Pháp luật hình sự nước ta coi những hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý VKQD, PTKTQS của Nhả nước như: chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS là tội p
Trang 2BỘ GIÁO DỰC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T Ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 4M Ụ C L Ụ C
Trang
Chương 1 Tội chế tạo, tàng trữ, su’ dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
1.1 Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo
1.2 Thực tiễn hướng dẫn và áp dụng các quy định của pháp luật
về tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm 26đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
Chưoìig 2 Tình hình, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân (lụng, phưoìig tiện kỹ thuật quân sự trong quân đội 41
2.1 Tình hình phạm tội của tội chế tạo, tảng trữ, sử dụng, mua bántrái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật
2.2 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội chế tạo, tàng trữ,
sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương
Chương 3 Nhũng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội chế tạo, tàng trữ, sú" dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
vũ khí quân (lụng, phuoìig tiện kỹ thuật quân sự trong quân đội 66
3.1 Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự 66
Trang 53.2 Các giải pháp về biện pluíp dẩn tranh phòng chóng tội phạm 76
Trang 6PHẦN M ỏ ĐẦU
1 Tính cắp thiết của đề tài.
Vũ khí quân dụng (VKQD), phương tiện kỹ thuật quân sự (PTKTQS) là những loại tài sản đặc biệt thuộc quyền sỏ hữu của Nhà nước, được dùng trong lĩnh vực an ninh quốc phòng và chủ yếu là trang bị cho lực lượng vũ trang Chúng là cơ sỏ vật chất tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân, công an nhân dân, dân quân tự vệ là phương tiện không thể thiếu được dể lực lượng vũ trang hoàn thảnh những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho: Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ những thành quả Cách mạng, bảo đảm an ninh chính lộ, trật tự an toàn xã hội
Để VKQD, PTKTQS phát huy dược những lính năng tác đụng của mình, chúng cần có một chế độ quản lý dặc biệt để sử dụng chúng đúng mục đích có lợi cho toàn thể cộng đồng xã hội Nếu không sẽ gây ra những thiệt hại không thể lường trước cho toàn xã hội, làm ảnh hưổng đến sức mạnh, sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, làm ảnh hưỏng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe của công dân Chính vì vậy mà Nhà nước ta có ché độ quản lý đặc biệt đói với VKQD, PTKTQS
Pháp luật hình sự nước ta coi những hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý VKQD, PTKTQS của Nhả nước như: chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS là tội phạm, lả hành vi xâm phạm an ninh quốc gia vả được quy định tại Điều 95 BLHS của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985
Ngoài ra, để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các hành
vi xâm phạm đến chế độ quản lv VKQD, PTKTQS của Nhả nước, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật khác
Trang 7nhau hướng dẫn việc áp dụng những quy định tại Điều 95 BLHS một cách chính xác và thống nhắt.
Chính những quy định tại.Điều 95 BLHS và những quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nói trên góp phần hết sức quan trọng trong công cuộc đẩu tranh phòng chống tội chế tạo, tàng trữ,
su dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đọat VKQD, PTKTQS
Tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng, những quy định tại Điều 95 BLHS còn bộc lộ những hạn chế nhắt định Trong Điều 95 BLHS quy định quá nhiều hành
vi phạm tội với tính chắt nguy hiểm cho xã hội khác nhau; có hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế dộ quản lý VICQD, PTKTQS của Nhà nước như: vận chuyển trái phép VKQD, PTKTQS nhũng không được quy định trong BLHS là tội phạm; khoảng cách giữa mức hình phạt tói đa vả tối thiểu trong các khung hình phạt của điều luật quá lớn
Chính do những hạn chế trong quy định của Điều 95 BLHS cùng với việc hướng dẫn áp dụng điều luật này của các cơ quan chức năng có thẩm quyền còn chưa thật đẳy đủ, còn thiếu cụ thể và kịp thời đã dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật không được thống nhắt, trong áp dụng còn bộc lộ nhiều lúng túng, vướng mắc và sai sót, chùa đáp ứng những yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và nguyên tắc công bằng của Luật hình sự Những thiếu sót
đó đã làm ảnh hưổng lổn đến hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội chế tạo, tàng trử, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS trong quân đội cũng như trên phạm vi cả nước
ở nước ta đa số lượng VICQD, PTKTQS được trang bị cho Quân đội để quản lý và sử dụng Phần lớn trong số đó được cất giữ tại các tổng kho của Bộ Quốc phòng cũng như tại các tổng kho, các kho của các Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng thuộc Bộ Quốc phòng, phần còn lại được trang bị cho
Trang 8các cơ quan, đơn vị khác trong quân đội Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả đẩu tranh phòng chống tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS trong quân đội là rất cần thiết và có một ý nghĩa to lớn đói với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này trên phạm vi cả nước.Một thực tiễn đáng quan tâm hiện nay là nguồn cung cấp VKQD, PTKTQS cho nước ta đặc biệt là cho quân đội ngày càng bị thu hẹp, đặc biệt là sau khi hệ thống XHCN ổ Liên Xô và các nước Đông Âu bị tan rã hoàn toàn Trong khi đó hiện nay trong nhân dân còn tàng trữ một só lượng lớn VKQD, PTKTQS và hàng năm ỏ nước ta, đặc biệt ỏ trong quân đội bị thất thoát ra khỏi sự quản lý của Nhà nước một số lượng không nhỏ VKQD, PTKTQS Vì những điều kiện và nguyên nhân khác nhau việc chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS trỏ nên khá phổ biến Có những vụ chiếm đoạt, tàng trữ, mua bán trái phép VKQD, PTKTQS xảy ra hết sức nghiêm trọng với số lượng vật phạm pháp rất lổn.
Từ những hành vi phạm tội đó làm phát sinh những tội phạm khác như: sử dụng VK QD để giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, cướp tài sản, buôn lậu
* Tình hình nghiên cứu.
Trong thời gian qua, tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS được đề cập, nghiên cứu không chỉ trong các giáo trình giảng dạy ổ bậc đại học (Trường Đại học Luật Hà Nội, khoa Luật trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Cảnh sát ), trong bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, luận án thạc sĩ Luật học với đề tài "Đấu tranh phòng chóng các tội xâm phạm vũ khí" của tác giả Nguyễn Văn cầ n; trong một só bài viết của tác giả Đặng Quang Phương, Trần Văn Độ, Đinh Văn Quế, Mai Bộ, Quách
5
Trang 9Thành Vinh, Nguyễn Đức Lương trong tạp chí Tòa án nhân dân, tạp chí Kiểm sát, tạp chí Nhà nước và Pháp luật Tội phạm này còn là dối tượng của việc hưổng dẫn áp dụng pháp luật (Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư liên ngành của Tòa án nhân dân tói cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ) Song cho tơi nay chùa có một công trình chuyên sâu, nghiên cứu một cách toàn diện về tội phạm nảy Phần lớn các tác giả chỉ dừng lại ỏ sự phân tích, giải thích các quy định của pháp luật hoặc hưổng dẫn việc áp dụng các quy định của pháp luật vảo trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử Cũng đã có một số tác giả đã đi sâu giải quyết một số vấn đề, đưa ra nhung kiến nghị có giá trị dể xây dựng hoàn thiện pháp luật song vần còn mang tính đdn lẽ, chủ yếu phản ánh những khó khăn vướng mắc gặp phải trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn mà chưa có sự tổng họ"p,phục vụ cho việc hoàn thiện những quy định của pháp luật một cách toàn diện vả triệt dể, cũng như chưa nghiên cứu sâu về các nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, để đề ra các biện pháp đấu tranh phòng ngừa và chổng một cách toàn diện đói với tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS trên phạm vi cả nước Đặc biệt chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này trong quân đội.
Tất cả những vấn đề nêu trên lý giải cho tính cấp thiết của đề tài luận án
thạc sĩ Luật học: "lội chẽ lạo, tàng trữ, sử dụng, mua hán trái phép hoặc chiếm
doạl VKQD, PTKTQS và dấu tranh phòng chống lội phạm này trong quân dội"
Trang 10bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS trong quân đội, tìm ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự hiện hành, đề ra những biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm này trong quân đội.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cữu
Để đạt được mục đích trên tác giả cần giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những quy định của pháp luật hình sự nước ta liên quan đến tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS trước và sau khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự, qua đó thấy được nhung ưu điểm và hạn ché của Bộ luật hình sự hiện hành trong việc quy định tội phạm này để đề ra những giải pháp sửa đổi hoàn thiện Bộ luật hình sự
- Nghiên cứu thực tiễn hưổng dẫn và áp dụng các quy định của pháp luật về tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS, từ đó thấy được những hạn chế trong việc hướng dẫn, nhung lúng túng, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật nhằm đề ra những giải pháp để cho việc hưổng dẫn, áp dụng pháp luật được thống nhất
- Nghiên cứu tình hình tội phạm, xác định rõ nguyên nhân vả điều kiện phạm tội của tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiểm đoạt VKQD, PTKTQS trong quân đội, từ đó đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả đẩu tranh phòng chóng tội phạm này trong quân dội
3 Phạm vi nghiên cún, co’ cấu của luận án.
3.1 Pliạin vi nghiên cứu
- Tìm hiểu những quy định của pháp luật hình sự nước ta trước khi pháp
điển hóa Bộ luật hình sự có liên quan đến các hành vi phạm tội chế tạo, tàng trữ,
sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS, đi sâu phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội phạm này và việc hưổng dẫn
áp dụng những quy định này trong thực tiễn
7
Trang 11- Tổng hợp số liệu về tình hình tội phạm này trong quân đội, tìm ra những nguyên nhân điều kiện của tình hình tội phạm nói trên.
- Đề ra nhung giải pháp nâng cao hiệu quả đẩu tranh phòng chống tội phạm này trong quân đội, bao gồm các giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp về biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm
3.2 C ơ câu luận án.
Mục đích nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu trên được thực hiện trong luận án thạc sĩ này với cơ cấu bao gồm phần mổ đầu, ba chương, phần kết luận, được sắp xếp theo thứ tự sau:
Phần mỏ’ đầu
Chưưíig 1 Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS theo Luật hình sự Việt Nam
Chương 2 Tình hình, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội của chế
tạo, tảng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm doạt VKQD, PTKTQS trong quân đội
Chiíoìig 3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội ché tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phcp hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS trong quân đội
Phần kết luận.
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dược tiến hành trên cơ sỏ phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưỏng Hồ Chí Minh
Ngoài phương pháp luận nói trên, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử,
lý luận kết hợp với thực tiễn
Trang 12Dể hoàn thành luận an, tác giả đà nghiên cứu hàng Irăm vụ án về Lội chế tạo, tàng trừ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS do Tòa án quân sự các cấp xét xử trong những năm gần đây, tác giả cũng đã tham khảo ý kiến của nhiều cán bộ nghiên cứu, cán bộ thực tiễn trong các cơ quan bảo
vệ pháp luật cũng như những cán bộ chỉ huy đơn vị, cán bộ làm công tác quản lý VKQD và PTKTQS ỏ trong quân dội
5 Kết quả nghiên cứu và cái mới của luận án.
Cái mới của luận án được thể hiện ỏ chỗ lẩn đầu tiên tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS được nghiên cứu một cách hệ tlìóng và toàn diện Từ góc độ hình sự học cũng như tội phạm học, trên
cơ sỏ nghiên cứu những quy định của pháp luật về tội phạm nàv, thực tiễn hướng dẫn và áp dụng các quy định pháp luật về tội phạm, tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội này trong quân đội, tác giả đề xuất những giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật về tội "chế tạo, tàng trừ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS" cũng như các biện pháp đẩu tranh phòng ngửa và chóng tội phạm này trong quân dội
Với khả năng có hạn, phạm vi và nội dung nghiên cứu phức tạp nhũng tác giả hy vọng rằng những két quả khiêm tổn mà tác giả đạt được trong quá trình nghiên cứu đề tài này sẽ góp phẩn nhắt định cho những người làm công tác thực tiễn cũng nhu' nhung người làm công tác nghiên cứu giảng dạy và học tập chuyên ngành luật hình sự và tội phạm học, dồng thòi góp phần khiêm tốn trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự vả xây dựng các biện pháp đẩu tranh phòng chống tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS trong quân đội
Trang 13CH U Ô N G i.
TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ; s ử DỤNG, MUA BẤN TRÁI PHÉP HOẶC
CHIẾM ĐOẠT VKQD, PTKTQS THEO L U Ậ T HỈNH s ự VIỆT NAM
1.1 Tội chế tạo, tàng trữ, sứ dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKOD, PTKTOS theo Bộ luật hình sự năm 1995.
Từ năm 1945 đển năm 1985 do hoàn cảnh đát nước liên tục có chién tranh nên có ảnh hũổng lớn đến công tác xây dựng pháp luật của Nhà nước ta nói chung vả pháp luật hình sự nói riêng Các văn bản pháp luật nói chung trong dó
có các văn bản pháp luật hình sự chủ yếu do ủ y ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành với các hình thức văn bản nhũ: Pháp lệnh, sắ c lệnh, Nghị định nhằm đáp ứng kịp thời nhung yêu cầu của công cuộc dấu tranh phòng ngừa
và chống lội phạm của đắt nước ta trong từng thời kỳ nhất dịnh
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự của nước ta trong giai đoạn 1945-1985 có liên quan dến các hành vi phạm tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS chúng ta thấy:
* về khái niệm VKQD
Theo quy định tại Nghị định 175/ CP ngày 11/12/1964 của Hội đồng Chính phủ về quản lý VKQD, vũ khí thể thao quốc phòng thì vũ khí quân dụng bao gồm: các loại súng ngắn, súng'trưởng, súng liên thanh các cỡ, các loại súng lổn, các loại vũ khí tự động, các loại đạn dùng cho các loại vũ khí nói trên vả các thứ bom mìn, kíp mìn, thuốc nổ Chỉ có kíp mìn, thuốc nổ được dùng vào mục dích quốc phòng mới dược coi là VKQD
Khái niệm VKQD này được xây dựng dựa trên cơ sổ của Điều 1 Điều lệ tạm thời số 392- TTg ngày 17/9/1954 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý các loại
vũ khí Mặc dầu trong Điều lệ này chua chỉ rõ khái niệm VKQD nhưng các loại
vũ khí nói trong bản Điều lệ này chính là VKQD Theo tình thần nội dung của
Trang 14hai văn bản pháp luật này thì VKQD là tài sản của quốc gia, không ai có quyền
có VKQD riêng Nhà nước có chế dộ quản lý dặc biệt đối với VKQD
Trong giai đoạn này khái niệm PTKTQS chữa được nêu ra trong các văn bản pháp luật về hình sự
* v ề các hành vi phạm tội
Mặc dầu chưa có quy định cụ thể trực tiếp về tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS nhũng trong các văn bản pháp luật khác nhau đã quy định nhiều hành vi phạm tội khác nhau liên quan đến
vũ khí nói chung trong đó có VKQD như:
- Trộm cướp vũ khí (khoản 3 điều 11 mục II Pháp lệnh ngày 30/10/1967 trừng trị các tội phản Cách mạng)
- Các hành vi phạm tội vi phạm thể lệ quản lý vũ khí như chế tạo, sửa chừa, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép VKQD (Điều lệ tạm thòi số 392 - TTg ngày
[7/9/1954 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý các loại vũ khí, Nghị định
175/CP ngày 11/12/1964 của Hội đồng Chính phủ về quản lý VKQD và vũ khí thể thao quốc phòng)
- Các hành vi phạm tội của quân nhân vi phạm các quy định về ché độ quản
lý vũ khí như: đánh mất súng, đạn giao cho hoặc bán súng đạn, đào ngũ có mang theo vũ khí (Điều 7 sắc lệnh só 163 ngày 23/8/1946 tổ chức Tòa án binh lâm thời đặt ổ Hà Nội do Sắc lệnh số 564-SL ngày 1/12/1948 bổ khuyết)
Mặc dầu trong giai đoạn nảy, trong các quy định của pháp luật hình sự PTKTQS không được coi là một đối tưộng độc lập của một tội phạm cụ thể nhũng bỏi vì PTKTQS là tài sản thuộc sỏ hữu của Nhà nước do đó cũng dược pháp luật hình sự bảo vệ như đối với các loại tài sản ldiác của Nhà nước Nếu kẻ nào vì mục đích phản Cách mạng mà trộm cướp PTKTQS cũng như vũ khí và các loại tài sản khác của Nhà nước thì bị truy tó và xét xử về tội phá hoại theo
Trang 15khoản 3 điều 1 ] mục II Pháp lệnh ngày 30/10/1967 trừng trị các tội phản Cách mạng Nếu kẻ nào không vi mục đích phản Cách mạng mà trộm, cưổp VKQD, PTKTQS hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS với những hình thức khác nhau hoặc chiếm giữ trái phép hoặc sử dụng trái phép VKQD, PTKTQS đều bị truy tố
và xét xử theo các quy định của Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN
Nhìn chung những quy định của Pháp luật hình sự nũdc ta trong giai đoạn 1945-1985 đã tạo điều kiện để cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh có hiệu quả với các hành vi phạm tội có liên quan đến VKQD, PTKTQS Tuy vậy các quy định nêu trên còn rời rạc ỏ nhiều văn bản pháp luật khác nhau nên khó nắm bắt,
áp dụng Chùa có quy định nào về khái niệm PTKTQS và về chế độ quản lý của Nhà nước đối vổi PTKTQS Hình thức văn bản chủ yếu do ủ y ban Thưởng vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành nên hiệu lực pháp lý chùa cao
Để phù hộp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta trong giai đoạn mới, cả nước thống nhất cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, để đáp ứng nhung dòi hỏi của cuộc dấu tranh phòng và chống tội phạm trên phạm vi cả nước, phù hợp với quy định của Hiến pháp 1980 và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, ngày 27/6/1985 Quốc hội đã thông qua Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Bộ luật hình sự năm 1985 đã kế thừa và phát triển luật hình sự của Nhà nước ta lcể từ khi thành lập nước, trong đó có kế thừa các quy định có liên quan đến các hành vi phạm tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS
Trong Bộ luật hình sự tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS được quy định ỏ Điều 95 Chương I: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Phần các tội phạm)
Trang 16Việc quy định tội phạm nói trên ỏ chương Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, chứng lỏ các nhà làm luật đã đề cao vai trò của chế dộ quản lý VKQD, PTKTQS và có dường lối xử lý nghiêm minh đối với nhung hành vi chế tạo, tảng trừ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS.
Để hiểu rõ hơn những quy định của Điều 95 BLHS cần đi sâu nghiên cứu các dấu hiệu cấu thành tội phạm, đường lối xử lý đối với tội phạm này
l ỉ ỉ Các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Cấu thành tội phạm lả tống hợp nhung dấu hiệu chung có tính đặc trùng cho một loại tội phạm cụ thê được quy định trong Bộ luật hình sự Hay nói cách khác cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ đặc trũng cho từng tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự
Điều 95 BLHS quy định tội chế tạo, tảng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS như sau:
/) Người nào chê tạo, làng trữ, sử dụng, mua bán (rái phép hoặc chiếm cloạl VKQD, PTKTQS thì bị phạt lù lử một năm dỗn bảy năm.
2) Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau dăv thỉ bị phạt tù tù năm năm dên mười lăm năm:
a) Có tổ chức i
b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng}
d) Tái phạm nguy hiếm ỉ
3) Phạm tội trong trường hợp dặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt lù tù mười hai năm dồn hai mươi năm, tủ chung thân hoặc lử hình.
Việc phân tích các yếu tố cẩu thảnh tội chế tạo, làng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS lả rất quan trọng vì cẩu thành tội phạm là có sỏ' pháp lý của trách nhiệm hình sự Mỗi ngùời chỉ có thể phải chịu
13
Trang 17trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ thỏa mãn các dấu hiệu của một cẩu thành tội phạm dược quy dịnh trong luật hình sự.
a Khách th ế của tội phạm
Luật hình sự Việt Nam trên cơ sổ thừa nhận tính giai cắp của pháp luật nói
chung cũng như của luật hình sự nói riêng khắng định: "khách th ế của tội phạm
găv thiệt hại là hệ thống những quan hệ x ã hội của chê độ x ã hội có giai cấp dược luật hình sự của chê dộ đó bảo vệ".[10]
Với ý nghĩa là nhừng quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi nhữnghành vi phạm tội, khách thể của tội phạm là một trong bón yếu tố cẩu thảnh tội phạm
Khách thể trực tiếp của tội phạm được quy định tại Điều 95 BLHS lả chế độ quản lý VKQD, PTKTQS của Nhả nước Việc sắp xếp tội phạm được quy định ỏĐiều 95 BLHS vào Chương I: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia do đó kháchthể loại của tội này chính là an ninh quốc gia
Để tìm hiểu sâu về khách thể của tội phạm quy định tại Điều 95 BLHS cần thiết nghiên cứu dối tượng tác dộng của tội phạm này, vói ý nghĩa là một bộ phận của khách thể bị tội phạm này tác động đến để xâm hại khách thể
Đối tượng tác động của tội phạm quy định tại Điều 95 BLHS là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự Vũ khí quân dụng gồm: các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thanh, các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, hóa chất độc và nguồn phóng xạ, các loại dạn, bom mìn, lựu đạn, ngư lôi,
thủy lôi, vật liệu nổ quân dụng, hỏa cụ và vũ khí khác dùng cho mục đích quốc
phòng an ninh
Phương tiện kỹ thuật quân sự là các loại xe khí tài, phương tiện khác dược thiết kế; chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu
Trang 18VKQD, PTKTQS đã được Ihanh lý theo đúng quy định của cơ quan Nhà nước về việc thanh lý VKQD, PTKTQS hoăc thực tể hoàn loàn không còn giá trị
su dụng theo chức năng của chúng thì không phải là đối tượng của tội phạm quy định tại Điều 95 BLHS
Đối với VKQD, PTKTQS đã có quyết định thanh lý nhũng không được tiến hành thanh lý hoặc việc thanh lý không được thực hiện đúng quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà VKQD, PTKTQS vẫn còn có giá trị sử dụng theo chức năng của chúng thì vẫn được coi là đối tượng tác động của tội phạm nói trên
Việc xác định đói tượng tác động của tội phạm quy định tại Điều 95 BLHS
là rất cần thiết bỏi vì nó là dấu hiệu định tội của tội phạm này Hay nói cách khác đối tượng tác động của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc để xác định có hay không
có cẩu thành tội phạm ỏ tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VICQD, PTKTQS
b Mật khách quan của lội phạm
Theo giáo trình Luật hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì "Mặt
khách quan của tội phạm bao gôm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài th ế giới khách quan" [ 10]
Từ khái niệm trên có thê nhận thấy 1'ẳng: bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cùng có nhung biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được, đó là:
- Hành vi (khách quan) nguy hiểm cho xã hội
- Hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi (khách quan) và hậu quả
- Các biểu hiện khách quan khác như: công cụ, phương tiện, thủ đoạn, địađiểm, thời gian
15
Trang 19McỊl khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu lố cấu thành tội phạm Không có mặt khách quan thì không có tội phạm và do dó cũng không có trách nhiệm hình sự.
Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan là biểu hiện co' bản Những biểu hiện khác của mặt khách quan có và chỉ có ý nghĩa khi có hành
vi khách quan Hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc được phản ánh trong tất
cả các cấu thành tội phạm cơ bản, trong khi đó các biểu hiện lchác của mặt khách quan chỉ được phản ánh trong nhung cấu thành tội phạm nhất định
Trong mặt khách quan của tội phạm quy định tại Điều 95 BLHS bao gồm các loại hành vi sau: chế tạo, tảng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS
Theo hướng dẫn của Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 7/1/1995 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ thì các hành
vi phạm tội nêu trên được hiểu như sau:
- Hảnlì vi chế tạo VKQD, PTKTQS là làm mới hoàn toàn hoặc lắp ráp từ những bộ phạn của vũ khí, phương tiện và có giá trị sử dụng theo tính năng tác dụng của chúng Đối với hành vi làm mới hoàn toàn súng được coi là chế tạo VKQD nếu đạn sử dụng cho súng được làm mới đó là đạn dùng cho các loại VKQD
Mọi trũòng hợp không được phép sản xuất, lắp ráp VKQD, PTKTQS mà sản xuất lắp ráp hoặc được phép sản xuất lắp ráp VKQD, PTKTQS loại nảy lại sản xuất lắp ráp loại khác đều được coi là chế tạo VKQD, PTKTQS trái phép
- Tàng trữ trái phép VKQD, PTKTQS lả cất giừ chúng mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép Nôi tàng trữ có thể là nơi ỏ, nơi làm việc, mang theo ngữời, trong hành [ý hoặc cắt giấu bất kỳ ổ một vị trí nào lchác
Trang 20mà người phạm tội dã chọn Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không có ý nghĩa đối với việc định tội.
Ngoài ra bất cứ ai có được VKQD, PTKTQS không kể do nguồn gốc nào
mà có (như được tặng, cho, nhặt được, đào bổi được ) mà không khai và nộp cho cơ quan Nhà nưổc có thẩm quyền thì hành vi cất giữ các đối tượng đó của họ cũng được coi lả tàng trữ trái phép VKQD, PTKTQS
- Sử dụng trái phép VKQD, PTKTQS lả sử dụng không có giấy phép hoặc không được phép của người hoặc cơ quan Nhà nũớc có thẩm quyền Hành vi sử dụng súng là lên đạn, bóp cò, hành vi sử dụng lựu đạn là rút chốt, giật nụ xùy
- Mua bán trái phép VKQD, PTKTQS là các hành vi mua, bán không có giấy phép hoặc không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không đòi hỏi phải có đầy đủ hai hành vi mua và bán mà chỉ cần có một trong hai hành
vi đó người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Chiếm đọat VKQD, PTICTQS bao gồm các hành vi cướp, cưỡng đọat, cưổp giật, công nhiên chiếm đoạt, tham ô, trộm cắp, lừa đảo chiếm đọat, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
Cũng được coi là chiếm đoạt VKQD, PTKTQS các hành vi của quân nhân, nhân viên, công nhân viên quốc phòng và nhung người khác được trang bị VKQD, PTKTQS để huấn luyện chiến đấu, để thực hiện nhiệm vụ trong thời gian công tác, khi xuất ngũ, phục viên, nghỉ việc, về hưu, hoặc chuyển sang công tác khác mà không còn được phép sử dụng VKQD, PTKTQS nhũng đã không giao nộp lại theo quy định của Nhà nưổc
Trang 21của chủ thể tội phạm nói clning là năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quv định của pháp luật hình sự.
Theo luật hình sự Việt Nam "Người có năng lực trách nhiệm hình sự là
ngiỉời, khi thực hiện hành vi nguy hiếm cho x ã hội, có khả núng nhận thức được lính chất nguy hiếm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điền khiến dược hànlĩ vi ây" [10]
Năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể sẽ bị loại trừ do mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mắt khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi Đối với những người này khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội dù có gây hậu quả nghiêm trọng cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự bỏi vì khi hành động họ không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của mình
Người say rũóụ mà thực hiện các hành vi phạm tội theo quy định tại Điều
95 BLHS vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù lúc đó năng lực nhận thức
vả năng lực điều lchiển hành vi của họ có thể bị loại trừ hoặc hạn ché bổi vì "họ
có năng lực trách nhiệm hình sự khi dạt mình vào lình trạng say và như vậy cũng
có nghĩa là họ dã tự tước bỏ nũng lực nhận thức và năng lực diều khiển hành vi của mình, tự dặt mình vào lình trạng nũng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế, hoặc bị loại trừ Họ là ngitời có lỗi đôi với tình trạng say của mình và do vậy cũng có lối vói hành vi nguy hiếm cho x ã hội đ ã thực hiện trong khi say" [14].
Còn về dộ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì theo quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự :
Người lử đủ 14 tuổi trố lên nhưng nhung cỉủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cô ỷ.
2 Ngitòi từ đủ 16 tuổi trỏ lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm "
Trang 22Từ quy định này có thể suy ra rằng tuổi chịu trách nhiệm hình sự của tội phạm quy dịnlì lại Điều 95 BLHS là từ đủ 14 tuổi trổ lên.
Nhũ vậy chủ thể của tội phạm dược quy định tại Điều 95 BLHS là bất kỳ ai
có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ đủ 14 trỏ lên
d Mặt chủ quan của tội phạm.
"Tội phạm là th ể thống nhât của hai mặt khách quan và chủ quan Mặt khách quan là những biếu hiện ra bôn ngoài của tội phạm, mật chú quan là hoạt dộng tâm lý bên trong của người phạm lội Với ỷ nghĩa là một mặt của một hiện tượng thống nhất, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại một cách dộc lập mà luôn luồn gắn liền với mặt khách quan của lội phạm" [10]
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm những nội dung sau:
- Lỗi: Thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi và hậu quả nguy hiểm cho
xã hội thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm
- Mục đích: "Mốc" (trong ý thức của chủ thể) được dặt ra cho hành vi phải đạt đến
- Động cơ: "Lực" (bên trong) thúc đẩy chủ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội [13]
Trong ba nội dung nêu trên của mặt chủ quan thì lỗi được phản ánh trong tất
cả các cấu thành tội phạm Lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thảnh tội phạm, còn mục đích động cơ không phải lả những dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm Mục đích, động cơ chỉ được phản ánh trong một số cấu thành tội phạm cơ bản là dấu hiệu bắt buộc Ngoài ra mục đích, động cơ còn có thể được quy định lả tình tiết định khung ỏ một số cấu thành tội phạm
Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan tức là buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội
19
Trang 23mà không xem xét đến lỗi của người đó Lỗi lả dấu hiệu bắt buộc không thể thiểu duọc của bất kỳ tội phạm nào.
Theo luật hình sự Việt Nam tội ché lạo, tàng trừ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS dũộc thực hiện với lỗi cố ý Điều 9 BLHS
quy định "Cồ ỷ phạm lội là phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của
mình có lính chất nguy hiểm cho x ã hội thấy trước hậu qủa hành vi dó và m ong muốn hoặc có ỷ thức d ể mặc cho hậu quả xả y ra".
Căn cứ vảo nội dung của điều luật ta thấy rằng :Vê mặt lý trí người phạm tội quy định tại Điều 95BLHS nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội tất nhiên hoặc có thể xảy ra Còn về mặt ý chí, trong từng trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể mong muốn hậu quả xảy ra hoặc có ý thức để mặc hậu quả xảy ra,nghĩa là khi quyết định xử sự, người phạm tội chắp nhận cả hai lchả năng: hậu quả xảy ra và hậu quả không xảy ra
Theo lý luận khoa học luật hình sự Việt Nam thì tắt cả những tội phạm có lỗi cố ý đều có động cơ thúc đẩy và để nhằm đạt được một mục đích nhất định Nhũng đối với tội phạm quy định tại Điều 95BLHS thì dấu hiệu động cơ và mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cẩu thành tội phạm cơ bản
1.1.2 Đường lói x ử lý đổi vói tội phạm
Theo quy định tại Điều 95BLHS, tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS được phân biệt xử lý theo cấu thành co' bản và cấu thành tăng nặng Hình phạt đối với tội phạm quy định tại Điều 95 BLHS là rất cao thể hiện đường lối xử lý nghiêm minh của Nhà nùổc ta đối với tội phạm này
Trang 24ÍI Cẩu thành lội phạm cơ bủn
Theo cẩu thành tội phạm cơ bản dược quy dịnh tại khoản I Điều 95BLHS thì người nào chế tạo, tảng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm doạt VKQD, PTKTQS thì bị xử phạt tù từ một năm đến bảy năm
Hình phạt được quy định trong cẩu thành tội phạm cơ bản được áp dụng đối với người nào thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên mà không có tình tiết định khung tăng nặng, được quy định ỏ khoản 2 và khoản 3 Điều 95 BLHS
Một người chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 95 BLHS khi hành vi của người đó tác động đến VKQD, PTKTQS với một số lượng nhất định tùy theo từng loại đối tượng khác nhau Nghĩa là số lượng vật phạm phạm pháp là cơ sỏ quan trọng để xác định một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 95 BLHS hay không
Việc xác định số lượng vật phạm pháp để truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 95 BLHS là rất cần thiết, nhũng do đói tùộng của tội phạm nảy rất
đa dạng do đó pháp luật chỉ qui định việc xác định số lượng vật phạm pháp đối với một số đối tượng phổ biến
Theo quy dịnh tại điểm [ mục III phần A Thông tư liên ngành sổ 01/TTLN ngày 7/1/1995 thì người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, với số lượng sau đây thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 95 BLHS :
"a) Súng bộ binh bắn phái một: lừ 1 đến 5 k h ấ u
b) Súng liên thanh cá nhân như trung liên, tiếu liên các loại: 1 khấu hoặc 2
Trang 25cỉ) Dạn cối, dạn pháo trên 100 ly: lù' l đến 5 quả ■
e) Từ 50viên dến 300 viên dạn súng bộ binh (từ dại liên trổ xuống).
g) Tử 30 viên đến 200 viên dôi với các loại đạn 12 ly 7 , 1 4 ly 5, 23 ly 4, 24
lỵ (không phải là dạn pháo) ■
h) Thuốc n ổ các loại tử Ịkg dén 15kg
i) Tử 200đến ì 000 cái dôi với kíp mìn, nụ xùy ■
k) Từ 500 dến 3.000m dây cháy chậm, dây n ổ ■
Ị) Đ ối với người có hành vi chê tạo, tàng trữ sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD với s ố lượng dưới mức hướng dẫn tại các điểm e, g, h, i,
k trên đây nhitng d ã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã
bị kết án nhưng chưa được xỏa án vẻ lội cồ ỷ hoặc trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì có th ế bị truy cứu trách nhiệm hỉnh sự theo khoản ỉ Điều 95
B L ỈiS
Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm doạt VKQD đối với nhiều loại VKQD khác nhau mả số lượng đối với mỗi loại chưa dến mức được hướng dẫn nói trên thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 95 BLHS
Những quy định trên đây chỉ mới đề cập đến một số đối tượng phổ biến và cùng chỉ đề cập đến các đối tũộng là VKQD, còn các đói tượng khác, đặc biệt các đối tượng là PTKTQS thì pháp luật chưa quy định rõ số vật phạm pháp là bao nhiêu thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 95 BLHS
Chính vì vậy việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn để xử lý đối với tội phạm này còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cẩn sớm có hướng dẫn quy định về những vẩn đề đã nêu
Trang 26c) Gây hậu quả nghiêm trọng ị
d) Tái phạm nguy hiểm"
- Có tổ chức là trường hợp có nhiều người cùng tham gia vào thực hiện tội
phạm, có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm
- Vật phạm pháp có số lùộng lớn theo quy định tại điểm 2 mục III phẩn A Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 7/1/1995 cụ thể như sau:
"a) Súng bộ binh bắn phái một: lừ 6 đến 25 khấu.
b) Súng liên thanh cá nhăn như trung liên, tiễu liên các loại:3 khẩu đến 15
kh ấ u
c) Súng bộ binh khác như thượng liên, dại liên, B40, B41, 12 ly 7 , 1 4 ly5:lử
2 khấu đến ỉ 0 khấu.
d) Lựu dạn, dạn côi, đạn pháo đên 100 ly: tủ 11 đến 50 quả
d) Đạn côi, dạn pháo trên 100 ly: lử 6 đến 15 quả
e) Đạn bộ binh (lừ dại liên Irởxiiông): Từ trên 300 viêỉi dũn 1.500 viên.
g) Đạn 12 Iv 7, 14 ly 5, 23 Iv 4, 24 ly (không phải là dạn pháo): Tử trên 200 viên đến ỉ 000 viên.
h) Thuốc n ó các loại lủ trên I5 kg đ ến 75kg.
Trang 27ị) Kíp mìn, nụ xùy: Từ trên ỉ 000 cái dến 5.000 cái
k) D ây cháy chậm , dây nổ: Tử trên 3.000m đến ỉ 5.00Om"
Người nào chế tạo, tảng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
V K Q D đối với nhiều loại VKQD khác nhau mà số lượng đối vói mỗi loại vũ khí đến mức được hưđng dẫn tại điểm 1 mục III phẳn A Thông tư này thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 95 BLHS
- Gây hậu quả nghiêm trọng
Pháp luật hình sự cho đến nay chưa có hưdng dẫn chung về việc phạm tộigây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 95 BLHS màchỉ có hướng dần một số trường hợp cụ Ihể như:
Thứ nhất: Tàng trữ trái phép VKQD mà gây hậu quả làm chết ngưởi, gây
tổn hại sức khỏe cho người khác, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản (như cất giấu lựu đạn để người khác đào bới gây nổ chết người ) hoặc trưởng hợp đua vũ khí tàng trữ trái phép ra lau chùi, tháo lắp gây chét người, gây tổn hại sức khỏe cho ngưdi khác, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 95 BLHS về tội tàng trữ trái phép VKQD vdi tình tiết định khung tăng nặng là gây hậu quả nghiêm trọng
Thứ /ỉứỉVTrong trường hợp ngưởi có hành vi chế tạo, tàng trữ, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS vổi mục đích là chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện một tội phạm khác và tội phạm khác đã được thực hiện
thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội là tội "chế tạo, tàng trữ, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS " gây hậu quả nghiêm trọng
theo điểm c khoản 2 Điều 95 BLHS và tội phạm tương ứng đã thực hiện [Xem mục II phần A Thông tư liên ngành'số 01/TTLN ngày 7/1/1995]
Nhung quy định nêu trên của pháp luật chưa bao quát hết các trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, do đó các cơ quan bảo vệ pháp luật gặp
Trang 28không ít khó khăn trong việc xác định thế nào là "gây hậu qua nghiêm trọng" để
xử lý các hành vi phạm tội được quy định tại Điều 95 BLHS Chắng hạn trong trường hợp ngũời có hành vi chế tạo, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTICTQS mà vô ý gây hậu quả làm chết người, gây tổn hại sức khỏe cho người khác, gây thiệt hại nghiệm trọng về tài sản thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 95 BLHS với tình tiết định khung tăng nặng là gây hậu quả nghiêm trọng hay không? Hiện nay pháp luật vẫn chưa quy định rõ dường lối xử lý trong truồng hợp nêu trên
- Tái phạm nguy hiểm
Nhung trường hợp phạm tội sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm và người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d, khoản 2 Điều
Pháp luật chùa quy định rõ thế nào là "phạm lội trong trường hợp dặc biệt
nghiêm trọng" để xử lý theo khoản 3 Điều 95 BLHS Thông tư liên ngành số 01/
TTLN ngày 7/1/1995 chỉ quy định "phạm tội thuộc trường hợp dặc biệt nghiêm
trọng" đối với một số đối tượng phổ biến dựa trên cơ sổ xác định số lượng vật phạm pháp
Điểm 3 mục III phần A của Thông tư này quy định: Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD với số iượng trên mức tối đa hưổng dẫn tại điểm 2 mục III-phần A của Thông tư nảy (đã được trình bày
25
Trang 29ổ trên) là phạm tội thuộc trường hộp đặc biệt nghiêm trọng và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 95 BLHS.
Người nào chế tạo, tàng trừ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD đói với nhiều loại VKQD khác nhau mà số lượng đói với mỗi loại vũ khí đến mức hưống dẫn tại điểm 2 mục III phần A Thông tù này thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 95 BLHS
Việc quy dịnh của pháp luật những căn cứ để xác định "phạm tội trong
trường hợp dặc biệt nghiêm trọng" nêu trên là cần thiết nhùng còn quá sơ sài,
chưa đề cập đén đói tượng tác động của tội phạm là PTKTQS và cũng chỉ mới xét đến số lượng vật phạm pháp để truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 95 BLHS chứ chùa dựa trên có sỏ của các tình tiết tăng nặng khác như: có
tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hoặc tái phạm nguy hiểm
1.2 Thực tiễn hướng dẫn vả áp íỉụng các quy định pháp luật về tội ch ế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái ph ép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS
1.2.1 Về khái niệm VKQD, PTKTQ S
Khái niệm VKQD
Theo quy định tại điểm a Điều 1 Nghị định 175/CP ngày 11/12/1964 về
quản lý VKQD, vũ khí thể thao quốc phòng thì vũ khí quân dụng bao gồm "Các
loại súng ngắn, súng trường, súng liên thanh các cỏ, các loại súng lỏn, các loại
vũ khí lự dộng, các loại dạn dùng chu các loại vũ kh í k ế trẽn vù các thứ bom, mìn, kíp mìn, thuốc nổ".
Cùng theo tỉnh thần của Nghị định này thì thuóc nổ và kíp mìn dùng trong sản xuất không phải là VKQD, như vậy chỉ có thuốc nổ kíp mìn dùng vào mục đích quốc phòng mổi được coi lả VKQD
Quy định trên mới nêu lên các chủng loại của VKQD chứ chưa nêu được chính xác khái niệm VKQD dế phan biệt VKQD với nhung gì không phải là
Trang 30VKQD, chính vì vậy trong thực tiễn việc áp dụng các điều luật có liên quan đến khái niệm V K QD còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi gặp loại vũ khí không được nêu tên trong Nghị định 175/ CP Ví dụ như: vũ khí hóa học, các loại pháo.
Để tăng cường công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, ngày 12/8/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định 47/CP về quản lý vù khí, vật liệu nổ
và công cụ hỗ trợ, trong đó quy định " Vũ khí quân dụng gồm: các loại súng
ngổn, súng trường, súng liên thanh, các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, hóa chất độc và nguồn phóng xạ, các loại đạn, bom mìn, lựu dạn, ngiC lôi, thủy lôi, vật liệu nô quân dụng, hỏa cụ và các loại vũ khí khác dùng cho mục dích quốc p h òng - an ninlĩ" (Điểm a khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật
liệu nổ và công cụ hỗ trợ - Ban hành kèm theo Nghị định 47/CP)
So với những quy định tại Nghị định 175/CP ngày 11/12/1964 thì khái niệm VKQD dược quy định trong Nghị dịnh 47/CP ngày 12/8/1996 cụ thể, đẳy đủ hơn, bao gồm nhiều loại vũ khí mới, hiện đại nhu': các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lua, súng cói, hóa chắt độc, nguồn phóng xạ vả có tính chắt khái quát hơn, tạo điều kiện cho các cơ quan bảo vệ pháp luật dễ dàng hơn trong áp dụng pháp luật
Khái niệm PTKTQS
Theo quy định tại mục IV của Nghị quyết sổ 1-89/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đổng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp
dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì "phương tiện kỹ thuật quăn sự gồm
các loại xe chiên đẩu và không chiến dấu, các loại kh í tài quăn sự, các loại m áy móc và phương tiện kỹ thuật khúc dược trang bị cho lực lượng vũ trang Đ ẻ xúc định một loại xe, kh í tài máy móc đó có phải là PTKTQS hay không thì phải xem loại xe, k h í tài, máy móc dó có phải thuộc loại trang bị cho lực lượng vũ trang đ ể chiến đấu hay bảo đâm chiến dấu hay không".
27
Trang 31Qua thực tiễn áp dụng pháp luật, về hướng dẫn này còn có nhiều cách hiểu lchác nhau Có tác giả cho rằng, dể công nhận các loại xe, khí tài, máy móc, phương tiện kỹ thuật là PTKTQS thì phải có hai điều kiện Một lả, các loại xe, khí tài, máy móc, phương tiện kỹ thuật đó có thể sử dụng được vào mục đích quân sự (vả có thể sử dụng được vào mục đích dân sự) Hai lả, các loại xe khí tải, máy móc, phương tiện kỹ thuật đó dược trang bị cho lực lượng vũ trang để chiến đấu
hoặc phục vụ chiến dấu Từ dó tác giả di dến kết luận: "PTKTQS luôn là cái có
sẵn, dã được chê tạo sẵn và sau dó dược trang bị cho lực lượng vũ trang đ ế chiến dấu hoặc phục vụ chiến dấu, do dó kliông có tội "chê tạo trái phép PTKTQS" [3].
Đa số các luật gia không đồng ý với quan điểm này, bỏi vì trên thực tế có những loại xe, khí tài, máy móc, phương tiện kỹ thuật chỉ có thể sử dụng vảo mục đích quân sự vả khi được sản xuất ra đã là PTKTQS mặc dù nó chùa được trang bị cho lực luọng vù trang
Do nhung cách hiểu khác nhau như vậy cho nên trong thực tiễn áp dụng các điều luật có liên quan đến khái niệm PTKTQS các cơ quan bảo vệ pháp luật còn gặp nhiều vướng mắc vả khó khăn
Để việc áp dụng pháp luật được chính xác và thống nhất, Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 7/1/1995 đã đũa ra khái niệm về PTKTQS, theo đó
" PTKTQS dược hiếu là các loại xe, kh í tài, phương tiện khác dược thiết kế, c h ế
tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang d ẻ huấn luyện, chiến đẩu vả phục vụ chiến dấu
Theo tinh thẳn của hướng dẫn này thì PTKTQS được hiểu là các loại xe, khí tải, phương tiện khác không phải đơn thuần chỉ là được trang bị, mà là được thiết
kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục
vụ chiến đẩu
Trang 32Theo tinh thần này thì người nào có hành vi chế tạo các loại xe, khí tải vả
phương tiện khác theo mầu mã đã được thiết kế để chế tạo và trang bị cho lựclượng vũ trang để huấn luyện, chiến đẩu và phục vụ chiến đáu mà không được phép của các co' quan Nhà nước có thẩm quyền thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chế tạo trái phép PTKTQS theo Điều 95 BLHS
Như vậy so với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 19/4/1989 thì khái niệm PTKTQS được quy định trong Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 7/1/1995 rõ ràng và chính xác hơn, tạo điều kiện để các cơ quan bảo vệ pháp luật thống nhất trong việc xử lý đói với các hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm doạt PTKTQS
1.2.2 Thực tiễn định tội
Để định tội đúng cần phải thống nhất nhận thức về Điều 95 BLHS Trong lý luận cũng nhu' trong thực tế còn có nhiều quan điểm khác nhau về các quy định của Điều 95 BLHS
Quan điểm thứ nhất cho rằng Điều 95 BLHS quy định năm tội phạm theo năm hành vi phạm tội được quy định trong điều luật này Đó là:
- Tội c h ế tạo trái phép VKQD, PTKTQS
- Tội tàng irữ trái phép VKQD, PTKTQS.
- Tội sử dụng trái phép VKQD, PTKTQS.
- Tội mua bán trái phép VKQD, PTKTQS.
- Tội chiếm cỉọat VKQD, PTKTQS [2]
Quan điểm thứ hai cho rằng: qui định của Điều 95 BLHS mang tính chất lựachọn, tức lả tủy từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn một cách vận dụng điều luật
đó cho thích hợp [ 20 ]
29
Trang 33Qua nhung quan điếm nêu trên chúng tôi dồng tình với quan điểm thú' hai
Vì trong thực tiễn, cùng với nội dung là có nhiều hành vi phạm tội đối với nhiều đối tượng được qui định trong Điều 95 BLHS, nhũng trong trường hợp cụ thể nảy người thực hiện các hành vi phạm tội đó chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội Ngược lại trong trường hộp cụ thể khác người thực hiện các hành vi phạm tội đó lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội với các hành vi phạm tội tương ứng Như vậy việc truy tố và xét xử theo Điều 95 BLHS sẽ có hai trương hợp cụ thể: về một tội và về nhiều tội
Hai trường hợp này đuọc Thông tư liên ngành số 01/ TTLN ngày 7/1/1995 hướng dẫn cụ thể như sau:
- Trường hợp thứ nhất Nếu kẻ phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội
mà những hành vi phạm tội này liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện, là hậu quả tắt yếu của hành vi phạm tội kia) đói vổi cùng nhiều đối tượng hay một đối tượng thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về một tội với tên tội danh đầy đủ các hành vi đã được thực hiện Thí dụ: Một ngũời ché tạo VKQD rồi tàng trữ và đưa ra sử dụng thì bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội "chề lạo, tàng trữ và sử dụng trái phép VKQD".
- Trường hợp thứ hai: Nếu kẻ phạm tội thực hiện nhiều hành vi độc lập đổi
với các đối tượng độc lập khác nhau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội độc lập đối với từng hành vi độc lập đã được thực hiện và khi xét xử sẽ áp clụng Điều 41 BLHS để quyết định hình phạt chung Ví dụ: Một người tàng tru hai khẩu súng quân dụng và mua năm quả lựu đạn thì bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về hai tội là tội "làng trữ trái phép VKQD" vả tội "mua trái phép
VKQD".
Hướng dẫn nêu trên đã tạo điều kiện cho các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng pháp luật một cách chính xác và thống nhất
Trang 34- về các hành vi phạm tội.
Các hành vi phạm tội quy dinh tại Điều 95 BLHS bao gồm: chế tạo trái phép, tàng trữ trái phép, sử dụng trái phép, mua bán trái phép và chiếm đoạt VKQD, PTKTQS
- Chế tạo VKQD, PTICTQS là làm mới hoàn toàn hoặc lắp ráp từ những bộ phận của vũ khí, phương tiện và có giá trị sử dụng theo tính năng tác dụng của chúng Hành vi làm mới súng dược coi ià chế tạo VKQD nếu đạn sử dụng cho súng được làm mới đó là đạn dùng cho các loại VKQD Mọi trường hợp không được phép sản xuất, lắp ráp VKQD, PTKTQS hoặc sản xuất, lắp ráp VKQD, PTKTQS không đúng theo giấy phép đều bị coi là chế tạo VKQD, PTKTQS trái phép Ngoài các hành vi trên thực tiễn áp dụng pháp luật đã gặp nhiều trường hợp phải xử lý như: làm dần từng bộ phận của VKQD hoặc PTKTQS với mục đích cuối cùng sẽ làm ra các đối tượng đó, hoặc sửa chữa VKQD, PTKTQS hỏng thành VKQD, PTKTQS có giá trị sử dụng theo tính năng tác dụng của chúng Và trên thực tế các cơ quan bảo vệ pháp luật dã coi hành vi trên là hành vi phạm tội chế tạo trái phép VKQD, PTKTQS
- Tang trữ trái phép VKQD, PTKTQS là cát giữ chúng ỏ nơi làm việc, nơi ỏ, mang theo trong người, trong hành lý hoặc cất giấu ỏ bất kỷ nơi nào mà không được các cơ quan Nhà nước cộ thẩm quyền cho phép Thời gian tảng trữ dài hay ngắn không có ý nghĩa đói với việc định tội
Thực tiễn hiện nay cho thấy có nhiều trường hợp những người tàng trữ trái phép VKQD, PTKTQS chưa gây hậu quả đã tự nguyện đem nộp chúng cho các
cơ quan có thẩm quyền Tuy chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể đường lối xử lý đối với các trường hợp này, nhưng các cơ quan bảo vệ pháp luật đã vận dụng pháp luật để miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự cho những người này về tội tàng trừ trái phép VKQD, PTKTQS
31
Trang 35- v ề hành vi sử dụng trái phép VK.QD, PTKTQS Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 7/1/1995 có hướng dẫn: Người nào sử dụng trái phép VKQD thực
hiện tội phạm thì đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội "tội sử dụng trùi
phép VKQD" theo Điều 95 BLHS và tội phạm đã thực hiện theo điều luật tương
ứng của BLHS Nếu tội phạm đã thực hiện mà điều luật có quy định " s ử dụng
trái phép vũ khí" là tình tiết định khung hình phạt, thi phải truy cứu trách nhiệm
hình sự về khoản tương ứng của điều luật
Hướng dẫn trên đã không đề cập đến trưởng hợp người sử dụng trái phép PTKTQS thực hiện tội phạm là chúa đầy đủ, phiến diện Trên thực tế nếu có trường hợp sử dụng trái phép PTKTQS để phạm tội thì các cơ quan bảo vệ pháp luật cần phải xử lý như thế nào? Nên xử một tội hay hai tội?
Một số tác giả cho rằng hướng dẫn trên "râl khó hiểu và khỏ áp dụng" [7]
Trong thực tiễn mặc dầu đã có hướng dẫn nêu trên nhũng việc áp dụng pháp luật
còn thiếu thống nhất Nhiều vụ án dã được xét xử bỏ sót tội "Sử dụng trái phép
VKQD" Ví dụ: Ngày 10/10/1994 Lê Văn Sang dùng súng K59 bắn Lê Tấn Lợi,
làm cho Lợi bị thương ỈChám nhà Sang, co' quan điều tra thu được 2 khẩu súng Cac bin, 1 khẩu súng K59, 2 quả lựu đạn Ngày 12/4/1995 Tòa án quân sự Quân
khu 7 xét xử Sang về tội "giết người" theo điểm c khoản 1 Điều 101 và tội
"chiếm doạt, lùng trữ trái phép VKQD” theo khoản 1 Điều 95 BLHS Như vậy
trong vụ án này, Tòa án quân sự Quân khu 7 đă không xét xử Sang về tội "sử
dụng trái phép VKQD".
- v ề hành vi mua bán trái phép VKQD, PTKTQS, Thông tư liên ngành số
01/TTLN ngày 7/1/1995 có hướng dẫn : Mua bán VKQD, PTKTQS trái phép lả các hành vi mua, bán không có giấy phép hoặc không được phép của cơ quan Nhả nước có thẩm quyền, không đòi hỏi phải có đẳy đủ cả hai hành vi mua và
Trang 36bán mà chỉ cần có một trong hai hành vi đó người phạm tội cũng phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 95 BLHS.
Trong hướng dần này đã không đề cập đến đường lối xử lý đối với hành vi mua bán trái phép VKQD, PTKTQS qua biên giới Hiện nay trong thực tiễn các
cơ quan bảo vệ pháp luật coi hành vi mua bán trái phép VKQD, PTKTQS qua biên giới là tội buôn lậu và xử lý hành vi nảy theo quy định tại Điều 97 BLHS
- Chiếm đoạt VKQD, PTKTQS bao gồm các hành vi cướp, cưỡng đoạt, cưóp giật, công nhiên chiếm đoạt, tham ô, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt, lạm dụng tín nhiệm chiém đoạt
Các hành vi nêu trên có mức độ nguy hiểm khác nhau Rõ ràng cướp lả nguy hiễm hơn cưỡng đoạt và trộm cắp Vả chiếm đoạt VKQD, PTKTQS rõ ràng là nguy hiểm hơn là chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép VKQD, PTKTQS Tuy vậy những quy định của pháp luật chúa có sự phàn biệt trong xử
lý các hành vi này Do đó trong thực tiễn áp dụng pháp luật các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa có sự thống nhất trong việc xử lý các hành vi phạm tội chiếm đoạt VKQD, PTKTQS
Ngoài năm hành vi được quy định tại Điều 95 BLHS, thực tiễn áp dụng pháp luật còn biết đến ruột hành vi khác nữa đó là: vận chuyển trái phép VKQD, PTKTQS Do hành vi này không được quy định trong điều luật và cũng không có văn bản nào hướng dẫn xử lý hành vi phạm tội đó, cho nên các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý hành vi vận chuyển trái phép VKQD, PTKTQS với những cách thức khác nhau Có trường hợp coi dây là hành vi tảng trữ trái phép, có truồng hợp coi đây là hành vi mua bán trái phép nếu việc vận chuyển đó là một công đoạn của việc mua bán Ví dụ: Quốc và Hùng đào được quả mìn chống tăng bỏ vào bao phế liệu, mang lên xe phế liệu đem đi bán Khi đến nơi bọn chúng thả bao phế liệu xuống đường, quả mìn nổ Hùng bị chết, Quốc còn sống và bị Tòa
Trang 37án xét xử và kết án là 5 năm lù giam về tội "làng trữ, mua hán /rái p/ìóp VKQD"
theo khoản 2 Điều 95 BLHS
Qua thực tế xét xu, nhiều khi hành vi vận chuyển trái phép không được xem xét và xử ỉý và nếu có thì cũng không được xem xét như là một hành vi phạm tội độc lập theo đúng tên gọi của nó
Vì tội phạm được quy định ổ Điều 95 BLHS bao gồm nhiều hành vi phạm tội khác nhau, do đó khi xác định tội danh, các co' quan tiến hành tố tụng thường
bỏ sót một số hành vi phạm tội, đặc biệt trong trưởng họp kẻ phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà nhung hành vi phạm tội này liên quan chặt chẽ với nhau Điều này được chứng minh qua một số vụ án sau:
Vụ án thứ nhất Ngày 31/12/1994 Trần Văn Hùng, chiến sĩ sư đoàn 363
Phòng không đã lấy trộm một khẩu súng AK của đơn vị đem giấu cạnh hố tiểu của đơn vị Ngày 1/1/1995 Hưng đem súng bán cho Thắng, Khang Ngày 4/1/1995 vụ án bị phát hiện Co' quan điều tra thu giữ khẩu súng đó ỏ nhà Thắng Tòa án quân sự khu vực 1 Quân khu 3 xử phạt Hưng, Thắng, Khang từ 12 tháng
đến 18 tháng tù giam về tội "chiếm doạt, mua bán trái phép VKQD" theo khoản
1 Điều 95 BLHS
Trong vụ án nảy, hành vi "tàng trữ trái phép VKQD" của Hùng, Thắng và
Khang đã không được Tòa án xem xét và xử lý
Vụ án thứ hai Ngày 19/2/1994 Lê Minh Phương quân nhân Trung đoản 575
Quân khu 5 do mâu thuẩn trong tình yêu, đã lẩy trộm một khẩu AK cùng cơ số đạn trong súng vào nhà cô Quý (người yêu) bắn chết Quý Tòa án quân sự Quân
khu 5 đã xử phạt Phương tù chung thân về tội "giết người" theo khoản 1 Điều
101 và 2 năm tù giam về tội "chiêm do ạt VKQD" theo khoản 1 Điều 95 BLHS Trong vụ án này hành vi "sử dụng trái phép VKQD" của Phương đã không
bị Tòa án xử lý
Trang 38Vụ án thứ ba Vào tháng 10 và tháng 12 năm í 992, Nguyễn Dinh Dưổng và
Trán Nhũ Ninh dã 2 lẳn lấy trộm ổ kho KI Bộ chỉ huy Quân sự Quảng Trị 33 khẩu súng ngắn đem về giấu ỏ nhà một thời gian sau đó tìm mối bán cho nhiều người khác nhau Ngày 31/5/1994, Tòa án Quân sự quàn khu 4 đã xử phạt Ninh
và Dương, mỗi tên 18 năm tù giam về tội "chiếm do ạt mua bán trái phép
VKQD" theo khoản 3 Điều 95 BLHS.
Như vậy Tòa án dã bỏ lọt tội, không xử lý hành vi "tàng trữ trái phép
VK Q ĨT
Và rất nhiều vụ án khác nua, Tòa án đã bỏ lọt tội, không xử lý hết những hành vi phạm tội nêu trên Để tránh những sai sót, khi xác định tội danh các cơ quan tiến hành tó tụng, đặc biệt là Tòa án cần chú ý rằng: Nếu kẻ phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà những hành vi phạm tội này liên quan chặt chẽ với nhau đói vói nhiều dối tượng hay một đói tượng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội với tên tội danh đầy đủ các hành vi đã được thực hiện Có như vậy mới đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, không để bắt cứ một hành vi phạm tội nào không được xử lý bằng pháp luật
1.2.3 Thực tiễn xác cíịnh klỉiing lììnlì phạt
ở điểm 7 mục II phần A Thông tư liên ngành sổ 01/TTLN ngày 7/1/1995 có hưổng dẫn: người nào có hành vi chế tạo, tàng trừ, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt VKQD, PTKTQS với mục đích là chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện một tội phạm khác và tội phạm khác đã thực hiện thì phải bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về hai tội lả tội "chỗ lạo, tàng trữ, mua bán trái phép hoặc chiếm
cỉoạt VKQD, PTKTQS" gây hậu quả nghiêm trọng theo điểm c khoản 2 Điều 95
BLHS và tội phạm tương ứng đã được thực hiện Trong khi đó ỏ điểm 3 mục này lại có hũổng dẫn người nào sử dụng trái phép VKQD thực hiện tội phạm thì bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội: "lội sứ dụng trải phép VKQD" theo Điều
35
Trang 3995 13LI1S (và tội phạm dã thực hiện theo diều luật tương ứng của BLHS) chứ không hướng dẫn rõ truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản nào của Diều 95 BLHS.
Nếu theo logic thì rõ ràng trong trưởng họp này, người phạm tội phải bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội "sử dụng trái phép VKQD" theo điểm c khoản 2
Điều 95 BLHS, nhưng do không hưổng dẫn rõ cho nên thực tiễn áp dụng pháp luật thiếu sự thống nhất Có Tòa án xét xử theo điểm c khoản 2 Điều 95 BLHS,
có Tòa án lại xét xử theo khoản 1 Điều 95 BLHS Ví dụ: Ngày 30/8/1994, Thượng úy Lê Hồng Hải cán bộ tiểu đoàn 26, Bộ tham mưu Tổng cục Hậu cẩn
có mâu thuẩn với thiến lá, tiểu đoàn trùỏng Vũ Công Luật dã lấy trộm khẩu súng K54 của tổ cảnh vệ và đã sử dụng trái phép khẩu súng đó, bắn chết đồng chí Luật Ngày 23/6/1995, Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô đã xét xử và kết án Hải
tù chung thân về tội "giết ngicời" theo khoản 1 Điều 101 và 3 năm tù giam về tội
"sử dụng trái phép VKQD" theo khoản 1 Điều 95 BLHS.
ở ví dụ này, hành vi sử dụng trái phép VK QD của Hải dã gây hậu quả
nghiêm trọng dáng lý ra phải xét xử Hải về tội "sử dụng trái phép VKQD" theo
điểm c khoản 2 Điều 95 BLHS mới thỏa đáng Ngoải ra Tòa án bỏ lọt tội không xét xử hành vi chiếm đoạt VKQD của Hải
Căn cứ vảo thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội, để đảm bảo thống nhất áp dụng pháp luật trong nhung trường họp nói trên, trong phạm vi chức năng thẩm quyền, Tòa án quàn sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Cục điều tra hình Sũ Bộ Quốc phòng, Cục bảo vệ an ninh quân đội hướng dẫn các cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội về việc vận dụng điểm 3 mục II phần A Thông tư liên ngành số 01/ TTLN ngày 7/1/1995 như sau:
Trang 40Ngúòi nào sử dụng trái phép VKQD thực hiện tội phạm thì bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về hai tội: Tội "sử dụng trái phép VKQD" theo Diều 95 BLHS và
tội phạm dà thực hiện theo diều luật tương ứng của BLHS Trong tniòng hợp nảy tội’sử dụng trái phép VKQD cần được xử lý như sau:
- Nếu tội phạm lương ứng được thực hiện chữa gây hậu quả hoặc gây hậu quả ít nghiêm trọng thì áp dụng khoản 1 Điều 95 BLHS
- Nếu tội phạm tương ung được thực hiện gây hậu quả nghiêm trọng thì áp dụng điểm c khoản 2 Điều 95 BLHS
- Nếu tội phạm tương ứng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì áp dụng khoản 3 Điều 95 BLHS [16]
Hướng dẫn này có giá trị đói với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội Thiết nghĩ cần có hưổng dẫn chung cho tất cả các co' quan tiến hành tó tụng trong cả nước: trong cũng như ngoài quân đội
Ngoài vấn đề nêu trên, thực tiễn xác định khung hình phạt còn nhiều vướng mắc, dòi hỏi phải hưổng dẫn kịp thoi Khi một hành vi phạm tội được quy định ỏ Điều 95 BLHS lại xâm phạm đến nhiều đối tượng khác nhau thì việc xác định khung hình phạt thế nào? Tại điều 4 mục III phẩn A của Thông tư liên ngành sổ
01/ TTLN ngày 7/1/1995 có hướng dẫn: "Nguui nào chỗ lạo, tàng trữ, sử dụng,
mua bán trái phép hoặc chiêm cloạl VKOD dối với nhiều loại VKQD khác nhau
mà sô lượng dôi với mối loại chưa dên mức được hướng dẫn lại c!iếm ỉ mục này, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản ỉ Điều 95 BLỈÍS Nếu sô ỉượng dôi vói mỗi loại vũ khí đến mức dược hướng dẫn tại cliếm ỉ mục này thì phải bị truy cứu trách nhiệm hỉnh sự theo khoản 2 Điều 95 BLIiS Nếu sô lượng dôi vói mui loại vũ kh í cíến mức dược hướng dẫn lại diếm 2 mục này thì phải bị truy cứu /rách nlìiệm hình sự theo khoản 3 Diều 95 BLIIS