1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phốHà Nội

14 737 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 29,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm rõ hơn thực trạng của tình hình tội LĐCĐTS, tác giả có nghiên cứu tỉ lệ về số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trên địa bàn thành p

Trang 1

A Đặt vấn đề Thành phố Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, diện tích hơn

3300 km2, nằm tiếp giáp với 8 tỉnh Ở vị trí thuận lơi như vậy, nên nhiều đời nay

Hà Nội luôn là một trong những tâm kinh tế, văn hóa của đất nước Những năm gần đây, thực tiễn xét cử cho thấy, tình hình tội CĐCĐTS trên địa bàn thành phố

Hà Nội đã và đang có xu hướng gia tăng, vì thế mà giải pháp đấu tranh phòng ngừa tôi phạm là rất cần thiết Do đó, em đã lựa chọn Luận văn luật học của Thạc sĩ Ngô Toàn Thắng về: “Phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố

Hà Nội” để nghiên cứu về kết quả của tình hình tội phạm, và sau đó rút ra những nhận xét của bản thân về kết quả tình hình nghiên cứu

Về tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả đã chia ra làm bốn phần lớn

Phần thứ nhất là thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội Ở phần này, luận văn lại chia thành hai mục nhỏ Mục đầu tiên là số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS đã được xét xử trong thống kê Từ nguồn của TAND thành phố Hà Nội thống kê theo mẫu 1A, tác giả đã lập ra bảng thống kê về số vụ và số bị cáo phạm tội LĐCĐTS đã bị xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội (2007 – 2011) Theo số liệu cho ta thấy, trung bình mỗi năm có hơn 250 vụ án với gần 350 bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được đưa ra xét xử Năm thấp nhất có 194 vụ với 257 bị cáo, năm cao nhất có 291 vụ và 399 bị cáo Trong 5 năm 2007 – 2011, trên đọa bàn thành phố Hầ Nội có tất cả 1716 bị cáo bị đưa ra xét xử trong 1283 vụ án, trung bình khoảng 1,34 bị cáo/vụ Theo đó, tác giả đã đưa ra biểu đồ về số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội (2007 – 2011) Thông số về số vụ và số người phạm tội bị xét xử

sơ thẩm có trong số liệu thống kê đã phản ánh cơ bản về lượng của tình hình tội

Trang 2

phạm LĐCĐTS Đây là phần tội phạm rõ, có trong thống kê chính thức của TAND thành phố Hà Nội và là phần quan trọng nhất trong bức tranh tổng thể thực trạng của tình hình tội phạm hàng năm của loại tội phạm này

Theo thống kê dân số từng năm của tổng cục thống kê [27], tác giả đã lập ra bảng thống kê về hệ số về số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội (2007 – 2011) Qua đó, chúng ta thấy được hệ số của tội LĐCĐTS ở thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian 2007-2011 là 3,96 vụ và 5,30 người trên 100.000 dân So sánh trên bảng số liệu ta thấy, loại tội phạm này có xu hướng tăng, mặc dù năm 2011 có giảm hơn 2010 một chút nhưng số vụ và số bị cáo đều tăng

Để làm rõ hơn thực trạng của tình hình tội LĐCĐTS, tác giả có nghiên cứu

tỉ lệ về số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội, bằng cách lập bảng số liệu thống kê

và biểu đồ về tỉ lệ số vụ LĐCĐTS trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (2007-2011) dựa theo nguồn của TAND thành phố Hà Nội thống kê Qua đó,

để làm rõ tỉ lệ của tội phạm này trong nhóm tội phạm có cùng tính chất, từ đó đánh giá chính xác hơn thực trạng của tội LĐCĐTS Việc chiếm hơn 10% tổng số vụ phạm tội trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu tài sản có tính chiếm đoạt, tội LĐCĐTS chỉ đứng sau tội trộm cắp tài sản và tội cướp tài sản trong nhóm tội này

Từ tình trạng đó đã nêu lên yêu cầu thiết của việc phòng ngừa tội phạm LĐCĐTS trong thời gian hiện nay Bên cạnh đó, dựa theo số liệu của TAND thành phố Hà Nội thống kê, về tỉ lệ số vụ phạm tội, tác giả đã lập bảng thống kê về tỉ lệ số người phạm tội LĐCĐTS trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (2007-2011) Số bị cáo phạm tội LĐCĐTS cũng chiếm tỉ lệ hơn 10% trong số tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Số vụ án và số người phạm tội này đứng thứ

3 trong số những người phạm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với tỉ lệ trên 10%

Trang 3

Sau khi nghiên cứu về tỉ lệ này, tác giả đã lập bảng thống kê so sánh số vụ

và số bị cáo phạm tội LĐCĐTS tại thành phố Hà Nội với số vụ và số bị cáo phạm tội LĐCĐTS trên phạm vi toàn quốc Chúng ta có thể thấy, trong tổng số các vụ

án LĐCĐTS, thì số người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của thành phố Hà Nội chiếm tỉ lệ khá cao với xấp xỉ 15% toàn quốc mặc dù dân chỉ chiếm khoảng 8% dân số cả nước Như vây, chúng ta có thể rút ra kết luận: tình hình dân trí không ảnh hưởng nhiều đến tội phạm LĐCĐTS, tỉ lệ người phạm tội ở Hà Nội chiếm tỉ lệ cao bởi do sự hoạt động giao lưu kinh tế của thủ đô Hà Nội vừa đa dạng, phức tạp, nên có nhiều điều kiện cho tội LĐCĐTS phát sinh

Mục thứ hai trong phần thực trạng đó là số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS không có trong số liệu thống kê Phần này gồm sai số do thống kê về số

vụ án và phần ẩn của tội phạm LĐCĐTS Về sai số do thống kê, có vụ án một người phạm tội nhưng có rất nhiều nạn nhân bị LĐCĐTS thực hiện trên địa bàn không chỉ thành phố Hà Nội mà có thể lan sang các xã, huyện lân cận thành phố

Hà Nội Trong thực tế, sai số thống kê là điều không thể tránh khỏi, có thể do lỗi chủ quan hoặc khách quan Chúng ta chỉ có thể hy vọng sự chính xác tương đối của các số liệu thống kê, chúng ta không có cơ sở để xác định tỉ lệ chính xác của các con số thống kê này Về phần ẩn của tội phạm LĐCĐTS, tác giả đã phân tích được nguyên nhân xuất phát từ một vài lí do sau:

Một là, do người bị hại không tố giác tội phạm, không trình báo do thiệt hịa không lớn…

Hai là, lợi dụng đặc điểm tâm lí của người bị hại muốn lấy lại tài sản, người phạm tội LĐCĐTS thường hứa hen với nạn nhân nên đã không tố giác

Ba là, do cơ quan bảo vệ pháp luật thiếu trách nhiệm trong việc điều tra, xử

lí tội phạm…

Trang 4

Phần thứ hai là diễn biến của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn thành phố

Hà Nội (2007-2011) Phần này được chia làm hai mục nhỏ Mục thứ nhất đó là diễn biến về số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội (2007-2011) Diễn biến được thể hiện qua mức tăng, giảm bình quân hàng năm và mức tăng, giảm bình so với năm 2006 về số vụ và số bị cáo LĐCĐTS, được tác giả phản ánh qua bảng số liệu thống kê và được biểu diễn bằng biểu đồ thể hiện xu hướng diễn biến của số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS (2007-2011) Dựa vào

đó ta có thể thấy xu hướng tăng của tội phạm LĐCĐTS trong giai đoạn 2007-2011

cả về số vụ và về số người Tuy nhiên, mức tăng này không lớn Năm có mức tăng cao nhất là 2009 so với năm 2008 Số vụ và số người phạm tội trong năm 2010 có giảm đi so với năm 2009 nhưng sau đó lại tăng nhẹ vào năm 2011

Mục thứ hai ở phần này, tác giả đi vào diễn biến về một số đặc điểm khác của tình hình tội phạm LĐCĐTS Diễn biến về mức hình phạt đối với người phạm tội LĐCĐTS được thể hiện qua bảng số liệu thống kê từ TAND thành phố Hà Nội Trong khoảng thời gian 2007-2009, khi vẫn áp dụng BLHS 1999 chưa sửa đổi, đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vẫn có hình phạt tử hình, tuy nhiên trên thực tế không có án tử hình nào trong thời gian này Để mọi người có thể thấy rõ hơn diễn biến về mức hình phạt đối với tội phạm LĐCĐTS, tác giả đã thể hiện sinh động qua biểu đồ về diễn biến về mức hình phạt đối với tội LĐCĐTS trong thời gian 2007-2011 Thông qua đó, ta có thể thấy được tính chất, mức độ nguy hiểm của các vụ phạm tội LĐCĐTS ngày càng nghiêm trọng, nhất là những năm gần đây Điều này cũng phù hợp với tình hình thực tế đang diễn ra trong những tháng cuối năm 2011 và đầu năm 2012, nhiều vụ lừa đảo có giá trị đặc biệt lớn, ví dụ như vụ việc vợ chồng Phạm Thị Chinh-Nguyễn Ngọc Chúc ở quận Cầu Giấy, Hà Nội hiện

đã bị khởi tố và điều tra về tội LĐCĐTS hơn 600 tỉ đồng Ngoài ra, ở mục này, tác giả còn lập một bảng số liệu về tỉ lệ bị có tái phạm, tái phạm nguy hiểm Tỉ lệ này

Trang 5

có xu hướng giảm dần theo thời gian, trừ năm 2008 là mức thấp nhất, còn lại năm sau đều thấp hơn năm trước Đây có thể coi là điều đáng mừng đối với công tác phòng ngừa tội phạm

Phần thứ ba là cơ cấu của tình hình tội phạm tội LĐCĐTS Phần này được làm sau mục cơ bản

Mục thứ nhất về cơ cấu phản ánh qua mức độ nguy hiểm của tội phạm Điều này được tác giả thể hiện qua bảng số liệu thống kê về tỉ lệ số người phạm tội là loại tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng (2007-2011)

và biểu đồ về tỉ lệ cơ cấu theo loại tội phạm (2007-2011) Về tính chất và mức độ nguy hiểm của vụ phạm tội, qua số liệu thống kê của tác giả có thể đánh giá chung trong giai đoạn 2007-2011 có khoảng 84% số vụ phạm tội LĐCĐTS là tội phạm ít nghiêm trọng và khoảng 16% số vụ phạm tội là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Tuy số vụ phạm tội này không chiếm tỉ lệ cao về số vụ nhưng lại gây hậu quả rất lớn về tài sản khi có vụ chiếm đoạt hàng tram tỉ đồng như vụ Lê Hồng Bàng

Mục thứ hai tác giả nói về cơ cấu phản ánh qua hình thức thực hiện tội phạm Điều này không được các cơ quan Tư pháp thống kê đánh giá Theo khảo sát thực tế và những số liệu đã có tại luận văn này cho thấy số vụ có tính chất đồng phạm không nhiều, những vụ án đồng phạm thường chỉ tập trung vào lừa đảo chiếm đoạt tiền hụi, họ, ngoài ra đó là các vụ ánLĐCĐTS của người có nhu cầu đi lao động tại nước ngoài… Ở những vụ án này cần nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau nên cần có hơn 1 người tham gia và có sự phân công trong khi thực hiện tội phạm

Mục thứ ba, tác giả phân tích vấn đề cơ cấu phản ánh qua thủ đoạn phạm tội Tác giả đã dung phương pháp chọn ngẫu nhiên, nghiên cứu 110 bản án lấy trong 5

Trang 6

năm từ 2007 đến 2011 để làm rõ hơn về cơ cấu, tính chất của tội phạm LĐCĐTS, qua đó tác giả đã lập nên bảng thống kê tỉ lệ các thủ đoạn lừa dối thực tế qua nghiên cứu 110 bản án này và biểu đồ cơ cấu về phương thức, thủ đoạn phạm tội LĐCĐTS Trên thực tế, thủ đoạn lừa dối của tội phạm LĐCĐTS rất đa dạng và phụ thuộc vào rất nhiều tình huống cụ thể Cùng với những hình thức lừa đảo như nhau nhưng tùy vào tình huống khách quan cụ thể mà các bị cáo đã có những cách thức khác nhau để lừ người bị hại Qua nghiên cứu thực tế, chúng ta nhận thấy rằng không có sự biến động hay thay đổi lớn về thống kê hình thức lừa đảo qua các năm Trong đó, nổi trội là hình thức giả thuê, mượn ô tô, xe máy để chiếm đoạt tài sản (gần 21%); lừa đảo chiếm bằng cách làm giả giấy tờ nhà đất… (16%); hình thức giả danh người có chức vụ, quyền hạn để lừa đảo (hơn 15%) và lừa đảo qua tuyển dụng lao động (gần 27%) Các hình thức này đều là những hình thức dễ dàng thực hiện hơn so với các hính thức khác

Mục thứ tư, tác giả đã lập bảng thống kê hình phạt áp dụng đối với người phạm tội để làm rõ cho vấn đề cơ cấu của tình hình tội phạm phản ánh qua loại và mức hình phạt đối với người phạm tội Trách nhiệm hình sự với nội dung chủ yếu

là hình phạt được áp dụng tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành

vi phạm tội Vì vậy, cơ cấu loại và mức hình phạt trong mối quan hệ với tỉ lệ người phạm tội bị áp dụng cho chúng ta hiểu thêm tính chất của tình hình phạm tội xét trên phương diện tính chất, mức độ nguy hiểm tội phạm Bên cạnh đó, tác giả còn thể hiện tỉ lệ các loại và mức hình phạt 2007-2011 bằng cách vẽ biểu đồ chi tiết cơ cấu về các biện pháp xử lí, loại và mức hình phạt Từ đó ta thấy được trong tổng số người xét xử thì số người phạm tội bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm là nhiều nhất, chiếm khoảng 36% tổng số người phạm tội Tiếp theo là nhóm các hình phạt không tước tự do là khoảng 30%, hình phạt tù từ trên 3 năm đến 7 năm đứng thứ 3 với

Trang 7

khoảng hơn 10% Những người được đình chỉ vụ án, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt chiếm tỉ lệ thấp nhất chỉ khoảng 1,6%

Đối với mục thứ năm, tác giả đi vào phân tích một số đặc điểm nhân thân của người phạm tội LĐCĐTS Trong giới hạn nghiên cứu, tác giả chỉ đề cập đến một số đặc điểm nhân thân người phạm tội LĐCĐTS nhằm đánh giá tính chất chủ yếu về tình hình tội phạm xét về phương diện con người phạm tội và qua đặc điểm nhân thân có thể rút ra những nhân tố chủ quan trong việc xác định nguyên nhân làm phát sinh tội phạm LĐCĐTS gồm:

Người phạm tội có tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm: mức độ tái phạm của tội phạm LĐCĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội chiếm tỷ lệ cao hơn so với mức chung của cả nước Tuy nhiên ở mức độ chưa tới 5% thì vẫn là tỉ lệ tái phạm, tái phạm nguy hiểm khá thấp

Về độ tuổi và giới tính: bằng cách lập bảng thống kê về tỉ lệ bị cáo là nữ giới thực hiện phạm tội và tỉ lệ bị cáo là người chưa thành niên, tác giả đã nõi chính xác lên được rằng số lượng tội phạm là nữ giới xó xu hướng giảm, tỉ lệ giảm cũng khá nhanh (từ 2% đến 3% 1 năm) Còn đối với người chưa thành niên, việc thực hiện tội LĐCĐTS khó khan hơn so với những người đã thành niên, do vậy những người chưa thành niên phạm tội này khá thấp, năm thấp nhất là năm 2008 với 1,79%, mặc

dù những năm sau cao hơn năm 2008 nhưng không có xu hướng tăng Như vậy, đối tượng nữ giới và người chưa thành niên phạm tội chiếm tỉ lệ khá thấp trong số những bị cáo bị xét xử về tội LDCĐTS, nên chúng ta không cần tập trung vào đối tượng này trong công tác phòng ngừa

Về đặc điểm nghề nghiệp: Trong thống kê của TAND thành phố Hà Nội chỉ

có số liệu về cán bộ công chức nói chung, không có số liệu về nghề nghiệp khác

Từ năm 2007-2011, số lượng cán bộ công chức thực hiện hành vi phạm tội

Trang 8

LĐCĐTS là 11 người chiếm 0,64%, đây là tỉ lệ nhỏ Chứng tỏ đời sồng của công nhân viên chức đang dần được cái thiện và họ đã giữ gìn được bản thân mình hơn Ngoài dấu hiệu là nghề nghiệp cán bộ công nhân viên chức, tác giả còn lập bảng thống kê cơ cấu về người phạm tội theo nghề nghiệp, qua đó chúng ta thấy được những người không có việc làm chiếm tỉ lệ lớn trong số những người thực hiện hành vi lừa đảo, tiếp đến là những người kinh doanh buôn bán nhà đất, cầm cố tài sản, tiếp đến là tổng hợp nhiều ngành nghề khác Do đó chúng ta nhận định cần tập trung vào những đối tượng này trong công tác phòng ngừa

Một số đặc điểm khác về nhân thân người phạm tội: Về trình độ văn hóa và địa điểm phạm tội có ảnh hưởng đến giải pháp tuyên truyền, giáo dục người phạm tội và số lượng người phạm tội tập trung cao chủ yếu trong vùng nội thành Hà Nội

Do vậy, công tác phòng ngừa tội phạm cần tập trung hơn vào địa điểm phạm tội

Mục cuối cùng trong cơ cấutình hình tội phạm, tác giả nói đến người bị hại trong tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Hà Nội Ta có thể nhận thấy rằng, những nạn nhân này phần lớn đều không có công ăn việc làm ổn định, không có trình độ cao trong nhận thức Ngoài ra, nạn nhân của tội này còn là những người chuyên kinh doanh các hình thức dịch vụ, chiếm tỉ lệ cũng khá cao

Phần thứ tư của tình hình tội phạm đó là tính chất của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội Ở phần này tác giả đã rút ra được một số tính chất như sau:

Số người phạm tội thuộc loại ít nghiêm trọng và nghiêm trọng là chủ yếu (chiếm gần 84%) Số vụ phạm tội đơn lẻ là phổ biến, các trường hợp đồng phạm chiếm tỉ lệ không lớn (khoảng 17,4% tổng số vụ án)

Về phần nhân thân người phạm tội, chủ yếu là người phạm tội lần đầu, số người tái phạm, tái phạm nguy hiểm chiếm tỉ lệ không lớn

Trang 9

Đối tượng là người đã thành niên phạm tội theo thống kê của tác giả chiếm tỉ

lệ 96,5%

Bên cạnh những tính chất chủ yếu này, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn thấy tính chất của tình hình tội phạm LĐCĐTS còn được thể hiện qua các thủ đoạn công nghệ cao như thông qua internet, qua thể tín dụng giả… do người nước ngoài thực hiện Tuy nhiên, ở địa bàn thành phố Hà Nội thời điểm này những trường hợp này xảy ra không lớn

Qua kết quả từ phần nghiên cứu tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội của thạc sĩ Ngô Toàn Thắng, ta rút ra được nhận xét chung về tình hình phạm tội trên địa bàn Hà Nội Tội LĐCĐTS là loại tội chiếm tỉ

lệ tương đối lớn là xấp xỉ 11,9% trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt cả về số vụ và số người phạm tội Nếu xét về hệ số tội phạm trong 100 nghìn dân thì tội LĐCĐTS cũng đứng ở mức khá cao Tuy số vụ và số bị cáo không phải nhiều nhất trong nhóm tội xâm phạm sở hữu, nhưng tội phmaj LĐCĐTS lại gây hậu quả nghiêm trọng nhất trong nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu, với nhiều vụ lên đến hàng chục, hàng tram tỉ đồng, giá trị tài sản của LĐCĐTS thậm chí lớn hơn ngân sách một số tính trong một năm Tội phạm cũng tập trung chủ yếu ở các vùng nội thành Người bị hại trong tội LĐCĐTS ở thành phố Hà Nội chủ yếu là những người có nhu cầu việc làm hoặc có nhu cầu mua bán đất đai, hoặc nạn nhân trong các hoạt động dịch vụ như thuê, mướn tài sản…

Người bị hại cũng đóng vai trò nhất định trong tội phạm LĐCĐTS vì nhiều

lí do khác nhau như cả tin, tư lợi hoặc có lòng tham là những nguyên nhân góp phần thúc đẩy tội phạm được thực hiện, họ đóng vai trò rất lớn trong việc có hay không tội phạm xảy ra

Trang 10

Qua tình hình phạm tội LĐCĐTS diễn ra ở địa bàn thành phố Hà Nội, ta thấy được rằng tình hình tội phạm LĐCĐTS diễn ra chung ở cả nước với diễn biến rất phức tạp, thủ đoạn lừa dối ngày càng đa dạng, tinh vi và xảo quyệt, nhiều vụ án lừa đảo có quy mô lớn với giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày càng cao Trong một

số lĩnh vực tội phạm LĐCĐTS xảy ra rất nghiêm trọng Ví dụ tình hình LĐCĐTS tiền thuế giá trị gia tăng, lừa đảo người có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài nhiều vụ án LĐCĐTS có giá trị đặc biệt lớn như vụ Nguyễn Đức Chi LĐCĐTS tài sản của Nhà nước, các doanh nghiệp tại Nha Trang – Khánh Hoà lên đến trên 160

tỉ đồng đang được điều tra xử lí v.v…Có thể nói tội phạm LĐCĐTS đã và đang gây ảnh hưởng rất xấu đến hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân, trật tự an ninh

xã hội Để có thể phòng ngừa tội phạm LĐCĐTS, chúng ta còn cần phải nghiên cứu THTP và đánh giá đúng đặc tính về lượng của THTP LĐCĐTS, ngoài việc nghiên cứu những vụ phạm tội đã được phát hiện và xét xử, thì một phần quan trọng cần phải được xem xét, nghiên cứu, đó là phần ẩn của THTP Hiện nay một

số cơ quan Công an nhận tin báo hoặc phát hiện vụ phạm tội lừa đảo CĐTS, nhưng cho rằng khả năng không điều tra khám phá được, nên không thực hiện việc thống

kê, báo cáo Đây có thể vì bệnh thành tích nên một số cơ quan Công an địa phương

đã không khởi tố vụ án LĐCĐTS để từ đó cơ quan điều tra tính thành tích điều tra khám phá đạt tỉ lệ cao Vì vậy, chúng ta phải đưa ra các biện pháp phòng ngừa để giảm tình hình phạm tội cũng như kịp thời phát hiện để tránh gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội:

+ Các cơ quan Tư pháp cần động viên khuyến khích tuyên truyền cho công dân, mở nhiều lớp phổ biến về vấn đề này

Do đặc điểm của tội lừa đảo CĐTS xảy ra dưới vỏ bọc “gian dối” và nhiều khi có một phần lỗi của người bị hại Cho nên việc tố giác kịp thời, không chỉ nhanh chóng bắt giữ người phạm tội, khắc phục hậu quả tội phạm gây ra, đảm bảo

Ngày đăng: 30/01/2016, 01:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w