Để góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội nói riêng, việc nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và sâu sắc t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ĐĂNG DOANH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Với tất cả tấm lòng trân trọng, em xin chân thành gửi tới:
Ban giám hiệu, Khoa sau đại học và thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Lê Đăng Doanh là người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân các quận, huyện trên địa bà Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo các tài liệu và công trình nghiên cứu của các tác giả khác về những vấn đề có liên quan, các tài liệu tham khảo này có trích dẫn nguồn cụ thể
Tôi cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không có
sự sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình nào của người khác đã công bố
TÁC GIẢ
TRẦN VĂN VIỆT
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 .5
1.1 Thực trạng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 .5
1.2 Diễn biến của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2014 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
Chương 2 Nguyên nhân của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 40
2.1 Nguyên nhân xuất phát từ những tác động tiêu cực của sự phát triển kinh tế - xã hội 40
2.2 Nguyên nhân liên quan đến công tác quản lý Nhà nước 45
2.3 Nguyên nhân liên quan đến giáo dục và tuyên truyền phổ biến pháp luật 49
2.4 Nguyên nhân liên quan đến hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án 51
2.5 Nguyên nhân liên quan đến nạn nhân 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
Chương 3 Dự báo tình hình tội phạm và các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới 56
3.1 Dự báo tình hình tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội trong năm năm tới 56
3.2 Biện pháp phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội trong năm năm tới 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội TANDTP Hà Nội
2 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) BLHS
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS bị xét xử HSST trên địa bàn thành
phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 5
Bảng 2: Tỷ lệ tổng số số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS so với tổng số vụ và số người phạm tội thuộc nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 6
Bảng 3: So sánh tổng số vụ và số người bị kết án về tội lừa đảo CĐTS với tổng số vụ và số người bị kết án về từng tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH. .8
Bảng 4: Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và trên Toàn quốc (tính trên 100.000 dân) 9
Bảng 5: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo loại tội phạm 15
Bảng 6: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo mức hình phạt 16
Bảng 7: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo hình thức phạm tội 17
Bảng 8: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo thủ đoạn phạm tội 18
Bảng 9: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo địa bàn dân cư Hà Nội 21
Bảng 10: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo dân tộc 22
Bảng 11: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo giới tính người phạm tội 23
Bảng 12: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo độ tuổi người phạm tội 24
Bảng 13: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo quốc tịch người phạm tội 24
Bảng 14: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo nghề nghiệp người phạm tội 25
Bảng 15: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo trình độ văn hóa người phạm tội 27
Bảng 16: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm 29
Bảng 17: Mức độ tăng, giảm hàng năm số vụ và số người phạm tội tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 30
Bảng 18: So sánh mức độ tăng, giảm hàng năm của tội lừa đảo CĐTS với các tội xâm phạm ở hữu có tính chiếm đoạt khác trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 31
Trang 7tù từ trên 7 năm đến 15 năm và số người phạm tội bị xử phạt tù từ trên 15 năm tù trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 34 Bảng 20: Mức độ tăng, giảm hàng năm của số người phạm tội lừa đảo CĐTS thuộc trường hợp “tái phạm, tái phạm nguy hiểm” và “phạm tội lần đầu” trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 35 Bảng 21: Mức độ tăng, giảm hàng năm về số người phạm tội lừa đảo CĐTS trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi và từ trên 30 tuổi trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 37 Bảng 22: Mức độ tăng, giảm hàng năm về giới tính người phạm tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 37
Trang 8Biểu đồ 1: Số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS bị xét xử HSST trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2014 5
Biểu đồ 2:Tổng số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS so với tổng số vụ và số người phạm tội thuộc nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 6
Biểu đồ 3: So sánh tổng số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS với tổng số vụ phạm tội từng tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH .8
Biểu đồ 4: So sánh tổng số người phạm tội lừa đảo CĐTS với tổng số người phạm tội từng tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH .8
Biểu đồ 5: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo loại tội phạm 15
Biểu đồ 6:Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo mức hình phạt được áp dụng 16
Biểu đồ 7: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo hình thức phạm tội 18
Biểu đồ 8: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo thủ đoạn phạm tội 19
Biểu đồ 9: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo địa bàn dân cư Hà Nội 21
Biểu đồ 10: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo dân tộc 22
Biểu đồ 11: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo giới tính người phạm tội 23
Biểu đồ 12: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo độ tuổi người phạm tội 24
Biểu đồ 13: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo quốc tịch người phạm tội 25
Biểu đồ 14: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo nghề nghiệp người phạm tội 26
Biểu đồ 15: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo trình độ văn hóa người phạm tội 28
Biểu đồ 16: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm 29
Trang 9Đồ thị 1: Diễn biến số vụ và số người phạm tội tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành
phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 30
Đồ thị 2: So sánh diễn biến về số vụ của tội lừa đảo CĐTS với các tội xâm phạm ở
hữu có tính chiếm đoạt khác trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 32
Đồ thị 3: So sánh diễn biến về số người phạm tội của tội lừa đảo CĐTS với số người
phạm tội các tội XPSH có tính chiếm đoạt khác trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 33
Đồ thị 4: Diến biến cơ cấu theo số người phạm tội lừa đảo CĐTS bị xử phạt tù từ trên
7 năm đến 15 năm so với diễn biến số người phạm tội bị xử phạt tù từ trên 15 năm tù trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 34
Đồ thị 5: Diễn biến cơ cấu theo số người phạm tội lừa đảo CĐTS thuộc trường hợp
“tái phạm, tái phạm nguy hiểm” so với diễn biến cơ cấu theo số người “phạm tội lần đầu” trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 36
Đồ thị 6: Diễn biến cơ cấu theo số người phạm tội lừa đảo CĐTS trong độ tuổi từ 18
đến 30 tuổi và từ trên 30 tuổi trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 37
Đồ thị 7: Diễn biến cơ cấu theo giới tính người phạm tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 38
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi sáp nhập mở rộng địa giới hành chính, thủ đô Hà Nội gồm: Thành phố
Hà Nội cũ với tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích tự nhiên 3.344,6 km2, dân số 6.448.337 người Để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tạo tiền đề nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô, giải quyết các vấn đề tồn tại trong quá trình xây dựng và phát triển đô thị bền vững đạt hiệu quả cao trên cả ba lĩnh vực kinh tế - văn hóa – môi trường thì đảm bảo trật tự an toàn xã hội, điều tra phòng chống tội phạm
là nhiệm vụ rất quan trọng
Tuy nhiên, do đặc điểm vị trí địa lý cùng với mặt trái cơ chế thị trường, tốc độ
đô thị hóa trong thời gian ngắn khiến Thủ đô Hà Nội đang đối mặt với nhiều vấn đề tồn tại trong quá trình đô thị hóa Đó là sự phát triển quá tải về các mặt dịch vụ y tế, cơ
sở giáo dục, sự chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn,…Mặt khác, do không kiểm soát được việc gia tăng dân số nhất là di dân từ các khu vực phụ cận vào thành phố để kiếm việc làm; Thiếu các chiến lược thích hợp và chính sách kiểm soát quản lý đô thị Cho nên, tình hình trật tự an toàn xã hội đang là vấn đề rất phức tạp hiện nay Xuất phát từ thực trạng trên cùng với các nguyên nhân khác dẫn đến sự gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất và mức độ nguy hiểm của các tệ nạn xã hội và tội phạm đang là nhân tố cản trở sự phát triển của thủ đô Hà Nội Trong bối cảnh nền kinh
tế thị trường, khi các giá trị vật chất ngày càng được đề cao, cùng với sự phân hóa giàu nghèo một cách rõ rệt, sự bùng nổ công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay cùng với tâm lý hám lợi, thích ăn chơi, lười lao động ở một bộ phận cá nhân, tình hình các tội phạm về sở hữu đang diễn biến phức tạp, trong đó có tội lừa đảo CĐTS
Các vụ lừa đảo CĐTS ngày càng nghiêm trọng, với các phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi; đặc biệt thời gian gần đây đã xuất hiện ngày càng nhiều đối tượng hình sự mang quốc tịch nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam để trốn lệnh truy nã hoặc thực hiện các hành vi phạm tội Để che giấu lai lịch và hành vi phạm tội của mình, họ thường núp dưới vỏ bọc đầu tư, kinh doanh, thăm thân nhân, du lịch… Tội phạm gây
ra chủ yếu là XPSH trong đó có hành vi lừa đảo bằng thẻ tín dụng, lừa đảo thông qua
Trang 11việc thực hiện hợp đồng kinh tế qua mạng internet; sử dụng kỹ thuật, công nghệ cao để CĐTS của nhiều cá nhân, tổ chức
Để góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội nói riêng, việc nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và sâu sắc tình hình tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội trong những năm gần đây là một việc làm cần thiết và cấp bách để từ đó tìm ra nguyên nhân của loại tội phạm này và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội lừa
đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Phòng ngừa tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ
của mình
Trong luận văn, tác giả vận dụng các kiến thức của Tội phạm học và các số liệu, tài liệu thu thập được từ các báo cáo thống kê của các cơ quan chức năng cùng với 211 bản án HSST được lựa chọn ngẫu nhiên để mô tả và phân tích tình hình tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, có khá nhiều công trình nghiên cứu về tội lừa đảo CĐTS dưới góc độ tội phạm học
Dưới góc độ tội phạm học, tội lừa đảo CĐTS đã được đề cập và nghiên cứu
trong một số công trình, tiêu biểu là luận án tiến sĩ luật học“Đấu tranh, phòng chống
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnở Việt Nam giai đoạn 1996 - 2006” của tác giả Lê Đăng
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a, Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tình hình tội phạm, nguyên nhân
và các biện pháp phòng ngừa tội phạm của tội lừa đảo CĐTS
b, Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ Tội phạm học tội lừa
đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu
a) Mục đích của việc nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu nhằm đề xuất các biện
pháp phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
b) Nhiệm vụ của việc nghiên cứu: Từ mục đích nói trên, tác giả cần thực hiện
những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Đánh giá tình hình của tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2014
- Làm sáng tỏ nguyên nhân của tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Dự báo tình hình tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Về phương pháp nghiên cứu:Trong luận văn, tác giả sử dụng kết hợp các
phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm: Phương pháp tiếp cận định lượng, tiếp cận tổng thể, tiếp cận bộ phận; phương pháp chọn mẫu xác xuất ngẫu nhiên đơn giản; phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu; phương pháp chứng minh trực tiếp giả thuyết; phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn đánh giá được tình hình tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2014, giải thích được một số nguyên nhân
cơ bản làm phát sinh tội phạm này và đề xuất được các biện pháp phòng ngừa phù hợp
Trang 13với đặc điểm Thành phố Hà Nội hiện nay và yêu cầu phòng ngừa tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1 Tình hình tội lừa đảo CĐTStrên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn
Trang 14Chương 1 Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
1.1 Thực trạng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
1.1.1 Thực trạng về mức độ của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
1.1.1.1 Tội phạm rõ
Theo số liệu thống kê của TANDTP Hà Nội thì số vụ và số người phạm tội bị xét xử sơ thẩm về tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội trong năm năm
Cụ thể số vụ và số người phạm tội được thể hiện trên bảng số liệu sau:
Bảng 1: Số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS bị xét xử HSST trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
(Nguồn: Thống kê văn phòng TAND TP Hà Nội)
Biểu đồ 1: Số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS bị xét xử HSST trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2014
Trang 15Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên, tác giả nhận thấy từ năm 2010 đến năm
2014 Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn Hà Nội đã xét xử sơ thẩm tổng số 1331 vụ
án và 1810 người phạm tội lừa đảo CĐTS Như vậy, trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn Hà Nội xét xử sơ thẩm khoảng 266 vụ án với khoảng 362 người phạm tội lừa đảo CĐTS
Qua thông số về số vụ và số người phạm tội bị xét xử sơ thẩm có trong số liệu thống kê đã phản ánh cơ bản về lượng của tình hình tội lừa đảo CĐTS Đây là phần tội phạm rõ, có trong thống kê chính thức của TANDTP Hà Nội và cũng là phần quan trọng trong bức tranh tổng thể thực trạng tình hình tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2014
Tuy nhiên, khi xác định quy mô, độ lớn của tình hình tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014, các số liệu trên sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu không được đặt trong so sánh với các số liệu khác có liên quan Khi có sự so sánh sẽ giúp ta đánh giá được một cách tương đối chính xác về thực trạng của tội phạm lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội Chính vì vậy, tác giả đưa ra một số tiêu chí so sánh sau đây:
Thứ nhất, so sánh số vụ và số người bị kết án phạm tội lừa đảo CĐTS với số vụ
và số người bị kết án của các tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH
Bảng 2: Tỷ lệ tổng số số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS so với tổng số
vụ và số người phạm tội thuộc nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
Lừa đảo CĐTS Nhóm tội XPSH có
tính chiếm đoạt Năm
Số vụ
(1)
Số người (2)
Số vụ (3)
Số người (4)
Tỉ lệ phần trăm giữa (1) và (3)
Tỉ lệ phần trăm giữa (2) và (4)
Nguồn: Thống kê văn phòng TANDTP Hà Nội – xem chi tiết phụ lục số 01, bảng 1.5
Biểu đồ 2:Tổng số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS so với tổng số vụ và số
người phạm tội thuộc nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hà
Trang 16Qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy so với tổng số vụ và tổng số người phạm tội các tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH thì tổng số vụ
và tổng số người phạm tội lừa đảo CĐTS ở Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014, chiếm tỷ lệ tương đối cao Trong vòng năm năm vừa qua có khoảng 1331 vụ án phạm tội lừa đảo CĐTS trong tổng số10943 vụ án phạm tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH bị đưa ra xét xử chiếm 12,2% và với 1810 bị cáo phạm tội lừa đảo CĐTS trong tổng số 16900 bị cáo phạm tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH bị đưa ra xét xử chiếm tỷ lệ 10,7%
Thứ hai, để có cái nhìn rõ nét hơn về tội phạm này, tác giả so sánh tổng số vụ
và số người bị kết án về tội lừa đảo CĐTS với tổng số vụ và số người bị kết án về từng tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH
Từ năm 2010 đến năm 2014, trong tổng số tám tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSHthì số vụ và số người phạm tội lừa đảo CĐTS chiếm tỷ lệ tương đối cao Đối với số vụ phạm tội thì tội lừa đảo chiếm đoạt đứng thứ hai chỉ sau
số vụ phạm tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ 12,2%, còn về số người phạm tội thì đứng thứ ba chiếm tỷ lệ 10,7% chỉ sau số người phạm tội trộm cắp tài sản và số người phạm tội cướp tài sản trong nhóm tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH.Chi tiết được tác giả thống kê theo bảng số liệu dưới đây:
Trang 17Bảng 3: So sánh tổng số vụ và số người bị kết án về tội lừa đảo CĐTS với tổng
số vụ và số người bị kết án về từng tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH
(Nguồn: Thống kê văn phòng TANDTP Hà Nội)
Biểu đồ 3: So sánh tổng số vụ phạm tội lừa đảo CĐTS với tổng số vụ phạm tội từng
tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH
Biểu đồ 4: So sánh tổng số người phạm tội lừa đảo CĐTS với tổng số người phạm tội
từng tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH
Trang 18Để hiểu rõ thêm tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng tôi xác định chỉ
số tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên tỷ lệ dân cư trên địa bàn Hà Nội để xác định mức độ phổ biến của loại tội phạm này trong dân cư Chỉ số tội phạm được tính theo tỷ lệ số tội phạm (hoặc số vụ phạm tội) trên 100.000 người dân (hoặc 10.000 dân) [11, tr 185]
Tuy nhiên, để có thể đánh giá được mức độ phổ biến của tội phạm này trong khu dân cư thì cần phải so sánh nó trong mối tương quan với các địa phương khác Ở đây tác giả so sánh chỉ số tội phạm của loại tội này trên địa bàn Hà Nội với chỉ số tội phạm của tội này trên địa bàn Hải Phòng, Nam Định và Toàn Quốc giai đoạn 2010 –
2014 là những tỉnh có đặc thù riêng và đặc thù chung điển hình của các tỉnh phía Bắc
Bảng 4: Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn
thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và trên Toàn quốc (tính trên 100.000 dân)
Trang 19Chỉ số người phạm tội
Chỉ
số tội phạm
Chỉ số người phạm tội
Chỉ
số tội phạm
Chỉ số người phạm tội
(Nguồn:Thống kê văn phòng TAND TP Hà Nội, Thống kê văn phòng TANDTP Hải
Phòng, Thống kê văn phòng TAND Tỉnh Nam Định, Thống kê tổng hợp TANDTC; Website: http://www.gso.gov.vn – xem thêm phụ lụcsố 01)
Dựa vào bảng số liệu trên cho thấy, chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội về tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội tính bình quân trên 100.000 dân là 3.9 vụ và 5.3 người phạm tội Nghĩa là cứ 100.000 người dân thì có khoảng 3.9 vụ và 5.3 người phạm tội về tội lừa đảo CĐTS Dựa vào bảng số liệu trên, chúng ta cũng dễ dàng thấy rằng mức độ phổ biến của loại tội này trong khu dân cư trên địa bàn Hà Nội có mứccao nhất so với mức độ phổ biến của loại tội này trên địa bàn Hải Phòngchỉ với 3.1 vụ và 4.2 người phạm tội về tội lừa đảo CĐTS, còn đối với tỉnh Nam Định với 1.3
vụ và 1.7 người phạm tội về tội lừa đảo CĐTS thì mức độ phổ biến của loại tội phạm này trên địa bàn Hà Nội cao gấp 3 lần so với mức độ phổ biến của loại tội này trên địa bàn Nam Định Còn trên cả nướcvới 2.3 vụ và 3.2 người phạm tội về tội lừa đảo CĐTS, tuy cao hơn Nam Định nhưng vẫn thấp hơn Hà Nội và Hải Phòng
Tuy nhiên để thấy rõ mức độ phổ biến của loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay tác giả so sánh chỉ số tội phạm trong giai đoạn hiện nay so với giai đoạn trước
đó Theo TS Lê Đăng Doanh, trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2006 trung bình chỉ số tội phạm về số vụ là 2.53; về số người là 3.37 [9, tr 18] Như vậy, so với giai đoạn trước tác giả nhận thấy chỉ số tội phạm lừa đảo CĐTS trong giai đoạn hiện nay cao hơn chỉ số tội phạm giai đoạn 1996 – 2006 Cho thấy, mức độ phổ biến của loại tội
phạm này trong giai đoạn hiện nay ngày càng phổ biến hơn
1.1.1.2 Tội phạm ẩn
Những thông số về số vụ phạm tội cũng như số người phạm tội ở trên cho thấy một phần của “bức tranh” tổng thể về tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 Trong quá trình nghiên cứu tình hình tội phạm, để đánh giá đúng đặc tính về lượng của tình hình tội lừa đảo CĐTS, ngoài việc nghiên cứu những
vụ phạm tội đã được xét xử, thì một phần quan trọng cần phải được xem xét, nghiên cứu, đó là phần ẩn của tội phạm lừa đảo CĐTS
Trang 20Theo PGS.TS Dương Tuyết Miên: “Tội phạm ẩn là số lượng tội phạm và người
phạm tội đã thực hiện trên thực tế nhưng không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc chưa bị phát hiện (một cách chính thức) và do vậy chưa bị xử lý về hình
sự, chưa có trong thống kê hình sự chính thức” [11, tr 181]
Theo PGS.TS Dương Tuyết Miên, có hai loại tội phạm ẩn: tội phạm ẩn khách quan và tội phạm ẩn chủ quan
“Tội phạm ẩn khách quan là trường hợp tội phạm đã xảy ra trên thực tế, nhưng
do nguyên nhân khách quan, cơ quan chức năng không phát hiện ra vụ phạm tội – không có thông tin về vụ án” [11, tr 182]
“Tội phạm ẩn chủ quan là trường hợp tội phạm đã xảy ra trên thực tế, cán bộ
cơ quan chức năng đã nắm được vụ việc nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà
vụ án không được thụ lý, xử lý hình sự và do đó không có trong số liệu thống kê” [11,
tr 183]
Ngoài quan điểm cho rằng tội phạm ẩn có hai phần nêu trên, cũng có ý kiến cho rằng tội phạm ẩn còn bao gồm cả số liệu về các vụ phạm tội, số người phạm tội tuy đã
bị xử lí hình sự nhưng vì lí do nào đó mà không có trong số liệu thống kê chính thức
và coi đây là “tội phạm ẩn thống kê”.Về bản chất,tội phạm đã được xét xử nhưng không có trong thống kê chính thức thì vẫn là tội phạm rõ.Bởi vì,khi đã được đưa ra xét xử rồi thì đương nhiên phải là tội phạm rõ Lý do không có trong số liệu thống kê chính thức có thể là vì những nguyên nhân khác nhau nào đó mà nó không có trong số liệu thống kê chính thức, thực chất nó là sai số trong thống kê của các cơ quan chức năng
Nghiên cứu tình hình tội lừa đảo CĐTS và đánh giá đúng đặc tính về lượng của tình hình tội lừa đảo CĐTS, ngoài việc nghiên cứu những vụ phạm tội đã được phát hiện và xét xử, thì một phần quan trọng cần phải được xem xét, nghiên cứu, đó là phần
ẩn của tình hình tội lừa đảoCĐTS
Về phương diện khoa học, chỉ có thể đánh giá mức độ tội phạm ẩn một cách tương đối gần sát với thực tế dựa trên những căn cứ, cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định, việc mong muốn đánh giá một cách chính xác, tuyệt đối phần ẩn của tình hình tội lừa đảo CĐTS là điều không thể thực hiện được vì nhiều lí do khác nhau
Trang 21Theo khảo sát, nghiên cứu của TS Lê Đăng Doanh, tỷ lệ tội phạm ẩn tội lừa đảo CĐTSkhoảng 30 – 40% [9, tr 29] Tuy nhiên, con số này cũng chỉ thể hiện một cách tương đối Theo thực tế nghiên cứu tác giả nhận thấy mức độ ẩn của loại tội này
có thể cao hơndo một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cho nên giao lưu kinh tế quốc tế
và trong khu vực Asean được mở rộng cho nên có thể có nhiều loại tội phạm quốc tế xuất hiện Đồng thời công tác phối hợp với các tổ chức nước ngoài trong phòng ngừa tội phạm vẫn còn những hạn chế nhất định, cho nên tội phạm loại này có chiều hướng gia tăng và khó phát hiện
Thứ hai,do người bị hại không tố giác tội phạm, không trình báo với cơ quan
chức năng do thiệt hại không lớn, do tâm lý e ngại, xấu hổ vì cho rằng mình có lỗi trong việc bị lừa đảo CĐTS, sợ bị trả thù, hoặc do muốn tự dàn xếp, mặt khác lý do ẩn còn có thể là do số tiền bị lừa đảo là số tiền bất hợp pháp nên không dám tố giác người phạm tội
Thứ ba, người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối với rất nhiều hình thức khác
nhau, nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt mà chính người bị hại cũng không biết mình bị lừa dối
Thứ tư, lợi dụng đặc điểm tâm lý của người bị hại muốn lấy lại tài sản, không
muốn va chạm với cơ quan bảo vệ pháp luật do sợ phiền hà Hơn nữa, người phạm tội lừa đảo thường hứa hẹn sẽ trả lại và nạn nhân mong muốn lấy lại tài sản nên không tố giác
Thứnăm, có thể do trình độ xét xử còn yếu kém cho nên nhiều vụ việc về bản
chất là tội lừa đảo CĐTS nhưng các cơ quan Tư pháp cho rằng đó là tranh chấp dân sự, không phân biệt được giữa tội lừa đảo CĐTS với tranh chấp dân sự cũng ảnh hưởng đến mức độ ẩn của loại tội phạm này
Khi nghiên cứu về thực trạng tội phạm thì không chỉ nghiên cứu về tội phạm rõ, tội phạm ẩn và chỉ số tội phạm mà đối với những tội phạm có nạn nhân cần phải nghiên cứu về thông số nạn nhân Thông số nạn nhân đóng vai trò rất quan trọng trong việc mô tả thực trạng của tình hình tội phạm
Trang 22Theo TS Dương Tuyết Miên thì nạn nhân của tội phạm là:“cá nhân, tổ chức bị
hành vi phạm tội xâm hại gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc một số quyền, lợi ích hợp pháp khác” [11, tr 165]
Do không có số liệu thống kê chính thức về nạn nhân trong các báo cáo tổng hợp của TANDTP Hà Nội, tác giả đã tìm kiếm các thông tin về nạn nhân trong 211 bản án xét xử HSST về tội lừa đảo CĐTS Theo đó, trong 211 bản án tác giả nghiên cứu có tổng số 2142 nạn nhân Như vậy, trung bình mỗi vụ án Tòa án xét xử có khoảng 10 nạn nhân.Qua con số này có thể nhận định rằng, số lượng nạn nhân trong các vụ lừa đảo CĐTS có mức trung bình rất cao
Về thông số thiệt hại, rõ ràng những thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu trực tiếp và chủ yếu là về vật chất Mặc dù số liệu này không thể hiện ở bảng thống kê tổng hợp của TANDTP Hà Nội nhưng tác giả đã thống kê thông số thiệt hại từ 211 bản án HSST, được tác giả thể hiện theo bảng số liệu dưới đây:
Năm Số vụ án Số tiền bị chiếm đoạt Trung bình mỗivụ án
Theo nghiên cứu của TS Hoàng Văn Hùngvề 472 vụ án xét xử về tội trộm cắp tài sản cho thấy, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.544.125.288 đồng, trung bình mỗi vụ trộm cắp gây ra thiệt hại khoảng 18.101.960 đồng [6, tr 79 - 80] Như vậy, so với tội trộm cắp tài sản thì trung bình mức thiệt hại mỗi vụ lừa đảo CĐTS cao gấp 320 lần
Trang 23Theo nghiên cứu của TS Lê Đăng Doanh về tội lừa đảo CĐTS trong giai đoạn
1996 – 2006 có 21.662 vụ án đã được xét xử ước tính số tiền bị chiếm đoạt khoảng 4.500 tỷ đồng [9, tr 76] Như vậy, trung bình mỗi vụ án lừa đảo CĐTS xảy ra ước tính
số tiền thiệt hại khoảng 207.737.051 đồng Cho thấy, so với giai đoạn trước thì trong giai đoạn 2010 – 2014 mức thiệt hại mỗi vụ hiện nay cao xấp xỉ gấp 28 lần
Điều này chứng tỏ, giai đoạn trước từ năm 1996 – 2006 so với giai đoạn hiện nay khi đã bỏ hình phạt từ hình thì mức độ nghiêm trọng cũng như mức độ gây thiệt của tội phạm này ngày càng nghiêm trọng hơn do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó, tác giả cho rằng nguyên nhân xóa bỏ án tử hình có thể tác động đến tâm lý người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Về tình huống trở thành nạn nhân, qua nghiên cứu 211 bản án, có thể nhận thấy giữa nạn nhân và người phạm tội thường quen biết, qua giới thiệu bạn bè, anh chị em,… và có mối quan hệ làm ăn Người phạm tội thường lợi dụng mối quan hệ quen biết đối với người khác, sử dụng giấy tờ giả nhà đất, ô tô đem bán hoặc thế chấp vay tiền nhiều lần hoặc lợi dụng mối quan hệ quen biết để vay tiền hứa hẹn trả với lãi suất cao hay giới thiệu, môi giới đi xuất khẩu lao động đi nước ngoài…
1.1.2 Thực trạng về tính chất của tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
Thực trạng về tính chất của tội phạm phản ánh qua các cơ cấu của tội phạm cũng như người phạm tội.Cơ cấu của tội lừa đảo CĐTS là những đặc điểm về chất của tội phạm lừa đảo CĐTS Để nhận biết các đặc điểm về chất của tội lừa đảo CĐTS trước hết cần phải xác định những thông số về cơ cấu của tội phạm này Qua thu thập
số liệu tác giả nhận thấy có thể tiếp cận cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo số liệu của TANDTP Hà Nội Tuy nhiên, trong số liệu thống kê của TANDTP Hà Nội không có một số thông tin cần thiết như: Thủ đoạn phạm tội; Hình thức phạm tội; Trình độ văn hóa… Mặt khác, số liệu của TANDTP Hà Nội và số liệu thống kê từ 211 bản án là không đồng nhất với nhau Do đó,tác giả phân tích thực trạng về tính chất của tội lừa đảo CĐTS trên cơ sở số liệu thống kê từ 211 bản án HSST xét xử về tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014 (được tác giả lựa chọn ngẫu
Trang 24nhiên), ta có thể xem xét cơ cấu của tội lừa đảo CĐTS qua một số tiêu chí nhất định như sau:
1.1.2.1 Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo loại tội phạm
Trên cơ sở nghiên cứu 211 bản án hình sự sơ thẩm với 264 người phạm tội bị xét xử về tội lừa đảo CĐTS của Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn Hà Nội trong vòng 5 năm, tác giả đưa ra bảng thống kê và biểu đồ sau:
Bảng 5: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo loại tội phạm
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 5:Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo loại tội phạm
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên, tác giả nhận thấy rằng tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội tập trung vào loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với số người bị xét xử theo khoản 4 Điều 139 là 181 người chiếm 68,6%; Sau đó là tội ít nghiêm trọng với số người bị xét xử theo khoản 1 Điều 139 là 30 người chiếm 11,4%; sau đó lần
Trang 25lượt là tội rất nghiêm trọng với số người bị xét xử là 27 người chiếm 10,2% và tội nghiêm trọng với số người bị xét xử là 26 người chiếm 9,8%
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại ở đây là qua 211 bản án tác giả nghiêm cứu với
264 người bị xét xử về tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội, trong tổng số 264 người
bị xét xử về tội lừa đảo CĐTScó tới 208 người phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chiếm xấp xỉ 79% Tác giả nhận thấy, mức độ nghiêm trọng của các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó có thể là
do trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, biến động, cơ hội làm ăn không được thuận lợi ngày càng khó khăn hơn, trình độ hiểu hiết pháp luật của người dân hạn chế, đó chính là điều kiện thuận lợi để để bọn lừa đảo chiếm đoạt tài sản thực hiện hành vi phạm tội Một số người vì nhẹ dạ, khao khát làm giàu nhanh nên dễ dàng tin vào những lời hứa hẹn của kẻ xấu, để rồi trao tài sản cho chúng Không chỉ họ mà cả những người thân, bạn bè cũng bị lôi kéo vào những cạm bẫy của bọn lừa đảo dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
1.1.2.2 Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo mức hình phạt
Bảng 6: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo mức hình phạt
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS.
Biểu đồ 6:Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo loại và mức hình phạt
Trang 26Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên tác giả nhận thấy, trong tổng số 264 bị cáo bị
xử phạt tù: có 185 bị cáo bị xử phạt trên 7 năm tù trở lên chiếm trên 70% Trong đó, số bị cáo bị xử phạt chung thân là 32 bị cáo chiếm 12,1%, số bị cáo bị xử phạt trên 15 năm tù có
49 bị cáo chiếm 18,6% và số bị cáo bị xử phạt trên 7 năm tù đến 15 năm tùcó 104 bị cáo chiếm 39,4% Như vậy, ta có thể thấy rằng số bị cáo bị xử phạt trên 7 năm tù trong 5 năm (2010 - 2014) chiếm tỷ lệ tương đối lớn Con số này cũng cho thấy mức độ nghiêm trọng của loại tội phạm này ngày càng lớn Điều này có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó theo chúng tôi, nguyên nhân khiến cho tỷ lệ những người phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cao như vậy có thể là do từ năm 2009 BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung đã bỏ hình phạt tử hình thì những người phạm tội có tính chất rất nghiêm trọng
và đặc biệt nghiêm trọng ngày một tăng lên Bởi khi người phạm tội từ trên năm trăm triệu đồng thì mức hình phạt cao nhất Tòa án tuyên là chung thân và có những vụ án với mức thiệt hại lên đến hàng chục tỷ đồng thậm chí phạm tội với mức thiệt hại lên đến hàng nghìn
tỷ đồng thì mức hình phạt cao nhất mà Tòa án tuyên cũng chỉ ở mức chung thân
1.1.2.3 Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo hình thức phạm tội
Bảng 7: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo hình thức phạm tội
Trang 27Hình thức phạm tội Số vụ Tỷ lệ %
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 7: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo hình thức phạm tội
Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ tác giả nhận thấy tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nội trên thực tế chủ yếu được thực hiện dưới hình thức đơn lẻ, chiếm 79,6%;
tỷ lệ phạm tội theo hình thức đồng phạm chiếm 20,4% Điều đáng chú ý là tuy những
vụ án có đồng phạm không nhiều nhưng mức độ gây thiệt hại lại cao hơn rất nhiều so với những vụ phạm tội theo hình thức đơn lẻ Điều này có thể do,trong những vụ án có đồng phạm thì những người này câu kết chặt chẽ với nhau, có sự phân công nhiệm vụ
rõ ràng cho từng người trong nhóm đồng phạm Cho nên, đối với những vụ án có đồng phạm hầu như không có kẽ hở hoặc có nhưng rất ít nên rất khó để phát hiện và làm cho
bị hại tin tưởng một cách tuyệt đối vào những đối tượng trên và giao tài sản cho họ Do
đó, mức thiệt hại mà những vụ án có đồng phạm gây ra là rất nghiêm trọng
1.1.2.4 Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo thủ đoạn phạm tội
Qua nghiên cứu 211 bản án phạm tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 cho thấy, thủ đoạn lừa dối trên thực tế của tội lừa đảo CĐTS là rất đa dạng và phức tạp, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và cách thức tiến hành cũng rất khác nhau Kết quả tổng hợp về những thủ đoạn phạm tội được thể hiện trên bảng số liệu và biểu đồ sau:
Trang 28Thủ đoạn phạm tội Số
vụ
Tỷ lệ (%)
Lừa dối trong việc tuyển dụng người đi lao động nước ngoài, môi
giới xin việc làm, xin học
59 28%
Làm giấy tờ giả về nhà đất, ô tô, xe máy; dùng nhà đất đem bán, thế
chấp nhiều lần
46 21.8%
Giả thuê, mượn ô tô, xe máy, điện thoại đem bán hoặc cầm đồ 33 15.6%
Làm giả hóa đơn bảo đảm cầm cố vay tiền, Lập khống chứng từ hóa
đơn, bảng lương CĐTS
9 4.3%
Lừa dối làm thủ tục cấp, chuyển nhượng, tách giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, nhà ở; cấp giấy phép lái xe, đăng ký xe
8 3.8%
Giấy tờ, tài liệu giả xin cấp vốn dự án, huy động vốn đầu tư, phê
duyệt dự án
8 3.8%
Lừa mua nhà đất, mua cổ phiếu, ô tô, thẻ điện thoại giá ưu đãi CĐTS 6 2.8%
Lừa dối người nước ngoài thu phí cầu đường, phí taxi cao 4 1.9%
Dùng thẻ thanh toán quốc tế giả rút tiền, mua hàng 2 0.9%
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 8: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo thủ đoạn phạm tội
Trang 29Theo bảng số liệu và biểu đồ cho thấy thủ đoạn lừa dối chiếm tỷ lệ cao nhất là lừa dối người lao động đi xuất khẩu lao động nước ngoài, môi giới xin việc làm, xin đi học, chiếm 28% Thủ đoạn chiếm tỷ lệ cao thứ hai với 21,8% làm giấy tờ nhà đất, đăng ký ô tô, xe máy giả…rồi đem bán hoặc thế chấp lấy tiền; theo theo thủ đoạn thứ
ba là giả thuê, mượng ô tô, xe máy thông qua dịch vụ thuê xe, quen biết đơn giản, dễ dàng chiếm 15,6% Thêm vào đó dịch vụ cầm đồ hiện nay đang phát triển một cách tự phát và việc kiểm soát chưa được chặt chẽ là yếu tố kích thích người phạm tội thực
Trang 30hiện thủ đoạn lừa dối thông qua việc thuê mượn xe để đem cầm cố lấy tiền tiêu sài, trả
nợ Trên đây là ba thủ đoạn lừa dối phổ biến hiện nay mà tội phạm thường sử dụngchiếm tỷ lệ 65,4% Tuy nhiên, còn có rất nhiều những thủ đoạn khác nữa như: lừa dối vay tiền với lãi xuất cao; làm giả hóa đơn bảo đảm cầm cố vay tiền, lập khống chứng từ hóa đơn, bảng lương để CĐTS, lừa dối lam thủ tục cấp, chuyển nhượng, tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở; cấp giấy phép lái xe, đăng ký xe; giấy tờ, tài liệu giả xin cấp vốn dự án, huy động vốn đầu tư, phê duyệt dự án; lừa mua bán nhà đất, mua cổ phiếu, thẻ điện thoại giá ưu đãi để CĐTS; lừa dối người nước ngoài đi taxi thu phí taxi, phí cầu đường cao; lừa dối có khả năng chạy án để CĐTS; dùng thẻ thanh toán quốc tế giả rút tiền, mua hàng để CĐTS Điều đáng nói ở đây đó chính là có sự xuất hiện thủ đoạn phạm tội của người nước ngoài thực hiện trong nội thành Hà Nội với thủ đoạn dùng thẻ thanh toán quốc tế giả để rút tiền trong ngân hàng hoặc là mua hàng có giá trị để CĐTS
1.1.2.5.Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo địa bàn dân cư Hà Nội
Bảng 9: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo địa bàn dân cư Hà Nội
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 9: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo địa bàn dân cư Hà Nội
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên tác giả nhận thấytrong tổng số 211vụ phạm tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội thì số vụ phạm tội xảy ra trong khu vực nội thành là 179 vụ chiếm 84,8%, số vụ phạm tội xảy ra trên địa bàn ngoại
Trang 31thành thành phố Hà Nội là 32 vụ chiếm 15,2% Có thể do nội thành là nơi tập trung nhiều cẳ hàng, siêu thị, nhà kho, công ty, doanh nghiệp, cơ quan, công sở…hơn so với nông thôn Đồng thờitốc độ đô thị hóa nhanh chóng, người dân nhập cư vào nội thành
Hà Nội nhiều, thành phần dân cư hỗn tạp, mật độ dân cư tập trung nhiều ở trung tâm thành phốnên tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của bọn tội phạm và việc kiểm soát tội phạm ở khu vực nội thành sẽ khó khăn hơn trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.1.2.5 Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo một số đặc điểm về nhân thân người phạm tội
+ Về dân tộc của người phạm tội
Bảng 10: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo dân tộc
Dân tộc Số bị cáo Tỷ lệ %
Dân tộc thiểu số 1 0.4%
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 10: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo dân tộc
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ tác giả nhận thấy, người phạm tội thực hiện trên địa bàn Hà Nội chủ yếu là những người dân tộc kinh chiếm 99,6%, còn những
người phạm tội là dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ rất nhỏ chỉ với 0,4%
+ Về giới tính của người phạm tội
Trang 32Bảng 11: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo giới tính người phạm tội
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản ánHSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 11: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo giới tính người phạm tội
Trên cơ sở nghiên cứu 211 bản án tác giả nhận thấy tỷ lệ những người phạm tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn Hà Nộigiai đoạn 2010 – 2014 chủ yếu là Nam giới chiếm tới 62,5% gấn gấp đôi so với nữ giới Thực tế nghiên cứu các đặc điểm giới tính của người phạm tội là nam giới đã chỉ ra, nam giới có khả năng giao thiệp và tiếp xúc với người khác dễ dàng hơn so với nữ giới đồng thời dễ bị ảnh hưởng thói hư tật xấu hơn
nữ giới như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút cũng có thể do làm ăn kinh doanh thua lỗ dẫn đến nợ nần nhiều.Do đó,nam giới dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường sống, điều kiện sống, làm phát sinh tâm lý tiêu cực cao hơn nữ giới Theo đó người nam giới dễ dẫn đến hành vi phạm tội hơn nữ giới
Như vậy, số người là nam giới phạm tội chiếm tỷ lệ chủ yếu trong số người phạm tội lừa đảo CĐTS giai đoạn 2010 – 2014 Đây là nhóm đối tượng mà công tác giáo dục, tuyên truyền, phòng ngừa cần hướng tới
+ Về độ tuổi người phạm tội
Trang 33Bảng 12: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo độ tuổi người phạm tội
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 12: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo độ tuổi người phạm tội
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ cho thấy, nhóm người phạm tội có độ tuổi trên
30 tuổi chiếm tỷ lệ rất cao 78%, cao gấp 3,5 lần số người phạm tội ở độ tuổi từ 18 đến
30 tuổi chiếm tỷ lệ 22% Độ tuổi trên 30 tuổi phạm tội nhiều hơn có thể được lý giải bởi nguyên nhân nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó có nguyên nhân sau: đối với những người trên 30 tuổi họ có khả năng nhận thức tương đối đầy đủ, có kinh nghiệm sống nhất định, và có khả năng thực hiện các mánh khóe, thủ đoạn để thực hiện việc lừa dối và tạo niềm tin ở người khác Bên cạnh đó, sự hám lợi, lòng tham cùng với sự tác động của môi trường sống đến người phạm tội có thể là nguyên nhân khiến số người phạm tội ở lứa tuổi này nhiều hơn số người phạm tội ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi
+ Yếu tố quốc tịch
Bảng 13: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo quốc tịch người phạm tội
Trang 34Quốc tịch Số người Tỷ lệ %
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 13: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo quốc tịch người phạm tội
Qua khảo sát 211 bản án hình sự sơ thẩm tác giá nhận thấy trong số 264 người phạm tội thì có 262 người phạm tội là người Việt Nam chiếm 99,2% và có 2 người nước ngoài phạm tội lừa đảo CĐTS chiếm 0,8% Điều này có thể lý giải do nước ta hội nhập kinh tế quốc tế cho nên những người nước ngoài vào Việt Nam rất nhiều và với nhiều hình thức khác nhau trong đó có cả những tên tội phạm từ nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện hành vi phạm tội trong đó có tội lừa đảo CĐTS.Điều đáng nói ở đây
là, trong 2 vụ phạm tội có người nước ngoài tham gia thực hiện thì đều xảy ra trong khu vực nội thành thành phố Hà Nội, không có vụ nào xảy ra ở ngoại thành thành phố
Hà Nội Điều này có ý nghĩa rất lớn trong công tác phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện có trọng tâm, trọng điểm
+ Về nghề nghiệp của tội phạm
Bảng 14: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo nghề nghiệp người phạm tội
Trang 35Nghề nghiệp người phạm tội Số bị cáo Tỷ lệ %
Không nghề nghiệp, nghề nghiệp không ổn định, hưu trí 139 52.7% Lãnh đạo các doanh nghiệp (Chủ tịch HDDQT, Tổng
giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, phó giám đốc)
Nhân viên trong các doanh nghiệp (Kế toán, kinh doanh,
nhân viên văn phòng)
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 14: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo nghề nghiệp người phạm tội
Qua bảng số liệu trên cũng cho thấy, những người phạm tội lừa đảo CĐTS tập trung ở những người không có nghề nghiệp, nghề nghiệp không ổn định, những đối tượng đã nghỉ hưu và những lãnh đạo trong các doanh nghiệp bao gồm: Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc với 198 bị cáo chiếm tỷ lệ là trên 75% Trong đó, những người phạm tội không có nghề nghiệp, nghề nghiệp không ổn đinh, hưu trí có 139 người chiếm 52,7% và những người phạm tội là lãnh đạo các doanh nghiệp có 59 bị cáo chiếm 22,3% Do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt tron xã hội cho nên việc kiếm được việc làm là rất khó khăn Bên cạnh
Trang 36kinh nghiệm làm việc nhất định cho nên những đối tượng không có việc làm hoặc việc làm không ổn định ngày càng nhiều, đời sống không ngừng được nâng cao khiến cho những đối tượng này không đủ tiền để phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, bản thân Cho nên, những đối này đã thực hiện hành vi phạm tội trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đồng thời, những đối tượng là lãnh đạo các doanh nghiệp lừa đảo chiếm đoạt tài sản chiếm tỷ lệ tương đối lớn Có thể do cạnh tranh trong kinh doanh, nhiều doanh nghiệp phá sản, nợ nần Cho nên, để có tiền tiếp tục việc kinh doanh những người này
đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng nhiều thủ đoạn khác nhau Ngoài
ra, còn có những người phạm tội là những nhân viên trong các doanh nghiệp phạm tội như: kế toán, kinh doanh, nhân viên văn phòng là 40bị cáo chiếm 15,1%; Tiếp theo đó chiếm tỷ lệ không nhiều đó là lái xe phạm tội có 10 bị cáo chiếm 3,8%; Còn lại là những người làm nghề nghiệp khác phạm tội là 16 người chiếm 6,1%
Qua nghiên cứu cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo nghề nghiệp có thể phân nhóm những người chứa đựng nguy cơ cao, dễ dẫn đến hành vi lừa đảo Chính vì vậy, đây là đặc điểm cần chú ý để tìm hiểu nguyên nhân phạm tội dưới góc độ kinh tế - xã hội, đặc biệt là vấn đề giải quyết nạn thất nghiệp có thể sẽ giúp ích lớn trong việc phòng ngừa tội phạm lừa đảoCĐTS nói riêng và tội phạm nói chung
+Trình độ văn hóa người phạm tội
Trình độ học vấn là yếu tố cấu thành của các điều kiện hình thành đạo đức của nhân thân cũng như điều kiện sinh sống của con người Trình độ văn hóa góp phần hình thành thói quen, nhu cầu, lợi ích, quy tắc ứng xử sao cho phù hợp với các yêu cầu của xã hội, cho phép tạo ra các phương tiện và hình thức phản ứng thích hợp với tình huống hoàn cảnh bất lợi và ngược lại Để có thể nghiên cứu được trình độ văn hóa của người phạm tội, tác giả đã thống kê 211 bản án hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo CĐTSvới 264 bị cáo, tác giả nhận thấy ở những người có trình độ học vấn ở bậc đại học phạm tội có 5 người chiếm 1,9%; số người phạm tội có trình độ học vấn ở bậc trung học phổ thông là 208 người chiếm 78,8%%; số người phạm tội có trình độ học vấn ở bậc trung học cơ sở là 45 người chiếm 17%; số người có trình độ học vấn bậc tiểu học là 6 người chiếm 2,3%; điều đáng nói ở đây số người mù chữ phạm tội là không có
Bảng 15: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo trình độ văn hóa người phạm tội
Trang 37Trình độ văn hóa Số bị cáo Tỷ lệ %
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 15: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo trình độ văn hóa người phạm tội
Trong số 264 người phạm tội thì có tới 213 người phạm tội có trình độ trung học phổ thông trở lên chiếm 80,7%, gấp gần 4,18 lần số người phạm tội có trình độ trung học cơ sở và tiểu học Như vậy, có thể thấy những người có trình độ văn hóa cao phạm tội là đặc trưng của của loại tội này.Có thể do những người phạm tội có trình độ văn hóa cao thì sự hiểu biết, khả năng nhận thức được những thủ đoạn phạm tội và hình thành ý định phạm tội ở những người này sẽ cao hơn so với những người có trình
độ văn hóa thấp Hơn nữa, đối với những người có trình độ văn hóa thấp thường là những người chỉ làm công việc lao động chân tay và sự hiểu biếtva chạm với cuộc sống trong xã hội ít hơn, từ đó nhận thức về những thủ đoạn phạm tội sẽ thấp hơn Cho nên, khả năng những người có trình độ văn hóa thấp phạm tội lừa đảo CĐTS là thấp hơn
+ Theo đặc điểm tái phạm, tái phạm nguy hiểm của người phạm tội
Trang 38Nghiên cứu đặc điểm tái phạm, tái phạm nguy hiểm sẽ làm rõ thêm tỷ lệ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt chủ yếu là phạm tội lần đầu hay chủ yếu là tái phạm để có thể
đề ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm loại này một cách có hiệu quả nhất Để có thể đưa ra con số tương đối cụ thể về số người phạm tội có đặc điểm tái phạm, tái phạm nguy hiểm, tác giả dựa trên số liệu thống kê ngẫu nhiên từ 211 bản án về tội lừa đảo CĐTS Đặc điểm tái phạm, tái phạm nguy hiểm được thể hiện theo bảng số liệu và biểu đồ sau:
Bảng 16: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Nguồn: Khảo sát ngẫu nhiên 211 bản án HSST về tội lừa đảo CĐTS
Biểu đồ 16: Cơ cấu tội lừa đảo CĐTS theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Qua bảng số liệu và biểu đồ tác giả nhận thấy tỷ lệ phạm tội lần đầu là rất lớn trong tổng số 264 bị cáo có tới 208 bị cáo chiếm 78,8% bị cáo phạm tội lần đầu gấp 3,17 lần số bị cáo phạm tội tái phạm, tái phạm nguy hiểm (56 bị cáo chiếm 21,2%) Điều này cho thấy đây là con số đáng báo động về tỷ lệ những người phạm tội lần đầu của tội lừa đảo CĐTS hiện nay.Mặc dù tỷ lệ tái phạm, tái phạm nguy hiểm không cao nhưngnó phản ánh công tác quản lý những đối tượng có tiền án, tiền sự và quản lý những đối tượng được tại ngoài còn buông lỏng chưa có cơ chế giám sát những đối tượng này một cách chặt chẽ có hiệu quả Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho tội phạm tái phạm, tái phạm nguy hiểm được thực hiện với mức độ ngày càng nghiêm
Trang 39trọng hơn Tiêu biểu bản án HSST số 123/HSST xét xử ngày 13, 14/3/2012 của TAND
TP Hà Nội đối với bị cáo Lý Thị Trúc Quỳnh, 36 tuổi, trú tại phố Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, Hà Nội; nguyên trưởng phòng KV9, Công ty cổ phần Bảo hiểm Bảo Minh mang hai bản án chung thân Lý Thị Trúc Quỳnh bị cơ quan cảnh sát điều tra - Công an TP Hà Nội (PC46) khởi tố bị can về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trong vụ án khác Trong thời gian được tại ngoại để điều tra, Lý Thị Trúc Quỳnh vẫn tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản
1.2 Diễn biến của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2014
1.2.1 Diễn biến về mức độ của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
Trên cơ sở số liệu đã nghiên cứu ở phần thực trạng về mức độ, tác giả nghiên cứu diễn biến của tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành phố Hà Nội để làm hoàn thiện
“bức tranh tổng thể về tội lừa đảo CĐTS” và đây cũng là cơ sở để dự đoán xu hướng vận động của tội phạm này trong thời gian tới Tác giả chọn năm 2010 là năm gốc và
so sánh với các năm tiếp theo trong giai đoạn nghiên cứu về số vụ và số người phạm
tội Ta có bảng thống kê dưới đây:
Bảng 17: Mức độ tăng, giảm hàng năm số vụ và số người phạm tội tội lừa đảo CĐTS
trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
(Nguồn: Thống kê văn phòng TANDTP Hà Nội)
Đồ thị 1: Diễn biến số vụ và số người phạm tội tội lừa đảo CĐTS trên địa bàn thành
phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014
Trang 40Nhìn vào biểu đồ và đồ thị tác giả nhận thấy, từ năm 2010 đến năm 2014 loại tội phạm này có diễn biến khá phức tạp cả về số vụ và số người phạm tội, có những năm số vụ phạm tội giảm và số người phạm tội giảm nhưng có năm số vụ phạm tội giảm nhưng số người phạm tội lại tăng lên; đồng thời nhìn trong cả giai đoạn có thể thấy tội phạm đang có chiều hướng giảm thì lại có nhiều hướng tăng cả về số vụ và số người phạm tội Cụ thể như sau: So với năm gốc là năm 2010, năm 2011 giảm 5% số
vụ, 10% số người phạm tội; năm 2012 giảm 6,1% nhưng số người phạm tội tăng 2,4%; năm 2013 giảm 18,7% số vụ, 21,3% số người phạm tội; năm 2014 tăng 8,6% số vụ; 16,7% số người phạm tội
Diễn biến của tội lừa đảo CĐTS có thể được đặt trong bối cảnh chung – diễn biến của các tội XPSH có tính chiếm đoạt thuộc chương các tội XPSH Để từ đó có thể thấy được điểm nổi bật diễn biến của tội lừa đảo CĐTS
Bảng 18: So sánh mức độ tăng, giảm hàng năm của tội lừa đảo CĐTS với các
tội xâm phạm ở hữu có tính chiếm đoạt khác trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn
2010 – 2014
Năm Tội lừa đảo CĐTS Các tội XPSH có tính chiếm đoạt
thuộc chương các tội XPSH