1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

215 520 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm người nước ngoài nói chung, tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện nói riêng, đồng thời góp

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ QUANG THÀNH

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN DO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm

MÃ SỐ : 62 38 01 05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẤN KHOA HỌC: GS,TS HỒ TRỌNG NGŨ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những số liệu nghiên cứu trình bày trong Luận án được trích dẫn từ nguồn cụ thể, có độ tin cậy Những kết quả nghiên cứu của Luận án là trung thực

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

LÊ QUANG THÀNH

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

1.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo của Luận án 25

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN DO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN

Ở VIỆT NAM

28

2.1 Nhận thức chung về phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người

nước ngoài thực hiện

28

2.2 Nội dung và biện pháp phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do

người nước ngoài thực hiện

47

Chương 3 THỰC TIỄN PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI

SẢN DO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

58

3.1 Tình hình và nguyên nhân, điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

58

3.2 Thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người

nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

85

Chương 4 PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN DO

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

117

4.1 Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài

thực hiện trong thời gian tới

117

4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản do người nước ngoài thực hiện

120

PHỤ LỤC

Trang 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

ANQG An ninh quốc gia

ANND An ninh nhân dân

BLHS Bộ luật Hình sự

BLTTHS Bộ luật Tố tụng Hình sự

CAND Công an nhân dân

CĐTS Chiếm đoạt tài sản

CNTT Công nghệ thông tin

KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư

LĐNN Lao động nước ngoài

LĐTB&XH Lao động Thương binh và Xã hội

QLHC về TTXH Quản lý hành chính về trật tự xã hội

THTP Tìn hình tội phạm

TNHS Trách nhiệm hình sự

TTATXH Trật tự an toàn xã hội

TTQLKT&CV Trật tự quản lý kinh tế và chức vụ

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

VPĐD Văn phòng đại diện

Trang 5

DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU CÓ TRONG LUẬN ÁN

3.5 Số vụ phạm pháp hình sự CQĐT đã phát hiện, khởi tố, điều tra,

và VKSND đã truy tố, trên phạm vi cả nước và ở các tỉnh,

thành phố phía Nam từ năm 2005 đến 2014 167 3.6 Thống kê tổng hợp tình hình các loại tội phạm theo các nhóm tội

danh CQĐT đã phát hiện, khởi tố từ năm 2005 - 2014 168 3.7 Tổng số vụ phạm tội do người nước ngoài thực hiện và số vụ

việc có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước

ngoài thực hiện tại Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2014 169 3.8 Thống kê tỷ lệ phần trăm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do

người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam trên tổng số vụ việc

phạm tội do người người nước ngoài thực hiện trong 10 năm

3.9 Các nhóm tội danh do người nước ngoài thực hiện tại Việt

3.10 Tổng hợp số liệu về các tội phạm cụ thể do người nước

ngoài thực hiện tại Việt Nam từ 2005 đến 2014 172 3.11 Quốc tịch của các đối tượng người nước phạm tội lừa đảo

Trang 6

3.12 Tình hình công tác khám phá, điều tra, truy tố, xét xử tội lừa

đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện tại Việt

3.13 Thống kê điển hình tội phạm do người nước ngoài thực hiện ở

Việt Nam và tỷ lệ tội lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại

3.14 Thống kê điển hình từng loại tội và đối tượng người nước

ngoài thực hiện ở Việt Nam trong hai năm 2009 – 2010 179 3.15 Thống kê lĩnh vực hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản do

người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam 180 3.16 Thống kê tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước

ngoài thực hiện tại Việt Nam theo từng lĩnh vực và từng năm 181 3.17 Thống kê quốc tịch và giới tính của đối tượng người nước

ngoài có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam 183 3.18 Thống kê các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước

ngoài thực hiện tại các địa bàn trọng điểm, điển hình và hình

thức xử lý, nạn nhân, số vụ án có đồng phạm 185 3.19 Thống kê một số đặc điểm nhân thân người nước ngoài phạm

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam 187 3.20 Thống kê tội phạm lừa đảo tại một số nước trên thế giới 189

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) - gọi tắt là Cương lĩnh 2011 của Đảng cộng sản Việt Nam

đã khẳng định trong định hướng thứ 4: “…Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển…chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

…” [34] Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế ” [49] Đây là sự

thể hiện về mặt chính trị, pháp l đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, nhằm thực hiện chủ trương công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Với xu thế này, ngày càng có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống và làm việc Phần lớn trong số họ đều chấp hành tốt kỷ cương pháp luật của nước mà họ là công dân, cũng như pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, lợi dụng chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta, cũng có không ít các đối tượng là người nước ngoài đã vào Việt Nam để hoạt động phạm tội

Từ đầu năm 2010 đến nay đã xuất hiện nhiều phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm người nước ngoài, đặc biệt là những hoạt động hết sức tinh vi của các đối tượng người nước ngoài thực hiện các hành vi lừa đảo CĐTS

Theo thống kê của Cục Thống kê tội phạm & CNTT – Viện KSNDTC và Bộ Công an, từ năm 2000 đến năm 2010 đã phát hiện, điều tra xử lý khoảng 1.300 vụ với gần 3000 đối tượng người nước ngoài thực hiện tội phạm ở Việt Nam Trong đó, phát hiện và xử lý 130 vụ người nước ngoài phạm tội lừa đảo CĐTS, chiếm khoảng 10% tổng số vụ án Từ đầu năm 2010 đến nay, tình hình người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam diễn biến khá phức tạp Trong năm 2014, Công an TPHCM đã phát hiện, xử lý

137 vụ việc do người nước ngoài thực hiện, với 151 đối tượng, trong đó có 18 vụ lừa đảo CĐTS, với 39 đối tượng Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2015, Công an TPHCM đã phát hiện, xử l được 52 vụ với 127 đối tượng người nước ngoài phạm pháp hình sự và trong tổng số 52 vụ đó đã có tới 13 vụ với 32 đối tượng thực hiện các hoạt động lừa

Trang 8

đảo CĐTS TAND TPHCM, trong năm 2014 đã xét xử 37 vụ án do người nước ngoài gây ra, trong đó có 8 vụ lừa đảo CĐTS Tại Hà Nội, từ tháng 12/2011 đến tháng 11/2015, toàn thành phố Hà Nội đã phát hiện 117 vụ tội phạm có yếu tố nước ngoài, tăng 52 vụ (89%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó hoạt động lừa đảo, CĐTS do người nước ngoài thực hiện cũng có xu hướng gia tăng Tháng 10/2014, tại Hội nghị tăng cường hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao xâm phạm TTATXH, Trung tướng Phan Văn Vĩnh – Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát,

Bộ Công an đã nêu rõ từ năm 2010 đến nay, Cục CSPCTP Công nghệ cao đã phối hợp, trao đổi thông tin, điều tra gần 100 vụ án, vụ việc, chiếm 10% số vụ án do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam, trong đó có gần 1/3 là những hành vi sử dụng công nghệ cao lừa đảo CĐTS Ngày 6/1/2016, trong Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 48/CT-

TƯ, Thượng tướng Lê Qu Vương, Thứ trưởng Bộ Công an cho biết: “Năm 2015 tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực viễn thông, tin học, mạng internet gia tăng hoạt động gây thiệt hại ngày càng lớn, nhất là hành vi trộm cắp, làm giả thẻ tín dụng, lừa đảo CĐTS” Hoạt động lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện đã xuất hiện

trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế như kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng hóa, đầu tư, cho vay vốn, huy động vốn, sử dụng công nghệ cao, lừa đảo qua mạng internet Số lượng các vụ lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện chiếm tỷ lệ không nhiều song sự xuất hiện với tần suất khá đều đặn, tính chất, quy mô, mức độ nghiêm trọng ngày càng phức tạp và hậu quả thiệt hại gây ra thì đặc biệt lớn Phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện là yêu cầu rất cấp thiết hiện nay Tuy nhiên, trong thực tiễn, hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này vẫn còn nhiều những khó khăn, vướng mắc Nhiều quy định của pháp luật hình sự về vấn đề này đã ban hành từ lâu, hiện nay không còn phù hợp; nhiều quy định mới ban hành lại khá chung chung, trừu tượng dẫn đến việc nhận thức và vận dụng của các chủ thể không thống nhất Bên cạnh đó vẫn còn những sơ hở trong các văn bản quy phạm pháp luật, vẫn còn một sốvăn bản chưa thực sự chặt chẽ và thiếu đồng bộ

Thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm người nước ngoài nói chung, tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện nói riêng thời gian qua cho thấy: Tội phạm do người nước ngoài thực hiện thường khó bị phát hiện, hoặc nếu bị phát hiện thì khó áp dụng các biện pháp xử lý hình sự; việc áp dụng pháp luật hình sự, các biện pháp

tư pháp và biện pháp tố tụng đối với người nước ngoài nhiều khi còn có sự can thiệp về

Trang 9

mặt ngoại giao nên rất khó khăn trong công tác điều tra, xử lý; trình độ năng lực chuyên môn và ngoại ngữ, tin học của cán bộ làm công tác phòng ngừa, điều tra, xử lý đối với tội phạm người nước ngoài còn hạn chế; đối tượng phạm tội đa dạng, nhiều quốc tịch Mặt khác, hoạt động phòng ngừa, điều tra xử lý gặp vướng mắc vì các đối tượng người nước ngoài ngày càng tinh vi, xảo quyệt và chủ yếu lợi dụng những sơ hở, điểm yếu trong các lĩnh vực mới như chứng khoán, tín dụng, ngân hàng… để lừa đảo CĐTS Những l do nói trên càng làm cho công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện gặp nhiều khó khăn

Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm người nước ngoài nói chung, tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện nói riêng, đồng thời góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Hình sự, TTHS, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện; đảm bảo xử l đối tượng phạm tội một cách nghiêm minh trước pháp luật, tạo niềm tin đối với nhân dân về uy tín của Nhà nước đồng thời không làm ảnh hưởng đến đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa, NCS chọn nghiên cứu đề tài:

“Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật học

2 M c đ ch v nhiệ v nghi n cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện lý luận

và nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực

hiện ở Việt Nam trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, luận án đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm và phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện;

- Nghiên cứu tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện và chỉ

ra nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện trong thời gian qua;

- Làm rõ kết quả đạt được trong thực tiễn hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện; những khó khăn, hạn chế về lý luận

Trang 10

và nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trong thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện;

- Dự báo tình hình tội phạm do người nước ngoài thực hiện, tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian tới và đưa ra những giải pháp, kiến nghị

3 Đối tư ng v phạ vi nghi n cứu của luận án

Đối tư ng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người

nước ngoài thực hiện; tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện và thực tiễn hoạt động phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam,chủ yếu trên phương diện hoạt động của lực lượng CAND

- Về địa bàn: Toàn quốc (Tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, trọng điểm về kinh tế - thương mại)

- Về thời gian: Từ năm 2005 – 2014

4 Phương ph p uận v phương ph p nghi n cứu của luận án

4 Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp

luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới

4 2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Phương pháp điều tra chọn mẫu theo lát cắt ngang

NCS đi vào phân tích điển hình số liệu các vụ việc lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện từ năm 2005 đến năm 2014 với các tiêu chí về loại hành vi phạm tội; quốc tịch bị can; những vụ việc đã áp dụng chế tài hình sự, các bị can đã bị áp dụng chế tài hình sự; các vụ việc và bị can chưa bị áp dụng hoặc không bị áp dụng chế tài hình sự; nguyên nhân của việc chưa áp dụng chế tài hình sự đối với những hành vi phạm tội? Từ đó đưa ra những đánh giá về hiệu quả thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện Phương pháp này được áp dụng tại Chương 3 của Luận án

Trang 11

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng trong các

Chương 1, 2 và 4 của Luận án, dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ những tài liệu đã có hoặc đã được nghiên cứu trước đây để củng cố, xây dựng

cơ sở luận cứ nhằm chứng minh giả thuyết đưa ra: Hoàn thiện hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý về phòng ngừa tội phạm nói chung, tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện như thế nào?

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu

trong Chương 2 của luận án, để phân tích nguồn tài liệu thu thập được (tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ thông tin…) Sau đó, liên kết những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được thành một chỉnh thể để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn về chủ đề nghiên cứu là “phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam”

- Phương pháp thu thập số liệu phi thực nghiệm (lập bảng hỏi): Loại số liệu thu

thập trong phương pháp này để chứng minh giả thuyết: Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật TTHS đối với người nước ngoài ra sao? Thực tiễn hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện như thế nào? Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá, dự báo và giải pháp hạn chế tình trạng này, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh Phương pháp này được sử dụng trong Chương 3, 4 của luận án

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các đồng chí là cán bộ Tòa

án, Viện Kiểm sát; các đồng chí là Điều tra viên, cán bộ quản giáo ở trại giam (nơi giam giữ người nước ngoài); các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý; các chuyên gia quản l … để lấy ý kiến nhằm làm rõ nội dung thực trạng hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm người nước ngoài; những hạn chế, yếu kém cần khắc phục và

nguyên nhân của chúng; đề xuất giải pháp và kiến nghị trong Chương 4 của luận án

- Phương pháp điều tra điển hình: NCS lựa chọn địa bàn điển hình là Thành phố

Hồ Chí Minh và những địa bàn, lĩnh vực xảy ra nhiều vụ án lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện; chỉ ra nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện; đưa ra sự liên quan, tính quy luật về sự phát sinh, tồn tại

và phát triển của loại tội phạm này và trên cơ sở đó, rút ra những nhận xét, đánh giá

Trang 12

chung và đưa ra những kết luận về vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng

chủ yếu để làm sáng tỏ các nội dung ở Chương 3, Mục 3.2

5 Đóng góp ới về khoa học của luận án

- Luận án góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam;

- Chỉ ra các nguyên nhân, điều kiện của loại tội này và đưa ra dự báo về đặc điểm của tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua;

- Làm rõ những ưu điểm trong nhận thức và thực tiễn áp dụng lý luận về phòng ngừa tội phạm; các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS trong phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện, đồng thời chỉ ra những điểm còn hạn chế;

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện lý luận, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian tới

6 ngh a lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa khoa học: Luận án hệ thống cơ sở lý luận về phòng ngừa tội phạm,

trong đó có l luận về phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần đánh giá một cách khách quan về lý luận cũng như thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam; góp phần bổ sung, phát triển hệ thống lý luận về phòng ngừa tội phạm, làm phong phú thêm tri thức khoa học về tội phạm học;

- Ý nghĩa thực tiễn: Những giải pháp, kiến nghị của luận án có thể áp dụng vào

hoạt động thực tiễn, giúp công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện đạt hiệu quả cao hơn; Luận án còn có giá trị làm tài liệu để các chủ thể làm công tác thực tiễn tìm hiểu cũng như cho những tổ chức, cá nhân có quan tâm đến vấn đề này tham khảo, nghiên cứu

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu i n quan đến đề tài luận án

Trang 13

Chương 2 Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội lừa đảo chiế đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

Chương 3 Thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo chiế đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

Chương 4 Phòng ngừa tội lừa đảo chiế đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Từ những công trình của nhiều nhà nghiên cứu đã công bố có thể thấy rằng liên quan đến đề tài luận án cho đến nay đã có những công trình nghiên cứu dưới nhiều góc

độ khác nhau của các nhà khoa học Phần lớn các tác giả nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý luận của Tội phạm học; nghiên cứu về tội lừa đảo CĐTS theo quy định của pháp luật Hình sự; hoặc nghiên cứu tội phạm lừa đảo CĐTS dưới góc độ tội phạm học và điều tra tội phạm như về diễn biến của tình hình tội lừa đảo CĐTS; về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo CĐTS; đặc điểm hình sự của tội lừa đảo CĐTS; về hoạt động phòng ngừa, hoạt động điều tra tố tụng của lực lượng CSND, hoạt động xử l đối với loại tội phạm này Có thể khái quát như sau:

- Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý luận của Tội phạm

học và phòng ngừa tội phạm, điển hình là: Sách chuyên khảo “Tội phạm học hiện đại

và phòng ngừa tội phạm”, Nxb CAND, Hà Nội, 2001 do GS, TS Nguyễn Xuân Yêm chủ biên; Sách chuyên khảo “Phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới”, của tập thể tác giả, Nxb CAND, Hà Nội 2001; Giáo trình Tội phạm học, Nxb Giáo dục, Hà Nội

1999, (tái bản năm 2011) của GS, TS Võ Khánh Vinh; Sách chuyên khảo, Viện

NCNN&PL (2004), Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Sách chuyên khảo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa” của GS,TS Nguyễn Xuân Yêm và PGS, TS Nguyễn Minh Đức, Nxb CAND, năm 2011; Giáo trình Tội phạm học của GS,

TS Đỗ Ngọc Quang, năm 2012 – Trường ĐH CSND; Giáo trình Tội phạm học, Nxb

CAND năm 2013 của GS, TS Võ Khánh Vinh viết cho Đại học Huế 2013; Giáo trình

Đặc điểm tội phạm học của tội phạm về trật tự quản lý kinh tế - chức vụ và biện pháp phòng ngừa, của GS,TS Hồ Trọng Ngũ và PGS, TS Phạm Quang Phúc, Nxb CAND,

Hà Nội 2015

- Một số các công trình viết về hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm bằng các biện pháp và hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CSND, trong đó có hoạt động phòng ngừa, điều tra đối với tội lừa đảo CĐTS và tội phạm lừa đảo CĐTS có yếu

Trang 15

tố nước ngoài Điển hình là: Công trình “Hoạt động của lực lượng C ng an nhân dân trong ph ng ngừa tội phạm do người nước ngo i gây ra ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ

của NCS Trần Phương Đạt, bảo vệ tại Đại học CSND (nay là Học viện CSND) năm

2001; Công trình “Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong ph ng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt t i sản”, Luận án Tiến sĩ của NCS Phạm Quang Phúc, bảo

vệ tại Học viện CSND năm 2003;

- Những công trình nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm hình

sự nói chung cũng như tội phạm do người nước ngoài thực hiện và tội phạm lừa đảo

CĐTS do người nước ngoài thực hiện có các công trình như: “Đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo theo luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Sĩ L , năm 1997; “Đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ của Phạm Quang Phúc năm 1999; “Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam”, Luận

án Tiến sĩ của NCS Lê Đăng Doanh, năm 2008;

- Một số tác giả khác lại dành sự chú ý cho các nghiên cứu theo trục phòng ngừa, điều tra tội phạm thuộc chức năng của lực lượng CSND Điển hình như: “Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt

t i sản”, Luận án Tiến sĩ của NCS Phạm Quang Phúc, bảo vệ tại Học viện CSND năm 2003; hoặc theo trục lý luận về phòng, chống tội phạm như: “Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ của NCS Lê Đăng Doanh, bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2008; hoặc Đề tài “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại các tỉnh, thành phố phía Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, Đề tài khoa học cấp Bộ của PGS, TS Trịnh Văn Thanh, năm

Yên, Trường Đại học CSND năm 1997 Trong số này có một số đề tài đi sâu vào nghiên cứu hoạt động của lực lượng CSND trong điều tra, xử l đối với tội phạm trong

các lĩnh vực cụ thể về ngân hàng, thuế, xuất khẩu lao động… như: Đề tài “Phát hiện,

Trang 16

điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt động đưa người đi lao động ở nước ngoài của lực lượng C ng an nhân dân”, của Đinh Anh Tuấn, Học viện CSND năm 2005; Đề tài “Tội phạm lừa đảo trong lĩnh vực ngân h ng trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường ở nước ta – Thực trạng và các giải pháp đấu tranh của lực lượng Cảnh sát kinh tế”, Đề tài khoa học của Học viện CSND năm 1999; Hoạt động lừa đảo trong việc thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng v giải pháp phòng ngừa, đấu tranh của lực lượng Cảnh sát nhân dân”, Đề tài khoa học của Học viện CSND

2005; hoặc về phương diện hợp tác quốc tế phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm có

yếu tố nước ngoài của lực lượng CSND có công trình “Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài của lực lượng Cảnh sát nhân dân – Lý luận và thực tiễn”, Đề tài cấp Bộ của ThS Nguyễn Giang Nam, năm 2010;

- Bên cạnh các công trình nghiên cứu về tội phạm học, l luận về phòng ngừa tội phạm và những công trình nghiên cứu chuyên sâu về đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện còn có những đề tài nghiên cứu đề cập đến những vấn đề về người nước ngoài và quy chế pháp l của họ ở Việt Nam

Đáng chú là các công trình: "Đổi mới v ho n thiện pháp luật trong quản lý nh nước đối với người nước ngo i ở Việt Nam", Luận án Tiến sĩ của NCS Bùi Quảng Bạ - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 1996; "Quản lý nh nước về an ninh đối với người nước ngo i tại Việt Nam", Luận án Tiến sĩ của NCS Ngô Phúc Thịnh - Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 2002; "Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý người nước ngo i nhằm bảo đảm an ninh trật tự của lực lượng c ng an nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh c ng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Đề tài cấp Bộ của Vụ quản l Khoa học

và Công nghệ, Bộ Công an, Hà Nội năm 2002

- Ngoài ra còn có các công trình của Khoa học luật Hình sự nghiên cứu về quy định của BLHS 1999 về tội lừa đảo CĐTS; về nội dung pháp lý, dấu hiệu pháp lý hình

sự của tội phạm này như: Giáo trình Luật Hình sự của Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật

- Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật – Đại học Huế, Học viện Cảnh sát nhân dân, Đại học Cảnh sát nhân dân… và trong các sách chuyên khảo về luật Hình sự khác như Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999 của GS, TS Võ Khánh Vinh, GS, TS Hồ Trọng Ngũ, TS Đinh Văn Quế; sách chuyên khảo luật Hình sự của GS, TSKH Lê Cảm, GS,TS Võ Khánh Vinh… Tất cả những sách, chuyên khảo nói trên đều có những phần, nội dung về tội phạm, dấu hiệu pháp l đặc trưng, cấu thành của tội phạm, chính sách

Trang 17

hình sự đối với tội phạm… Những quan điểm, luận điểm khoa học đó đã được thừa nhận rộng rãi và đây có thể được coi như nguồn hình thành cơ sở lý thuyết cho NCS

trong quá trình nghiên cứu, cũng như những công trình nghiên cứu sau này

Bên cạnh các công trình nêu trên còn có những bài báo khoa học đăng trên các tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí TAND, Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ pháp luật, Tạp chí CAND… đề cập tới một số vấn đề có liên quan đến người nước

ngoài, tội lừa đảo CĐTS ở các góc độ khác nhau như: “Bàn về việc giải quyết những vụ lừa đảo trên thẻ của người nước ngo i”, của tác giả Vũ Trọng Thưởng, Tạp chí Kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số tháng 02/2011, tr 58 - 59, 62; “Xác định ranh giới các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với giao dịch dân sự”, của

tác giả Vũ Quốc Thắng, tạp chí Kiểm sát, số 6/1999… và một số bài báo, tạp chí khoa học khác

Những công trình, kết quả nghiên cứu của các tác giả mà chúng tôi tham khảo, nghiên cứu, hệ thống lại cho thấy không nhiều công trình có hướng nghiên cứu với nội dung chuyên sâu về lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm người nước ngoài, đặc biệt là lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu là trên phương diện tội phạm và điều tra tội phạm lừa đảo CĐTS; những nội dung chủ yếu mà các tác giả nghiên cứu hầu hết đều liên quan đến công tác hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CAND Hoạt động phòng ngừa chung (phòng ngừa xã hội) của các chủ thể có thẩm quyền như TAND, VKSND, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, quần chúng nhân dân còn chưa thực sự được quan tâm đúng mức; không nhiều nghiên cứu chuyên sâu về áp dụng pháp luật Hình sự, pháp luật TTHS đối với người nước ngoài Bên cạnh đó, vấn

đề hoàn thiện quy trình phối hợp trong hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện cũng chưa được khai thác, nghiên cứu một cách hệ thống Mặt khác, đa số các công trình mà các tác giả nghiên cứu cũng đã diễn ra khá lâu từ đầu những năm 2000, hiện nay đã gần 20 năm Điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi, kéo theo đó là những thay đổi của đặc điểm tình hình tội phạm và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm nói chung, tội lừa đảo CĐTS nói riêng Mặt khác, tình hình người nước ngoài đến Việt Nam để làm ăn, sinh sống, lượng kiều bào ở nước ngoài trở về Việt Nam cũng tăng lên, thậm chí những thay đổi của kinh tế quốc tế thời

Trang 18

gian qua cũng có những biến đổi sâu sắc Chính vì vậy, rất cần thiết phải có những nghiên cứu tiếp theo về tội phạm có tính quốc tế, tội phạm do người nước ngoài thực hiện, đặc biệt là tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam thời gian qua Từ đó, có thể đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện lý luận, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện trong thời gian tới

Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc và hệ thống lại những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thể hiện thông qua nội dung của những công trình đã nói trên, chúng tôi đã cơ bản có đủ dữ liệu để đưa ra những nhận xét chung về tình hình

nghiên cứu của các công trình đã thực hiện có liên quan trực tiếp đến đề tài “Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” dưới những góc độ sau đây:

Thứ nhất, về khía cạnh pháp lý hình sự của tội lừa đảo CĐTS đã được các tác

giả nghiên cứu tương đối đầy đủ, thể hiện thông qua những nội dung cơ bản như sau:

- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 134 BLHS 1985; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 139 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); gần đây nhất, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS 2015;

- Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa theo quy định của BLHS 1985 và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS 1999 như: mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể của tội phạm; trách nhiệm hình sự, đường lối xử l đối với người thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo CĐTS… Những vấn đề nói trên đã được các tác giả

đề cập tương đối đầy đủ, rõ ràng với cơ sở lý luận khá vững chắc và có thể sử dụng để tham khảo khi nghiên cứu các công trình tiếp theo;

Thứ hai, về người nước ngoài và chế độ pháp l người nước ngoài

Những vấn đề lý luận về người nước ngoài và chế độ pháp lý của người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam; về thực trạng tình hình người nước ngoài

ở Việt Nam; về việc quản lý xuất nhập cảnh, cư trú của nười nước ngoài… đã được một số công trình đề cập khá đầy đủ, chi tiết Các công trình đã đưa ra và làm rõ thêm một số khái niệm: về người nước ngoài; về cơ chế điều chỉnh pháp luật trong quản l nhà nước đối với người nước ngoài ở Việt Nam; làm rõ địa vị pháp l của người nước

Trang 19

ngoài và vai trò của pháp luật trong quản l nhà nước đối với họ ở Việt Nam Các công trình đã khái quát thực tiễn quản l nhà nước đối với người nước ngoài, tình hình vi phạm pháp luật của người nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động xử l vi phạm của các

cơ quan chức năng trong những năm cuối 1990 của thế kỷ XX Từ đó, đưa ra những định hướng, kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản l người nước ngoài; nâng cao thức pháp luật, văn hóa pháp l ; đổi mới bộ máy, cán bộ, cơ chế quản l nhằm thực hiện quản l nhà nước có hiệu quả đối với người nước ngoài ở Việt

Nam Chẳng hạn như công trình "Quản lý nh nước về an ninh đối với người nước ngo i tại Việt Nam", Luận án Tiến sĩ của NCS Ngô Phúc Thịnh - Học viện An ninh

nhân dân, Hà Nội, 2002 Một số kiến nghị có tính khả thi của một số tác giả về sửa đổi,

bổ sung các văn bản pháp luật đã ban hành khi đó, tập trung vào một số điều của Bộ

luật Hình sự, đặc biệt là kiến nghị: "Cần bổ sung hình phạt trục xuất v o hệ thống hình phạt của Bộ luật Hình sự được áp dụng vừa l hình phạt chính vừa l hình phạt bổ sung", được nêu trong Luận án của Bùi Quảng Bạ từ năm 1996, đã được pháp điển hóa

thành Điều luật trong BLHS

Thứ ba, về các chủ thể đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đấu tranh phòng, chống tội phạm từ trước đến nay luôn được Đảng

và Nhà nước quan tâm Phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, liên tục và lâu dài; đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản l , chỉ đạo Điều hành thống nhất của Nhà nước Phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó các cơ quan chức năng làm nòng cốt, vai trò, trách nhiệm người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và nhân dân tích cực tham gia có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; đề cao vai trò, trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc các cấp, các

tổ chức đoàn thể, quần chúng nhân dân

Chủ thể tiến hành hoạt động phòng, chống tội phạm ở nước ta bao gồm: các tổ chức Đảng, với vai trò lãnh đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng và lãnh đạo trực tiếp các lực lượng tiến hành phòng ngừa tội phạm; các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị -

xã hội; các tổ chức quần chúng được thành lập ở cơ sở với mục đích phòng, chống tội phạm ở cộng đồng dân cư; các tổ chức kinh tế - xã hội khác; các tập thể lao động và công dân; trong đó, cần xác định rõ vai trò của lực lượng CAND là nòng cốt và vai trò

Trang 20

của lực lượng CSND là chủ đạo trong phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm Vai trò, chức năng, của các cơ quan này; cơ sở pháp lý cho việc thực hiện vai trò, chức năng của các chủ thể đã được nhiều công trình nghiên cứu, trình bày tương đối đầy đủ, kể cả

trên phương diện lý luận và thực tiễn Chẳng hạn như: Giáo trình “Tội phạm học” của

GS, TS Võ Khánh Vinh, Nxb CAND, Hà Nội 2003; Sách chuyên khảo “Một số vấn đề

lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa” của GS,TS

Nguyễn Xuân Yêm và PGS, TS Nguyễn Minh Đức, Nxb CAND, năm 2011; Giáo trình

“Tội phạm học” của GS, TS Đỗ Ngọc Quang, năm 2012 – Trường ĐH CSND; Giáo trình “Tội phạm học”, Nxb CAND, Đại học Huế 2013 của GS, TS Võ Khánh Vinh;

Thứ tư, về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện tội phạm nói chung,

tình hình tội lừa đảo CĐTS và đặc điểm tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

- Có thể nhận thấy, hầu hết các giáo trình, sách chuyên khảo cũng như bài báo khoa học của các tác giả đã hệ thống, phân tích, đánh giá được một số vấn đề về lý luận

và thực tiễn liên quan đến:

Một là, đặc điểm của tình hình tội phạm nói chung, đặc điểm tình hình tội phạm

có yếu tố nước ngoài và đặc điểm tình hình của tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện;

Hai là, các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra những nguyên nhân, điều kiện

của tội phạm lừa đảo CĐTS và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua Chẳng hạn như công trình

“Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ

luật học của NCS Lê Đăng Doanh, bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2008; hoặc Đề

tài khoa học cấp Bộ của GS, TS Trịnh Văn Thanh “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại các tỉnh, thành phố phía Nam – Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, TP HCM năm 2009

Thứ năm, những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm người nước ngoài;

phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện

- Về vấn đề này, nhiều tác giả đã phân tích và đưa ra khái niệm phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS theo chức năng của các chủ thể tham gia phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS Cũng đã có công trình đưa ra khái niệm “phòng ngừa tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện” theo phương diện hoạt động của lực

Trang 21

lượng CAND Chẳng hạn như Đề tài cấp Bộ của GS, TS Trịnh Văn Thanh “Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại các tỉnh, thành phố phía Nam – Thực trạng

và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, TP HCM năm 2009 Theo đó, phòng ngừa tội

phạm lừa đảo CĐTS là hoạt động sử dụng các biện pháp phòng ngừa xã hội và biện pháp phòng ngừa chuyên biệt phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của từng chủ thể, trong khuôn khổ quy định của pháp luật nhằm đạt được mục tiêu là làm hạn chế, tiến tới loại trừ nguyên nhân và điều kiện tội phạm lừa đảo CĐTS

Các công trình nghiên cứu như chúng tôi đã hệ thống trước đây, cũng đã đề cập nhiều đến những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý, nguyên tắc hoạt động cũng như thực trạng việc tổ chức lực lượng, hoạt động đấu tranh phòng, chống của các chủ thể, nhất là của lực lượng CSND trong phòng ngừa, điều tra, xử lý với loại tội phạm lừa đảo CĐTS, tội phạm lừa đảo CĐTS có yếu tố nước ngoài; về thực tiễn phòng ngừa, điều tra tội phạm do người nước ngoài thực hiện; việc xác định trách nhiệm hình sự và áp dụng chế tài hình sự đối với các hành vi phạm tội của các chủ thể là người nước ngoài ở Việt

Nam Tiêu biểu là công trình nghiên cứu của PGS,TS Trần Phương Đạt “Hoạt động của lực lượng C ng an nhân dân trong ph ng ngừa tội phạm do người nước ngo i gây

ra ở Việt Nam”, năm 2001; hoặc Đề tài khoa học cấp Bộ của GS, TS Trịnh Văn Thanh

“Hoạt động lừa đảo do người nước ngoài thực hiện tại các tỉnh, thành phố phía Nam – Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”năm 2010

Thứ sáu, về các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh

chống tội phạm lừa đảo CĐTS và tội phạm có yếu tố nước ngoài

Hầu hết, các công trình nghiên cứu về tội phạm lừa đảo CĐTS và tội phạm lừa đảo CĐTS có yếu tố nước ngoài đều đã đưa ra những dự báo về tình hình tội phạm lừa đảo CĐTS, tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài; Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu trước đây cũng đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện lý luận về phòng ngừa, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung và phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo CĐTS

có yếu tố nước ngoài nói riêng Cụ thể, các tác giả đã đưa ra những định hướng, giải pháp cơ bản như: Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng CAND làm nòng cốt Tích cực phòng ngừa, chủ động tấn công, tấn công liên tục các loại tội phạm nhằm tạo ra sự chuyển biến và ổn định về an ninh trật tự; đây là hai mặt của phòng, chống tội phạm Trong đó, phòng ngừa là yếu tố quyết

Trang 22

định, có nghĩa chiến lược cơ bản; tấn công tích cực có nghĩa quan trọng vừa có tác dụng răn đe, ngăn chặn, hỗ trợ cho phòng ngừa có hiệu quả Thực hiện tốt các chính sách xã hội nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm trong tình hình mới như: chính sách giải quyết việc làm; chính sách xoá đói giảm nghèo; chính sách xã hội đối với đồng bào có đạo, đồng bào dân tộc ít người; chính sách giáo dục, cảm hoá người lầm lỗi

Để thực hiện được các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian tới, đa số các tác giả cho rằng, cần tiến hành đồng bộ các yêu cầu: dự báo chính xác bằng các căn cứ khoa học; tổ chức tốt công tác nắm tình hình đối với các đối tượng; tiến hành điều tra cơ bản trên các địa bàn nhất là các địa bàn trọng điểm; quản

l các đối tượng thuộc diện quản lý nghiệp vụ và tập trung trinh sát đối với các đối tượng kiểm tra nghiệp vụ; tổ chức đấu tranh ngăn chặn các hoạt động của các loại đối tượng trong và ngoài nước xâm phạm an ninh trật tự; thực hiện tốt Nghị quyết, Chỉ thị 28/CT-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ ANQG, Nghị quyết số 09/NQ-CP của Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; tăng cường công tác trinh sát, công tác điều tra, bắt giữ, xử lý kiên quyết tội phạm; nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

Những kết luận, giải pháp và kiến nghị khoa học đó phần nào cũng là căn cứ để các nghiên cứu tiếp theo tham khảo, trong đó có luận án của NCS Mặt khác, tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mà các công trình trước đây còn chưa đề cập tới hoặc đã đề cập tới song theo một hướng tiếp cận khác

1.2 Tình hình nghiên cứu ngo i nước

Nghiên cứu, tham khảo từ những nguồn tư liệu khác nhau, chúng tôi khái quát tình hình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án đưới những góc độ như sau:

1.2.1 Những công trình nghiên cứu về lý luận tội phạm học, lý luận về phòng ngừa tội phạm

Mỗi quốc gia trên thế giới đều có phương thức đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm khác nhau Hoạt động phòng ngừa, đấu tranhvới tội phạm của mỗi nước phải phù hợp với đặc điểm về thể chế chính trị, truyền thống và kỹ thuật lập pháp, kinh nghiệm

tổ chức bộ máy nhà nước, đặc điểm dân cư… Tội phạm nói chung là một trong nhiều hiện tượng xã hội tiêu cực và cùng với sự vận động, thay đổi của xã hội, hình thức tội phạm, thủ đoạn, đặc điểm tội phạm, tính chất của tình hình tội phạm cũng sẽ có những

Trang 23

thay đổi tương ứng Vì vậy, khoa học về đấu tranh phòng, chống tội phạm ở mỗi quốc gia trong những thời kỳ khác nhau cũng được nghiên cứu để thay đổi phương thức phòng ngừa, chống tội phạm một cách phù hợp và hiệu quả Qua nghiên cứu các nguồn tài liệu khác nhau có thể thấy lý luận về tội phạm học; lý luận về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung, phòng ngừa từng loại tội phạm nói riêng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu

Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học tiêu biểu, với những nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu lý luận về phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tội phạm học

1 Công trình “Justification of crime prevention” (Dịch: Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tội phạm) [111], của tác giả Minkovskij G.M (chủ biên), Nxb Moskva,

năm 1977, tr 196-207 Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cơ sở lý luận của

việc phòng ngừa tội phạm, với những nội dung cơ bản như sau:

- Về mặt phương pháp luận, Minkovskij G.M đã nêu rõ “Chủ nghĩa Mác-Lênin

đã xác định tội phạm là một hiện tượng xã hội; phương hướng đấu tranh chống tội phạm cơ bản nhất là phòng ngừa tội phạm V.I Lênin đã chỉ ra rằng, khâu quyết định của việc phòng ngừa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác là phải xác định được nguyên nhân và các biện pháp để loại trừ các nguyên nhân” Trong đó, phải nâng cao đời sống vật chất của quần chúng, phải không ngừng tăng cường tính tự giác, tích cực, tạo điều kiện cho quần chúng tham gia quản lý công việc của Nhà nước, của xã hội; cùng đó, phải theo dõi và thống kê đầy đủ và kịp thời tội phạm và các điều kiện làm nảy sinh tội phạm để có cơ sở đề xuất các biện pháp phòng, chống tội phạm có hiệu quả; áp dụng kịp thời các hình phạt để bảo đảm tính răn đe, giáo dục để phòng ngừa tội phạm [111, tr.204]

- Về cơ sở về mặt kinh tế-xã hội v tư tưởng của việc phòng ngừa tội phạm, tác

giả Minkovskij G.M cho rằng, phòng ngừa tội phạm phải bao gồm các biện pháp để loại trừ các hiện tượng tiêu cực khỏi đời sống xã hội, các điều kiện sống không lành mạnh và không ổn định; phát triển các tiền đề cho việc nâng cao trình độ văn hoá của các thành viên trong xã hội, làm cho họ có thể phát huy được tính tích cực của mình;

mở rộng hơn nữa điều kiện giáo dục của gia đình

Trang 24

- Về cơ sở pháp lý của việc phòng ngừa tội phạm:

Minkovskij G.M viết “phòng ngừa tội phạm liên quan mật thiết với việc không ngừng hoàn thiện nguyên tắc pháp chế và bảo đảm sự điều chỉnh toàn diện của pháp luật” Việc điều chỉnh của pháp luật đối với công tác phòng ngừa tội phạm thể hiện ở hai hướng cơ bản; hướng thứ nhất mang tính “vật chất” với nội dung là dùng pháp luật tác động đến các yếu tố xã hội khác nhau nhằm loại trừ các nguyên nhân, điều kiện của tội phạm; hướng thứ hai mang tính “tố tụng”, theo đó pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ, xác định trình tự thực hiện hoạt động phòng ngừa cụ thể [111, tr.204]

- Về đặc điểm của hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm: tác giả

Minkovskij G.M, đã nhận định rằng đặc điểm của các biện pháp này gồm có:

+ Toàn bộ các hoạt động phòng ngừa tội phạm phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và các cơ quan nhà nước; Bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền công dân trong phòng ngừa tội phạm; Phòng ngừa tội phạm phải mang tính đồng

bộ, toàn diện, tổng hợp các biện pháp chung của toàn xã hội và các biện pháp đặc biệt kết hợp và phối hợp chặt chẽ với nhau, trong đó có xác định rõ phương hướng chủ đạo;

+ Kết hợp nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chống tội phạm với các nhiệm vụ trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, văn hoá, giáo dục; Quần chúng tham gia rộng rãi và tích cực vào việc phòng ngừa tội phạm Nghiên cứu tội phạm học và các biện pháp phòng ngừa tội phạm một cách sâu sắc và toàn diện, có kế hoạch Phân loại các biện pháp phòng ngừa theo mức độ, nhân thân người phạm tội, kết hợp các biện pháp tác động chung, tác động theo nhóm và tác động cá nhân

- Về các biện pháp đặc biệt phòng ngừa tội phạm: Minkovskij G.M cho rằng đó

là những biện pháp do các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân tiến hành nhằm trực tiếp loại trừ các yếu tố tội phạm học, các nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm, nhằm giáo dục và cải tạo những người có thể phạm tội hoặc đã phạm tội Các biện pháp này gồm hai loại, thứ nhất là những biện phạm mang tính chất “tín hiệu”, tức là những dự kiến về sự cần thiết phải tác động một cách

có mục đích, có định hướng vào những yếu tố tội phạm học hay những người, nhóm người nhất định; thứ hai là những biện pháp tác động trực tiếp Ông cho rằng, các biện pháp phòng ngừa đặc biệt có thể được phân thành các loại như: Các biện pháp kinh tế -

xã hội, nhằm điều chỉnh biến động của dân cư, số lượng, cơ cấu dân cư từng vùng, có

Trang 25

tính đến nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm; các biện pháp điều chỉnh các hướng chính trong chính sách và đường lối đấu tranh phòng, chống tội phạm; các biện pháp tư tưởng, văn hoá, giáo dục: để giải quyết nhiệm vụ phòng ngừa bằng các biện pháp tổng hợp trong công tác giáo dục nhằm loại trừ các quan điểm chống đối xã hội, các thói quen, tập quán lệch chuẩn, chống lại xã hội…; các biện pháp tổ chức và quản lý nhằm phổ biến những kinh nghiệm tốt trong phòng ngừa tội phạm để hoàn thiện hệ thống phòng ngừa [111, tr.206]

Trong hệ thống các biện pháp phòng ngừa đặc biệt, có các biện pháp áp dụng

với cá nhân cụ thể, nhằm 1) Loại trừ những sự tác động không tốt đối với những cá nhân cụ thể; 2) Làm thay đổi những cách xử sự không được xã hội chấp nhận, hoặc các

quan điểm, quan niệm, sở trường theo hướng sai lệch hoặc đề phòng việc họ phạm tội.Từ đó, ông đưa ra quan điểm các biện pháp phòng ngừa riêng với các cá nhân được

áp dụng với những người có dấu hiệu như: Chưa phạm tội nhưng đang ở trong những điều kiện có thể phạm tội; Những người đang theo đuổi lối sống chống đối xã hội, có những vi phạm nhỏ; Đang hình thành động cơ, đồ phạm tội, đang chuẩn bị phạm tội;

Đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa cố ý thực hiện tội phạm đến cùng;

2 Công trình “Why they sinned? Status youth crime in capitalist countries”

(Dịch: Vì sao họ phạm tội? Tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội ở các nước tư bản chủ nghĩa”), của tác giả MolodajaGvardja, Nxb Mat-xcơ-va, năm 1974 (bản dịch của Viện Thông tin Khoa học xã hội, xuất bản năm 1982) [112, tr 223-225]

Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nguyên nhân của tội phạm và tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội ở các nước tư bản chủ nghĩa, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu sau:

Trang 26

Thứ nhất, sự thiếu thốn về vật chất và tội phạm: trong xã hội tư sản, hoàn cảnh

vật chất ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân thân con người về cách xử sự của

họ ảnh hưởng đó lại càng lớn đối với những người chưa thành niên, khi mà họ chưa hoàn toàn được đặt vào trong các mối quan hệ xã hội rất phức tạp, không có kinh nghiệm sống, không có nghề nghiệp, trình độ học vấn không vững chắc Bên cạnh đó,

sự chênh lệch giữa giàu và nghèo rất lớn làm ảnh hưởng tới cách xử sự của thanh, thiếu niên trong các gia đình nghèo [112, tr.223]

Thứ hai, nhu cầu trên mức có thể thoả mãn và tội phạm: trong đó, có hai trường

hợp đối ngược nhau cùng xảy ra, một trường hợp phát sinh từ kết quả của các điều kiện vật chất và điều kiện xã hội khó khăn của con người; thứ hai, là kết quả của những nhu cầu quá mức có thể thoả mãn được, phát sinh trong các tầng lớp giàu có trong xã hội Quan trọng hơn, quan niệm về quyền tự do hành động mà không bị trừng phạt, khi người nghèo phạm tội thì thường xuyên bị đưa ra toà để làm gương cho người khác, trong khi người giàu phạm tội thì chỉ bị xem xét, giải quyết theo cách thức ngoài toà

án, có sự can thiệp của các luật sư hay một người có chức vụ nào đó

Thứ ba, bức tranh xã hội và tình trạng tội phạm cũng có liên quan tới nhau, đó là

các hình ảnh trên truyền hình về phong cách, lối sống, sử dụng bạo lực, vũ khí ảnh hưởng tới sự hình thành thói quen, nhu cầu, nhân cách của người chưa thành niên phạm tội [112, tr.224]

Công trình khoa học nêu trên đã chỉ ra những nguyên l cơ bản và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, từ những nguyên nhân đó, để nghiên cứu và đánh giá những giải pháp được đề xuất nhằm phòng ngừa các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở các nước tư bản chủ nghĩa trong những thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước Do vậy, với tình hình kinh tế - xã hội, đặc biệt là khoa học, kỹ thuật phát triển như hiện nay, các nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm trong lứa tuổi thanh, thiếu niên được phân tích trong công trình nghiên cứu trên không còn phù hợp Bên cạnh đó, công trình của tác giả MolodajaGvardja cũng mới chỉ phân tích và làm rõ nguyên nhân phạm tội của một nhóm người nhất định

là những người chưa thành niên

3 Công trình “ Crime situation in France from 1840 to 1886 - Dynamics and causes” (Dịch: Tình hình tội phạm ở Pháp từ năm 1840 đến năm 1886 – Động thái và các nguyên nhân) [108], của tác giả Paul Lafargue người Pháp Việc công bố những kết

Trang 27

quả nghiên cứu trong công trình khoa học này đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển của khoa học về tội phạm học phương Tây lúc bấy giờ Paul Lafargue đã

xác định khách thể để tiến hành nghiên cứu là “tình hình tội phạm (Kriminalitaet) trong

v ng 47 năm ở nước Pháp” và ông đã tiếp cận khách thể nghiên cứu bằng phương pháp

thống kê Có thể trình bày một số nội dung chính của công trình này như sau:

Một là, lý do của việc đưa ra những kết quả nghiên cứu và việc áp dụng phương

pháp thống kê để nghiên cứu về tình hình tội phạm trong một thời gian dài như vậy, theo Lafargue là: 1) các công trình nghiên cứu trước đây chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn; 2) Số liệu thống kê ít; 3) Nghiên cứu tình hình tội phạm nhưng tách rời xã hội; 4) không nghiên cứu Tổng quan mà chỉ đưa ra một số loại tội phạm cụ thể và chỉ giới hạn

ở một số loại tội nhất định;

Hai là, về nguyên nhân của tình hình tội phạm: Lafargue cho rằng những công

trình nghiên cứu trước đây chỉ đề cập tới phẩm cách đạo đức, nhận thức và thể chất của con người như quan điểm của Cesare Lombroso thì ắt hẳn sẽ thất bại Quan điểm của Lafargue là phải đi tìm nguyên nhân của tình hình tội phạm không phải ở trong con người, trong tự do ý chí của con người, trong từng đặc tính, thể chất, đạo đức của con người mà phải tìm ở ngoài con người đó, ở môi trường nơi con người sinh sống và trong xã hội nơi con người đó hoạt động

Theo nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu, với việc công bố những kết quả nghiên cứu trong công trình của mình, Paul Lafargue đã chính thức đặt nền móng cho

sự hình thành, phát triển của khoa học Tội phạm học Mác xít

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về đặc điểm tội phạm, đặc điểm hình sự

và hoạt động phòng, chống tội phạm cũng như công tác phòng, chống đối với loại tội phạm cụ thể Có thể kể đến những công trình như:

- Sách chuyên khảo “Der Verbrecher” (Dịch: Người phạm tội) [109], của GS,

TS Cesare Lomboroso người Italia (1835 – 1909) Ông đã được lịch sử khoa học về Tội phạm học ghi công vì những kết luận rút ra trong công trình nghiên cứu về nhân chủng học đối với nhân thân người phạm tội Cuốn sách “Der Verbrecher – Người phạm tội” được xuất bản lần đầu năm 1876 với 250 trang nhưng ít gây được sự chú ý Tuy vậy, nhờ những phán đoán siêu hạng và những kết luận dựa trên những luận cứ khoa học mà khi tái bản lần thứ hai, công trình của ông đã tạo nên những tiếng vang lớn Theo quan điểm của Lombroso, thông qua những đặc điểm bên ngoài cơ thể, có

Trang 28

thể phán đoán, nhận biết được kẻ phạm tội Chẳng hạn như: Trán dô, cằm bạnh, hố mắt sâu, mặt không cân đối; các bộ phận tứ chi phát triển không bình thường, chân nhỏ, tay

to và cánh tay dài; cơ quan thụ cảm có độ nhạy cảm kém cho nên tàn bạo và xem thường cái chết… Ông cũng phát hiện ra rằng kích cỡ của hộp sọ những người phạm tội đặc biệt nguy hiểm rất khác so với những người bình thường và coi đó như là chìa khóa để xác định nguyên nhân của tội phạm Những kết quả nghiên cứu trên cơ thể người phạm tội, đặc biệt là phương pháp đo hộp sọ đã đưa ra luận thuyết mới lúc bấy

giờ đó là giả thuyết “người phạm tội bẩm sinh” Sau này, học trò của Lombroso là

Ferri (1856 – 1929) đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển thành một hướng nghiên cứu mới về nguyên nhân của tội phạm Mặc dù luận thuyết này, sau đó đã bị bác bỏ bởi nó chưa phản ánh được đầy đủ bản chất, đặc điểm của tình hình tội phạm như là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội nhưng có thể khẳng định Lombroso là người đầu tiên sử dụng phương pháp kinh nghiệm hay còn gọi là phương pháp “thực chứng” để nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm trên có sở đặc điểm nhân thân người phạm tội Vì thế nhiều nhà nghiên cứu đánh giá Cesare Lombroso là một trong những người sáng lập môn Tội phạm học

- Sách chuyên khảo, “Research on the prevention of the crimes of the body”

(Dịch: Nghiên cứu về phòng ngừa các tội xâm phạm thân thể), tác giả G.I Checbrarop

[113], Viện Khoa học Công an, Hà Nội 1977, Chương XVIII

Trong tác phẩm của mình tác giả G.I.Checbrarop, đã phân tích các đặc điểm về tội phạm học đối với những vụ án về tội giết người và gây thương tích nặng, đó là: những đặc điểm về mặt tội phạm học của tội giết người và tội cố gây thương tích nặng được đặt ra và nghiên cứu chung, vì những nguyên nhân và điều kiện của các tội phạm này thường có nguồn gốc giống nhau Xét về động cơ các tội giết người và tội cố gây thương tích nặng là giống nhau Nghiên cứu điển hình của tác giả đã cho kết quả

để khẳng định: số lượng các vụ cố ý giết người có chiều hướng giảm dần Nguyên nhân

và điều kiện của tội phạm giết người và cố gây thương tích được tác giả giải thích

như sau: “Trước hết loại tội phạm này nảy sinh là do trình độ văn hoá thấp, hoặc do

tình trạng nghiện ngập, nhiều người phạm tội gây án và do nghiện rượu” [113, tr.65] Thái độ bàng quan của quần chúng nhân dân là điều kiện để tội phạm giết người, gây thương tích có thể xảy ra, bên cạnh đó những điều kiện như những sơ hở trong hoạt

Trang 29

động tuần tra của Cảnh sát và các đội dân phòng; công tác quản l vũ khí thô sơ không chặt chẽ cũng là những điều kiện của loại tội phạm này

Để phòng ngừa tội phạm xâm phạm thân thể của con người trước hết cần bắt đầu từ phòng ngừa xã hội nói chung Bên cạnh đó, cần chú ý áp dụng các biện pháp khác như: đối phó kịp thời và nhạy bén đối với bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào xảy ra hoặc có thể xảy ra; tăng cường tuần tra kiểm soát, bảo đảm trật tự ở những nơi công cộng; nâng cao tính tích cực của công dân trong đấu tranh với loại tội phạm này; đấu tranh xử lý tình trạng mua bán, tàng trữ vũ khí bất hợp pháp và tuyên truyền để nhân dân đem nộp vũ khí mà họ còn cất giữ; tuân thủ triệt để điều lệ về giám sát hành chính đối với những người được tha ra khỏi nhà tù và thiết lập sự kiểm tra của xã hội đối với những người này; nâng cao hiệu quả công tác của cơ quan Cảnh sát; kịp thời khám phá và truy xét có chất lượng những vụ án về các tội phạm xâm phạm đến thân thể con người

- Ngoài ra, còn có Sách chuyên khảo “Criminology and Criminology in Japan” (Dịch: Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản) [104], của Can Ueda – Bản dịch do GS,

TS Nguyễn Xuân Yêm và GS, TS Hồ Trọng Ngũ dịch, Nhà xuất bản CAND, Hà Nội năm 1994 Nội dung chính của cuốn chuyên khảo này là những nghiên cứu về bạo lực trong các trường phổ thông

1.2.2 Các công trình nước ngoài trực tiếp nghiên cứu về phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

Qua nghiên cứu các nguồn tư liệu ngoại ngữ và dịch thuật khác nhau thấy rằng

vấn đề “phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” đến nay vẫn chưa được sự quan tâm nghiên cứu về mặt

lý luận cũng như thực tiễn của các nhà khoa học ở nước ngoài Lý giải cho việc các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở nước ngoài không tiến hành nghiên cứu

về vấn đề này có rất nhiều nguyên nhân Chúng tôi cho rằng, có một số nguyên nhân phổ biến sau đây:

Thứ nhất, do khác biệt về chế độ chính trị, truyền thống lập pháp và kinh

nghiệm tổ chức bộ máy đấu tranh phòng, chống tội phạm nên mỗi quốc gia có cách thức phòng ngừa tội phạm phù hợp

Thứ hai, đây là đề tài nghiên cứu về khoa học ứng dụng liên quan trực tiếp đến

hiệu quả hoạt động phòng ngừa đấu tranh với tội phạm là người nước ngoài ở Việt

Trang 30

Nam cho nên ít được người nước ngoài quan tâm Hơn nữa, tình hình tội phạm này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam như: tình hình chính trị, kinh tế,

xã hội và thậm chí là truyền thống lịch sử, văn hóa… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu vấn

đề này đối với người nước ngoài là rất khó khăn về ngôn ngữ, về tài liệu, số liệu thực tiễn… chưa kể nhu cầu sử dụng kết quả và sản phẩm nghiên cứu đối với họ

Thứ ba, quan điểm về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, chủ thể, khách thể,

mặt khách quan của tội phạm ở các nước khác nhau cũng nhiều điểm khác nhau Chẳng hạn như pháp luật Hình sự của Trung Quốc có quy định chủ thể chịu TNHS không chỉ

có các nhân mà còn có cả pháp nhân [25, tr.31] Trong khi đó, ở Việt Nam mãi gần đây, vấn đề TNHS mới được đặt ra đối với pháp nhân Hiện nay, trong BLHS 2015, mới quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại

Thứ tư, pháp luật Hình sự của Việt Nam và nước ngoài là rất khác nhau vì vậy,

căn cứ pháp lý, cơ sở thực tiễn nào để xác định một hành vi như thế nào là phạm vào tội lừa đảo CĐTS cũng khác nhau Ngoài ra pháp luật hình sự một số nước trên thế giới còn quy định các tội danh riêng biệt đối với thủ đoạn gian dối như: lừa đảo bằng máy tính, lừa đảo trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, lừa đảo tín dụng, lừa đảo trong ngân hàng… Trong khi đó BLHS 1999và BLHS 2015 của Việt Nam chỉ quy định có một tội danh là

“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Điều 139 BLHS 1999 và Điều 174 BLHS 2015)

Tóm lại, qua nghiên cứu các công trình của các tác giả nước ngoài có thể thấy, các nhà khoa học của Liên Xô và các nhà khoa học theo trường phái tội phạm học Mácxít trước đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống về lý luận phòng ngừa tội phạm Những công trình đó đã góp phần xây dựng thành hệ thống lý luận, chỉ dẫn cho hoạt động cụ thể của cơ quan chức năng ở Liên Xô trong phòng, chống tội phạm Bên cạnh đó, những nghiên cứu của những nhà khoa học kháccũng đã có nhiều kết luận khoa học về nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm và của một số loại tội phạm cụ thể Những kết quả nghiên cứu nêu trên cũng là cơ sở lý luận phù hợp để NCS chọn lọc, tham khảo khi trình bày những nghiên cứu lý luận chung về phòng ngừa tội phạm và phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện Tuy nhiên,

do ở nước ngoài không tổ chức bộ máy đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là họ không tổ chức lực lượng CAND, hệ thống Tòa án, hệ thống Viện Kiểm sát như ở Việt Nam, nên NCS không tham khảo được kinh nghiệm phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm do lực lượng Cảnh sát, lực lượng An ninh hay Tòa án của nước ngoài tiến hành

Trang 31

1.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo của Luận án

Trên cơ sở phân tích khái quát kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong

và ngoài nước về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận án, NCS đã sơ bộ đi đến một

số kết luận sau đây: các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều cố gắng và thành công khi nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm nói chung, phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm người nước ngoài, trong đó có tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện lý luận và các chỉ dẫn thực tiễn để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, cần phải tiếp tục nghiên cứu, hệ thống lý luận và chỉ dẫn thêm về thực trạng phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo CĐTS trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Để đáp ứng nhiệm vụ này, tác giả Luận án sẽ tập

trung hướng nghiên cứu tiếp theo của mình như sau:

Một là, tình hình tội phạm lừa đảo CĐTS và tội phạm lừa đảo CĐTS có yếu tố

nước ngoài mà các tác giả đề cập đã khá lâu, đến nay cũng đã gần 20 năm Mặt khác những nghiên cứu trước đây cũng chưa thực sự chuyên sâu về lý luận phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam Hơn nữa, về thực tiễn các công trình trước đây rất ít đề cập toàn diện tới các chủ thể khác (ngoài lực lược CAND), với nghĩa là hoạt động phòng ngừa chung mà chủ yếu là những nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ và điều tra tố tụng của lực lượng CSND Do vậy, thiết nghĩ cần phải có những nghiên cứu mới về tình hình tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đây để hiểu đúng thực trạng của tình hình tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện, có những đánh giá đúng đắn, khoa học về cơ cấu và tính chất cũng như xu hướng của loại tội phạm này trong tình hình mới Bên cạnh đó, cũng cần tiếp tục có những nghiên cứu tổng thể, hệ thống về vai trò của các chủ thể trong công tác phòng ngừa, đấu tranhvới tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện lý luận, nâng cao hiệu quả của thực tiễn đấu tranh phòng, chống đối với tội phạm này trong điều kiện tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 32

Hai là, một số vấn đề khá gai góc như: việc hoàn thiện quy trình phối kết hợp

giữa các chủ thể đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện; quy trình áp dụng chế tài hình sự đối với người nước ngoài phạm tội lừa đảo CĐTS ở Việt Nam; quy trình áp dụng các biện pháp tố tụng, tư pháp đối với họ như thế nào? trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện có những ưu, nhược điểm gì? những hạn chế, yếu kém về mặt lý luận và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn phòng ngừa đối với loại tội này ra sao? Cũng cần tiếp tục được nghiên cứu, làm rõ để đề xuất những giải pháp mới, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý trong phòng, chống tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện

Ba là, những kết quả nghiên cứu của các công trình trước đây về tội phạm có

yếu tố nước ngoài và tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện, đặc biệt là các nghiên cứu chuyên sâu về lý luận và thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm do người nước ngoài thực hiện, cần phải được tiếp tục nghiên cứu thêm để hệ thống, đánh giá những ưu điểm, hạn chế của thực trạng phòng ngừa loại tội phạm này, từ đó đưa ra giải pháp góp phần hoàn thiện lý luận, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranhvới tội phạm là người nước ngoài nhất là những người nước ngoài thực hiện hành

vi lừa đảo CĐTS, bằng những công cụ, phương tiện tiên tiến, hiện đại trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng ở Việt Nam hiện nay

Bốn là, luận án tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn nữa về những nguyên nhân, điều

kiện của tội phạm lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện trong tình hình mới hiện nay phù hợp với những thay đổi về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, quan điểm

về chính sách hình sự… từ đó đưa ra những dự báo, biến động của loại tội phạm này dựa trên cơ sở khoa học vững chắc, làm căn cứ để xác địnhnhững giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh

Năm l , một vấn đề hết sức quan trọng mà chúng tôi thấy cần nhận thức thống

nhất nữa nhưng rất ít được đề cập trong những nghiên cứu trước đây đó là: trong phòng ngừa tội phạm nói chung, phòng ngừa đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện nói riêng nhất thiết phải chú trọng cả hai mặt phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ để hình thành thế trận phòng ngừa tội phạm toàn diện Phải xác định đấu tranh chống cũng có giá trị phòng ngừa vì suy cho cùng thì hoạt động khám phá, điều tra, xử lý nghiêm minh tội phạm và kết quả hoạt động xử lý các hành vi phạm

Trang 33

tội đạt hiệu quả cao là góp phần răn đe, giáo dục, cảnh báo những người nước ngoài đang có định vào Việt Nam để phạm tội

Kết luận chương

Trong Chương 1, luận án đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và một số công trình ở ngoài nước (chủ yếu dựa trên các tài liệu dịch) về phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa, đấu tranh với tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện nói riêng Do điều kiện tiếp cận với tài liệu về hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm của nước ngoài còn hạn chế, nên luận án mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung một số công trình về lý luận phòng ngừa tội phạm của một số nhà khoa học nước ngoài Do đó, chủ yếu đi sâu phân tích các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học của Việt Nam trong lĩnh vực phòng ngừa,đấu tranh với tội phạm; qua đó, xác định: tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện

đã và đang diễn biến rất phức tạp và đã được khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu để đưa ra các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhằm kiềm chế sự gia tăng, ngăn chặn và tiến tới loại trừ loại tội phạm này

Trên cơ sở phân tích khái quát kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong

và ngoài nước về các giải pháp phòng ngừa loại tội phạm này, luận án đã đi đến kết luận: các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều cố gắng và thành công khi nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm và đã đạt được nhiều kết quả góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện lý luận và các chỉ dẫn thực tiễn để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong đó có tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện trong tình hình mới Theo đó, luận án xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về cả lý luận và thực tiễn; những vấn đề cần làm rõ thêm trong quá trình nghiên cứu; những vấn đề cần được phân tích luận giải ở các Chương tiếp theo để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam

Trang 34

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN DO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

2.1 Nhận thức chung về phòng ngừa tội lừa đảo chiế đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện

2 Người nước ngoài và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện

2.1.1.1 Người nước ngoài và quy chế pháp lý người nước ngoài ở Việt Nam

Các khái niệm về "người nước ngoài", gắn chặt với khái niệm quốc tịch của một công dân Hiện nay thuật ngữ “người nước ngoài” được sử dụng tương đối phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt

Nam 2005, khái niệm người nước ngoài được hiểu: “L người cư trú ở một nước nhưng kh ng phải c ng dân nước đó”; “người nước ngoài ở Việt Nam l người không

có quốc tịch Việt Nam” [80, tr.462] Khoản 1 Điều 3 Luật quốc tịch 2008 quy định

“Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam” Khoản 1 Điều 2 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam 2014 quy định: “Người nước ngoài l người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam” [52]

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam và từ thực tiễn cách hiểu về

người nước ngoài như đã nêu, có thể hiểu:“Người nước ngo i l người không có quốc tịch Việt Nam Bao gồm người nước ngo i cư trú ở Việt Nam(c ng dân nước ngoài thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam) v người không quốc tịch (người không có quốc tịch Việt Nam v cũng kh ng có quốc tịch nước ngo i)”

Chúng tôi cho rằng khái niệm người nước ngoài hiểu theo nghĩa rộng như trên là cách hiểu chuẩn xác hơn cả Phù hợp với quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam 2014 Bởi điều đó đảm bảo sự công bằng nhất định đối với công dân nước ngoài và người không có quốc tịch, mặt khác điều này cũng phù hợp với nguyên tắc tôn trọng quyền con người theo luật Quốc tế hiện đại là “không nên phân biệt đối xử vì lý do dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, giới tính,

Trang 35

ngôn ngữ, chính kiến, trình độ văn hóa” [66, tr.278]; đồng thời phù hợp với xu thế nhân đạo của đời sống quốc tế

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, chúng tôi đề cập đến khái niệm

“người nước ngoài” theo quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam 2014 và người nước ngoài có thể là cá nhân nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài

Điều 48 Hiến pháp 2013 quy định:“Người nước ngo i cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam” [49] Người nước ngoài cũng là

một chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, được thể hiện trên hai thuộc tính cơ bản, đó là năng lực pháp luật và năng lực hành vi Địa vị pháp l người nước ngoài được quy định trong Hiến pháp, Luật, các văn bản quy phạm pháp luật và Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết Tổng hợp và nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của người nước ngoài, có thể xác định quy chế pháp l đối với người nước ngoài ở Việt Nam như sau:

Quy chế pháp lý dân sự đối với người nước ngoài ở Việt Nam: bao gồm các quy

định của pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của họ trong việc cư trú; hành nghề; học tập; sở hữu và thừa kế; kinh doanh, thương mại; các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình; quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự

Quy chế pháp lý hình sự đối với người nước ngo i: bao gồm các quy định về

TNHS đối với người nước ngoài nếu họ thực hiện hành vi phạm tội ở Việt Nam Điều 5 BLHS 1999 đã quy định về vấn đề này và hiện nay, Điều 5 BLHS 2015 quy định: “Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của

họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao” [54]

Điều 3, Khoản 2 BLTTHS 2015 quy định: “Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 36

được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại” [56]

Quy định về việc đi lại của người nước ngo i trên lãnh thổ Việt Nam v trục xuất người nước ngo i ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, cụ thể: Điều 44 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 quy định: “Người đang

cư trú hợp pháp tại Việt Nam được đi lại trên lãnh thổ Việt Nam, được kết hợp du lịch, thăm người thân, chữa bệnh không phải xin phép; trường hợp vào khu vực cấm hoặc khu vực hạn chế đi lại, cư trú thực hiện theo quy định của pháp luật” [52, tr.26] Điều

32 BLHS 1999 và Điều 37 BLHS 2015 quy định: “Trục xuất là buộc người nước ngoài

bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [54]

Có thể nói Quốc tịch và địa vị pháp l là những cơ sở rất quan trọng để xem xét,

xử l các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là việc truy cứu TNHS đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam Hiện nay, nhà nước ta tuy chưa có một đạo luật riêng quy định về địa vị pháp l người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam nhưng đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về vấn đề này Nhìn một cách tổng thể thì những quy định đó còn nằm rải rác ở các văn bản khác nhau nên chưa đầy

đủ, đôi khi còn trùng lặp, tạo nên những sơ hở cho các đối tượng xấu, lợi dụng hoạt động phạm tội xâm hại đến an ninh trật tự của nước ta Vấn đề đặt ra là phải từng bước hoàn thiện pháp luật, quy định rõ hơn nữa địa vị pháp l của người nước ngoài ở Việt Nam phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, một mặt ngăn chặn, phòng ngừa, xử l các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, góp phần bảo vệ ANQG và TTATXH; mặt khác góp phần bảo vệ người nước ngoài, đảm bảo phương châm đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay

2.1.1.2 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt t i sản do người nước ngo i thực hiện

Tội phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 BLHS 1999 được hiểu như sau:

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [50]

Trang 37

Khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh

tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa m theo quy định của

Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [54]

Từ những quy định trên có thể hiểu: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam là hành vi nguy hiểm cho xã hội do cá nhân người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, các quyền về tài sản của các chủ thể khác và theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam sẽ bị xử lý hình sự”

Như vậy, có thể thấy giữa khái niệm chung về Tội phạm và khái niệm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” khác nhau ở hai yếu tố cơ bản là “chủ thể” và “địa điểm” phạm tội Vì vậy, chúng tôi cho rằng dưới

góc độ dấu hiệu pháp lý thì “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam” sẽ chỉ khác so với “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” ở hai đặc điểm căn bản là 1) chủ thể gồm: người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài và 2) địa điểm – lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, cần phải nhận thức thống nhất rằng tội lừa đảo CĐTS do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam cũng mang đầy đủ những đặc điểm pháp lý của cấu thành tội lừa đảo CĐTS như: về khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan của tội lừa đảo CĐTS được quy định tại Điều 139 BLHS 1999, Điều 174 BLHS 2015, cụ thể như sau:

- Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện:

Tội phạm lừa đảo CĐTS trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản Tài sản đó thuộc quyền sở hữu của nhiều chủ thể khác nhau (có thể của Nhà nước, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài) Tài sản đó có thể đang nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu hoặc của bất cứ người nào khác được chủ sở hữu giao cho quản lý tài sản Việc xác định chủ sở hữu của tài sản bị chiếm đoạt

Trang 38

không có nghĩa nhiều về mặt định tội danh nhưng trong một số trường hợp lại có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt

- Những dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt t i sản do người nước ngo i thực hiện: Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo CĐTS, nên

người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi

cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản l tài sản, không có thủ đoạn thuộc

về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi, cũng chính vì thế mà về l luận khi phân tích các dấu hiệu khách quan cấu thành tội lừa đảo CĐTS cần phải xác định, tội lừa đảo CĐTS gồm có hai hành vi khách quan là “hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt”

Dấu hiệu lừa dối (gian dối): Được thể hiện qua các thủ đoạn như bằng lời nói,

cử chỉ, hành động, thông qua giấy tờ, giả danh tổ chức hoặc thông qua hợp đồng làm cho người quản l tài sản tin lầm, tưởng những điều giả dối là sự thật nên đã trao tài sản cho họ Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000đ trở lên Nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đ, thì hành vi lừa dối ấy phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về chính hành vi đó hoặc đã bị kết án về các tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích mà con vi phạm

Dấu hiệu chiếm đoạt: Thể hiện thông qua việc dịch chuyển tài sản đang do

người khác quản l thành tài sản của mình bằng thủ đoạn (hành vi) lừa dối Tất nhiên việc tài sản dịch chuyển ở đây là dịch chuyển về mặt pháp l chứ không phải dịch chuyển vật l Một trong các quyền chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt của chủ sở hữu

bị mất (bị tước đoạt trái muốn) coi như tài sản đã dịch chuyển Việc thực hiện hành vi

chiếm đoạt này có thể là: Thứ nhất, tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của

chủ sở hữu hoặc người quản l tài sản, thì hành vi chiếm đoạt là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để nhận được tài sản từ người bị hại (người bị lừa dối) Do bị dùng thủ đoạn gian dối nên người bị hại tin tưởng vào người phạm tội nên đã giao tài sản cho người

phạm tội, chính vì vậy mà đã bị chiếm đoạt được tài sản; Thứ hai, tài sản bị chiếm đoạt

đang do người phạm tội chiếm hữu tạm thời (đang cầm, đang giữ do người bị hại giao tài sản để xem, để tìm hiểu giá trị trong trường hợp mua bán tài sản đó) thì hành vi chiếm đoạt tài sản thể hiện ở hành vi gian dối để được quản l tuyệt đối tài sản (để

Trang 39

được trao tài sản), tức là đã thực hiện thành công hành vi chiếm đoạt được tài sản của người khác

- Mặt chủ quan của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện: Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, động cơ vụ lợi, mục đích

CĐTS Người phạm tội biết rõ mình có hành vi gian dối với mục đích CĐTS là hành vi nguy hiểm cho xã hội và mong muốn hành vi gian dối đó đạt được mục đích là CĐTS

- Chủ thể của tội phạm: Riêng đối với dấu hiệu chủ thể của tội phạm lừa đảo

CĐTS do người nước ngoài thực hiện, chúng tôi cho rằng cần phải xác định chính

xác:“Chủ thể là bất kỳ người nước ngo i n o có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của luật Hình sự Việt Nam”

- Hình phạt: Điều 139 BLHS 1999 và Điều 174 BLHS 2015 đều quy định bốn

(4) khung hình phạt đối với người phạm tội, với mức hình phạt thấp nhất là 6 tháng tù

và cao nhất là mức tù chung thân Ngoài ra khoản 5 của Điều 139 còn quy định hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định đối với người phạm tội lừa đảo CĐTS

2.1.2 Nhận thức về phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện

2.1.2.1 Khái niệm, mục đích, đặc điểm của phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện

Dưới góc độ ngôn ngữ, phòng ngừa tội phạm có nghĩa là ngăn ngừa, ngăn chặn

và cản trở tội phạm, không để tội phạm xảy ra, có nguyên gốc từ tiếng La-tinh là

"Prevent" [60, tr.246] Phòng ngừa đấu tranh với tội phạm mà thực chất là đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm là yêu cầu tất yếu khách quan của mọi quốc gia Phòng ngừa tội phạm là vấn đề lý luận, thực tiễn rất phức tạp được nhiều nhà khoa học

và hoạt động thực tiễn của nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu và tổng kết; được nhiều quốc gia coi là một trong những chiến lược mang lại lợi ích và hiệu quả nhất cho sự ổn định và phát triển Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để cuộc đấu tranh này đạt hiệu quả cao nhất trong việc ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi tội phạm khỏi đời sống xã hội

Tội phạm học xã hội chủ nghĩa (Tội phạm học Mác-xít) trên cơ sở phương pháp biện chứng, tiếp cận hiện tượng tội phạm và phòng ngừa tội phạm theo hướng đi từ bản chất xã hội của con người để tìm ra nguyên nhân của tội phạm Khác với quan niệm của các nhà tội phạm học Tư sản, C.Mác và Ph.Ăng-ghen xem xét con người là bộ

Trang 40

phận không tách rời khỏi xã hội, con người có tác động đối với thiên nhiên, đối với xã hội, đối với chính người khác và chịu sự tác động ngược lại của các yếu tố này C.Mác

và Ph.Ăng-ghen cho rằng: phòng ngừa tội phạm là phương hướng cơ bản nhất của hoạt động đấu tranh với tội phạm Pháp luật không bao giờ lại có thể cao hơn tình trạng kinh

tế và sự phát triển văn hóa xã hội do chế độ kinh tế đó tạo nên Để quy định một hành

vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm còn phải tính đến các yếu tố khác, mà trước hết là yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và ý thức pháp luật Một khi ý thức pháp luật của số đông chưa thừa nhận một hành vi nào đó phải bị trừng trị bằng pháp luật hình sự thì chưa thể quy định hành vi đó là tội phạm Cùng với biện pháp pháp luật thì trước hết hãy phòng ngừa và hãy dùng đến các biện pháp phòng ngừa xã hội khác

Ở Liên Xô trước đây, các nhà tội phạm học cho rằng để phòng ngừa tội phạm trước hết là phải xác định được nguồn gốc tội phạm, các điều kiện phát sinh, tồn tại tội phạm, V.I.Lê-nin đã chỉ ra khâu quyết định của việc phòng ngừa tội phạm và các vi phạm khác là phải xác định được nguyên nhân của các vi phạm đó Người còn cho rằng: "Nguyên nhân gốc rễ phát sinh ra tội phạm trong xã hội Tư bản, đó là chế độ người bóc lột người, sự bần cùng hóa, nạn thất nghiệp" Từ đó, V.I.Lê-nin đã coi việc phòng ngừa tội phạm là sự điều chỉnh xã hội đặc biệt và đồng thời là một bộ phận cần thiết của hệ thống biện pháp nhằm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Đánh giá vai trò đặc biệt quan trọng của phòng ngừa tội phạm, các nhà tội phạm học của Liên

Xô trước đây đã dùng đến nhiều danh từ khác nhau để miêu tả như là: "ngăn chặn tội phạm", "đề phòng tội phạm", "giáo dục ngăn ngừa tội phạm", "chặn đứng tội phạm"

Ở nước ta, phòng ngừa tội phạm cũng là vấn đề sớm được nghiên cứu trong khoa học pháp l chuyên ngành theo phương châm lấy giáo dục thuyết phục làm chính, tăng cường các hoạt động phòng ngừa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu phương châm rất quan trọng về phòng ngừa tội phạm: lầm lỗi có việc to việc nhỏ; nếu nhất loạt không xử phạt

tù thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại; vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng Phương châm này, hiện nay, đã được ghi nhận thành các nguyên tắc của Hiến pháp, Bộ luật Hình sự và trong Khoa học Điều tra, khoa học phòng ngừa tội phạm… của Nhà nước ta

Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, những vấn đề lý luận, thực tiễn về phòng ngừa tội phạm nói chung và từng loại tội phạm cụ thể nói riêng đã thu hút được

Ngày đăng: 27/09/2016, 17:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  TÊN BẢNG  TRANG - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
ng TÊN BẢNG TRANG (Trang 5)
Bảng số 3.1: Thống kê tình hình khách quốc tế đến Việt Nam từ nă  2005 - 2014 - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.1: Thống kê tình hình khách quốc tế đến Việt Nam từ nă 2005 - 2014 (Trang 168)
Bảng số 3.4: Thống kê tình hình khách quốc tế đến Việt Nam theo thị trường từ nă  2009 - 2014 (Nghìn người) - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.4: Thống kê tình hình khách quốc tế đến Việt Nam theo thị trường từ nă 2009 - 2014 (Nghìn người) (Trang 171)
Bảng số 3.5: Số v  phạm pháp hình sự CQĐTđã ph t hiện, khởi tố, điều tra, v  VKSND đã truy tố - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.5: Số v phạm pháp hình sự CQĐTđã ph t hiện, khởi tố, điều tra, v VKSND đã truy tố (Trang 172)
Bảng số 3.6: Thống kê tổng h p tình hình các loại tội phạm theo các nhóm tội danh - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.6: Thống kê tổng h p tình hình các loại tội phạm theo các nhóm tội danh (Trang 173)
Bảng số 3.7:  Tổng số v  phạm tội do người nước ngoài thực hiện và số v  việc có dấu hiệu lừa đảo chiế  đoạt tài sản do người - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.7: Tổng số v phạm tội do người nước ngoài thực hiện và số v việc có dấu hiệu lừa đảo chiế đoạt tài sản do người (Trang 174)
Bảng số 3.8: Thống kê tỷ lệ phần tră  tội lừa đảo chiế  đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện tại Việt Namtrên tổng số v  việc  phạm tội do người người nước ngoài thực hiện trong 10 nă  2005 - 2014 - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.8: Thống kê tỷ lệ phần tră tội lừa đảo chiế đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện tại Việt Namtrên tổng số v việc phạm tội do người người nước ngoài thực hiện trong 10 nă 2005 - 2014 (Trang 175)
Bảng số 3.10: Tổng h p số liệu về các tội phạm c  thể do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam  từ 2005 đến 2014 - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.10: Tổng h p số liệu về các tội phạm c thể do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam từ 2005 đến 2014 (Trang 177)
Bảng  số 3.11: Quốc tịch của c c đối tư ng người nước phạm tội lừa đảo chiế  đoạt tài sản tại Việt Nam - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
ng số 3.11: Quốc tịch của c c đối tư ng người nước phạm tội lừa đảo chiế đoạt tài sản tại Việt Nam (Trang 180)
Bảng số 3.12: Tình hình công tác khám phá, điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiế  đoạt tài sản - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.12: Tình hình công tác khám phá, điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiế đoạt tài sản (Trang 182)
Bảng số 3.14 : Thống kê điển hìnhtừng loại tội v  đối tư ng người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong hai nă  2013 – 2014 - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.14 : Thống kê điển hìnhtừng loại tội v đối tư ng người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam trong hai nă 2013 – 2014 (Trang 184)
Bảng số 3.17: Thống kê quốc tịch và giới tính của đối tư ng người nước ngoài có hành vilừa đảo chiế  đoạt tài sản tại Việt Nam - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.17: Thống kê quốc tịch và giới tính của đối tư ng người nước ngoài có hành vilừa đảo chiế đoạt tài sản tại Việt Nam (Trang 188)
Bảng số 3.18: Thống kê các v  lừa đảo chiế  đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện   tại c c địa bàn trọng điể , điển hình và hình thức xử lý, nạn nhân, số v   n có đồng phạm - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.18: Thống kê các v lừa đảo chiế đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện tại c c địa bàn trọng điể , điển hình và hình thức xử lý, nạn nhân, số v n có đồng phạm (Trang 190)
Bảng số 3.19: Thống kê đặc điể  nhân thân người nước ngoài phạm tội lừa đảo chiế  đoạt tài sản tại Việt Nam - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.19: Thống kê đặc điể nhân thân người nước ngoài phạm tội lừa đảo chiế đoạt tài sản tại Việt Nam (Trang 192)
Bảng số 3.20: Thống kê tội phạm lừa đảo tại một số nước trên thế giới - Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam
Bảng s ố 3.20: Thống kê tội phạm lừa đảo tại một số nước trên thế giới (Trang 194)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w