạt áp dụng đối với người phạm tội
lừa đảo CĐTS (1996 - 2 006) 55
15 Bảng 1.15 Một số thông số về người bị h ạ i 64
Trang 81 Biểu đồ 1.1 Sô' vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS (1996 - 2006) 17
2 Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ sô' vụ phạm tội lừa đảo CĐTS trong nhóm tội xâm
3 Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ số người phạm tội lừa đảo CĐTS trong nhóm tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (1996 - 2006) 22
4 Đồ thị 1.4 Xu hướng diễn biến của số vụ và số người phạm tội
(1 9 9 6 -2 0 0 6 ) 35
5 Đồ thị 1.5 Diễn biến số vụ phạm tội là tội ít nghiêm trọng, tội
nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (2001 - 2 0 0 6 ) 37
6 Đồ thị 1.6 Diễn biến số người phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm
trọng và tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (2001 - 2 0 0 6 ) 39
7 Biểu đồ 1.7 Tỷ lệ cơ cấu theo loại tội phạm (2001 - 2006) 44
8 Biểu đồ 1.8 Tỉ lệ về số người phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm
trọng và tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng
(2001 - 2006) 45
9 Biểu đồ 1.9 Cơ cấu về số vụ lừa đảo xâm phạm đến tài sản của công
• dân và tài sản của Nhà nước 49
11 Biểu đồ 1.11 Tỷ lệ các loại và mức hình phạt (1996 - 2006) 55
12 Biểu đồ 1.12 Tỷ lộ số người phạm tội có tình tiết tái phạm, tái phạm
nguy hiểm (1996 - 2 0 0 6 ) 57
13 Biểu đồ 1.13 Tỷ lệ về độ tuổi của người phạm tội (1996 - 2006) 59
14 Biểu đồ 1.14 Cơ cấu về người pham tôi theo nghề nghiêp và thành
60phần xã hội
15 Biểu đồ 1.15 Cơ cấu về người phạm tội theo trình độ văn hoá 62
16 Biểu đồ 1.16 Tỷ lệ về lí do bị lừa dối từ phía người bi hại 64
17 Mô hình 2.1 Cơ chế hình thành hành vi phạm tội lừa đảo CĐTS 126
Ả
Trang 9kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao (1996 - 2006)
Phụ lục 2 Số vụ phạm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (1996 - 2006) iPhụ lục 3 Số người phạm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (1996 -
2006) uPhụ lục 4 Số vụ, số người phạm tội lừa đảo CĐTS do Toà án cấp tỉnh và cấp
huyện xét xử (1996 - 2006)
Phụ lục 6 Thông số về người phạm tội lừa đảo CĐTS có tình tiết tái phạm, tái
phạm nguy hiểm (1996 - 2006) IV
Phụ lục 7 Thông số về nghề nghiệp và thành phần xã hội của người phạm tội VPhụ lục 8 Thông số về trình độ văn hoá của người phạm tội viPhụ lục 9 Thông số về độ tuổi và giới tính của người phạm tội viPhụ lục 10 Thông số về quốc tịch của người phạm t ộ i viiiPhụ lục 11 Thông số về địa bàn phạm tội ixPhụ lục 12 Giá trị tài sản bị chiếm đoạt qua thống kê XPhụ lục 13 Phiếu khảo sát thực tiễn xii
Phụ lục 15 Thống kê giá trị tài sản đã thu hồi được và khoảng thời gian phát
hiện vụ phạm tội lừa đảo CĐTS XXV
Phụ lục 16 Một số thông số về người bị hại trong các vụ án lừa đảo CĐTS xxvii
Trang 10PHẦN MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Những nãm gần đây, thực tiễn xét xử cho thấy, tình hình tội lừa đảo CĐTS
đã và đang diễn ra hết sức phức tạp Trong một số lĩnh vực, tội phạm này gây thiệt hại rất nghiêm trọng về tài sản Nhiều vụ án lừa đảo không những gây thiệt hại lớn về kinh tế mà còn gây dư luận xấu trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Điển hình như vụ án Trần Phi Hùng ở Hà Nội (2003) chiếm đoạt gần 21 tỉ đổng; ở Thành phố Hồ Chí Minh vụ Epco - Minh Phụng lừa đảo chiếm đoạt gần 350 tỷ đồng; vụ Nguyễn Tôn Văn và đổng bọn chiếm đoạt của ngân hàng Nam Đô trên 129 tý đồng (2003) [2] v.v Theo báo cáo của Chính phủ (2002) chỉ với 152 vụ lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế đã gây thiệt hại với tổng số tiền là 530 tỉ đồng, mỗi vụ trung bình chiếm đoạt gần 3,5 tỉ đồng tiền thuế của Nhà nước [24] Trong lĩnh vực xuất kháu lao động, tội lừa đảo CĐTS cũng đang gây ra sự bất bình và lo ngại trong quần chúng nhân dân, nhất là khu vực nông thôn Điển hình như vụ Chu Thị Thuý Hàng bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2005) xét xử về tội lừa đảo dưới hình thức môi giới xuất khẩu lao động, giới thiệu việc làm với 321 người bị hại, ỏ' 12 tỉnh, thành phố khác nhau Đặc biệt, thủ đoạn lừa đảo qua mạng Internet đana gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Theo báo chí đánh giá, vừa qua vụ lừa đảo trong việc “ đầu tư ” vào công ty ảo Colonylnvest của Mỹ với hàng nghìn người bị hại kéo dài từ Bắc chí Nam, và được ví như một “cơn bão tài chính” quyét qua khu vực dân cư Nhiều gia đình bị hại đã bán hết gia sản hoặc vay ngân hàng với số iượng tiền rất lớn, để con, em được đi xuất khấu lao động hoặc “đầu
tư qua mạng ’ đến nay bị lừa đảo, đang lâm vào cảnh bần cùng Bên cạnh đó, thú đoạn giả thuẽ, mượn tài sản và sau đó đem cầm cố, thế chấp ở các hiệu cầm đổ xảy ra rất phổ biến từ thành phố đến nông thôn Thiệt hại về tài sản mà lội lừa đào CĐTS gây ra trong thời gian qua, ước tính trong mỗi năm gấp nhiều lần tổng thu ngan sách háng nám cua một sô tinh, thành phố
Có thể rói, tội lừa dảo CĐTS xảy ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống x ã hội đã và đang gây ảnh hưởng rất xấu đến hoạt động sản xuất, cũng như
Trang 11đời sống của nhân dân Mật khác, trong thời gian gần đây, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhiều thủ đoạn mới xuất hiện như lừa đáo chiếm đoạt tài sản qua việc sử dụng thẻ tín dụng giả, lừa đảo qua các hợp đồng thương mại điện tử, hay lừa đảo qua hình thức bán hàng đa cấp V.V D0 đó, vấn đề định tội danh cũng xuất hiện những quan điểm khác nhau.
Thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS trong thời gian qua tuy đã được các cấp, các ngành, các cơ quan Tư pháp chú trọng, nhưng do những khiếm khuyết từ nguyên nhân chủ quan và khách quan mà kết quả chưa đạt được như mong muốn Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và phương hướns nhiệm vụ công tác năm 2006 của ngành Toà án nhân dân có nhận định “ Trong các vụ án về hình sự mà các Toà án đã xét xử, các tội phạm trộm cắp, lừa đảo CĐTS chiếm tỉ lệ lớ n .các tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng chưa giảm và được thực hiện với các thủ đoạn ngày càng t i n h v i
Các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS về mặt khoa học tuy
đã được quan tâm nghiên cứu ở những phạm vi và khía cạnh khác nhau, nhưng hiệu quả ứng dụng còn hạn chế
Với những vấn để thực tế nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài: “ Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam” trong điều kiện
hiện nay là rất cần thiết, đáp ứng yêu cầu của lí luận và thực tiễn, góp phần “ làm giảm m ột cách cơ bản các loại tội phạm, phục vụ có hiệu quả công cuộc xây dựng và phát triển đất nước'''’ như Nghị quyết 09 của Chính phủ đã đề ra [25].
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tội lừa đảo CĐTS về góc độ điều tra tội phạm và phòng ngừa chuyên sâu của lực lượng cảnh sát nhân dân đã được một số tác giả nghiên cứu trong các lĩnh vực sau đâỵ:
Trong lĩnh vực điều tra tội lừa đảo CĐTS, có tác giả Nguyễn Mạo An
(1996) Luận án Thạc sỹ luật học với đề tài: “Phương pháp điểu tra các vụ án ỉịìa đáo C Đ T S ", Trường Đại học Cảnh sát, Bộ nội vụ; tác giả Nguyễn Vãn Yên - với
đề tài : “ Tổ chức hoạt động điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sán ” - Đại học
cảnh sát - Luận án Thạc sỹ Luật học (1997) - Bộ nội vụ, Hà Nội; tác giả Phạm
Trang 12Quang Phúc : “Hoạt dộng của lực lượng Cảnh sát nhâìì dân trong phòng m>ừu lọi phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sá n ', Luận án tiến sĩ luật học (2004), Học viện
Cảnh sát nhân dân, Hà Nội
Phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS trong lĩnh vực ngân hàng có công trình của
Học viện Cảnh sát nhân dân - Đề tài khoa học (1999) “ Tội phạm lừa đảo troiiiị lĩn h vực n g â n h ù n g tr o n g g ia i đ o ạ n đ ầ u p h á t tr iể n kin h t ế thi trư ờ n ạ ở nư ớc ta -
Thực trạng và các giải pháp đấu tranh của lực lượng Cảnh sát kinh t ể \ Trong lĩnh vực đưa người đi lao động ở nước ngoài có đề tài: “ Phát hiện, điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt động đưa người đi lao động ở nước ngoài của lực lượng Công an nhân dân”, Học viện Cảnh sát nhân dân
(2005) do Ths Đinh Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài
Trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng có đề tài: “Hoạt động lừa dao trong việc thực hiện luật th u ế giá trị gia tăng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh của lực lượng Cảnh sát nhân dân” Học viện Cảnh sát nhân dân (2005) do Ths Lưu Đức Dương làm chủ nhiệm đề tài và sách “Điều tra tội phạm lừa đáo CĐTS tỉìôniị qua hoàn th u ế giá trị gia tăng trên địa bàn Thành p h ố Hồ Chí M inh” (2005) của
TS Trần Phương Đạt - Ths Nguyễn Giang Nam
Nghiên cứu về khía cạnh tội phạm học của tội lừa đảo CĐTS có công trình
của tác giả Nguyễn Sỹ Lí (1997) “Đấu tranh phòng chống tội phạm lừa đáo theo luật hình sự Việt N am ” Luận án Thạc sỹ Luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật
Hà Nội và tác giả Phạm Quang Phúc với đề tài: “Đấu tranh phòng chống tội phạm lừc đảo chiếm đoạt tài sản Xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Thành p h ố Hồ Chí Minh ”(1999) Luận án Thạc sỹ Luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật.
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn có một số bài viết khác liên quan đến đề tài này của một số tác giả đã công bố trên các tạp chí Toà án nhân dân, tạp chí Luật học, tạp chí Kiểm sát v v
Như vậy, những kết quả nghiên cứu của các tác giả mà chúng tôi tham khảo cho thấy, nội dung về chuyên ngành lội phạm học khóng nhiêu; tình hình tội phạm, những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như các giải pháp đấu tranh phcng, chống tội lừa đảo CĐTS được đề cập ở mức độ hạn chế Hơn nữa
Trang 13giai đoạn mà các tác giả nghiên cứu là từ trước năm 1999 Đến nay (2006) tình hình tội phạm và những nguyên nhân, điều kiện phạm tội lừa đảo chiếm đoại lài sản đã có những biến đổi sâu sắc Mặt khác, các công trình nghiên cứu chù yếu đi sâu trong từng lĩnh vực cụ thể hoặc chỉ nghiên cứu trong một địa bàn cụ th ể
Như vậy, các công trình đã nghiên cứu có nội dung chủ yếu là phòng ngừa chuyên sâu của lực lượng Cảnh sát nhân dân, như các biện pháp nghiệp vụ điều tra cơ bản, sun tra, sử dụng mạng lưới bí mật v v .Hoặc các biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa, điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong một số lĩnh vực cụ thể, như lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, lĩnh vực ngân hàng hoặc lừa đáo người có nhu cầu đi lao động nước ngoài Có thể nói rằng, trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, vấn đề đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS chỉ mới được
Đối với các công trình nghiên cứu của người nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài về đề tài: “ Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạl tài sán chúng tôi nhận thức rằng, đây là để tài có ý nghĩa về khoa học ứng dụng, cho nên
nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thực tiễn của mỗi nước Quy định của pháp luật hình sự ở mỗi nước rất khác nhau về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì vậy cơ
sở pháp lí để coi một hành vi là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng khác nhau Cho nên, cơ sớ để đánh giá tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ó' mỗi nước
cũng không giống nhau Ví dụ, BLHS Thuỵ Điển có quy định: ‘‘Người nào bâng mánh khoé lừa gạt khiến người khác làm hoặc không làm điều gì có lợi cho người
Trang 14phạm lội và có hại cho người bị hại thì bị phạt tù đến 2 năm vè tội lừa dáo"
[15] Hoặc Đ415, Bộ luật hình sự của M alaysia cũng quy định với nội dung rất rộng: C ố ỷ xúi giục người bị lừa dối làm hoặc không làm việc gì mù nếu khòiiiị
b ị lừa d ố i th ì họ k h ô n g là m h o ặ c là m g â y th iệ t h ạ i c h o sứ c k h ỏ e , tr í tu ệ, uy IÍII
hoặc tài sản của người khác thì bi coi là phạm tội lừa đảo" [17] Hoặc BLHS Liên Bang Nga (1996), Đ I 59 quy định “lừa đảo là chiếm đoạt tài sản hoặc qnvển đối với tài sản bằng thủ đoạn gian dối hay lạm dụng tín nhiệm [17].
Ngoài ra, BLHS của một số nước khác còn quy định các tội danh riêng biệt đối với một số thủ đoạn gian dối, như lừa đảo bằng máy tính, lừa đảo trong bào hiểm xã hội, lừa đảo tín dụng V V .Trong khi đó, ở Việt Nam chí có một tội danh
là “ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Hơn nữa, do tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, đặc điểm dân tộc của mỗi nước khác nhau, học thuyết về tội phạm, các nguyên tắc đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng có nhiều điểm không giống nhau Cho nên, quan điểm về vấn đề nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng khác nhau, các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng không thể giống nhau Vì vậy, công trình khoa học về đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản m ang tính ứng dụng thực tiễn, đòi hỏi phải phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước và trong từng giai đoạn nhất định
* Những vấn đề đã nghiên cứu trong các công trình liên quan đến đ ề tài.
Có thể nhận xét chung vể tình hình nghiên cứu của các công trình đã thực hiện có liên quan đến đề tài: “ Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ớ Việt Nam” như sau :
Thứ nhất, về khía cạnh hình sự nội dung pháp lí của tội lừa đào CĐTS cíã được các tác giả nghiên cứu tương đối đẩy đủ theo quy đinh của BLHS 1999.
Nội dung các dấu hiệu pháp lí của cấu thành tội phạm của tội lừa đảo CĐTS như chủ thể, khách thể của tội phạm; mặt khách quan và chủ quan của tội phạm cũng như đường lối xử lí với người phạm tội lừa đảo CĐTS đã được các tác giả đề câp -.ương đối đầv đủ trong các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã tham khảo Ngoài ra, còn có các công trình khác nghiên cứu về nội dung pháp lí của tội phạm này, như giáo trình luật hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 15Học viện cảnh sát nhân dân, Khoa luật của Đại học quốc gia Hà nội hoặc ironiỉ sách bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự của tác giả Đinh Vãn Quế v v
Thứ hai, nội dung về chủ th ể tiến hành công tác đấu tranh phdnạ, chòhiị tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được các công trình nghiên cứu dê cập tươn ẹ đối dày
đủ và cụ thể.
Chủ thể đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và chủ thế đấu t r a n h
phòng, chống tội lừa đảo CĐTS nói riêng là những nội dung mang tính lí luận chung đã được nhiều công trình chuyên sâu về tội phạm học đề cập Các chủ thê
đó bao gồm tổ chức Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chính quyền các địa phương, các
tổ chức chính trị xã hội v.v trong đó nòng cốt là các cơ quan Tư pháp Vai trò chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan đã được các công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập tương đối đầy đủ cả về phương diện lí luận và thực tiễn
Thứ ba, về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện lùm phát sinh lội lừa đáo chiếm đoạt tài sán mới được nghiên cứu trong một s ố lĩnh vực hẹp và ở một sô'địa phương cụ thể.
Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng và lừa đảo CĐTS của người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động ở nước n g o ài Đồng thời, có nghiên cứu đến một số nguyên nhân và điều kiện của tội phạm trong các lĩnh vực cụ thể này
Công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Quang Phúc có đề cập đến tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng chỉ ở mức độ nhất định Ví dụ thực trạng tình hình tội phạm từ 1996 - 2002 được tác giả trình bày trong 5 trang viết
và không có số liệu thống kê thực tiễn xét xử hàng năm hoặc quá trình diễn biến của tình hình tội phạm được nêu rất ngắn gọn Từ đó, vấn đề nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo CĐTS được trình bày chưa có sự gắn kết chặt chẽ với tình hình tội phạm và chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn những nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trên thực tế Hơn nữa, số liệu vụ án được tác giả sử dụng dựa theo thống kê của cơ quan Công an (vụ án đang ở giai đoạn điều tra và đề nghị truy tố) Như vậy, công trình của tác giả chủ yếu nghiên cứu dấu hiệu pháp lí của tội lừa đảo CĐTS và hoạt động phòng ngừa mang tính
Trang 16chuyên sâu về các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng cảnh sát nhân dân Luận
văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Sỹ Lí (1997) “Đâu tranh phòniị chống tội phạm lừa đảo theo luật hình sự Việt N a m ” cũng mang nhiều nội duns phân
tích dấu hiệu pháp lí của tội lừa đảo CĐTS, còn vấn đề về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội được đề cập rất hạn chế Và giai đoạn nghiên cứu của tác giả từ trước những năm 1996 khi tội lừa đảo CĐTS được đánh siá theo quy định của BLHS 1985
Thứ tư, các giải pháp phòng ngừa tội lừa đáo CĐTS chủ yếu là các hoại động phồng ngừa theo nghiệp vụ chuyên sâu của lực lưọ'ng cảnh sát nhân dân và một
sô biện pháp phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS trong từng lĩnlì vực nhất định.
Các công trình nghiên cứu đã đưa ra được một số giải pháp phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực cụ thể, như lừa đảo CĐTS trong lĩnh vực hoàn thuế, lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng, lừa đảo CĐTS của người có nhu cầu
đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài Hoặc những biện pháp chuyên sâu nghiệp
vụ của lực lượng cảnh sát nhân dân (chuyên ngành điều tra hình sự) như chiến thuật điều tra, phát hiện hay xây dựng m ạng lưới bí mật hoặc các giải pháp nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ, điều tra cơ bản, sưu tra v.v của lực lượng Công an nhân dân, như đề tài của tác giả Phạm Q uang Phúc hay của tác giả Trần Phương Đạt và Nguyễn Giang Nam
*Nhữn° vấn đê cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án.
Qua tham khảo các công trình khoa học có nội dung nghiên cứu liên quan gần với đ! tài: “ Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS ở Việt Nam ” chúng tôi nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ các nội dung quan trọng sau đáy:
- Mộí lù, cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về tình hình tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản, để đánh giá đúng thực trạng, cơ cấu và tính chất cũng như xu huớng diễn biến của tội phạm này trong điều kiện hiện nay
- Hai là, cần đánh giá phần tội phạm ẩn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
để hiểu đine thực trạns tình hình tội phạm và tìm các giải pháp nhằm hạn chế mức độ ẩn của tội lừa đảo CĐTS
- B là, kết quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS cần
Trang 17được nghiên cứu để đánh giá những ưu điểm cũng như hạn chế chủ yếu của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong thời gian qua và đưa ra phương hướng khắc phục trong thời gian tới.
- B ốn là, để làm cơ sở đề xuất các giải pháp và tạo tính chủ động trong kế
hoạch đấu tranh phòng, chống tội phạm, nên cần nghiên cứu và đưa ra dự báo tình hình tội lừa đảo CĐTS biến động trong tương lai
- N ăm là, nghiên cứu sâu sắc nội dung nguyên nhân và điều kiện của tội
lừa đảo CĐTS, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên phạm vi toàn quốc
Trên đây là những vấn đề cơ bản, quan trọng chứa đựng những nội dung mới được chúng tôi nghiên cứu và giải quyết trong luận án này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án nhằm đánh giá đầy đủ về tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đổng thời kiến nghị m ột số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm này ở nước ta trong thời gian tới
Để đạt được mục đích trên đây, các nhiệm vụ của luận án cần giải quyết là:
- Đánh giá tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong phạm vi 1996 -
2006, trên cơ sở các số liệu thực tế được thống kê và thu thập trong quá trình nghiên cứu, để từ đó tìm ra những đặc điểm, tình chất và quy luật diễn biến của tội lừa đảo CĐTS
- Đánh giá tình hình đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong giai đoạn 1996 - 2006, rút ra những tồn tại, thiếu sót để có phương hướng khắc phục trong thời gian tới
- Phân tích làm rõ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng như cơ chế hình thành hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Phân tích các cơ sở, các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tội phạm và đưa
ra các dự báo về hệ số tội phạm cũng như xu hướng diễn biến về tình hình tội lừa đảo CĐTS trong tương lai
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những năm tiếp theo
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án này thuộc chuyên ngành tội phạm học, vì vậy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nguyên nhãn
và điều kiện phạm tội Trong đó, chủ yếu nghiên cứu các số liệu thống kê về các
vụ án, con người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đồng thời, nghiên cứu các
vụ án thực tế để rút ra các đặc điểm về tội phạm học của tình hình tội phạm Luận
án còn nghiên cứu các hoạt động đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ớ Việt Nam nhằm làm rõ những ưu điểm và những hạn chế của công tác này trong thời gian qua
Phạm vi nghiên cứu của luận án là tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2006 Với số liệu thực tiễn trên 10 năm liên tục trong phạm vi cả nước, để đánh giá và rút ra các kết luận khoa học về quy luật diễn biến của tình hình tội phạm Đồng thời, qua đó để tìm ra những nguyên nhân
và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Luận án sử dụng sổ' liệu thống kê xét xử án hình sự sơ thẩm của TANDTC trong giai đoạn 1996 - 2006 và có đối chiếu so sánh với số liệu của Cục thống kê tội phạm thuộc VKSNDTC trong những trường hợp cần thiết
5 phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, lí luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về mối quan hệ giữa các hiện tượng, sự vật, giữa con người với xã hội, đồng thời dựa trên quan điểm cúa Đảng và Nhà nước ta về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Tói phạm nói chung và tội lừa đảo CĐTS nói riêng là hiện tượng tiêu cực của xã hội, là hiện tượng m ang bản chất xã hội và có nguồn gốc từ xã hội Vì vậy, nghiên cứu vấn đề đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS phải quan tâm nghiên cứu nguồn gốc phát sinh tội phạm, những yếu tố tác động từ xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, tâm lí xã hội v.v và qua đó đề ra các giải pháp khắc phục những tác động khách quan đó Đồng thời, cần phải thấu suốt quan điểm về
cá nhân ;on người trong xã hội, tuy bị chi phối, bị tác động bởi các yếu tố khách
quan nhung mọi sự tác động bên ngoài đều thông qua đầu óc họ, hành vi phạm tội
Trang 19là kết quả tác động qua lại của các yếu tố khách quan và chủ quan của người phạm tội Chính vì vậy, các phương pháp nghiên cứu cần chú trọng đến nghiên
cứu con người phạm tội, những yếu tố tâm lí, các đặc điểm nhân thân và cơ chê
tác động làm phát sinh hành vi phạm tội
Trên cơ sở phương pháp luận và quan điểm về đấu tranh phòng, chống tội phạm của Đảng và Nhà nước ta, luận án đã sử dụng chủ yếu các phươns pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân rích, so sá n h
Với sự kết hợp những phương pháp khác nhau, chúng tôi nghiên cứu số liệu thống kê tội phạm của các cơ quan TANDTC, VKSNDTC, Bộ Cồne an và với số lượng gần 600 bản án về tội lừa đảo CĐTS được thu thập ở TAND các địa phương trong phạm vi cả nước từ năm 1999 đến 2005 Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu các bản báo cáo tổng kết của một số cơ quan Tư pháp, các công trình khác có liên quan đến đề tài như luận án, các bài viết của các chuyên gia trên các tạp chí nghiên cứu v.v Qua thu thập tổng họp số liệu, phân tích, so sán h .thể hiện bằna bảng biểu, đổ thị, hệ thống hoá, để từ đó tác giả rút ra các kết luận khoa học của mình
- Phưong pháp điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi và trắc nghiệm.
Phương pháp này thực hiện qua phiếu khảo sát bằng các câu hỏi được chuẩn bị sẵn Mục đích nhằm đánh giá lí do ẩn, mức độ ẩn của tội lừa đảo CĐTS chúng tôi lấy hơn 600 phiếu khảo sát của nhiều đối tượng khác nhau, ở nhiều độ tuổi khác nhau và công việc nghề nghiệp khác nhau chủ yếu thông qua học viên các lớp Đại hJC Luật tại chức trong phạm vi cả nước Ngoài ra, tác giả đã sử dụng trên 250 phiếi khảo sát thực tiễn với các cán bộ là Điều tra viên, Trinh sát viên, Kiểm sát viêiì, Thẩm phán ở nhiều địa phương trong cả nước nhằm kiểm tra tính khoa học, tính hiệu quả của việc ứng dụng các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm
- Phương pháp chuyên gia
Sử dụng phương pháp chuyên gia, tác giả đã kết hợp các phiếu hỏi về các nội dung liên quìn đến lĩnh vực chuyên sâu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Trang 20với việc trao đổi trực tiếp với một số nhà khoa học, các cán bộ Thẩm phán Điều
tra v iê n .về một số vấn đề khó khãn, vướng m ắc trong lí luận cũng như thực tiễn
áp dụng pháp luật Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm hiếu qua các chuyên gia vé các phương thức thủ đoạn phạm tội, đặc điểm và những dự báo diễn biến của tội lừa đáo CĐTS trong tương lai Q u a đó để đưa ra các giải pháp đấu tranh phòntì chống tội phạm có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu của tlìực tiễn hiện nay
6 Những đóng góp mói của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu không những có ý nghĩa về khoa học mà còn có ý nghĩa ứng dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội lừa đào CĐTS Trên cơ sơ nghiên cứu so sánh với các công trình đã nghiên cứu của các tác giả khác, chúng tôi nhận thấy luận án có những điểm mới sau đây:
- Luận án đã đánh giá tình hình tội lừa đảo CĐTS một cách toàn diện, có hệ thống và có căn cứ khoa học, dựa trên cơ sở lí luận và những số liệu kháo sát thực tiễn (1996 - 2006) Trong đó đã nêu bật được những diễn biến mới về các thủ đoạn lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản nảy sinh trong điều kiện cơ chế thị trường
và tình hình hội nhập quốc tế của Việt Nam
- Luận án đã đánh giá tình hình tội phạm ẩn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không những về mức độ, về loại tội mà còn về thời gian ẩn, lí do ấn và các giải pháp nhằm hạn chế mức độ ẩn của tội lừa đảo CĐTS
- Luận án cũng đã phân tích và xác định những nguyên nhân và điều kiện cũng như cơ chế tác động làm phát sinh tội lừa đảo CĐTS
- Qua đánh giá hoạt động đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS trong giai đoạn 1996 - 2006, tác giả đã làm rõ những bất cập, hạn chế, của Côn2 tác này Đồng thời, đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quá đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đặc biệt là các giải pháp đấu tranh phòng, chống thủ đoạn lừa dối có sử dụng công nghệ cao, các vụ lừa đảo có nhân
tố nước ngoài và một số lĩnh vực khác trong tương lai
- Qua nghiên cứu lí luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS, tác giả đã đưa ra kiến nghị về công tác tố chức của cơ quan Công an, cơ quan Giám định, đề nghị sửa đối, bổ sung quy định của
Trang 21pháp luật hình sự, luật tố tụng hình sự .nhằm tạo thuận lợi trong quá trình áp dụng để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong giai đoạn hiện nay.
7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Đây là công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về lí luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoại tài sán ỏ Việt Nam
VỚI những phương pháp nghiên cứu khoa học, gắn liền với thực tiễn tình hình tội lừa đảo CĐTS, luận án đã rút ra được quy luật vận động, diễn biến của tình hình tội phạm Đổng thời, luận án cũng xây dựng được cơ sở lí luận nghiên cứu đánh giá tình hình tội phạm ẩn, cùng với những nguyên nhân, điều kiện và cơ chế làm phát sinh tội lừa đảo CĐTS Trong luận án này, tác giả còn phân tích sâu sác
cơ sở lí luận và thực tiễn của các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS
Các kết quả nghiên cứu của luận án còn có ý nghĩa quan trọng trong ứng
dụng phục vụ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạl tài sán cua
các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan Tư pháp trong điều kiện hiện nay Ngoài ra, luận án có giá trị tham khảo hữu ích cho các cán bộ nghiên cứu, các sinh viên học tập nghiên cứu về phương diện tội phạm học cũng như luật hình sự
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
8 K ết cấu của lu ận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, phần nội dung của luận án được chia thành 3 chương:
Chương ỉ Tinh hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam.
Chương 2 Tinh hình đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và
nguyên nhân, điều kiện của tội phạm này ở Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòna, chông
tội lừa đảo chiếm đoat tài sản ở Việt Nam
Trang 22C H Ư Ơ N G 1 TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIÊM ĐOẠT TÀI SẢN ở
VIỆT NAM
%
Tình hình tội lừa đảo CĐTS là bức tranh được khắc họa bởi toàn bộ tội lừa đảo CĐTS đã xảy ra trên thực tế trong khoảng thời gian, không gian nhất định Trong giới hạn nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ đánh giá tình hình tội lừa đảo CĐTS từ năm 1996 đến năm 2006 trên phạm vi cả nước
Trong giai đoạn 1996 - 2006, tình hình tội phạm được đánh giá trên cơ sở tội lừa đảo CĐTS theo quy định của BLHS 1985 với các tội lừa đảo CĐTS XHCN ( Đ I34); tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo CĐTS XHCN (Đ134a); tội lừa đảo CĐTS của công dân (Đ157) và theo quy định của BLHS 1999 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Đ I39)
Tinh hình tội lừa đảo CĐTS được được chúng tôi nghiên cứu với các nội dung về thực trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất của THTP
1.1 THựC TRẠNG CỦA TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐÁO CHIEM đ o ạ t
TÀI SẢN (1996 - 2006)
Thực trạng của tội lừa đảo CĐTS với nội dung phản ánh đặc tính về lượng
của tội lừa đảo CĐTS, bao gồm: thứ nhất, số vụ và số người phạm tội bị xét xử thể
hiện bằng các bản án sơ thẩm của Toà án các cấp và có trong số liệu thống kê của
TANDTC Thứ hai số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS không có trong số
liệu thống kê, bao gồm: sai số thống kê; phần tội phạm ẩn; số tội phạm phát hiện được nhưng khôn? điều tra, khám phá được; một phần số vụ phạm tội do cơ quan Công an, Viện kiểm sát đình chỉ theo thẩm quyền hoặc đã đề nghị truy tố nhưng
không xét xử được v v
Số liệu chúng tôi nghiên cứu dựa vào nguồn thống kê chính thức của TANDTC về số vạ án, số bị cáo được các Toà án xét xử sơ thẩm Đây là cơ sớ có tính hiện thực và quan trọng nhất phản ánh thực trạng của tình hình tội lừa đảo CĐTS Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn dựa vào các số liệu thống kê của VKSNDTC và một số cơ quan của Bộ Công a n đê làm rõ hơn thực
Trang 23trạng của tội lừa đảo CĐTS.
1.1.1 S ố vụ và s ố người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đ ã được xét xử và
có trong sô liệu thông kê
* Sô lượng vụ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Bảng 1.1 S ố vụ án lừa đảo CĐTS mà Toà án đã giải quyết ( 1996 - 2006)
Tổng số
vụ án đã xét xử
và đình chỉ
Đ134 BLHS 1985
Đ134a
BLHS 1985
Đ 157 BLHS 1985
Đ139
BLHS 1999
(Nguồn: TA N D TC thống kê án HSST năm 1996 - 2006 theo mầu 1A)
Nghiên cứu tình hình tội lừa đảo CĐTS, chúng tôi nghiên cứu số liệu thống
kê liên tục từ năm 1996 đến năm 2006 của TANDTC Đây là khoảng thời gian cần thiết đủ để đánh giá những đặc điểm cơ bản chủ yếu của THTP Đổng thời, những đạc điểm khác của tình hình tội lừa đảo CĐTS không có trong thống kê còn được chúng tôi nghiên cứu qua 594 vụ án thực tế do thu thập ngẫu nhiên trong phạm vi cả nước từ 1999 - 2005 tại một số TAND Việc nghiên cứu số lượng các vụ án thực tế mang tính xác xuất, cho phép chúng tôi rút ra những kết luận về một số nội dung như thời gian ẩn, vùng ẩn, cơ cấu, tính chất, diễn biến về một số dặc đ iểm của T H ÍP
Trong iuận án này, khi sử dụng sô' liệu của TANDTC làm cơ sở nghiên cứu,
Trang 24chúng tôi có đối chiếu so sánh với số liệu do VKSNDTC cung cấp trong nhữnti trường hợp cần thiết.
Theo số liệu của TANDTC (bảng 1.1) cho thấy, trung bình mỗi năm có gần 2.000 vụ lừa đảo CĐTS được xét xử Năm thấp nhất có 1.537 vụ và năm cao nhất
có 2.423 vụ Nếu chia thành hai giai đoạn trước và sau BLHS 1999 có hiệu lực, thì giai đoạn 1996 - 2000, mỗi năm trung bình có khoảng £ần 2.200 vụ được xét
xử Giai đoạn 2001 - 2006, mỗi năm trung bình có khoảng 1.777 vụ lừa đảo CĐTS được xét xử Có thể nói, giai đoạn sau khi BLHS 1999 có hiệu lực số vụ phạm tội đã giảm đáng kể so với giai đoạn trước đó
Thực trạng của THTP không chỉ được phản ánh qua số liệu các vụ án được Toà án xét xử sơ thẩm mà còn một phần những vụ án được giải quyết không qua thủ tục xét xử Đó là số lượng vụ án do các cơ quan Công an, Viện kiểm sát đình chỉ hoặc miễn TNHS theo thẩm quyền
Chúng tôi nghiên cứu số liệu từ năm 1998 đến năm 2004 theo thống kê của C16 Bộ công an cho thấy, trong toàn quốc đã thụ lí 4496 vụ lừa đảo CĐTS với 5.759 người, trong đó cơ quan Công an đình chỉ điều tra 123 vụ với 153 người, chiếm 2,7% về số vụ và 2,65% về số người Như vậy, mỗi năm trung bình khoảng 0,38% về số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS được đình chỉ [9]
Trong số liệu thông kê của TANDTC, số liệu các vụ án lừa đảo CĐTS đã được cơ quan VKS đề nghị truy tố, nhưng cơ quan Toà án đã ra quyết định đình chỉ vụ án theo ĩhẩm quyền (bảng 1.1) và trong giai đoạn 1996 - 2006 cơ quan Toà
án đình chỉ 131 vụ án với 169 bị cáo Căn cứ dẫn đến đình chỉ vụ án có thế có nhiều lí do khác nhau, như người phạm tội đã chết, hoặc vụ án đã hết thời hiệu truy cứu TNHS v v nên chúng tôi cho rằng trong số vụ án đình chỉ có một phần
vụ phạm tội lừa đảo CĐTS đã xảy ra Nếu so sánh với tổng số vụ án đã xét xử thì
số vụ án đình chỉ bằng 0,6% số vụ mà Toà án đã xét xử, mỗi năm có gần 0,06%
Như vậv, cả cơ quan Công an và Toà án đình chỉ mỗi năm trung bình vào
khoảng 0,44% (86 vụ) trong đó có một phần số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS Theo chúng tôi số luợng này là không lớn, do vậy không ảnh hưởng gì nhiều đến quá trình đánh giá 'THTP
Trang 25* Sô'lượng người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bảng 1.2 S ố lượng người phạm tội lừa đảo CĐTS đã bị xét xử (1996 - 2006)
Năm
Số lượng người phạm tội có trong
lượng người bị xét xử
Số người
do T A đìnhchỉ
Tổng
số ngườiĐ134
BLHS1985
Đ134aBLHS1985
Đ157BLHS1985
Đ139BLHS1999
đã xét xử
và đình chỉ
(Nguồn: TAND TC thống kê án HSST năm 1996 - 2006 theo mẫu ỈA )
Theo nguồn thống kê của TANDTC, giai đoạn 1996 - 2006 có tổng số 28.900 người phạm tội lừa đảo CĐTS, mỗi năm trung bình có khoảng gần 2.630 người bị xét xử Nếu giai đoạn 1996 - 2000 mỗi năm trung bình có 2.945 người bị xét xử thì giai đoạn 2001 - 2006 mỗi năm trung bình có 2.363 người Điều đó cho thấy, sau khi BLHS 1999 có hiệu lực, số lượng người phạm tội đã giảm đáng kể (giảm khoảng 580 người/nãm)
Nếu đối chiếu với nguồn thống kê của VKSNDTC cùng trong thời gian
này, thì có sự chênh lệch cả về số vụ và số người phạm tội (phụ lụ cl) Ví dụ, chỉ
trong 6 năm gần đây (2001- 2006) theo số liệu của VKSNDTC, tổng số vụ lừa đảo CĐTS được xét xử sơ thẩm là 10.454 vụ và tổng số bị cáo là 13.212 người Nhưng theo số liệu của TANDTC thì tổng số vụ án là 10.664 và tổng số bị cáo là 14.176 (không kể số vụ và số người bị đình chỉ) Như vậy, số liệu của VKSNDTC chỉ trong 6 năm chênh lệch ít hơn so với số liệu của TANDTC là 210 vụ và 964 người Sự chénh lệch này có thể xuất phát từ nhiều lí do khác nhau như thời điếm
Trang 26bất đầu và kết thúc thống kê hàng năm, cách thức thông kê v.v Đây là một trong những khó khăn cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và xử lí số liệu
Bảng 1.3 T ổng hợp sô vụ và sô người phạm tội lừa đảo C Đ T S (1996 - 2006)
Nãm Tông sô' vụ án đã xét xử Sô lượng ngưòỉ bị xét xử
(Nguồn: TA N D TC thống kê án HSST năm 1996 - 2006 theo mầu IA)
Biểu đồ 1.1 S ố vụ và s ố người phạm tội lừa đảo CĐTS (1996 - 2006)
□ Số vụ ph ạm tội ■ Số người phạm tội
(Nguồn: TA N D TC thống kê án HSST năm 1996 - 2006 theo mầu IA)
Thông số về số vụ và số người phạm tội bị xét xử sơ thẩm có trong số liệu thống kê đã phản ánh cơ bản về lượng cùa tình hình tội lừa đảo CĐTS Đây là
■ ' R ƯÔ N GĐ Ạ I HỌ C LŨ ^ Ĩ HÀ N Ộ I PHÒNG Đ 0 C _ _ ^
Trang 27phần tội phạm rõ, có trong thống kê chính thức của cơ quan TANDTC và cũng là phần quan trọng nhất trong bức tranh tổng thể thực trạng của THTP hàng năm, cũng như trong cả khoảng thời gian 1996 - 2006.
* H ệ sô tội p h ạ m củ a tội lừ a đ ả o c h iế m đ o ạ t tà i s ả n
Bảng 1.4 Hệ sô vẻ s ố vụ và sô ngưòi phạm tội lừa đảo CĐTS (1996 - 2006)
Số dân cư hàng nãm (triệu người)
Hệ số về
số vu pham tội/ 100.000 dân
Hệ số về số người pham
tộ i/100.000 dân
Trung bình
3,37
(Nguồn: dân sô' theo s ố liệu công bô trên trang web của tổng cục thống kê )
Hệ số tội phạm là tỉ lệ giữa số vụ, số người phạm tội đã xảy ra với số lượng dân cư nhât định (hoặc với số người đủ tuổi chịu TNHS), trong khoảng thời gian
và trong những địa phương nhất định Nhìn vào hệ số tội phạm cho phép chúne ta đánh giá đẩy đủ hơn thực trạng của THTP trong từng năm, từng thời điểm nghiên cứu và tror.g từng địa phương cụ thể Hệ số tội phạm của tội lừa đảo CĐTS được chúng tôi xác định trên cơ sở số vụ và số người phạm tội đã được xét xử hàng năm và tím theo tỷ lệ trên 100.000 dân, trong mối tương quan với dân số trong thời kì 1995 - 2006 trên phạm vi cả nước [89]
Qua hé số tội phạm của tội lừa đảo CĐTS cho chúng ta biết mức độ thực tế của thực tnng THTP ở các thời điểm khác nhau Hệ số tội phạm của tội lừa đảo CĐTS trung bình trong hơn 10 năm (1996 - 2006) là 2,53 vạ và khoảng 3,37 người trên 100 nghìn dân Thời điểm năm 1991 ở nước ta trung bình có khoảng
Trang 283,7 vụ lừa đảo CĐTS trên 100 nghìn dân [6] Như vậy, theo số liệu thống kê cho
thấy, thực trạng của tình hình tội lừa đảo CĐTS thời kì 1996 - 2006 đã giảm so
với thời kì trước năm 1996
Nếu xét riêng 5 năm đầu (1996 - 2000) hệ số vụ phạm tội trung bình là
2,93 và hệ số về số người phạm tội là 3,93; tương ứng ở thời kì 2001 - 2006 các
hệ số là 2,19 về số vụ và 2,90 về số người phạm tội Những số liệu trên cho thấy
những năm cuối của giai đoạn nghiên cứu (2001 - 2006) đã giảm cả về hệ số vụ
phạm tội và người phạm tội
Nếu so sánh hệ số tội phạm của một số tội xâm phạm sở hữu trong giai
đoạn 2001 - 2006 thì hệ số trung bình của tội cưóp tài sản là 2,45 vụ; hệ số trung
bình của tội cướp giật tài sản là 2,22 vụ; hệ số trung bình của tội lạm dụng tín
nhiệm CĐTS là 1.70 vụ; hệ số trung bình của tội trộm cắp tài sản là 16,6 vụ trên
100 nghìn dân (phụ lục 2) Qua hệ số của các tội phạm nêu trên cho thấy, hệ số
trung bình của tội lừa đảo CĐTS trong giai đoạn 1996 - 2006 cũng như chi xét
riêng trong thời kì 2001 - 2 0 0 6 là loại tội có hệ số tội phạm thuộc mức cao của
nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
* T ỉ lệ v ề s ố v ụ và s ố n g ư ờ i p h ạ m tội lừ a đ ả o C Đ T S tro n g n h ó m tội x à m p h ạ m sở h ữ u có tín h c h iế m đ o ạ t
Để làm rõ hơn thực trạng của tình hình tội lừa đảo CĐTS, chúng tôi nghiên
cứu tỉ lệ về số vụ và số người phạm tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt, từ đó giúp chúng ta đánh giá một cách đầy đủ hơn về mức độ của tội lừa đao CĐTS xảy ra trong “ bức tranh” chung của nhóm tội xâm phạm sở hĩm nói
riêng và của THTP nói chung
- T i lệ về sô'vụ phạm tội
Với tội lừa đảo CĐTS, chúng tôi không tính tỉ lệ số vụ phạm tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu nói chung, mà chỉ tính tỉ lệ so với nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, bao gồm: tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội cưỡng đoạt tài sản; tội cướp giật tài sản; tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; tội lừa đảo CĐTS ; tội trộm cấp tài sản; tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS Trong đó, tính tỷ lệ số vụ lừa đảo CĐTS so sánh với tổng số vụ phạm tội
Trang 29của nhóm tội có tính chiếm đoạt.
Bảng 1.5 Tỉ lệ sô vụ lừa đảo CĐTS trong nhóm tội xàm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt (1996 - 2006)
Năm
Tổng cộng số vụ xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoat
Sô' vu pham tôi lừa đảo CĐTS
(N guồn: TAN D TC thống kê xét xửH SST năm 1996 - 2006 theo mầu IA)
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ sỏ vụ phạm tội lừa đảo CĐTS trong nhóm tội xâm phạm
sở hữu có tính chiếm đoạt (1996 - 2006)
9,6%
90,4%
□ Tổng số vụ lừa đảo CĐTS : 9.6%
H Tổng số vụ phạm tội có tính chiếm đoạt : 90.4%
(N guồn: TAN D TC thống kê xét xửHSST năm /996 - 2006 theo mần ỈA )
Việc chúng tôi không so sánh tỉ lệ tội lừa đảo CĐTS với tổng thể nhóm tội xàm phạm sở hữu vì tội lừa đảo CĐTS trong giai đoạn 1996 đến tháng 7 năm 2000 áp dụng
Trang 30theo quy định của BLHS 1985, nên các tội xâm phạm sở hữu còn bao gồm các tội tham ô tài sản, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn CĐTS của công dân Nhưng đến thời kì 2001 - 2006, các tội phạm trên được coi là các tội phạm về chức vụ Cho nên, việc th ống kê của 5 năm đầu (1996 - 2000) và 6 năm cuối (2001 - 2006) là thiếu sự thống nhất và có sự bất cập khi so sánh giữa hai giai đoạn theo quy định của BLHS 1985 và BLHS 1999 Hơn nữa, một số tội phạm khác như tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản N hà nước v.v .tuy cùng xâm phạm đến quyền sở hữu nhưng không có tính chiếm đoạt, nên nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng có những điểm khác biệt lớn Do đó, giải pháp đấu tranh phòng ngừa các tội phạm này cũng có những đặc thù riêng Vì vậy, chúng tôi so sánh số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS với
số vụ phạm tội của nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, nhằm làm rõ tí
lệ của tội phạm này trong nhóm tội có cùng tính chất, từ đó đánh giá thực chất hơn thực trạng của tình hình tội lừa đảo CĐTS Hơn nữa, để có sự thống nhất và thuận lợi cho việc thống kê, so sánh, đánh giá THTP giai đoạn trước khi BLHS
1999 có hiệu lực pháp luật và giai đoạn sau đó tương ứng với nhóm tội được quy định trong BLHS 1999 hiện hành để có được số liệu tổng thể thống nhất trong thời gian 1996 - 2006
Theo thống kê của TANDTC cho thấy, cơ cấu chung về số vụ của nhóm tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt thời kì 1996 - 2006, trong đó tội cướp tài
sản chiếm 9,3%; tội bắt cóc nhằm CĐTS chiếm 0,04%; tội cưỡng đoạt tài sản chiếm 2,9% ; tội cướp giật tài sản chiếm 8,4%; tội công nhiên CĐTS chiếm 0,24%; tội trộm cắp tài sản chiếm 63%; tội lừa đảo CĐTS chiếm 9,6%; tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS chiếm 6,4% Trong nhóm này, ngoài tội trộm cáp tài sản
đã chiếm tới 63%, số tội phạm còn lại chiếm 37% số vụ phạm tội, trong đó tội lừa
đảo CĐTS có mức cao nhất (gần 10%) ( phụ lục 2) Như vậy, nếu so sánh trong
nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt thì tội lừa đảo CĐTS là loại tội chiếm tỷ lệ tương đối lớn, chỉ đứng sau tội trộm cắp tài sản
Thực trạng của THTP với các số liệu nêu trên đã phản ánh yêu cầu cần thiết của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS trong giai đoạn hiện nay
Trang 31* Tí lệ vê s ố người phạm tội
Bảng 1.6 T ỉ lệ sô người phạm tội lừa đảo CĐTS trong nhóm tội xâm phạm
sở hữu có tính chiếm đoạt (1996 - 2006)
Năm
Tổng số người phạm tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoat
Số người pham tôi lừa đảo CĐTS
( Nguồn: TA N D TC thống kê xét xửH SST năm 1996 - 2006 theo mẫu ỈA )
Biếu đổ 1.3 T ỉ lệ sô ngưòi phạm tội lừa đảo CĐTS trong nhóm tội xâm phạm
sỏ hữu có tính chiếm đoạt (1996 - 2006)
91.60%
□ Số người phạm tội lừa đảo CĐTS : 8.4%
0 Số người phạm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt : 9 1 6%
( Nguồn: TA N D T thống kê xét xửH SSTnăm 1996 - 2006 theo mẫu I A )
Việc đánh giá cơ cấu về số người phạm tội lừa đào CĐTS trong nhóm tội xâm phạm sở hữu, chúng tôi cũng đánh giá, so sánh tỉ lệ giữa số người phạm tội lừa đảo CĐTS với số người phạm tội trong nhóm tội xám phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ( không tính tội tham ô tài sản và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn
Trang 32chiếm đoạt tài sản).
Trong 11 năm qua có khoáng gần 29 nghìn người bị xét xử về tội lừa đáo CĐTS trong tổng số gần 340 nghìn người bị xét xử về các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt, chiếm tỉ lệ khoảng 8,4%
Theo số liệu thống kê của TANDTC, ngoài số người phạm tội trộm cáp tài sản chiếm 61%; nhóm người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt còn lại chiếm 39% Trong đó, tỉ lệ số người phạm tội của tội cướp tài sản chiếm 13%; tội cướp giật tài sản chiếm 8,7%; tội cưỡng đoạt tài sản chiếm 3,4%; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chiếm 4,9%; tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
chiếm 0,22% (phụ lục 3).
Qua nghiên cứu về cơ cấu của số vụ và số người phạm tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt giai đoạn 1996 - 2006, cho thấy tội lừa đảo CĐTS là tội phạm chiếm tỉ lệ cao trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiêm đoạt
1.1.2 S ố vụ và s ố người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không có trong
sô liệu thống kê
hại với hàng trăm lần phạm tội Những vụ án này theo cách thống kê hiện nay chỉ coi là một vụ án và do vậy, thường được coi là một vụ phạm tội xảy ra Đây là
một trong những sai số rất lớn do cách thức thống kê hiện nay Hoặc sai số thống
kê còn do tiêu chí thống kê, ví dụ như trong một vụ án có nhiều tội phạm, trong
đó có tội lừa đảo CĐTS và một tội phạm khác nặng hơn thì số liệu thống kê chi lấy tiêu chí về tội phạm nặng nhất, do đó vụ phạm tội lừa đảo CĐTS trong trường
Trang 33hợp này cũng không được thể hiện trong số liệu thống kê v.v
Trong thực tế, sai số thống kê là khó tránh khỏi còn bới số lượng vụ phạm
tội của TANDTC được thống kê dựa trên số liệu thống kê các bản án xét xử sơ
thẩm của Toà án nhân dân địa phương, có địa phương báo cáo đầy đủ, có địa
phương báo cáo thiếu chính xác Điều này cũng cho thấy tính tương đối của các
số liệu thống kê của các cơ quan Tư pháp
0 nước ta, thống kê tội phạm trong thời gian vừa qua, thiếu sự thống nhất giữa các cơ quan tư pháp, dẫn đến các tiêu chí thống kê hình sự thiếu đồng bộ
đầy đủ, cho nên dẫn đến tình trạng các số liệu chứa nhiều mâu thuẫn, gây khó
khăn cho việc nghiên cứu đánh giá THTP
Cơ sở để xác định mức độ sai số mỗi nãm và trong toàn giai đoạn nghiên
cứu về tội lừa đảo CĐTS là không thể thực hiện được trong điều kiện hiện nay
Việc có sai số thống kê có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan, chủ
quan khác nhau Sai số do thống kê là một thực tế phải chấp nhận, song chúng tôi
cho rằng cần có sự quan tâm đúng mức đến công tác thống kê tội phạm nhằm
cung cấp số liệu tương đối chính xác cho công tác nghiên cứu khoa học và góp
phần ĐTPC tội phạm có hiệu quả
Theo chúng tôi, mỗi ngành cần có mẫu thống kê riêng, thống nhất từ trung
ương đến địa phương, phục vụ công tác đặc thù của ngành mình, đồng thời trong
đó có các tiêu chí chung giữa các ngành Tư pháp Ví dụ, trong ngành Công an cần
thống kê tiêu chí: số vụ phạm tội được cơ quan Công an phát hiện, do nhận tin
báo và số vụ điều tra, khám phá được Qua thực tế chúng tôi thấy, hiện nay
Công an các địa phương thống kê theo tiêu chí rất khác nhau Nếu có các tiêu chí
sô vụ dược phát h iện và s ố vụ đ ã điều tra khám phá được sẽ góp phần xác định
mức độ ẩn tương đối của các loại tội phạm có cơ sở khoa học và độ tin cậy nhất định qua công tác thống kê
Hy vọng trong thời gian tới, với phương tiện ngày càng hiện đại và có sự thống nhất giữa cơ quan VKSNDTC và TANDTC, Bộ Công an cùng với cơ quan
chuyên ngành thống kê khác, sai số trong thống kê về tình hình tội phạm là không
đáng kể
Trang 34Để đánh giá đúng đặc tính về lượng của THTP nói chung và tình hình tội lừa đảo CĐTS nói riêng, ngoài việc nghiên cứu những vụ phạm tội đã được phát hiện và xét xử, thì một phần quan trọng cần phải được nghiên cứu, đó là phần ẩn của THTP.
Việc mong muốn đánh giá một cách chính xác, tuyệt đối phần ẩn của THTP là điều không thể thực hiện được, v ề phương diện khoa học chi có thể đánh giá một cách tương đối gần sát với thực tế dựa trên những căn cứ, cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định
Tội phạm ẩn theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu về tội phạm học cho rằng có thể bao gồm :
- Số vụ, số người phạm tội tuy đã xảy ra trên thực tế nhưng chưa bị phát hiện và chưa bị xử lí bằng biện pháp hình sự (tội phạm ẩn tự nhiên) Đây là phần
ẩn lớn nhất và chủ yếu của THTP
- Số vụ và số người phạm tội đã bị phát hiện nhưng vì lí do khác nhau mà
cơ quan Tư pháp lại cho rằng đó không phải là tội phạm hoặc hành vi của người
đó không cấu thành tội phạm (phần ẩn này được coi là tội phạm ẩn nhân tạo)
Theo chúng tôi, hiện nay một số cơ quan Công an nhận tin báo hoặc phát hiện vụ phạm tội lừa đảo CĐTS, nhưng cho rằng khả nãng không điều tra khám phá được, nên không thực hiện việc thống kê, báo cáo Đây có thể vì bệnh thành tích mà một số cơ quan Công an địa phương đã không khởi tố vụ án lừa đảo CĐTS để từ đó cơ quan Điều tra có thành tích điều tra khám phá đạt tỉ lệ cao Ví
dụ, khi nhận tin báo và các nguồn khác có 120 vụ lừa đảo CĐTS xảy ra, nhưng cơ quan Công an chỉ thống kê khởi tố 100 vụ và điều tra, truy tố 98 vụ, đạt 98% Số
20 vụ án không có trong thống kê nêu trên, theo chúng tôi, cũng nên coi là phần
ấn của tội lừa đảo CĐTS (phần ẩn nhân tạo)
Ngoài quan điểm về tội phạm ẩn nêu trên, cũng có ý kiến cho ràng tội phạm ẩn còn bao gồm cả số lượng vụ phạm tội và con người phạm tội tuy đã bị xử
lí hình sự nhưng vì lí do nào đó mà không có trong số liệu thống kê và coi đây là
“ tội phạm ẩn thống kê ” , số liệu này hiện nay rất khó xác định nếu không muốn
* Phần ân của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 35nói là không thể xác định được.
Chúng tôi cho rằng “ tội phạm ẩn ” được hiểu đơn giản là phần tội phạm
đã xảy ra trên thực tế chưa được phát hiện hoặc tuy đã bị phát hiện nhưng vì những lí do khác nhau mà không bị xử lí hình sự, do vậy không có trong sô liệu thống kê tội phạm Còn phần “ tội phạm ẩn do thống kê ” hay gọi chính xác hơn
là “ sai số thống kê ” là những hành vi phạm tội đã bị phát hiện, đã bị xử lí hình
sự, nó không còn là một phần trong “ mảng chìm ” của THTP nên không coi là phần tội phạm ẩn
Với nhận thức như trên, nên phần ẩn của tội lừa đảo CĐTS được nghiên cứu trong luận án này chủ yếu là phần tội phạm đã xảy ra trên thực tế (giai đoạn 1996
- 2006) chưa được phát hiện hoặc chưa bị xử lí bàng các biện pháp hình sự, nên chưa có trong số liệu thống kê tội phạm
- Mức độ ẩn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Việc xác định mức độ ẩn của tội lừa đảo CĐTS trên thực tế không thế đánh giá chính xác tuyệt đối bởi nhiều lí do khách quan khác nhau Nhưng tội phạm nói chung và tội lừa đảo CĐTS nói riêng là một hiện tượng khách quan, nên nó cũng vận động theo những quy luật khách quan nhất định.Vì vậy, chúng ta có thể dựa vào những cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn nhất định đế đánh giá “ phần ẩn” của tội lừa đảo CĐTS ở mức độ tương đối
Do đặc điểm, tính chất của mỗi nhóm tội phạm, mỗi tội phạm cụ thế khác nhau, do đó mức độ ẩn cũng khác nhau Đối với tội lừa đảo CĐTS là loại tội trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, có mức độ ẩn không cao như các loại tội đưa, nhận hối lộ hay một số tội phạm kinh tế khác Bởi hành vi phạm tội lừa đảo gây thiệt hại trực tiếp cho quyền sở hữu của Nhà nước, tổ chức, công dân nên thường người bị hại tố giác tội phạm Qua nghiên cứu 594 vụ án thực tế cho thấy, các vụ lừa đảo CĐTS do người bị hại tố giác chiếm tỉ lệ khá cao (khoảng 64%)
Chúng tôi lấy ý kiến khảo sát các cán bộ Điều tra viên, Trinh sát viên, Kiếm sát viên, Thấm phán trong một sô' tỉnh, thành phố, kết quả trong tống số 310 phiếu thu về với nội dung câu hỏi được đề nghị trả lời :
“Theo đánh giá chủ quan của anh, chị, tỉ lệ vụ phạm tội lừa dào CĐTS chưa
Trang 36được phát hiện ở địa phương mà anh, chị công tác chiêm khoán ạ bao nhiêu phán trăm so với lổng s ố vụ ủn đã xảy ra trên thực t ế ? " Chúng tôi thu được kết quá là:
34% số người được hỏi trả lời, số vụ án chưa được phát hiện chiếm khoảna từ 21% - 30% trên tổng số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS đã xảy ra; có 32% số người được hỏi cho rằng số vụ án chưa được phát hiện chiếm khoảng từ 31% - 40% và
có 16% số người được hỏi trả lời, số vụ án chưa được phát hiện, chiếm khoảng từ 41% - 50%; còn lại 18% số người được hỏi trả lời với các tỉ lệ khác nhau [47]
Như vậy, có khoảng 66% số người được hỏi cho rằng, số vụ án chưa được phát hiện chiếm tỉ lệ thấp nhất là 21% và cao nhất là 40% trên tổng số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS đã xảy ra trong thực tế và trung bình tỉ lệ còn ẩn khoảng 30%
Khảo sát thực tế về kết quả điều tra, khám phá các vụ án lừa đảo CĐTS ó một số địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Bấc Giang chúng tôi thu được kết quả như sau:
Số vụ án lừa đảo CĐTS theo thống kê của Công an thành phố Hồ Chí Minh trong 6 năm gần đây với tổng số vụ án được phát hiện 1.921 vụ, đã khám phá được 1.410 vụ, đạt 73,4% Như vậy tính trung bình có gần 26% vụ án lừa đảo CĐTS không khám phá được [26] Theo thống kê của Công an Tỉnh Thanh Hoá, tổng số vụ lừa đảo CĐTS được phát hiện từ 2001 - 2006 là 176 vụ, cơ quan Công
an đã khám phá 137 vụ chiếm 78%, tỉ lệ không khám phá được 22% [28] Tỉnh Bắc Giang từ 2001 - 2006 với tổng số 111 vụ lừa đảo CĐTS bị phát hiện và số vụ khám phá là 64 vụ chiếm 58%, tỉ lệ không khám phá được 42% [27] Tính trung binh tỉ lệ khám phá của Công an các tỉnh đã khảo sát là 70% Như vậy, có khoảng 30% số vụ án lừa đảo CĐTS không khám phá được nên không có trong số liệu
thống kê tội phạm.
Tỉ lệ số vụ án không khám phá, điều tra được, về mặt lí luận hiện nay không coi là số vụ phạm tội còn ẩn vì đã được phát hiện nhưng số vụ phạm tội này không bị xử lí với bất kì hình thức nào, cho nên không có trong số liệu thống
kê của các cơ quan Tư pháp Theo quan điểm của chúng tôi, đây cũng cần được coi là lượng tội phạm ẩn và tỉ lệ số vụ lừa đảo CĐTS “ẩn” trong trường hợp này có
độ tin cậy tương đối cao
Trang 37Ngoài ra, qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, số vụ án lừa đảo CĐTS tuy
đã khởi tố, điểu Ira và truy tố nhưng không xét xử được vì những lí do khác nhau cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể Theo thống kê của VKSNDTC từ nãm 1996 - 2005
có tống số 22.927 vụ lừa đảo CĐTS bị khởi tố nhưng chỉ truy tố và đưa ra xét xứ 20.106 vụ chiếm 87,7% [77] Như vậy, còn 12,3% số vụ án chưa bị xét xử, trong
đó có một phần số vụ phạm tội, và số liệu này cũng không có trong số liệu thống kê
Số liệu về tỉ lệ số vụ lừa đảo CĐTS đã khám phá và xét xử cũng phù hợp với báo cáo của Ban chủ nhiệm đề án III Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm của Chính Phủ về các tội danh giết người, cướp tài sản, cướp giật tài sản,
hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, lừa đảo chiếm đoạt tài sán, tỷ lệ điều tra khám phá
đạt 87,03% [11]
Như vậy, theo dự đoán của các chuyên gia trực tiếp đấu tranh phòng chống tội phạm còn khoảng trên 30% số vụ án lừa đảo CĐTS chưa được phát hiện và thực tiễn tại một số Công an địa phương thì tỉ lệ số vụ án không khám phá được cũng khoảng 30% (theo tỉ lệ trung bình của Công an một số tỉnh) cùng với khoảng trên 10% số vụ án tuy đã khởi tố, điều tra nhưng không truy tố, xét xử được vì nhiều lí do khác nhau
Dựa vào các cơ sở nghiên cứu nêu trên, có thể đánh giá tỉ lệ số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS chưa có trong thống kê của TANDTC thấp nhất khoảng từ 30 - 40% Nếu chỉ lấy tỉ lệ là 30% thì trong giai đoạn 1996 - 2006 tổng số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS đã xét xử là 21.662 vụ thì số vụ chưa có trong thống kê khoảng 6.500 vụ Trung bình mỗi năm có khoảng trên 590 vụ lừa đảo CĐTS không có trong số liệu thống kê của TANDTC
Theo tài liệu dự báo THTP và đề xuất các giải pháp phòng, chống tội phạm đến 2005 và 2010 của Viện nghiên cứu chiến lược và khoa học của Bộ Công an
(2002) thì các tội xâm phạm sở hữu XHCN mức độ ẩn là 80% [8] Chúng tôi cho
rằng tội lừa đảo CĐTS nói chung thì mức độ ẩn không cao đến như vậy
Tóm lại, số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS không có trong thống kê bao gồm: sai số đo thống kê, số vụ phạm tội chưa được phát hiện, số vụ phạm tội đã được
phát hiện nhưng không điều tra, khám phá được và m ột phần số vụ phạm tội đã
Trang 38truy tô' nhưng không xét xử được v.v chiếm khoảng 30 - 40% Như vậy, số liệu
có trong thống kê của TANDTC chỉ chiếm khoảng 60 đến 70% số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS xảy ra trên thực tế
- Thời gian và vùng ẩn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
v ề thời gian ẩn, theo thống kê số vụ án hàng năm mà chúng tôi đã nghiên cứu và tính khoảng thời gian từ thời điểm hành vi phạm tội lừa đảo CĐTS đầu tiên được thực hiện đến thời điểm vụ án được phát hiện hoặc bị tố cáo; kết quả thời gian được xác định một cách tương đối trong 355 vụ án, có tỉ lệ như sau: số vu được phát hiện trong khoảng thời gian 1 tháng đến 3 tháng có 105 vụ, chiếm 29,6%; số vụ được phát hiện từ trên 3 tháng đến 1 năm có 108 vụ, chiếm 30,4%;
sô vụ điợc phát hiện từ trên 1 năm đến 3 năm có 103 vụ, chiếm 29%; số vụ được
phát hiện trong thời gian trên 3 n ăm .có 39 vụ, chiếm 11% Như vậy, số vụ phạm tội lừa dảo CĐTS được phát hiện trong khoảng thời gian từ 1 tháng đến 1 năm
chiếm khoảng 60% và nếu tính thời gian phát hiện đến 3 năm thì tí lệ là 89% (phụ lục 15).
Qua nghiên cứu thời gian phát hiện của các vụ án thực tế đã xét xử, có thế rút ra nhận xét chung là các vụ phạm tội lừa đảo CĐTS có thời gian ẩn không dài, phần 1Ớ11 số vụ phạm tội có thời gian ẩn dưới 1 n ă m số vụ có thời gian ẩn trên 3 năm chiếm tỉ lệ không lớn
Về địa bàn ẩn, trong 594 bản án xét xử sơ thẩm về tội lừa đảo CĐTS từ năm 19^9 - 2005 có 436 vụ án xảy ra ở thành phố, thị xã cùng với 47 vụ xảy ra liên quai cả thành phố và vùng ven thị xã, thị trấn; có 91 vụ xảy ra ở địa bàn nông thin Như vậỵ, với 483/594 vụ phạm tội trên địa bàn thành phố, thị xã thị
trấn chiếm 81% tổng số vụ án mà chúng tôi nghiên cứu {phụ lục 11) Từ thực tế
nêu trên, chúng tôi có thể nhận định: số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS xảy ra chứ yếu
ở thành phố, thị xã, thị trấn và do đó phần lớn số vụ phạm tội không bị phát hiện cũng nằn ở khu vực thành phố, thị xã Khu vực này, tình hình xã hội cũng phức tạp, dễ t'ốn tránh và có nhiều điều kiện thực hiện tội lừa đảo CĐTS Hơn nữa, một
số ngườ ở các vùng quê ra thành phố, thị xã, khi bị lừa đảo cũng không biết báo cáo cơ qian Công an ở đâu Mặt khác người bị hại ở thành phố do kinh tế khá giả
Trang 39nên bị mất 500 nghìn hay 1 triệu đồng không ảnh hưởng gì lớn đến kinh tế, cho nên tí lệ không báo Công an là khá cao Với những lí do nêu trên, nên mức độ ấn của tội lừa đảo CĐTS nói chung ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn chiếm tí lệ chủ yếu.
- Li do ân của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
+ Xuất phát từ phía người bị hại, người làm chứng.
Việc người bị hại không báo với cơ quan có trách nhiệm biết tội lừa đáo CĐTS xảy ra ảnh hưởng rất lớn đến mức độ tội phạm ẩn Bởi người phạm tội với tâm thế là ngoan cố và che giấu tội phạm, cho nên, số vụ tự thú trong các tội lừa
đảo CĐTS chiếm tỉ lệ rất thấp (có 2 vụ trong 594 vụ đã khảo sát chiếm 0,3 % và
theo thống kê của C16 Bộ Công an có 6 vụ/4.366 chiếm 0,13%) Do vậy, người bị hại nếu không báo tin tội phạm cho cơ quan có trách nhiệm thì rất khó cho việc điều tra, phát hiện Chúng tôi nghiên cứu 594 vụ án cho thấy, có 379 vụ án (chiếm 64%) được phát hiện do người bị hại báo tin đến cơ quan Công an, có 105
vụ bản án không nêu rõ nguồn phát hiện, và 110 vụ (18,5%) có nêu do cơ quan
Tư pháp phát hiện Tỉ lệ trên cho thấy, thực tế số vụ án lừa đảo CĐTS được pháthiện chủ yếu do người bị hại báo tin đến các cơ quan Tư pháp Còn số ít vụ án được phát hiện do quá trình cơ quan Công an thực hiện các biện pháp nghiệp vụ hoặc điều tra các vụ án khác Việc không trình báo với cơ quan Công an của người bị hại có thể xuất phát từ nhiều lí do khác nhau:
* Trước hết do tài sản bị mất không lớn.
Theo phiếu điều tra xã hội học của chúng tôi, với các đối tượng được hỏi là cán bộ, học viên các lớp tại chức Đại học Luật trong nhiều địa phương khác nhau,
với tổng số 610 người được hỏi: Nếu Anh, Chị bị người khác lừa đảo CĐTS thì theo tâm lí của Anh, Chị, việc trình báo Công an được biểu hiện ở mức độ nào (luôn luôn tr ìn h báo; có th ể trình báo; ít khi, hoặc không trìn h báo Công an)
tr o n g n h ữ n g trư ờ n g h ợ p sa u đ â y :
Số tiền bị chiếm đoạt dưới 500 nghìn đổng; số tiền bị chiếm đoạt từ 500 nghìn đổng đến 1 triệu đồng; số tiền bị chiếm đoạt từ trên 1 triệu đổng đến 5 triệu đồng; số tiền bị chiếm đoạt từ trên 5 triệu đồng đến 10 triệu đổng
Trang 40Chúng tôi nhận được kết quả như sau: với trường hợp bị chiếm đoạt dưới
500 nghìn đổng có 580 phiếu trả lời không trình báo Công an, chiếm 95%; trường
hợp bị chiếm đoạt từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng có 355 phiếu trả lời khônỊi trình
báo với cơ quan Công an, chiếm 58% và có 180 phiếu trả lời ít khi trình báo
Công an, chiếm 30%; trường hợp bị chiếm đoạt số tiền trên 1 triệu đến 5 triệu
đồng có 200 người trả lời ỉuôn trình báo công an, chiếm 33% và có 245 người trả
lời có thể trình báo Công an, chiếm 40% và 106 người trả lời ít khi trình báo Công
an, chiếm 17% [48]
Như vậy, có 88% số người không báo hoặc ít khi báo Công an trong trường
hợp bị lừa đảo CĐTS có giá trị từ 500 nghìn đến 1 triệu đổng và khoảng 57% số
người bị lừa đảo mất đến 5 triệu đồng cũng có thể hoặc ít khi báo Công an
Kết quả khảo sát thực tế nêu trên phần nào cho thấy, mức độ ấn của tội lừa
đảo CĐTS trong những trường hợp là tội phạm ít nghiêm trọng chiếm tỉ lệ cao
* Do tâm lí e ngại, xấu h ổ vì cho ì'âng mình có lỗi trong việc bị người khác lừa đảo CĐTS hoặc do mất tài sản của tập thể, của cơ quan Nhà nước, người
đứng đầu cơ quan sợ trách nhiệm nên không báo với cơ quan Công an.
Thực tế, một bộ phận không nhỏ người bị hại trong tội lừa đảo CĐTS do
xuất phát từ động cơ “ hám lợi” muốn mua rẻ, muốn lời cao, muốn giàu lên nhanh
chóng v.v nên đã bị mắc lừa Những người này, thường có tâm lí e ngại báo với
Công an do thấy mình có lỗi một phần trong việc bị người khác lừa dối
Mặt khác, theo đánh giá của chúng tôi, mức độ ẩn của tội lừa đảo CĐTS
của Nhà nước, của tổ chức cao hơn mức độ ẩn của trường hợp xâm phạm sở hữu
công dân Qua nghiên cứu 436 vụ lừa đảo CĐTS của công dân, thì có 369 vụ do
công dân tô' cáo với cơ quan Công an, chiếm 85% Ngược lại, tổng số 158 vụ xâm
phạm tài sản của Nhà nước chỉ có 10 vụ phía bị hại báo với cơ quan Công an
chiếm tỉ lệ 6,3% [2]
Thực tế nêu trên cho thấy, mất tài sản của tập thể, của Nhà nước thì ít được
quan tâm, vì tâm lí “ cha chung không ai khóc Một số cơ quan, doanh nghiệp
làm ăn có những vi phạm về pháp luật như trốn thuế, kinh doanh trái p h ép nên
khi bị lừa đảo CĐTS cũng không muốn báo với cơ quan Công an hoặc người