1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực ở việt nam hiện nay

93 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 777,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ chiếm một vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội và nhiề

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MAI THỊ DIỆU THÚY

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hồi

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thị Hồi đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện bản luận văn này

Tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn đến các thầy cô giáo giảng dạy tại trường Đại học Luật Hà Nội đã truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu suốt khóa học tôi đã theo học

Cuối cùng, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan hữu quan, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bản luận vă này

Mai Thị Diệu Thúy

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hồi

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này, tác giả có tham khảo một số bài viết, chuyên đề, các tài liệu của các tác giả khác, các nguồn trích dẫn, tham khảo đã được chỉ ra trong danh mục tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên

Trang 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO VỆ

QUYỀN PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM

5

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ 5 1.2 Pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam 8 1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ 8 1.2.2 Quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ 9 1.2.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trong

một số lĩnh vực

15

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ

QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG

MỘT SỐ LĨNH VỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Do những đặc trưng về thể chất và giới tính nên dù chiếm hơn một phần hai nhân loại, phụ nữ vẫn thuộc nhóm người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội và cần được quan tâm, bảo vệ một cách đặc biệt Tuy nhiên, trong một thời gian dài của lịch sử, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phải lúc nào người phụ nữ cũng được hưởng một cuộc sống tươi đẹp, xứng đáng với những hy sinh, vất vả

mà họ phải gánh chịu, họ thường bị phân biệt đối xử, bị ngược đãi mà không nhận được sự quan tâm, bảo vệ thích đáng của xã hội Những tàn dư của xã hội

cũ như tư tưởng đề cao chế độ gia tộc phụ quyền, “trọng nam khinh nữ” đã để lại những dấu ấn nặng nề trong xã hội và gây ra nhiều thiệt thòi, bất công cho đời sống của người phụ nữ Vì vậy, vấn đềỡ bảo vệ quyền của phụ nữ, tạo điều kiện cho họ phát triển tốt nhất khả năng của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, luôn là vấn đề mang tính toàn cầu, thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng quốc tế hiện nay

Việt Nam đánh giá cao những cống hiến của người phụ nữ đối với những thắng lợi chung của dân tộc và sự nghiệp xây dựng đất nước và nhận thức sâu sắc rằng: họ hoàn toàn xứng đáng được hưởng quyền bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực Vì thế, Nhà nước Việt Nam luôn coi việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội, của mỗi gia đình

và của từng công dân

Trong hơn năm mươi năm qua, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, bảo vệ lợi ích của phụ nữ là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện trong các chính sách pháp luật mang tính nhất quán Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào ngày 29/07/1980, và nó có hiệu lực chính thức ở Việt Nam vào ngày 09/03/1982 Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước còn thông qua nhiều chủ trương, chính sách để tiến hành “nội luật hoá” các quy định của Công ước một cách mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu nhất định

Cho đến nay, pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ chiếm một vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội và nhiều ngành luật khác nhau: luật Hiến pháp, luật Hôn nhân và gia đình, luật Lao động, luật Hình sự, luật Tố tụng hình sự và

đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Đặc biệt với sự ra đời các văn bản pháp luật mới như: Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Lao động năm 2002, Luật

Trang 6

Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2005, các quy định của pháp luật có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng, tăng thêm quyền cho phụ nữ, đã thúc đẩy nhanh tiến trình bình đẳng giới, góp phần giải phóng người phụ nữ ra khỏi những định kiến lạc hậu

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán lạc hậu và những tàn dư của ý thức pháp luật cũợ vẫn còn phổ biến trong xã hội Việt Nam nên việc thực hiện, bảo vệ quyền của phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn Thêm vào đó, trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã có nhiều tác động tiêu cực đến đời sống xã hội Phụ nữ và đặc biệt là những em gái mới lớn rất dễ trở thành nạn nhân gánh chịu hậu quả do mặt trái của nền kinh tế thị trường gây ra Trong khi

đó, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ nói riêng đang trong quá trình hoàn thiện, đã làm cho việc thực thi các quy định pháp luật gặp phải nhiều vướng mắc, thiếu sự hướng dẫn, giải thích và một số quy định vẫn chưa có khả năng đi vào cuộc sống

Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này để giảm bớt và đi đến xoá bỏ

sự bất bình đẳng giới ở nước ta hiện nay là một việc làm cần thiết có ý nghĩa cả

về mặt lý luận lẫn thực tiễn, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu và đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì mới

Với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc trên, tôi mạnh dạn nhận đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến thời điểm hiện nay, vấn đề nghiên cứu pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ đã được các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đề cập đến ở góc độ chuyên sâu trong từng lĩnh vực cụ thể của từng ngành luật như: đề tài của tác giả Bùi Thị Mừng - nghiên cứu vấn đề “Bảo vệ quyền phụ nữ theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”, hay tác giả Dương thị Ngọc Lan với vấn đề

“Hoàn thiện pháp luật về lao động nữ ở Việt Nam hiện nay” và các bài viết trên tạp chí Luật học, số đặc san “Phụ nữ “ tháng 3 năm 2005 và “Pháp luật Việt Nam với việc thực hiện Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” số tháng 3 năm 2006 Tuy nhiên, hầu như các tác giả chưa tiếp cận vấn đề này dưới góc độ lý luận chung về pháp luật Tôi không có tham vọng đề xuất những quan điểm mới về pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ, mà chỉ hy vọng đóng

Trang 7

góp những đánh giá của mình về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Khái quát hệ thống pháp luật thực định về bảo vệ quyền của phụ nữ ở nước

ta trong giai đoạn hiện nay

- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật đối với vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực pháp luật cụ thể

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ

4 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đêỡ tài nhằm các mục đích sau:

- Làm sáng tỏ nội dung một số quy định hiện hành về bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam

- Chỉ ra những mâu thuẫn, những điểm bất hợp lý và những lỗ hổng trong các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là: phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, hệ thống quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta về con người và sự phát triển con người

Trên cơ sở phương pháp luận đã nêu, các phương pháp nghiên cứu cụ thể

được sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp phân tích - đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp xã hội học

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

6.1 Về lý luận:

- Làm sáng tỏ những điểm hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực

Trang 8

- Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của một số chế định pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực

6.2 Về thực tiễn:

- Phân tích những nguyên nhân cản trở việc thực hiện các chế định pháp luật

về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực trên thực tế

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

7 Cơ cấu của luận văn:

Căn cứ vào mục đích, phạm vi nghiên cứu của luận văn, luận văn được trình bày thành 3 phần chính trong 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và pháp lý của việc bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

sự phân biệt thần nam và thần nữ Chẳng hạn tục thờ thần lúa, thờ bà Liễu Hạnh Truyền thống đó còn được biểu hiện ở khí phách anh hùng chống giặc ngoại xâm của bà Trưng, bà Triệu, của Bùi Thị Xuân, hay bà Nguyễn Thị Định và biết bao tấm gương hi sinh anh dũng khác Bên cạnh đó, phải kể đến vai trò quản lý quốc gia của ỷ Lan phu nhân, sự thức thời và dũng cảm của Thái hậu Dương Vân Nga,

sự đảm lược của Linh từ Quốc mẫu và biết bao người phụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Thế nhưng, dưới chế độ phong kiến người phụ nữ bị trói buộc trong môi trường xã hội chịu nhiều ảnh hưởng của triết lý Nho giáo “tam tòng tứ đức”, “an phận thủ thường”, họ phải chịu sự thiệt thòi, bất công

Chính vì vậy, giải phóng phụ nữ, tạo mọi điều kiện để người phụ nữ phát huy tài năng, sức lực của mình vào sự phát triển của đất nước đã được Đảng và Nhà nước ta đặt lên hàng đầu và gắn nó với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Điều này được thể hiện rõ trong Luận cương chính trị năm 1930 của Tổng Bí thư Trần Phú: “giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ, ba nhiệm vụ đó được tiến hành cùng lúc và hỗ trợ cho nhau trong cuộc

đấu tranh chung” Chính quan điểm đó là nền tảng vững chắc giải phóng năng lực cho phụ nữ, qua đó giúp phụ nữ ngày càng củng cố được vị thế của mình trong gia đình và ngoài xã hội

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đêỡ giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ như:

+ Chỉ thị 44/TW ngày 7/6/1984 của Ban bí thư Trung ương Đảng về ”Một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ” Chỉ thị đưa ra những yêu cầu đòi hỏi các cấp, các ngành phải thay đổi quan điểm nhận thức đối với cán bộ nữ để có

Trang 10

phương hướng tăng cường cán bộ nữ, tích cực đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện cho cán bộ nữ hoàn thành nhiệm vụ

+ Nghị quyết 176/HĐBT ngày 25/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng đề ra những chủ trương lớn về việc phát huy vai trò và năng lực của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ

Đại hội VI tháng 12 năm 1986 cho đến nay đã đem lại nguồn sinh khí mới cho

đất nước Cùng với sự phát triển toàn diện của đất nước, Đảng và Nhà nước vẫn thường xuyên quan tâm đến công tác phụ nữ Cụ thể:

+ Nghị quyết 04 của Bộ chính trị - Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 12/07/1993 đã khẳng định phải giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước Bồi dưỡng lực lượng phụ nữ phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên và rất quan trọng của Đảng trong các thời kì cách mạng Nghị quyết cũng chỉ rõ, một trong những công tác lớn quan trọng của Đảng ta hiện nay

là giải quyết việc làm chăm lo đời sống, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo

vệ sức khoẻ và quyền lợi của phụ nữ; Nhà nước phải xây dựng và sửa đổi hoàn chỉnh pháp luật, các chính sách xã hội có liên quan đến phụ nữ và lao động nữ Khi xây dựng pháp luật, chính sách cần đặc biệt quan tâm đến tính chất đặc thù của lao động nữ, phụ nữ phải thực hiện cả hai chức năng: lao động xã hội và lao

động sinh đẻ, nuôi dạy con cái

+ Để thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị, Ban Bí thư trung ương Đảng đã ban hành một số chỉ thị như: Chỉ thị 28CT/TW ngày 29/09/1993 nhằm phổ biến Nghị quyết, xây dựng kế hoạnh và chương trình thực hiện Nghị quyết và Chỉ thị 37/CT/TW ngày 16/05/1994 về “Một số vấn đề công tác cán bộ trong tình hình mới” đã yêu cầu các cấp, các ngành tiếp tục nâng cao nhận thức quan điểm của

Đảng về công tác cán bộ nữ, có qui hoạch tạo nguồn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tài năng nữ phát triển Xuất phát từ quan điểm đó, vấn đề quyền lợi của người phụ nữ đã được thể chế hoá trong các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho mọi hoạt động của phụ nữ trên mọi lĩnh vực Trên cơ sở đó, quyền lợi của người phụ nữ cũng được đảm bảo thông qua những quy định trong từng lĩnh vực pháp luật như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Hình sự, Luật Lao động, Luật Dân sự

Trang 11

Ngoài ra, còn có hệ thống những chính sách xã hội bảo đảm cho phụ nữ có những

điều kiện, môi trường hoạt động tốt hơn khi tham gia vào các quan hệ xã hội nhằm khắc phục sự bất bình đẳng, sự thiếu công bằng và sự phát triển mất cân

đối giữa phụ nữ thuộc các nhóm xã hội, nghề nghiệp, dân tộc và các vùng khác nhau

Mặc dù việc thực hiện bình đẳng nam nữ đã có những tiến bộ lớn trong hơn

50 năm qua, song trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện nay, việc tạo ra các cơ hội và điều kiện để hoà nhập giới về nhiều mặt nhất là về việc làm, thu nhập, giáo dục và đào tạo, tham gia vào các quan hệ xã hội cũng gặp phải không ít thách thức mới cần phải giải quyết nhằm thức đẩy nhanh tiến trình bình đẳng giới Chính vì vậy, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta lại khẳng định quan điểm của mình về việc chăm lo và bảo

vệ quyền phụ nữ: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình

đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện

để người phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” {1, tr 36} Điều này sẽ góp phần quan trọng vào việc hạn chế mặt trái của nền kinh tế thị trường với nhiều vấn đề xã hội nhức nhối trong một số lĩnh vực hiện nay: quản lý của nhà nước còn yếu, việc thi hành pháp luật và kỷ cương chưa nghiêm, tệ nạn mại dâm, ma tuý, buôn bán phụ nữ còn nhiều

+ Bên cạnh đó, để thực hiện các cam kết về bình đẳng giới, ngày 21/01/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt “Chiến lược quốc gia vì sự tiến

bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2010” với mục tiêu: lồng ghép những giải pháp nhằm tăng cường bình đẳng giới trong các chính sách, chương trình, dự án, kết hợp hài hoà các mục tiêu bình đẳng giới với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành

Đồng thời, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tham mưu cho Bộ chính trị xây dựng nghị quyết về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác vận

động phụ nữ và cán bộ nữ thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá” nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ làm nòng cốt để thúc đẩy phòng trào phụ nữ phát triển, tạo điều kiện cho phụ nữ khẳng định, phát huy khả năng của mình trong mọi lĩnh vực, đảm bảo tăng về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Trang 12

Ngày nay, nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, việc quán triệt và vận dụng

sáng tạo chủ trương, đường lối chiến lược mà Đảng và Nhà nước ta thực sự là một yêu cầu cấp thiết để đoàn kết thống nhất phụ nữ cả nước với tinh thần năng động sáng tạo và ý chí vượt lên, góp phần thiết thực và có hiệu quả vào việc thực hiện mục tiêu “bình đẳng, phát triển và hoà bình” cho phụ nữ trong thế kỷ XXI 1.2 Pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ

Bảo vệ quyền con người luôn là mục tiêu chính của nhiều nhà nước trên thế giới trong đó có Nhà nước ta Luật quốc tế hiện đại cũng xác định bảo vệ quyền con người là một nội dung chủ yếu của đối tượng điều chỉnh Bởi vì quyền con người không phải là nhân tố đầu tiên có trước nhà nước mà phải bằng pháp luật thông qua việc được Nhà nước ghi nhận và thiết định mới thành hiện thực Chính vì lẽ đó, quyền con người một mặt mang tính chất tự nhiên là quyền mà con người vốn có, không phải ai ban tặng cho họ nhưng mặt khác khi các “quyền tự nhiên” ấy được pháp luật thừa nhận thì nó lại trở thành quyền công dân

Nhìn chung, phụ nữ được coi là nhóm xã hội đặc biệt, do đặc trưng về thể chất và gánh nặng đa vai trò về giới của họ Phụ nữ là lực lượng chiếm hơn nửa thế giới nên có vị trí quan trọng trong sự điều chỉnh của Luật quốc tế về quyền con người Chính vì vậy, có nhiều Công ước quốc tế được ban hành với mục tiêu bảo vệ quyền con người của phụ nữ, đảm bảo cho họ được đối xử bình đẳng với nam giới

Việt Nam luôn xác định con người là trung tâm của xã hội, vừa là chủ thể vừa là khách thể của pháp luật Vì thế, hệ thống pháp luật nước ta ngay từ khi mới hình thành đã chú trọng đến việc ghi nhận quyền con người nói chung và quyền con người của phụ nữ nói riêng Với xu hướng một mặt ghi nhận và đảm bảo các quyền bình đẳng của phụ nữ, mặt khác, pháp luật cũng quy định cho phụ nữ những quyền mang tính chất ưu tiên Từ đó, tạo nên một hệ thống qui phạm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật Việt Nam

Hiện nay, trong khoa học pháp lí Việt Nam nói chung và khoa học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật nói riêng chưa đưa ra một khái niệm thống nhất

về pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ Tuy nhiên, xét một cách khái quát nhất có thể

đưa ra một khái niệm chung của pháp luật về bảo vệ quyền phụ nữ như sau:

“Pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ bao gồm tổng thể các qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong các lĩnh vực khác nhau

Trang 13

của đời sống xã hội, có tính đến sự ưu tiên dành cho nữ giới và được Nhà nước

đóng vai trò quyết định khả năng thực hiện các quyền đó trên thực tế bởi tính

được đảm bảo bằng nhà nước

1.2.2 Qui định của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của phụ nữ

Có thể nói, để xây dựng một xã hội hoà bình, ổn định, dân chủ thì yếu tố bình đẳng được coi là nền tảng, là thước đo giá trị phẩm giá và quyền con người trong xã hội Tuy nhiên, từ xưa đến nay, trong xã hội luôn tồn tại ba hình thức bất bình đẳng chủ yếu mà Mác và ăng ghen từng xác định, đó là bất bình đẳng về chủng tộc, giai cấp và giới

Phụ nữ chiếm hơn một nửa nhân loại nhưng chưa được đối xử một cách xứng đáng Chính vì vậy, thực hiện bình đẳng giới chính là vấn đề cốt lõi trong việc bảo vệ quyền con người cho phụ nữ Để giải quyết vấn đề này, từ đầu thế kỉ

XX đến nay, có rất nhiều các văn bản qui phạm pháp luật được ban hành có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội đã tác động mạnh mẽ và hiệu quả đến sự bình đẳng giữa nam và nữ trên thực tế

Vào đầu thế kỉ XX, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành một số công

ước có ý nghĩa bảo vệ người phụ nữ Tuy nhiên, những công ước này chỉ giới hạn trên lĩnh vực lao động, việc làm và trợ cấp xã hội chứ chưa đề cập đến khái niệm

cụ thể là “quyền“ của phụ nữ Vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ chỉ nhận được mối quan tâm đặc biệt và có những chuyển biến mạnh mẽ kể từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập Trong lời nói đầu của Hiến chương Liên Hợp Quốc đã xác

định mục tiêu của tổ chức này là: “ khẳng định lòng tin tưởng ở những quyền cơ bản của con người ở phẩm giá và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ ”{9,tr 5}

Để thực hiện mục tiêu này, Liên Hợp Quốc đã tiến hành thành lập Uỷ ban về

địa vị phụ nữ trực thuộc Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên Hợp Quốc vào năm

1946 với chức năng nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị, soạn thảo văn kiện quốc

tế

Trang 14

nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ

Năm 1949, Liên hợp quốc đã ban hành Công ước về trấn áp việc buôn người

và bóc lột mại dâm người khác Công ước này có nội dung nhằm hạn chế và xoá

bỏ một trong những hình thức xâm hại phụ nữ tồi tệ nhất, đó là buôn bán và bóc lột tình dục phụ nữ

Năm 1952, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ Công ước này qui định, phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnh vực, có quyền bầu cử và ứng cử, quyền được nhận vào làm việc trong các cơ quan nhà nước

Năm 1957, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua công ước thứ ba, đó là Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn Công ước này qui định, phụ nữ không thể bị thay đổi quốc tịch một cách đương nhiên do kết hôn hay do huỷ bỏ hôn nhân hoặc do người chồng thay đổi quốc tịch

Năm 1962, Điều ước quốc tế thứ tư nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ

được ban hành, đó là Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối thiểu khi kết hôn và kết hôn tự nguyện Công ước này khẳng định người phụ nữ có quyền lựa chọn người phối ngẫu, phụ nữ được bảo vệ chống lại các tệ nạn tảo hôn và cưỡng ép kết hôn

Năm 1967, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ Nội dung văn kiện tuyên bố phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trước pháp luật, bao gồm cả quyền sở hữu về tài sản Tuyên ngôn cũng khẳng định nghĩa vụ của các bậc cha mẹ trong việc bảo

đảm sự bình đẳng cho con cái, cấm tảo hôn, đính hôn với trẻ em

Tuy nhiên, trong thực tiễn, ở nhiều quốc gia trên thế giới bất chấp sự tồn tại của các văn kiện trên, tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn khá phổ biến và

được bảo vệ bởi những định kiến mang tính chất rập khuôn trong các tập tục, trong văn hoá tín ngưỡng Điều đó đã gây trở ngại lớn cho phụ nữ trong khi tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá của đất nước cũng như trong các quan

hệ gia đình Để khắc phục những tình trạng trên, cộng đồng quốc tế nhận thấy cần thiết phải có công ước quốc tế chuyên biệt về chống phân biệt đối xử với phụ nữ, nhằm trả lại những giá trị đích thực cho những cống hiến của phụ nữ đối với gia đình và xã hội Đồng thời, góp phần phát triển và hoàn thiện khung pháp luật quốc tế để từ đó có cơ sở cho việc bảo đảm và hiện thực hoá quyền bình đẳng của phụ nữ ở từng quốc gia

Với những lý do đó, Công ước về xoá bỏ tất cả những hình thức phân biệt

đối

Trang 15

xử với phụ nữ (CEDAW) được soạn thảo vào năm 1972 và có hiệu lực từ ngày 03/09/1981 Hiện nay, có 169 quốc gia trên thế giới tham gia Công ước Việt Nam phê chuẩn công ước này vào ngày 17/02/1982

Có thể nói, CEDAW là một Công ước đa phương phổ cập trong hệ thống các Công ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc, đề cập đến quyền con người của một nhóm xã hội nhất định, đó là phụ nữ Nội dung gồm lời mở đầu, 6 phần và 30 điều, là sự tiếp nối và hoàn chỉnh nhất các Công ước về quyền con người trước đó CEDAW không tập trung đề cập đến các quyền cụ thể của phụ nữ mà hướng vào cách thức, biện pháp nhằm loại trừ sự phân biệt đối xử với phụ nữ

 Phương thức tiếp cận của CEDAW:

Theo nhiều nhà nghiên cứu thì trong lịch sử lập pháp có ba mô hình bình

đẳng nam - nữ:

Mô hình bình đẳng hình thức: theo mô hình này, tất cả các quy tắc luật pháp

đều theo một tiêu chuẩn chung, duy nhất dành cho cả nam và nữ, không tính đến

sự khác biệt về giới tính Mô hình này dẫn đến sự bất bình đẳng trên thực tế với phụ nữ bởi lẽ, với đặc trưng yếu thế và gánh nặng đa vai trò về giới, phụ nữ sẽ chịu thiệt thòi rất lớn so với nam giới trên mọi lĩnh vực, nhưng không được pháp luật bảo vệ

Mô hình bình đẳng bảo vệ: cho rằng cần tính đến sự khác biệt giới tính giữa nam và nữ, nhưng lại cho rằng sự khác biệt đó là không thể tránh khỏi của phụ nữ, vì vậy giải pháp cho vấn đề là hạn chế việc phụ nữ tham gia vào một số lĩnh vực liên quan đến những điểm yếu của họ

CEDAW không lựa chọn 2 mô hình nêu trên để tiếp cận vấn đề mà sử dụng mô hình bình đẳng bản chất Mô hình này quan tâm đến sự khác biệt về giới và giới tính giữa nam và nữ, đồng thời chú trọng đến sự tác động của phong tục tập quán coi đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng người phụ nữ chưa được

đối xử một cách bình đẳng thực sự Từ đó, Điều 4 của Công ước đòi hỏi sự bình

đẳng phải được nhìn nhận ở cấp độ cao hơn khi thiết lập mục tiêu riêng và việc tiếp cận giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới theo hướng “khắc phục” tức là không chỉ đưa ra những qui phạm pháp lý chung, áp dụng cho cả nam và nữ mà còn xây dựng những qui phạm pháp lý riêng, có tính chất ưu tiên, chỉ áp dụng cho phụ nữ nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng về cơ hội và kết quả thụ hưởng quyền con người của phụ nữ so với nam giới

Ngoài ra, một vấn đề tất yếu của quá trình hiện thực hoá địa vị bình đẳng của phụ nữ trong các hoạt động thực tế, là đổi mới tư duy nhận thức về bình đẳng

Trang 16

nam nữ trong xã hội, đã được Công ước đề cập đến tại Điều 5 và Điều 6, và coi

đó là biện pháp liên quan đến sự thay đổi mẫu hình văn hoá - xã hội, biện pháp giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội Đây được coi là mô hình tiếp cận tiến

bộ, triệt để nhất và thực chất nhất trong việc bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trên thế giới bởi nó hạn chế được tính cao bằng, bình quân của mô hình bình

đẳng hình thức, coi phụ nữ và nam giới là những chủ thể bình đẳng trong các quan hệ pháp luật Đồng thời, mô hình này cũng khắc phục được sự phân biệt về giới tính của phụ nữ dẫn đến sự hạn chế quyền của người phụ nữ trong một số lĩnh vực liên quan đến điểm yếu của họ trong mô hình bảo vệ

+ Nội dung chính của CEDAW:

So với các công ước quốc tế về nhân quyền, khái niệm “phân biệt đối xử với phụ nữ” được qui định tại Điều 1 của CEDAW được định nghĩa một cách chi tiết hơn Theo CEDAW, bất kì sự đối xử khác biệt, sự loại trừ hay hạn chế nào, được dựa trên cơ sở giới tính, mang mục đích hay mang tính chất cản trở hoặc gây thiệt hại, dẫn đến việc phụ nữ không được công nhận sự hưởng thụ hoặc thực hiện các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của mình trong bất kì lĩnh vực nào của cuộc sống sẽ bị coi là phân biệt đối xử với phụ nữ Nội hàm khái niệm phân biệt đối xử như trên không đồng nghĩa với việc cho rằng, tất cả mọi sự

đối xử khác biệt đều là biểu hiện của phân biệt đối xử với phụ nữ Các điều khoản thuộc Phần I của CEDAW đã đưa ra một cách tiếp cận vấn đề mới mà không đề cập vấn đề bất bình đẳng một cách chung chung, CEDAW chỉ ra những lĩnh vực

cụ thể có sự phân biệt đối xử nặng nề đối với phụ nữ như: hôn nhân gia đình, quan hệ dân sự, lao động việc làm, đời sống chính trị, giáo dục đào tạo Bằng cách nhìn riêng đối với đối tượng là những người bị tổn thương trong xã hội, Công ước đã tiến đến thiết lập hệ thống những mục tiêu thiết thực cho sự bình

đẳng về quyền của phụ nữ: bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về kết quả trong việc hưởng các quyền ở các lĩnh vực xã hội

 Bình đẳng trong đời sống chính trị và công cộng:

Điều 7 của Công ước qui định ràng buộc chính phủ các nước thành viên vào nghĩa vụ phải hành động để tạo lập sự bình đẳng cho phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng trên cả hai cấp độ, quốc gia và quốc tế CEDAW ghi nhận những quyền chính trị quan trọng của phụ nữ như: quyền tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, quyền bỏ phiếu kín, đặc biệt là quyền được đại diện một cách xứng đáng cho quốc gia mà mình là công dân trong các cuộc tiếp xúc quốc tế với tư cách là thành viên của các phái đoàn tại các hội nghị hoặc tổ chức quốc tế, kể cả các hoạt động của các tổ chức phi chính

Trang 17

phủ Trong hai cấp độ, đêớ đảm bảo quyền bình đẳng trong lĩnh vực chính trị, sự

đại diện bình đẳng của phụ nữ tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế là không dễ dàng, nên Điều 8 của Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải sử dụng những biện pháp đặc biệt tạm thời nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong các thiết chế mà quốc gia đó là thành viên

 Bình đẳng trong lĩnh vực quốc tịch của phụ nữ và con của họ:

Tại Điều 9 của CEDAW đề cập đến một vấn đề vốn luôn tồn tại sự phân biệt

đối xử với phụ nữ, đó là việc thiết lập tư cách công dân của phụ nữ thông qua mối quan hệ về quốc tịch Tư cách công dân có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện quyền chính trị - dân sự của mỗi cá nhân Vì thế, CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho phụ nữ các quyền giống như nam giới trong việc nhận, thay đổi hay giữ quốc tịch cá nhân và tham gia vào việc quyết định quốc tịch của con do họ sinh ra Chính các qui định này thể hiện sự tác động mạnh mẽ nhằm mục đích thay đổi vị trí bất bình đẳng mà người phụ nữ đã phải cam chịu trong một thời gian dài Điều này cũng chấm dứt trên thực tế sự lệ thuộc của phụ nữ vào nam giới trong khi thiết lập quan hệ hôn nhân gia đình và có ý nghĩa để giải phóng phụ nữ khỏi những áp lực không mong muốn trong các hoạt động thực tiễn từ phía nam giới

 Đảm bảo sự bình đẳng cho phụ nữ trong đời sống kinh tế - xã hội - văn hoá

Theo qui định tại Điều 10 của Công ước, phụ nữ có quyền được giáo dục và

đào tạo như nam giới (bao gồm bình đẳng trong hưởng cơ hội, điều kiện, chương trình, các cấp đào tạo, ngành nghề và các chế độ trợ cấp học tập), đây là cơ sở quan trọng để pháp luật và xã hội trao cho họ các quyền thực sự trên tất cả các lĩnh vực

Trong lĩnh vực, lao động, việc làm và y tế, Điều 11 và 12 của Công ước cũng

có sự tiếp cận tương tự như trong lĩnh vực giáo dục, với mục tiêu giải phóng phụ nữ và bảo vệ phụ nữ thoát khỏi các hình thức xâm hại tại nơi làm việc, nhất là nạn xâm hại tình dục và bạo hành với phụ nữ

Đối với lĩnh vực y tế thì Công ước đã có một sự liên hệ đặc biệt với hoạt

động kế hoạch hoá gia đình ở các quốc gia thành viên, theo đó cả phụ nữ và nam giới đều được tự nguyện lựa chọn việc kế hoạch hoá gia đình của họ

Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên được xác định tại Điều 13 và 14 của Công ước là cung cấp thông tin có ích, giáo dục phương pháp thích hợp và được chấp nhận trên các phương tiện y tế về kế hoạch hoá gia đình cho công dân nước

đó nói chung và công dân nữ nói riêng Như vậy, bất kì một điều luật nào tạo ra

Trang 18

sự hạn chế với phụ nữ nhất là phụ nữ nông thôn trong việc tiếp xúc với vấn đề kế hoạch hoá gia đình hoặc các điều kiện thuận lợi về mặt y tế sẽ bị coi là vi phạm Công ước

 Đảm bảo sự bình đẳng cho phụ nữ trong các vấn đề về dân sự, pháp lí Tại Điều 15 và 16 của Công ước đã chính thức xác nhận địa vị bình đẳng của phụ nữ với nam giới trước pháp luật Những qui định của pháp luật quốc gia

có sự hạn chế phụ nữ tham gia các quan hệ về sở hữu tài sản, giao dịch dân sự, hay hạn chế quyền tự do đi lại, cư trú của phụ nữ đều phải bị bãi bỏ Mặt khác, các quốc gia thành viên còn phải có nghĩa vụ tạo cơ chế và biện pháp thích hợp

để đảm bảo quyền bình đẳng và tự do cho phụ nữ trong các quan hệ kết hôn, ly hôn, tái hôn và các quan hệ gia đình khác

Bên cạnh việc ghi nhận quyền bình đẳng chung của phụ nữ về dân sự, pháp

lý, Công ước dành sự quan tâm đáng kể đối với đối tượng là phụ nữ sống ở các vùng nông thôn Điều 14 của Công ước xác nhận, phụ nữ nông thôn thuộc nhóm phụ nữ có những vấn đề cần được sự quan tâm đặc biệt, bởi họ là người phải chịu

đựng nhiều nhất gánh nặng của sự bất bình đẳng về nhiều lĩnh vực, nhất là trong việc hưởng thành quả lao động của bản thân hay lợi ích từ sự phát triển Nên Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải xây dựng các kế hoạch hành

động đảm bảo cho phụ nữ nông thôn có điều kiện tham gia vào các chương trình phát triển, giáo dục đào tạo cũng như được hưởng thụ lợi ích từ sự phát triển nông thôn Ngoài ra, CEDAW còn qui định cụ thể về cơ chế thực hiện Công ước thông qua Uỷ ban xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ và cơ chế báo cáo quốc gia Từ

Điều 17 đến Điều 22 của Công ước đề cập đến việc thành lập cũng như cơ cấu tổ chức và hoạt động của Uỷ ban xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ nhằm mục

đích giám sát việc thi hành CEDAW của các nước thành viên thông qua các báo cáo định kỳ của các quốc gia thành viên

Nói tóm lại, qua tìm hiểu nội dung của Công ước CEDAW, chúng ta có thể thấy rằng CEDAW là văn bản pháp lí quốc tế đóng vai trò quan trọng tạo đà cho

sự phát triển và hoàn thiện các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và tự do cơ bản của phụ nữ, đặc biệt là quyền bình đẳng nam nữ CEDAW đã và đang trở thành là một khuôn khổ pháp lí quốc tế thống nhất hành động giữa các quốc gia trong việc thừa nhận, bảo đảm thực hiện và liên tục phát triển quyền bình đẳng của phụ nữ trong thế giới hiện đại

Trang 19

1.2.3 Qui định của pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực

a Trong lĩnh vực chính trị

Quyền chính trị của phụ nữ là một trong những quyền quan trọng, nhạy cảm

được đề cập khá toàn diện, sâu sắc trong CEDAW Quyền chính trị của phụ nữ

được hiểu là những quyền của phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng của

đất nước Chúng bao gồm các quyền: quyền bỏ phiếu, quyền ứng cử, quyền tham gia xây dựng và thực hiện chính sách, tham gia các chức vụ của nhà nước và thực hiện chức năng công cộng ở các cấp, tham gia các tổ chức và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước Vì vậy để thực hiện được các quyền chính trị của phụ nữ, cần tiến hành các biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ và đặc biệt phải đảm bảo quyền của phụ nữ trên cơ sở sự bình đẳng với nam giới

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật mới, trong đó quyền chính trị của phụ nữ được quan tâm và được ghi nhận thành một nguyên tắc Hiến định ngay từ Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946) và tiếp tục được kế thừa và phát triển trong các bản Hiến pháp và các văn bản pháp luật về sau

Ngay trong lời nói đầu Hiến pháp năm 1946 đã xác định 3 nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp, trong đó có nguyên tắc “đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo”{10, tr7}

Trên cơ sở đó, Điều 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định ”Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Đây là bước ngoặt lớn trong sự phát triển của tư tưởng dân chủ, rút ngắn

được khoảng cách phân biệt đối xử giữa nam và nữ Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân được Hiến pháp -

đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất ghi nhận cụ thể tại Điều 6 “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá” và

Điều 7 “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, pháp luật đã thừa nhận

“đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) Qui định này đã tạo tiền đề và cơ sở cho những thay đổi lớn về địa vị của người phụ nữ trong pháp luật và trong thực tế ở Việt Nam giai đoạn sau này

Trang 20

Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền bầu cử, ứng cử của công dân nữ, Điều 18 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền” Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là

21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ ” Tại Điều 20 của Hiến pháp năm 1946 quy định: “Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra” Ngoài ra, theo qui định tại Điều 21 của Hiến pháp năm 1946 “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”

Có thể nói, Hiến pháp 1946 chứa đựng những nội dung thực sự tiến bộ dù nó

được ra đời trong bối cảnh Việt Nam vừa thoát khỏi chế độ thực dân phong kiến, trong xã hội vẫn còn tồn tại những tàn dư của xã hội cũ, những định kiến khắt khe với người phụ nữ Nếu đem so sánh với hiến pháp của một số quốc gia trên thế giới cũng như với pháp luật quốc tế, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị và ý nghĩa của Hiến pháp năm 1946 khi qui định về quyền bình đẳng của phụ nữ

Kế thừa những nội dung tiến bộ của Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm

1959 đã có những điều luật qui định trực tiếp và cụ thể hơn quyền bình đẳng nam nữ và quyền chính trị của phụ nữ Tại Điều 22 và Điều 23 Hiến pháp năm 1959 tiếp tục khẳng định ”mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử, trừ những người mất trí và những người bị toà

án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử.”

Đồng thời, Hiến pháp năm 1959 cũng bổ sung thêm những nội dung mang tính cụ thể nhằm bảo đảm tốt hơn quyền bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Cụ thể: tại Điều 24 Hiến pháp năm 1959 qui định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Cùng làm việc như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang bằng với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”

Điều 25 Hiến pháp năm 1959 quy định : “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà không phân biệt nam nữ đều có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội

Trang 21

họp, lập hội và biểu tình Nhà nước đảm bảo các điều kiện vật chất cần thiết để

công dân được hưởng các quyền đó.”

Những qui định của Hiến pháp năm 1959 đã góp phần tạo điều kiện để chị

em phụ nữ trong giai đoạn này có cơ hội tham gia vào các hoạt động lao động,

sáng tạo, để vượt ra khỏi những trói buộc của gia đình phong kiến, phá bỏ quan

niệm truyền thống cho rằng người phụ nữ chỉ lao động trong ngành nông nghiệp

như bao đời nay và khẳng định được chỗ đứng vững chắc của phụ nữ trong hoạt

động chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội

Hiến pháp năm 1980 được Quốc Hội khoá VI kỳ họp thứ bảy thông qua

ngày 18/12/1980 tiếp tục kế thừa và phát triển những qui định của Hiến pháp

năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 (tại các Điều 55, 57, 63) và thể hiện sự bảo

đảm quyền bình đẳng của phụ nữ ở mức độ cao hơn hẳn so với các Hiến pháp

trước đó Bên cạnh những qui định mang tính nguyên tắc xác định quyền của phụ

nữ với tư cách như một công dân: “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”

(Đ55 Hiến pháp năm 1980) hay qui định: về quyền bầu cử và ứng cử tại Điều 57

của Hiến pháp, nội dung của Hiến pháp năm 1980 còn chứa đựng những qui định

riêng về quyền và lợi ích của phụ nữ Chẳng hạn qui định tại Điều 63 của Hiến

pháp năm 1980 ”phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị,

kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình

độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không

ngừng phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội Nhà nước có chính sách lao động

phù hợp với điều kiện của phụ nữ Phụ nữ và nam giới việc làm như nhau thì tiền

lương ngang nhau Phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng

nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh đẻ nếu là xã

viên hợp tác xã.”

Với việc qui định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong hoạt động chăm

lo nâng cao trình độ chính trị, văn hoá của phụ nữ, nội dung của Hiến pháp

1980 đã đi vào chiều sâu của vấn đề bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ, góp phần

phát huy vai trò của người phụ nữ trong xã hội cũng như trách nhiệm của Nhà

nước trong việc xây dựng chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ

Từ năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện Nhiều chính

sách kinh tế - xã hội của Nhà nước được thi hành nhằm phát triển nền kinh tế thị

trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên quyết xoá bỏ chế độ tập trung

quan liêu bao cấp, cho phép các thành phần kinh tế phát triển, mở rộng các quan

hệ quốc tế Hiến pháp năm 1992 đã ra đời trong hoàn cảnh đó So với các Hiến

pháp trước, quyền bình đẳng trong Hiến pháp năm 1992 có nội dung toàn diện

Trang 22

hơn, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chung của xã hội Các qui định trong các bản Hiến pháp trước tiếp tục được kế thừa tại các Điều 52, Điều 53, Điều 54 của Hiến pháp năm 1992 Ngoài ra, các nội dung thể hiện chiều sâu của vấn đề quyền bình

đẳng nam và nữ, cũng như vấn đề giải phóng phụ nữ trong Hiến pháp năm 1980

về cơ bản vẫn được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận nhưng ở mức độ toàn diện hơn

Chẳng hạn, Điều 63 Hiến pháp năm 1992 qui định: “Công dân nữ và nam ngang quyền nhau về mọi mặt chính trị, văn hoá, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương

có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo qui

định của pháp luật Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội, chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận người mẹ” Nội dung Điều 63 Hiến pháp năm

1992 đã bổ sung thêm một vấn đề mà Hiến pháp năm 1980 chưa quy định:

“nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” Có thể coi đây là việc chúng ta đã “nội luật hoá” các qui định của Luật quốc

tế về quyền phụ nữ mà chúng ta đã tham gia Chính qui định bổ sung này đã quán triệt toàn bộ nội dung cơ bản của Công ước CEDAW Thêm vào đó, tại Điều 64 của Hiến pháp năm 1992 qui định: “Nhà nước bảo hộ chế độ hôn nhân và gia

đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng“

Nghị quyết sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 ngày 25/12/2001 vẫn giữ nguyên những qui định tiến bộ về quyền bình đẳng nam nữ

được nêu rõ trong Hiến pháp năm 1992 Nhìn chung, vấn đề bình đẳng giới được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 đã có sự cụ thể hoá cho phù hợp với quá trình đổi mới của đất nước, phù hợp với sự phát triển của nền văn minh nhân loại cũng như những chuẩn mực pháp lí quốc tế

Sự phát triển xuyên suốt và liên tục của các nguyên tắc và qui định về quyền bình đẳng của phụ nữ trong các Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay không chỉ thể hiện thông qua sự phát triển của các qui định cụ thể mà còn thể hiện ngay trong sự thay đổi về cách diễn đạt Điều 9 Hiến pháp năm 1946 qui định: “đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện” hay tại Điều 24 Hiến pháp năm

Trang 23

1959 qui định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình” Còn tại Điều 63 Hiến pháp năm 1980 lại qui định: “Công dân nữ và nam ngang quyền nhau về mọi mặt chính trị, văn hoá, xã hội và gia đình” Xét trên phương diện ngôn ngữ, sự thay thế từ “với” bằng từ “và” trong các qui định kể trên mang một ý nghĩa lớn lao, nó thể hiện sự thay đổi về mặt nhận thức, giữa quan điểm xem đàn ông là chủ thể có vị trí cao hơn trong xã hội sang quan điểm coi phụ nữ

và đàn ông là những chủ thể hoàn toàn bình đẳng, đều là công dân của xã hội Ngoài ra, để cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp, quyền chính trị của phụ nữ còn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành như: quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước được quy định trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 được sửa đổi bổ sung năm 2001 và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội

được quy định trong Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức toà án nhân dân, Luật

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh cán bộ công chức, Pháp lệnh luật sư và các Nghị định của Chính phủ về việc ban hành quy chế dân chủ ở địa phương và trong hoạt động của cơ quan , quyền khiếu nại, tố cáo được quy định trong Luật khiếu nại tố cáo, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự

Nói tóm lại, với những qui định về quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ

được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật hiện hành không chỉ tạo

ra khung pháp lí hoàn thiện cho hệ thống pháp luật Việt Nam mà nó còn có ý nghĩa là một cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về việc thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người nói chung và công ước CEDAW nói riêng

b Trong lĩnh vực dân sự

Trên cơ sở những nguyên tắc Hiến định về quyền bình đẳng nam nữ được nêu rõ trong Hiến pháp, Điều 1 của Bộ luật Dân sự năm 1995 khẳng định: ”Bộ luật Dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cộng đồng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự” Nội dung này còn được thể hiện trong các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự mà rõ nét nhất là tại Điều 8 Bộ luật Dân sự năm

1995 đó là: “Trong quan hệ dân sự, các bên bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau”

 Không phân biệt giới tính trong việc công nhận và bảo vệ quyền nhân thân Phụ nữ cũng như nam giới mọi người đều có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể cùng những giá trị nhân thân của họ (Điều 32) Đó

Trang 24

là những quyền có từ khi con người được sinh ra và gắn liền với mỗi cá nhân không phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình và nghề nghiệp, tuổi tác của họ Điều 28

Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định: “Họ tên của mỗi người được xác định theo

họ, tên khai sinh của người đó” Đồng thời, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ tên theo quy định của pháp luật (Điều 29), cá nhân còn được hưởng các quyền khác như: quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 33), quyền đối với bí mật đời tư (Điều 34), quyền đối với quốc tịch (Điều 41), quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở (Điều 42)

Ngoài ra, theo quy định của Điều 44 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Cá nhân có quyền tự do đi lại, tự do cư trú theo quy định của pháp luật Việc đi lại, lựa chọn nơi cư trú do cá nhân quyết định phù hợp với nhu cầu, khả năng, hoàn cảnh của mình.” Người phụ nữ có quyền tự do đi lại, lựa chọn nơi cư trú cho mình, mà không một ai có quyền ngăn cản Đây là một trong những điều kiện để phụ nữ

có thể thực hiện được các quyền như: quyền lao động (Điều 45), quyền tự do kinh doanh (Điều 46), quyền tự do sáng tạo, quyền tự do cư trú và được Nhà nước bảo hộ các sản phẩm trí tuệ theo qui định tại Điều 47 Bộ luật Dân sự năm 2005 Việc kết hôn cũng không làm hạn chế quyền của người phụ nữ Điều 20 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định: “Nơi cư trú của vợ, chồng do vợ, chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính” Cũng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, phụ nữ nếu có năng lực hành vi dân

sự phù hợp với loại giao dịch dân sự mà luật dân sự cho phép thì có toàn quyền tham gia và thực hiện loại giao dịch đó Khi tham gia các giao dịch dân sự, phụ nữ cũng có toàn quyền như nam giới trong việc thực hiện quyền định đoạt của mình như: tự lựa chọn loại giao dịch để tham gia, chọn chủ thể tham gia, đối tượng tham gia, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, phương thức thanh toán, phương thức kiện dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

 Không phân biệt giới tính trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự

Pháp luật thừa nhận và bảo đaứm cho người có quyền dân sự có thể yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thoả mãn lợi ích hoặcỷ nhu cầu của mình, bất kể họ là nam hay nữ trong quan hệ pháp luật dân sự Chủ thể trong quan hệ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người có quyền một cách đầy

đủ, đúng cam kết hoặc đúng quy định của pháp luật Trong trường hợp bên có nghĩa vụ dân sự không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa

Trang 25

vụ thì dù là nam giới hay nữ giới cũng đều phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền

 Phụ nữ bình đẳng với nam giới trong việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu về tài sản

Người có tài sản được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định

sẽ được luật dân sự thừa nhận là chủ sở hữu tài sản Những căn cứ này được quy

định cụ thể tại Điều 170 Bộ luật Dân sự năm 2005 như xác lập quyền sở hữu thông qua lao động sản xuất, kinh doanh mà có, do tham gia giao dịch dân sự, do

được thừa kế Theo quy định này thì bất kì người nào dù là nam giới hay phụ nữ

đều được công nhận là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản khi tài sản đó được xác lập dựa trên những căn cứ hợp pháp

Một người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không phân biệt nam nữ đều có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo ý chí của mình mà khoa học luật dân sự gọi là quyền chủ quan của chủ

sở hữu Điều này được thể hiện cụ thể và rõ nét tại các Điều 164, 167, 184, 193,

197 Bộ luật Dân sự năm 2005

Ngoài ra, sự bình đẳng giới trong việc thực hiện quyền sở hữu còn được biểu hiện ở hành vi xác lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng Tại Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2005 khẳng định: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong giao lưu dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, bền vững, hoà thuận, hạnh phúc”, và “các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung” (Điều 217 Bộ luật Dân sự năm 2005), “Tài sản chung của vợ chồng do vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển bằng công sức của mỗi người; vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định

đoạt tài sản chung Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” (Điều 219) Chính những quy định này đã khẳng định việc kết hôn hoàn toàn không ảnh hưởng đến việc hưởng thụ

và sử dụng các quyền dân sự của người phụ nữ Mọi phụ nữ có năng lực hành vi

đều có thểớ tham gia vào các giao dịch dân sự phù hợp với các quy định của pháp luật để phục vụ lợi ích của mình

Pháp luật còn cho phép các chủ sở hữu dù là nam hay nữ đều có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc quyền sở hữu của người khác để đảm bảo các nhu cầu cần thiết của mình như: quyền được mở lối đi, quyền được mắc đường dây tải điện, quyền được cấp thoát nước Đây là một quyền quan trọng và có ý

Trang 26

nghĩa của chủ sở hữu, bởi đây là quyền giúp chủ sở hữu khai thác được công dụng của tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trên thực tế

Luật đất đai năm 2003 và Bộ luật Dân sự năm 2005 đều quy định những căn

cứ pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất và công nhận người có quyền sử dụng đất hợp pháp mà không phân biệt giới tính

Nguyên tắc bình đăớng nam nữ còn được cụ thể hoá trong chế định thừa kế của Bộ luật Dân sự năm 2005 Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc theo pháp luật” Trên cở sở nội dung quy định này, mọi cá nhân không phân biệt nam nữ, dân tộc, tuổi tác, tôn giáo, địa vị xã hội, trình độ học vấn, tình trạng tài sản đều có thể trở thành chủ thể trong quan

hệ thừa kế

Theo qui định của pháp luật, khi một bên vợ hoặc chồng chết trước thì khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng sẽ được chia đôi, một nửa thuộc sở hữu của người còn sống, nửa còn lại được xác định là di sản của người chết Điều này thêớ hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc xác định di sản thừa kế

Đối với việc để lại di sản, pháp luật cũng thừa nhận sự bình đẳng giữa nam

và nữ Họ đều có quyền bằng ý chí của mình định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình cho người khác bằng một di chúc hợp pháp Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản chung hợp nhất thông qua việc lập

di chúc và trong việc hưởng di sản thừa kế của nhau theo quy định của pháp luật

Họ đều có quyền trích một phần di sản giành cho việc thờ cúng và di tặng

Đối với việc nhận thừa kế: Những người thừa kế theo pháp luật được quy

định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 theo thứ tự như sau:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị

em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại, chú, bác, cô, dì, cậu ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là chú, bác, cô ,dì, cậu ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

Những người thừa kế cùng hàng có quyền hưởng di sản ngang nhau, hoàn toàn không phân biệt là người đó thuộc bên nội hay bên ngoại của người chết

Trang 27

Người được người chết định đoạt trong di chúc sẽ được hưởng di sản mà không

phân biệt người đó là nam hay nữ

Nói tóm lại, theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thì không có bất

cứ một sự hạn chế, phân biệt nào đối với phụ nữ Về mặt pháp lý, phụ nữ hoàn toàn bình đẳng với nam giới khi tham gia các quan hệ dân sự và được bảo vệ bởi Nhà nước bằng công cụ pháp lí hữu hiệu

C Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Trong hệ thống các ngành luật của nước ta hiện nay, ngành luật gần gũi, bảo

vệ quyền lợi một cách cụ thể, xác đáng nhất cho người phụ nữ cũng như sự bình

đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái là Luật Hôn nhân và gia đình

Hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng Tám cho đến nay đã được xây dựng theo nguyên tắc “nam nữ bình đẳng với nhau

về mọi phương diện, không bên nào được áp đặt, phụ thuộc bên nào” Điều 9 Hiến pháp năm 1946 của Nhà nước ta đã tuyên bố người đàn bà ngang quyền với người đaửn ông; Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/05/1950 “Về sửa đổi một số quy lệ

và chế định trong dân luật” đã quy định “người đàn bà lấy chồng có toàn năng lực về mặt hộ” (Điều 5); theo đó, người vợ có quyền thực hiện mọi hành vi dân

sự không cần phải được chồng cho phép như trong xã hội trước đó, với quy định này nguyên tắc nam nữ, vợ chồng bình đẳng trở thành nguyên tắc bất di bất dịch trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta

Kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật về Hôn nhân và gia đình ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quán triệt nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhiều điểm mới xuyên suốt các chế định của luật Tại khoản 5 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Nhà nước và xã hội không thừa nhận

sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú.” Với tư cách là cha mẹ đều phải thực hiện nghĩa vụ đối với các con trong việc thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con trở thành công dân có ích cho xã hội, người con hiếu thảo của gia đình, cha mẹ không được phân biệt đối xử với các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con, không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 34) Các con dù là trai hay gái, nam hay nữ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình Cha mẹ không được phân biệt đôùi xử giữa các con trai và con gái, không được “trọng nam khinh nữ “ Các con dù trai hay gái đều có nghĩa vụ kính yêu, chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe

Trang 28

những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt

đẹp của gia đình (Điều 36) Con trai dù đã lấy vợ, con gái dù đã lấy chồng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của mình

Thực hiện nguyên tắc Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người

mẹ (khoản 6 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000), Nhà nước ta đặc biệt tôn trọng và bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ đơn thân, quyền lợi của trẻ

em được sinh ra không trên cơ sở hôn nhân (con ngoài giá thú) Pháp luật bảo

đảm cho người phụ nữ đơn thân được hưởng các quyền lợi như người phụ nữ có chồng mà không tồn tại một sự phân biệt đối xử nào Khi sinh con người mẹ có quyền yêu cầu toà án xác định cha cho con (Điều 64), có quyền đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan hộ tịch có thẩm quyền và không ai được ngăn cản người

mẹ thực hiện quyền này Con ngoài giá thú dù là trai hay gái đều có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết (Điều 65), có quyền

được hưởng sự thương yêu, chăm sóc nuôi dưỡng của cha mẹ, quyền được thừa

kế tài sản của cha mẹ khi cha mẹ chết

Thừa nhận và thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng là một trong những thành quả hết sức tiến bộ của cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì sự bình đẳng của phụ nữ và đoạn tuyệt hẳn với chế độ đa thê Bản chất của hôn nhân một vợ một chồng nhằm đảm bảo tình yêu giữa họ thật sự bền vững, duy trì và củng côù hạnh phúc gia đình Đó cũng là điều kiện quan trọng làm cho cuộc sống chung của vợ chồng lâu dài và thực sự hạnh phúc Pháp luật Việt Nam còn quy định quyền tự do kết hôn, xác lập quan hệ vợ chồng của người phụ nữ Theo qui định tại các Điều 2, Điều 4 và Điều 9 của Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000, các bên nam, nữ khi đến tuổi kết hôn thì có quyền tự do kết hôn; cha mẹ hay những người thân thuộc không ai được quyền cưỡng ép, cản trở việc kết hôn của họ Để hôn nhân có giá trị pháp lý, các bên nam nữ khi kết hôn phải đảm bảo tuân thủ các điều kiện kết hôn (phải đủ tuổi kết hôn, hoàn toàn

tự nguyện và không vi phạm điều cấm theo qui định tại các Điều 9 và Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000); việc kết hôn phải được cơ quan nhà nước

có thâớm quyền công nhận và cấp giấy chứng nhận kêùt hôn

Về quan hệ vợ chồng, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam có nhiều quy

định nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa vợ và chồng, cụ thể: Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình

Trang 29

đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền vững Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khẳng định nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình Theo nguyên tắc này, vợ chồng luôn bình

đẳng về nghĩa vụ và quyền trong quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ đối với con cái và các quan hệ xã hội khác

Điều 20 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định: “Nơi cư trú của vợ chồng, do vợ chồng tự lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán, địa giới hành chính” Qui định này đã tạo ra khả năng tự do cho vợ chồng không chỉ

về việc chọn nơi sinh sống mà còn là điều kiện cần thiết giúp người vợ có thể tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội khi có nhu cầu phải di chuyển chỗ ở cho phù hợp với tính chất và yêu cầu của công tác

Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: vợ chồng tôn trọng giữ gìn danh dự, uy tín, nhân phẩm cho nhau, cấm vợ chồng có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau (Điều 21); vợ chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 22); vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người (Điều 23); vợ, chồng có thể uỷ quyền đại diện cho nhau theo quy định của pháp luật Cùng chăm lo cho cuộc sống hạnh phúc của gia

đình, có nghĩa vụ cấp dưỡng chăm sóc lẫn nhau, nuôi dưỡng, giáo dục các con trở thành công dân có ích cho xã hội (Điều 24); vợ, chồng cùng phải chịu thi hành trách nhiệm liên đới đối với những giao dịch dân sự hợp pháp do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.( Điều 25); đối với tài sản trong gia đình, vợ chồng cùng có trách nhiệm tạo dựng tài sản chung nhằm đảm bảo nhu cầu, đời sống chung của gia đình (Điều 27) Vợ, chồng có quyền bình

đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung, có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt ngang nhau đối với tài sản chung Đối với tài sản chung của vợ chồng được tạo ra trong thời kì hôn nhân, luật không phân biệt công sức đóng góp của mỗi bên vợ, chồng, lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập (Điều 95) Vì vậy, đối với tài sản chung, vợ, chồng đều có quyền ngang nhau và luôn có phần bằng nhau Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định: “Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm nhu cầu đời sống chung của gia đình Việc vợ, chồng sử dụng tài sản chung nhằm bảo đảm nhu cầu cuộc sống chung của gia đình được coi là có sự thoả thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng, nếu định đoạt tài sản chung có giá trị lớn như nhà ở, quyền sử dụng đất thì phải có sự thoả thuận đồng ý của cả hai vợ chồng Đối với những tài sản

Trang 30

chung của vợ chồng có giá trị lớn mà pháp luật qui định phải đăng ký quyền sở hữu thì khi đăng ký phải ghi tên của cả hai vợ chồng (Điều 27)

Vợ chồng bình đẳng khi thực hiện quyền yêu cầu ly hôn và giải quyết ly hôn Dựa trên nguyên tắc tự do hôn nhân, thì vợ chồng cũng có quyền tự do ly hôn Quyền yêu cầu ly hôn được coi là quyền nhân thân gắn liền với bản thân vợ chồng, chỉ với tư cách là vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn Bên cạnh đó, pháp luật cũng bảo vệ quyền của người phụ nữ và con chưa thành niên bằng việc quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng theo qui định tại Điều

85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Người chồng không có quyền yêu cầu

ly hôn khi người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Người chồng không được cưỡng ép, lừa dối ly hôn Không có quyền ngăn cản việc xin

ly hôn của người vợ Điều hạn chế ly hôn này chỉ áp dụng đối với người chồng

mà không áp dụng đối với người vợ Trong trường hợp người chồng bị mất tích thì người vợ có quyền yêu cầu và được ly hôn với người chồng bị mất tích (Điều 89) Khi vợ chồng ly hôn, hậu quả pháp lí của ly hôn được giải quyết trên nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên:

+ Việc chia tài sản chung của vợ chồng do vợ chồng tự thoả thuận với nhau, nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu toà án giải quyết Khi chia tài sản phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và các con chưa thành niên hoặc

đã thành niên mà bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao

động và không có tài sản để tự nuôi mình (Điêỡu 95)

+ Trường hợp người vợ làm dâu gia đình nhà chồng mà vợ chồng còn sống chung với gia đình nhà chồng, nếu tài sản của vợ chồng không xác định được thì phải bảo đảm cho người vợ được trích chia một phần tài sản của gia đình, tương ứng với công sức đóng góp của người vợ vào việc duy trì, phát triển cũng như vào nhu cầu sống chung của gia đình; lao động trong gia đình được kể như lao động

có thu nhập (Điều 96)

+ Khi ly hôn, người vợ do đau yếu mà không có khả năng lao động, gặp nhiều khó khăn về kinh tế thì có quyền yêu cầu người chồng cấp dưỡng theo khả năng của mình (Điều 60)

d Trong lĩnh vực lao động

Trong lĩnh vực lao động và việc làm, khoản 1, Điều 5 Bộ luật Lao động năm

1994 qui định “Mọi người có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo" Với việc Nhà nước

Trang 31

quy định quyền làm việc của phụ nữ và đảm bảo sự bình đẳng nam nữ đã tạo tiền

đề pháp lý quan trọng tăng thêm cơ hội tìm kiếm việc làm cho lao động nữ

Nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành những vấn đề có tính nguyên tắc nêu trên, tại Điều 109 Bộ luật Lao động năm 1994 quy định: Nhà nước đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người lao động, tạo điều kiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc làm tại nhà” Thêm vào đó,

Điều 9, Nghị định sôù 23/CP ngày 18/04/1996 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động năm 1994 về lao động nữ đã ghi rõ:

+ Cấm ban hành những quy định không có lợi đối với lao động nữ so với quy định của pháp luật

+ Cấm những hành vi hạn chế khả năng tiếp nhận lao động nữ vào làm việc + Cấm mạt sát, đánh đập, xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của lao

động nữ trong khi làm việc

Bên cạnh đó, tại Điều 8 của Nghị định quy định: ”Trường hợp người sử dụng lao động vi phạm các điều cấm quy định trên, tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lí theo qui định của pháp luật”

Trong thị trường lao động, về nguyên tắc mọi người được tự do thoả thuận

về việc làm, không ai có quyền ép buộc ai Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế xã hội, dân số tăng nhanh, nạn thất nghiệp gia tăng, vì muốn có việc làm, người lao

động buộc phải chấp nhận những thiệt thòi khi tham gia quan hệ lao động Đối với lao động nữ, sự thiệt thòi lại càng lớn hơn do những đặc trưng về sức khoẻ, thiên chức làm mẹ, tính di chuyển cơ động của lao động nữ không cao nên người

sử dụng lao động có tâm lí không muốn nhận lao động nữ vào làm việc

Để đảm bảo quyền lợi của lao động nữ và tránh tình trạng hạn chế cơ hội tìm kiếm việc làm của lao động nữ, Điều 110 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002 quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước là mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ để người lao động nữ có thêm nghề dự phòng và để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý

và chức năng làm mẹ của người phụ nữ (làm theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc làm tại nhà) Bên cạnh đó, tại

Điều 4 của Nghị định 23/CP quy định: “Doanh nghiệp sử dụng lao động nữ, phải chủ động nghiên cứu những nghề mà người lao động nữ không thể làm việc liên tục cho đến tuổi nghỉ hưu, lập kế hoạch đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ”

Để khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ Nhà nước cũng đã

Trang 32

sử dụng nhiều biện pháp khác nhau như: xét giảm thuế, cho vay với lãi suất thấp

từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm khi doanh nghiệp gặp khó khăn được qui

định cụ thể tại Điều 5 và Điều 8 Nghị định 23/CP)

Trong việc ký kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động, Điều 111 Bộ luật Lao động năm 2002 qui định: “1.Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng lao động; 2 Người sử dụng lao động phải ưu tiên sử dụng lao động nữ vào làm việc khi người đó có đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam lẫn nữ mà doanh nghiệp đang cần” Đặc biệt, tại Điều 39 và khoản 3 Điều 111 Bộ luật Lao động năm 2002 quy

định rõ:”Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với người lao động nữ vì lí do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động” Đồng thời, Điều 112 Bộ luật Lao động năm 2002 cho phép lao động nữ không phải bồi thường phí đào tạo trong trường hợp chấm dứt hợp đồng học nghề khi có thai nếu

có chứng nhận của thầy thuốc việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi Quy định này đã góp phần tích cực hạn chế tình trạng đơn phương chấm dứt hợp đồng tuỳ tiện đối với lao động nữ

Trong việc trả lương cho lao động nữ, theo qui định tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật lao động năm 2002 thì “Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động”

Điều 18 Nghị định số 114/CP ngày 31/12/2002 hướng dẫn về tiền lương chỉ rõ, lao động nữ nếu làm công việc như lao động nam thì được trả lương như nhau Trong lĩnh vực bảo hộ lao động, để bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ, Nhà nước ta đã phê chuẩn Công ước quốc tế số 45 (năm 1953) về việc cấm sử dụng lao động nữ dưới lòng đất Ngoài ra, còn có các quy định riêng vêỡ quyền và nghĩa vụ của lao động nữ trong việc đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh lao

động Theo quy định tại Điều 113 Bộ luật Lao động năm 2002 và thông tư số 03/TT-LB Ngày 28/11/1994 của Bộ lao động thương binh và xã hội và Bộ Y tế thì: “1 Người sử dụng lao động không được bố trí lao động nữ làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục do Bộ lao động và thương binh xã hội ban hành; 2 Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ bất kì

độ tuổi nào làm việc thường

xuyên dưới hầm mỏ hoặc ngâm mình dưới nước”

Thêm vào đó, Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2002 quy định: “1 Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ có thai từ tháng thứ bảy hoặc

Trang 33

đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa; 2 Người lao động nữ làm công việc nặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ bảy,

được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt một giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương; 3 Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương”

Ngoài ra, Bộ luật Lao động cũng buộc những người sử dụng lao động ở những nơi sử dụng nhiều lao động nữ phải có các trách nhiệm khác như: thiết kế chỗ thay quần áo, buồng vệ sinh, tổ chức các nhà trẻ, lớp mẫu giáo (Điều 116

Bộ luật Lao động năm 2002)

Về vấn đề thực hiện bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, có thể nói, so với một số nước trong khu vực, pháp luật về bảo hiểm xã hội của Việt Nam đã tạo nhiều thuận lợi cho lao động nữ Tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Lao động năm

2002 và các Điều 10, Điều 11, Điều 12 của Nghị định 12/CP (26/01/1995) về việc ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội, và được sửa đổi bổ sung ở Nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 qui định: “Người lao động nữ được nghỉ trước

và sau khi sinh con, cộng lại từ 4 đến 6 tháng tuỳ theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh, được nghỉ việc đi khám thai, thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình Nếu sinh đôi trở lên thì mỗi con tính từ con thứ hai trở đi, người mẹ được nghỉ thêm 30 ngày” Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 114 Bộ luật Lao động năm 1994 quy định: Lao động nữ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi sơ sinh được hưởng bảo hiểm xã hội bằng 100% tiền lương và được trợ cấp thêm một tháng lương đối với trường hợp sinh con lần thứ nhất, thứ hai Theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, chế độ này được áp dụng khi sinh con nói chung, không phân biệt giữa 2 lần sinh con như trước kia Theo khoản 1 Điều 9 Điều lệ bảo hiểm xã hội quy định: Lao động nữ được hưởng mức trợ cấp ốm đau, khi có con nhỏ dưới 7 tuổi bị ốm đau được nghỉ tối đa là 15 hoặc 20 ngày trong 1 năm, hưởng 75 % mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

Lao động nữ khi hết tuổi lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng, và theo điểm a khoản 1 Điều 145 này và Nghị định số 01/CP ngày 09/01/2003, lao

động nữ đủ 55 tuổi và đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội thì được hưởng tỷ lệ % lương hưu hàng tháng tối đa do Chính phủ quy định như lao động nam đủ 60 tuổi

và đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội Sở dĩ có những quy định như vậy là do, đối với lao động nữ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội sau 15 năm được tính thêm 3%, trong khi nam giới chỉ được tính 2%

Trang 34

Ngoài ra, tại Điều 123 Bộ luật Lao động năm 2002 quy định, người lao động nữ trên 55 tuổi (có quyền được nghỉ hưu) đã được công nhận là người lao động cao tuổi, trong khi người lao động nam phải trên 60 tuổi mới được công nhận là lao động cao tuổi

Để bảo đaứm tính dân chủ trong lao động nhằm tạo ra những quan hệ lao

động hài hoà, ổn định, Điều 118 Bộ luật Lao động năm 2002 đã có những quy

định để đảm bảo quyền của lao động nữ như: trước khi quyết định những vấn đề liên quan đến lao động nữ trong sản xuất, người sử dụng lao động phải tham khảo

ý kiến của đại diện lao động nữ trong doanh nghiệp ở những doanh nghiệp có

đông lao động nữ thì trong thành phần của Ban đại diện lao động phải có đại diện lao động là nữ, nhằm đảm bảo cho phụ nữ có vai trò trong các quyết định có liên quan đến giới mình đối với các vấn đề lao động, việc làm và những đảm bảo xã hội khác Mặt khác, nhằm đề cao vị trí của lao động nữ trong lĩnh vực kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động, khoản 2 Điều 118 Bộ luật Lao động năm

2002 quy định: “Trong số các thanh tra viên lao động phải có tỷ lệ thích đáng nữ thanh tra viên” Các quy định của pháp luật lao động có xu hướng bảo vệ quyền lợi của lao động nữ ở mức độ ngày càng cao Điều này cũng phù hợp với tính chất của bảo hiểm xã hội là tương trợ cộng đồng, nhấn mạnh lợi ích xã hội

E Trong lĩnh vực hình sự:

Với đặc thù của mình, ngành luật hình sự từ khi hình thành cho đến nay, thực sự là công cụ sắc bén để Nhà nước bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và của phụ nữ nói riêng thông qua các biện pháp cưỡng chế mà Nhà nước áp dụng đối với kẻ phạm tội Đồng thời, nó cũng là nơi thể hiện đậm nét chủ nghĩa nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phụ nữ Tất cả các nội dung nói trên được ghi nhận trong các qui định của Bộ luật Hình sự năm 1985 được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện trong các qui định của Bộ luật Hình sự năm 1999

Ngay tại Điều 3 của Bộ luật Hình sự năm 1999 khẳng định về nguyên tắc xử lý: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội” Cho nên, trong Bộ luật Hình sự không có một điều khoản nào mang tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ và Nhà nước cũng không áp dụng một đặc quyền nào đối với người phạm tội, mọi người

đều bình đẳng trước pháp luật Mặt khác, xuất phát từ thực tế, phụ nữ là đối tượng

dễ bị xâm hại, Luật Hình sự Việt Nam có những quy định dành riêng cho phụ nữ Luật Hình sự bảo vệ quyền bình đẳng của người phụ nữ ở hai phương diện: + Với tư cách là nạn nhân của tội phạm

Trang 35

+ Với tư cách là người phạm tội

Xét ở góc độ thứ nhất, là nạn nhân bị tội phạm xâm hại đến, thì phụ nữ có những đặc điểm khác biệt so với các đối tượng khác Với bản tính yếu đuối nên

họ rất dễ trở thành đối tượng xâm hại của nhiều loại tội phạm khác nhau Chính vì vậy, để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, đặc biệt

là các quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, quyền bình đẳng nam nữ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Bộ luật Hình sự có nhiều qui định trực tiếp hoặc gián tiếp bảo vệ quyền bình đẳng của người phụ nữ Các hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ đều bị coi là tội phạm và đều bị xử lý nghiêm minh Hình phạt qui định cho các tội này vừa đảm bảo tính răn đe người phạm tội, vừa có tính giáo dục họ trở thành người công dân có ích cho xã hội, lại vừa đạt được mục đích phòng ngừa chung

Theo qui định tại Điều 130 Bộ luật Hình sự năm 1999: “Người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ

đến một năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm” Đây là một điều luật trực tiếp bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ Ngoài ra, trong trường hợp người phụ nữ với tư cách là bà, mẹ, con, cháu mà bị những người thân hành hạ, ngược đãi thì người hành hạ, ngược đãi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi này gây hậu quả nghiêm trọng hoặc hành vi nói trên tuy chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng đã bị xử lí hành chính về hành vi này mà vẫn còn vi phạm, thì người phạm tội sẽ bị xử lý về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1999) Hình phạt qui định cho tội này là cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù

từ 3 tháng đến 3 năm Trường hợp hành vi hành hạ, ngược đãi đến mức gây thương tích đáng kể cho nạn nhân thì người phạm tội sẽ bị xử lý về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác Hình phạt nhẹ nhất qui định cho tội này là cải tạo không giam giữ và hình phạt nặng nhất là tù có thời hạn được qui định cho 4 khung hình phạt hoặc tù chung thân Trường hợp người phạm tội có hành vi cố ý sử dụng bạo lực dẫn đến hậu quả nạn nhân chết thì sẽ bị xử lý về tội giết người Đối với trường hợp này, hình phạt nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với người phạm tội là hình phạt tử hình, hình phạt nhẹ nhất

là tù có thời hạn Bộ luật Hình sự đã áp dụng những hiỡnh phạt rất nghiêm khắc

đối với những hành vi trên, bởi đây là những trường hợp người phạm tội có hành

vi xâm hại đến những quyền lợi thiết thân của người phụ nữ - những quyền cơ bản được Hiến pháp nước ta ghi nhận và bảo vệ Chính vì vậy, qui định và bảo vệ

Trang 36

quyền bình đẳng của phụ nữ là cơ sở pháp lí quan trọng để nghiêm trị các hành vi xâm hại quyền lợi hợp pháp hoặc cản trở người phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội nói chung Đồng thời, qui định này còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc răn đe, giáo dục đối với những người vẫn còn có tư tưởng lạc hậu và định kiến đối với phụ nữ

Ngoài việc là nạn nhân của các tội phạm có sử dụng bạo lực, phụ nữ còn là

đối tượng có khả năng bị xâm hại về tình dục cao hơn rất nhiều so với nam giới Trong trường hợp này phụ nữ được coi là công cụ để thoả mãn dục vọng thấp hèn của một số nam giới Chính hành vi phạm tội xâm phạm tình dục của người phạm tội cùng một lúc gây thiệt hại cho cả danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ và tính mạng, sức khoẻ của họ Nhất là đối với các em bé gái, hành vi phạm tội này còn tác động mạnh mẽ đến tâm lý và sự phát triển bình thường của các em Với mức độ nguy hiểm như vậy hành vi xâm phạm tình dục trái với ý muốn của người phụ nữ bao giờ cũng bị xã hội lên án gay gắt và luật hình sự của Nhà nước ta đã

có những qui định về tội phạm và kèm theo những hình phạt nghiêm khắc đối với nhóm tội này Cụ thể:

+ Tội hiếp dâm (Điều 111 Bộ luật Hình sự năm 1999) xác định rõ hành vi hiếp dâm tập thể (nhiều người hiếp một người hoặc phạm tội có tổ chức), hiếp dâm làm nạn nhân có thai, gây tổn hại nặng cho sức khoẻ nạn nhân (mất từ 31% hoặc 61% sức khoẻ trở lên) làm nạn nhân chết hoặc tự sát là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội và trong vụ án có hai tình tiết nêu trên, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tùỡ chung thân hoặc tử hình Các bé gái là những đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ khỏi sự xâm hại của những hành vi tội phạm về tình dục Ngay trong Bộ luật Hình sự năm 1985 đã qui

định thêm tội hiếp dâm trẻ em với những hình phạt rất nghiêm khắc dành cho người phạm tội Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 tội phạm trên được qui định lại một cách chi tiết hơn tại Điều 112 Chỉ cần có một tình tiết tăng nặng tương ứng như đã nêu trên trong vụ hiếp dâm trẻ em như phạm tội có tổ chức, làm nạn nhân chết hoặc tự sát, gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, người phạm tội đã có thể bị áp dụng hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn khẳng định: mọi hành

vi giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi đều bị coi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Trong một số tội phạm xâm phạm tình dục khác như tội cưỡng dâm (Điều 113) và cưỡng dâm trẻ em (Điều 114), các tình tiết như đã nêu trên cũng được coi

là tình tiết tăng nặng và hình phạt nặng nhất có thể được áp dụng đối với người

Trang 37

phạm tội tương ứng là 18 năm tù giam hoặc tù chung thân Trẻ em ở lứa tuổi từ trên 13 đến dưới 16 chưa thể ý thức được về đời sống tình dục và để bảo vệ các

em thậm chí khỏi sự dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, từ năm 1997 trong Bộ luật Hình

sự năm 1985 có thêm một tội phạm mới - tội giao cấu với trẻ em Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với người đã thành niên mà giao cấu với trẻ em là 15 năm

tù giam (tội giao cấu với trẻ em được qui định lại tại Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999) Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn qui định một tội phạm mới - tội dâm ô với trẻ em, người phạm tội này có thể bị xử phạt nặng nhất tới 12 năm

tù giam, đồng thời có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm các công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 1999 còn bổ sung tình tiết tăng nặng

”biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội” để cá thể hoá trách nhiệm hình sự triệt để hơn nữa đối với một số tội xâm phạm tình dục của nữ giới có chứa đựng tình tiết này Đây được coi là tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm, cưỡng dâm trẻ em và giao cấu với trẻ em

Điều naửy thể hiện rõ người phạm tội khi thực hiện hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của nữ giới đã không có ý thức bảo vệ sức khoẻ tình dục cho phụ nữ Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 1999 còn qui định một số tội mới mà nạn nhân chủ yếu vẫn là phụ nữ như: tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117), và tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118)

Để thể hiện sự phản ứng mạnh mẽ của Nhà nước đối với tình trạng mua bán phụ nữ đang có xu hướng gia tăng trong thời gian vừa qua ở nước ta, Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã kế thừa và hoàn thiện hơn qui định về tội mua bán phụ nữ được qui định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 Cụ thể, nhà làm luật đã bổ sung một số tình tiết tăng nặng mới nhằm cá thể hoá trách nhiệm hình sự hơn nữa Đó là những nội dung: mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm, mua bán có tính chất chuyên nghiệp, mua bán nhiều người, mua bán nhiều lần Tại khoản 1 của Điều luật qui định cấu thành tội phạm cơ bản: “ Người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm”, nhưng trong trường hợp có xuất hiện một trong những tình tiết tăng nặng nêu trên thì có thể bị áp dụng hình phạt cao nhất tới 20 năm tù giam Đồng thời, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, quản chế hoặc cấm cư trú

Hành vi chứa mại dâm, môi giới mại dâm nhằm thu lợi trên thân xác người phụ nữ là một biểu hiện cụ thể của hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ, họ không được coi là con người mà là một thứ đồ chơi để người phạm tội khai thác kiếm lợi nhuận Vì thế, Bộ luật Hình sự năm 1999 coi những hành vi này là tội

Trang 38

phạm và qui định cụ thể tại Điều 254 và Điều 255, đồng thời xác định hình phạt nghiêm khắc cho các tội này Hình phạt nặng nhất qui định cho tội chứa mại dâm

là tù chung thân Còn các trường hợp khác, hình phạt là tù có thời hạn, không có hình phạt nhẹ hơn tù có thời hạn áp dụng cho tội này Ngoài ra, người phạm tội

có thể bị phạt tiền, tịch thu tài sản, quản chế với tính chất là hình phạt bổ sung

Đối với tội môi giới mại dâm, hình phạt nặng nhất có thể được áp dụng đối với người phạm tội là 20 năm tù, và hình phạt nhẹ nhất là 6 tháng tù Ngoài ra, có thể

áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 10 triệu đồng

Một nội dung nữa thể hiện tinh thần bảo vệ người phụ nữ với tư cách là nạn nhân của tội phạm thể hiện, ở những qui định Bộ luật Hình sự năm 1999 coi tình tiết “phạm tội đối với phụ nữ có thai” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Qui định này đã ra đời từ rất sớm và ngày càng được củng cố Trước khi Nhà nước ban hành Bộ luật Hình sự đầu tiên vào năm 1985, trong các văn bản hướng dẫn đường lối xét xử, Toà án nhân dân tối cao đã chỉ rõ cần phải xử phạt nặng những người phạm tội đối với phụ nữ và trẻ em Cụ thể: trong bản tổng kết và hướng dẫn số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Toà án nhân dân tối cao về đường lối xét xử các vụ án hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục, đã chỉ rõ: phải xử phạt nặng những người cộng phạm (đồng phạm) trong tội hiếp dâm và tình tiết này cũng được vận dụng với các tội cưỡng dâm, tội giao cấu với người dưới 16 tuổi, hiếp dâm với người có quan hệ thân thuộc đều được coi là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Sau này trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và

Bộ luật Hình sự năm 1999 đều coi những tình tiết phạm tội với phụ nữ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999

điểm h khoản 1 Điều 48 qui định: “phạm tội đối với phụ nữ có thai” là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được coi là tình tiết định khung tăng nặng

đối với một số tội: tội giết người (điểm b khoản 1 Điều 93), tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (điểm d khoản 2 Điều 197), tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý

(điểm đ khoản 2 Điều 200)

Song song với việc bảo vệ phụ nữ khỏi sự xâm hại của các loại tội phạm, pháp luật hình sự của nước ta còn có những qui định áp dụng đối với người phạm tội là phụ nữ thể hiện rõ tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa Cả trong

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985 và điểm 1 khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đều có những qui định coi người phạm tội là phụ nữ có thai là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Qui định này xuất phát từ thực tế là trong thời kì mang thai, tâm sinh lý của người phụ nữ có thể không bình thường và điều này

Trang 39

ít nhiều có ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách xử sự của họ Trong trường hợp này, việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ một mặt thể hiện chính sách nhân

đạo của Nhà nước, mặt khác tạo điều kiện cần thiết cho đứa trẻ có thể phát triển bình thường

Bên cạnh đó, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999 qui định: “không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân” Đây

là qui định mới của Bộ luật Hình sự năm 1999 so với Bộ luật Hình sự năm 1985

và các văn bản pháp luật hình sự trước đây Ngay sau khi Bộ luật Hình sự năm

1999 được thông qua, Quốc hội đã có Nghị quyết số 32/1999/QH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999 và trong Nghị quyết đã chỉ rõ: Kể từ ngày Bộ luật Hình sự này được công bố:

a Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật Hình sự này đã bỏ hình phạt tử hình, đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử

b Hình phạt đã tuyên đối với những người đã nêu tại điểm a mục này nhưng chưa thi hành, thì không thi hành nữa và được chuyển xuống hình phạt cao nhất

mà Bộ luật Hình sự này qui định đối với hành vi phạm tội đó Trong trường hợp

điều luật mới vẫn giữ nguyên hình phạt tử hình, thì đối với phụ nữ đang có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, hình phạt tử hình đã được tuyên sẽ chuyển thành tù chung thân”

ở phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 61 và Điều 62 qui định phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi Ngoài ra, trong một số

điều luật thuộc phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng có những qui định mang tính nhân đạo đối với người phạm tội là phụ nữ Cụ thể:

Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999 qui định: “Người mẹ nào do tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ đó chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm” Đối với trường hợp này, mức độ trách nhiệm hình sự được giảm nhẹ hơn so với trường hợp giết người thông thường Sở dĩ như vậy là vì trong trạng thái mới sinh con (trong vòng 7 ngày trở lại) người phụ nữ

có tâm lý chưa ổn định, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi bị hạn chế Như vậy, nhìn chung những qui định của Bộ luật Hình sự đã tạo ra cơ sở pháp lí tương đối đầy đủ, toàn diện để thực thi quyền bình đẳng nam nữ và chống bạo lực đối với phụ nữ trong thực tế

Trang 40

Nói tóm lại, qua việc phân tích các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ hiện hành cho thấy hệ thống pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã đạt được những thành tựu to lớn Trên cơ sở kế thừa

và phát triển những thành tựu đã đạt được, Nhà nước ta đã ban hành nhiều qui

định mới theo hướng mở rộng quyền cho phụ nữ, đảm bảo tiến trình bình đẳng giới, đề cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Bên cạnh đó, pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ ở nước ta phát triển theo hướng

“nội luật hoá” các quy định của pháp luật quốc tế về quyền của phụ nữ vào các lĩnh vực cụ thể của pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý quan trọng giúp phụ nữ phát triển một cách toàn diện nhất

Ngày đăng: 16/02/2021, 19:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w