1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào từ kinh nghiệm của pháp luật việt nam

105 183 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 11,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó phải kể đến các quy định có liên quan của Hiến pháp năm 2015, Luật Gia đình năm 1990, Luật Bảo vệ và phát triển phụ nữ năm 2004, Luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Hình sự năm 2

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHANDAVONE VONGPHACHAN

ĐỀ TÀI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA PHỤ NỮ TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TỪ KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Dân sự và TTDS

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ MỪNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Chandavone VONGPHACHAN

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

forms of Discrimination against women

của phụ nữ

Trang 4

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA PHỤ NỮ TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 6

1.1 Khái quát chung về quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Đặc điểm 9

1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 11

1.3 Các yếu tố tác động đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 14

1.3.1 Những tư tưởng tôn giáo, triết học 14

1.3.2 Chế độ chính trị, kinh tế - xã hội 18

1.3.3 Mức độ hoàn thiện của pháp luật 19

1.3.4 Năng lực hoạt động của các thiết chế có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ 19

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 21

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA PHỤ NỮ TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 22

2.1 Quyền phụ nữ trong hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành 22

2.1.1 Quyền kết hôn 22

2.1.2 Quyền bình đẳng của vợ và chồng 23

2.1.3 Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con 26

2.1.4 Quyền được nuôi con nuôi 27

2.1.5 Quyền với tư cách là thành viên trong gia đình 27

2.1.6 Quyền, lợi ích của phụ nữ khi chấm dứt hôn nhân 28

2.2 Phương thức bảo đảm thực hiện quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 30

2.2.1 Chủ thể bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 30

2.2.2 Bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình trong các trường hợp cụ thể 33

2.3 Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 47

Trang 5

2.3.2 Một số bất cập, hạn chế 58

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO

VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA PHỤ NỮ TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TỪ KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 64

3.1 Thực trạng pháp luật của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về bảo

vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 64

3.1.1 Quy định pháp luật về quyền, lợi ích và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ

nữ trong hôn nhân và gia đình 64 3.1.2 Quy định pháp luật về các thiết chế bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 69

3.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 71

3.2.1 Thành tựu đạt được 71 3.2.2 Một số bất cập, hạn chế 74

3.3 Kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam và quan điểm học tập kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của phụ

nữ trong hôn nhân và gia đình của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 77 3.3.1 Kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam 77

3.3.2 Quan điểm học tập kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam 78

3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào từ kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam 80

3.4.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 80 3.4.2 Giải pháp nâng cao kiến thức pháp luật cho người phụ nữ 84 3.4.3 Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ việc về hôn nhân và gia đình 86 3.4.4 Thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cựu Tổng thư ký Liên hợp quốc B.Gali đã khẳng định: “Phụ nữ chiếm hơn

một nửa nhân loại nhưng chưa có quốc gia nào trên thế giới đối xử với phụ nữ một cách xứng đáng”1 Do vậy, bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ là mục tiêu chung của toàn nhân loại Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 khẳng định:

“…niềm tin vào…sự bình đẳng về các quyền giữa phụ nữ và đàn ông” Đặc biệt,

năm 1979, Liên hợp quốc đã thông qua Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (viết tắt là CEDAW) Công ước đã trở thành một phần trong hệ thống điều ước quốc tế về quyền con người với mục đích bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới, không phân biệt giới tính trong việc thụ hưởng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản

Ở Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam, vị trí và vai trò của người phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình đã được khẳng định Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ, Đảng Cộng sản Việt

Nam khẳng định: “Giải phóng phụ nữ là mục tiêu và nội dung quan trọng” Vì vậy, bảo

vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, giải phóng phụ nữ khỏi những ràng buộc phong kiến, tạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ bình đẳng, tiến bộ và phát triển là một trong những nhiệm

vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bình đẳng, chống phân biệt đối xử với phụ nữ là cái gốc, là cơ sở để người phụ nữ tiến bộ2 Để thực hiện điều đó, Việt Nam đã tích tham gia các điều quốc tế trong đó có Công ước CEDAW từ rất sớm vào năm 1982 (Công ước CEDAW có hiệu lực từ tháng 9/1981) Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tích cực xây dựng và hoàn thiện pháp luật để ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong các lĩnh vực nói chung và trong HN&GĐ nói riêng Cho đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh để bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) trong đó phải kể đến Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Nuôi con nuôi

2010, Bộ luật Hình sự 1999, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015… Hệ thống pháp luật này đã tác động tích cực đến hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

1 Trung tâm thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học - Văn phòng Quốc Hội (2003), Quyền của phụ nữ và

trẻ em trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 18

2 Pháp luật về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.17

Trang 7

Trong quá trình này, Việt Nam cũng đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

Trong khi đó, ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào vị trí, vai trò

và vấn đề bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ cũng được Đảng, Nhà nước Lào quan tâm thích đáng, đặc biệt là việc sử dụng công cụ pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong HN&GĐ Năm 1981 sau khi Công ước CEDAW có hiệu lực, Lào đã phê chuẩn Công ước này (14/8/1981) Cùng với đó, Nhà nước Lào cũng không ngừng xây dựng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong các lĩnh vực nói chung và trong HN&GĐ nói riêng Trong đó phải kể đến các quy định có liên quan của Hiến pháp năm 2015, Luật Gia đình năm 1990, Luật Bảo vệ và phát triển phụ nữ năm 2004, Luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Hình sự năm 2005,… Bên cạnh những điểm tích cực, pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ của nước CHDCND Lào hiện nay cũng bộc lộ một số bất cập, hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ trên thực

tế Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về quyền, lợi ích của phụ nữ và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ đang được đặt ra Trong quá trình này việc học tập kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm hoàn hiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của HN&GĐ của các nước có những điểm tương đồng về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và chế độ HN&GĐ là thực sự cần thiết Chính vì vậy, tôi quyết định chọn

đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và

gia đình ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Ở nước CHDCND Lào hiện nay có một số công trình nghiên cứu về đề tài

này đã được công bố như: Lienkham Vilaphan (2009), “Địa vị pháp lý của Hội liên

hiệp Phụ nữ Lào trong việc bảo vệ quyền con người của phụ nữ Lào”, Tạp chí Phụ

nữ Lào, số 10/2009 Linkhit Lienthikeo (chủ nhiệm), Hệ thống pháp luật bảo vệ

quyền lợi của người phụ nữ ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Đề tài khoa

học cấp sơ sở, Đại học quốc gia Lào, năm 2010 Ủy ban pháp luật của Quốc hội

Lào, Bình đẳng nam nữ trong Hiến pháp Lào năm 2015, Viêng Chăn, năm 2016

Đây là các công trình nghiên cứu về quyền con người của phụ nữ chủ yếu theo pháp

Trang 8

luật nước CHDCND Lào, chưa có công trình nào trong số các công trình trên nghiên cứu về quyền con người của phụ nữ ở phương diện pháp luật quốc tế

Ở Việt Nam hiện nay cũng có một số công trình nghiên cứu về quyền con

người của phụ nữ đã được công bố như: Sina Yayongyear (2011), Quyền phụ nữ

theo pháp luật quốc tế và pháp luật Lào, khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật

Hà Nội Chittana Langsilimphone (2016), Quyền phụ nữ the pháp luật quốc tế và

pháp luật Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Bùi Thị

Mừng (2004), Bảo vệ quyền phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm

2000, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Lương Ánh Nhàn

(2016), Bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Vương Vân Huyền (2014), Hoàn

thiện pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật

học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội…

Các công trình này đã nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành

về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ cũng như nghiên cứu thực trạng pháp luật về quyền của phụ nữ theo pháp luật Lào Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ ở nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là hệ

thống các vấn đề lý luận chung, cũng như các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và Lào về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn nghiên cứu các quy định của

pháp luật Việt Nam và Lào về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn nghiên cứu các quy định pháp

luật hiện hành của Việt Nam và Lào về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

4 Mục đích nghiên cứu của luận văn

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung liên quan đến bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ bằng pháp luật;

Trang 9

- Làm sáng tỏ thực trạng pháp luật, cũng như đánh giá thực trạng pháp luật của Việt Nam và Lào về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ;

- Rút ra được những bài học cần thiết từ việc học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ;

- Xây dựng được các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của

phụ nữ trong HN&GĐ bằng pháp luật ở nước CHDCND Lào

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Từ mục đích nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được xác định như sau: (i) Phụ nữ; quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ là gì?

(ii) Ý nghĩa, các yếu tố tác động đến bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ bằng pháp luật như thế nào?

(iii) Thực trạng pháp luật, thành tựu và hạn chế của pháp luật Việt Nam và Lào về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ?

(iv) Kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ bằng pháp luật ở nước CHDCND Lào?

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam

và Lào về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

Các phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiên cứu bao gồm: Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh luật, chứng minh, thống kê, kết hợp nghiên cứu lý luận với nghiên cứu thực tiễn,…

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung phát triển những vấn đề

lý luận về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật, trong đó có lĩnh vực HN&GĐ, cũng như đóng góp những ý kiến có cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ cho các cơ quan hữu quan của Việt Nam và Lào Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn còn là học liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ

sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo liên quan đến phụ nữ ở cả Việt Nam và Lào

Trang 10

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình;

Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ

nữ trong hôn nhân và gia đình;

Chương 3 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH

CỦA PHỤ NỮ TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1.1 Khái quát chung về quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình

1.1.1 Khái niệm

* Khái niệm quyền phụ nữ

Khái niệm phụ nữ được tiếp cận dưới nhiều góc độ và phương diện khác nhau như xã hội học, giới tính học, pháp lý, tâm lý học,… Hơn nữa, ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới, quan điểm về phụ nữ cũng rất khác nhau, có quốc gia đề cao

vai trò của phụ nữ, có quốc gia không thực sự coi trọng vai trò của phụ nữ

- Dưới góc độ xã hội học: Phụ nữ là bộ phận của cơ cấu xã hội Dựa vào tiêu

chí, đặc điểm nhân khẩu, kết cấu xã hội được phân thành nam và nữ, người già và người trẻ, người lớn và trẻ em, người có trình độ dân trí cao hay thấp Với cách phân chia này, phụ nữ là một thành phần không thể tách rời khỏi kết cấu xã hội và phụ nữ chính là một trong những yếu tố cấu thành nên xã hội loài người

- Dưới góc độ giới tính học: Phụ nữ là khái niệm chung để chỉ một người, một

nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường3

- Dưới góc độ pháp lý: Phụ nữ hay nữ giới được xác định là những chủ thể

tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định mà không phải là nam giới4

Như vậy, có thể thấy, dưới góc độ xã hội học, giới tính học hay pháp lý thì phụ nữ đều được xác định thông qua sự phân chia về giới tính Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ: Dưới góc độ pháp lý thì việc tiếp cận khái niệm phụ nữ với tư cách

là chủ thể có địa vị pháp lý5 Điều đó có nghĩa là phụ nữ là những người có quyền,

có nghĩa vụ pháp lý và là đối tượng bảo vệ của pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia Theo pháp luật quốc tế, phụ nữ là con người và được hưởng quyền con người, với tư cách là những người yếu thế trong xã hội Pháp luật quốc gia sẽ xác lập địa

vị pháp lý của phụ nữ dựa trên những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

3

Sina Yayongyear (2011), Quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế và pháp luật Lào, khóa luận tốt nghiệp,

Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 6.

4 Chittana Langsilimphone (2016), Quyền phụ nữ theo pháp luật Quốc tế và pháp luật Lào, Luận văn thạc sĩ

luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.6

5

Sina Yayongyear (2011), Quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế và pháp luật Lào, khóa luận tốt nghiệp,

Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 6

Trang 12

của quốc gia Cho nên địa vị pháp lý của phụ nữ ở các quốc gia khác nhau là khác nhau

Do vậy, phụ nữ ở đây được coi là những người có sự phân biệt về giới tính rõ ràng so với nam giới, đạt độ tuổi nhất định Do đó, trẻ em gái chưa thể được coi là phụ nữ, vì chưa có sự phân biệt giới tính rõ ràng, chưa có khả năng mang thai, sinh

nở, chưa đạt độ tuổi để được coi là phụ nữ

Quyền của phụ nữ hay quyền con người của phụ nữ nói chung và quyền của phụ nữ trong HN&GĐ là một bộ phận quan trọng của quyền con người được cộng đồng quốc tế, các quốc gia công nhận và bảo đảm thông qua các văn kiện pháp lý Tuy nhiên định nghĩa về quyền của phụ nữ nói chung và quyền của phụ nữ trong HN&GĐ lại là một vấn đề không hề đơn giản, bởi nó được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau Để hiểu một cách cặn kẽ về quyền phụ nữ trong HN&GĐ thì trước hết phải xuất phát từ quyền của phụ nữ với tư cách là một bộ phận quan trọng của quyền con người

Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Do vậy, quyền con người không chỉ dành riêng cho nam giới mà còn dành cho cả phụ nữ, bắt nguồn từ thực tế khách quan cho rằng: Phụ nữ cùng là con người, là thành viên của xã hội và là công dân của một quốc gia nhất định, nên đều có những quyền cơ bản của con người, của công dân Điều này cũng được khẳng định trong hầu hết các văn kiện quốc tế về quyền con người Pháp luật của mỗi quốc gia, khi đề cập tới quyền và nghĩa vụ của các cá nhân thường

sử dụng thuật ngữ “công dân” bao gồm cả nam và nữ Vì vậy, phụ nữ cũng có quyền như nam giới Phẩm giá và vị thế của một con người không phải được xác định thông

qua giới tính mà phải được bắt nguồn từ nơi họ sinh ra, bất kể họ là nam hay nữ

Tuy nhiên, do những đặc điểm về giới tính cũng như từ sự tác động của các quan niệm truyền thống mà việc bảo đảm các quyền của phụ nữ phải dựa trên các đặc điểm của phụ nữ:

Thứ nhất, phụ nữ là đối tượng công dân đặc biệt nên đặc điểm nổi bật trong

quyền con người của phụ nữ là bản thân gặp những khó khăn nhất định trong việc thực hiện quyền và bảo vệ quyền của mình và còn phụ thuộc vào các quan niệm truyền thống về địa vị, vai trò của người phụ nữ Vì vậy, Nhà nước và xã hội phải tạo ra những điều kiện tốt nhất để bảo vệ quyền của phụ nữ

Thứ hai, quyền con người của phụ nữ có những quyền đặc thù mà chỉ phụ nữ mới

được hưởng như quyền không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội về xâm phạm tình dục hoặc những quyền mà phụ nữ được ưu tiên hơn như quyền được bảo vệ

Trang 13

đặc biệt, quyền được nghỉ hưu sớm Vì vậy, quyền con người của phụ nữ được quy định

cụ thể trong các văn kiện pháp lý quốc tế và quy định pháp luật của các quốc gia

Thứ ba, phụ nữ được hưởng các quyền con người nhưng do phụ nữ có những

đặc điểm riêng biệt về tâm sinh lý nên có một số quyền mà phụ nữ không được hưởng hoặc hạn chế được hưởng như nam giới, như quyền thực hiện nghĩa vụ quân

sự, quyền lao động trong một số công việc nặng nhọc, độc hại Sự giới hạn này không phải là sự phân biệt đối xử về giới tính giữa nam và nữ mà chính là nhằm mục đích đảm bảo sức khỏe của phụ nữ cũng như sự vận động, phát triển của toàn xã hội

Như vậy, về bản chất thì quyền của phụ nữ chính là quyền con người nhưng được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc điểm tâm sinh lý và tính chất công việc, cuộc sống của phụ nữ

Xét về nội dung, quyền con người của phụ nữ cần phải được xem xét gắn liền với bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của từng quốc gia, ở từng giai đoạn

cụ thể Mức độ quan tâm đến phụ nữ sẽ phát triển dần lên trong từng giai đoạn lịch

sử, cho thấy rằng quan niệm về quyền con người của phụ nữ gắn chặt với cách thức

xã hội nhìn nhận về phụ nữ và những kết quả của sự tác động đan xen giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Nhận thức và quy định về quyền của phụ nữ phải bắt nguồn từ nhận thức: Phụ nữ đóng góp quan trọng vào tái tạo xã hội về mặt sinh học, mặt tổ chức và cả về mặt văn hóa6

Như vậy, xuất phát từ bản chất và nội dung quyền con người của phụ nữ có

thể hiểu: Quyền con người của phụ nữ hay quyền của phụ nữ là những nhu cầu, lợi

ích tự nhiên vốn có của phụ nữ được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

*Khái niệm quyền của phụ nữ trong HN&GĐ Phụ nữ có một vai trò hết sức

quan trọng trong việc duy trì và phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên do các yếu tố truyền thống, đặc biệt là các tư tưởng truyền thống, như tư tưởng “trọng nam khinh nữ” mà hầu hết phụ nữ trên thế giới đều có sự bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ so với nam giới, trong đó có sự bất bình đẳng trong HN&GĐ Sự bất bình đẳng này đến từ các tư tưởng truyền thống và đến từ việc các quyền của phụ nữ

trong HN&GĐ chưa được ghi nhận và bảo đảm

6

Chittana Langsilimphone (2016), Quyền phụ nữ theo pháp luật Quốc tế và pháp luật Lào, Luận văn thạc sĩ

luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.9

Trang 14

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về quyền của phụ

nữ trong HN&GĐ Do vậy, để có thể đưa ra được khái niệm về quyền của phụ nữ trong HN&GĐ thì cần phải xuất phát từ khái niệm hôn nhân và khái niệm gia đình:

- Hôn nhân hiểu một cách đơn giản là quan hệ giữa vợ và chồng tính từ thời

điểm sau khi kết hôn cho đến khi hôn nhân kết thúc

- Gia đình hiểu một cách đơn giản là tập hợp những người có mối quan hệ

với nhau xuất phát từ quan hệ hôn nhân, xuất phát từ quan hệ huyết thống hoặc xuất phát từ quan hệ nuôi dưỡng mà làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa những người đó với nhau

Như vậy, từ khái niệm quyền của phụ nữ, khái niệm hôn nhân và khái niệm gia đình, có thể hiểu quyền của phụ nữ trong HN&GĐ như sau:

Quyền của phụ nữ trong HN&GĐ là hệ thống các nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có của phụ nữ trong lĩnh vực HN&GĐ được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

1.1.2 Đặc điểm

Dựa vào khái niệm về quyền của phụ nữ trong HN&GĐ, có thể khái quát

lên các đặc điểm sau đây của quyền phụ nữ trong HN&GĐ:

Thứ nhất, đó là hệ thống các quyền được ghi nhận bằng pháp luật

- Với tư cách là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền của phụ nữ trong HN&GĐ được pháp luật quốc tế ghi nhận ở mức độ chung, mang tính khuyến nghị đối với các quốc gia trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về quyền của phụ nữ trong HN&GĐ Theo Điều 16 Công ước CEDAW thì phụ nữ có quyền được bình đẳng với nam giới trong quan hệ HN&GĐ

Cụ thể là trên các khía cạnh như kết hôn, lựa chọn người phối ngẫu (lựa chọn người kết hôn); quyền và trách nhiệm với con cái, kể cả nhận con nuôi; lựa chọn họ tên, quyết định lựa chọn nghề nghiệp, việc làm; Sở hữu, kiểm soát, quản lý và sử dụng tài sản chung Nội dung của Điều 16 của Công ước CEDAW đề cập đến việc xóa bỏ

sự phân biệt đối xử với phụ nữ trên một lĩnh vực riêng tư, xuất phát từ thực tế là trong hầu hết các xã hội, phụ nữ thường phải chịu đựng sự đối xử bất bình đẳng ngay trong gia đình qua các hình thức như hôn nhân cưỡng bức, quyền quyết định

về con cái, vị thế trong gia đình, quyền quản lý tài sản, quyền nghỉ ngơi,… Sự phân biệt đối xử với phụ nữ trên lĩnh vực này thường có cơ sở từ các tập tục truyền thống, do vậy, đây là lĩnh vực khó xâm nhập và có “sức ỳ” cao nhất Tuy nhiên, sự thay đổi trên lĩnh vực này đóng vai trò quyết định để phụ nữ đạt được sự bình đẳng

Trang 15

một cách đầy đủ với nam giới Liên quan đến Điều 16 của Công ước CEDAW, trong Khuyến nghị chung số 21, Ủy ban CEDAW cho rằng, quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực HN&GĐ không phụ thuộc vào các cách hiểu khái niệm “gia đình” giữa các quốc gia Ủy ban CEDAW cũng cho rằng chế độ đa thê là trái với quyền bình đẳng nam nữ và có thể gây ra những nguy cơ nghiêm trọng cho phụ nữ

và con cái, cho nên, chế độ này cần phải bị cấm trong các quốc gia Ngoài ra, Khuyến nghị này cũng cho rằng các quy định pháp luật và tập tục “ưu đãi” cho nam giới trong việc hưởng thừa kế tài sản chính là sự phân biệt đối xử với phụ nữ7

- Ở phương diện pháp luật quốc gia, quyền của phụ nữ nói chung và trong HN&GĐ nói riêng được ghi nhận ở mức độ cụ thể, tức là ghi nhận từng quyền của phụ nữ trong HN&GĐ trong Hiến pháp, pháp luật về HN&GĐ Cùng với đó là các quy định về biện pháp bảo vệ; cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ Tuy nhiên, mức độ hoàn thiện, mở rộng hay thu hẹp quyền của phụ nữ trong HN&GĐ ở pháp luật các quốc gia là khác nhau Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào tư tưởng lập pháp, tư tưởng về giới cũng như nhận thức về

vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình, xã hội của quốc gia đó

Như vậy, quyền của phụ nữ nói chung và đặc biệt là quyền của phụ nữ trong HN&GĐ là một trong những nhóm quyền con người được cả pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia quan tâm điều chỉnh Tuy rằng, mức độ quan tâm điều chỉnh giữa các quốc gia có thể khác nhau, nhưng điều đó cũng chứng tỏ sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, các quốc gia trong việc bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của người phụ nữ; nâng cao vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội8

Thứ hai, các quyền của phụ nữ trong HN&GĐ phát sinh do quan hệ hôn nhân,

quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng Nguồn gốc phát sinh và ghi nhận các quyền của phụ nữ trong HN&GĐ xuất phát chính từ các quan hệ như quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Nếu các quyền của phụ nữ không phát sinh từ các quan hệ này thì đó không phải là quyền của phụ nữ trong HN&GĐ

Thứ ba, các quyền của phụ nữ trong HN&GĐ là cơ sở để phụ nữ thực hiện chức

năng của mình trong hôn nhân, gia đình; là tiền đề quan trọng để phụ nữ sống, hoạt động, phát triển một cách tích cực, bình đẳng với nam giới trong HN&GĐ Việc ghi nhận các

7 Chittana Langsilimphone (2016), Quyền phụ nữ theo pháp luật quốc tế và pháp luật Lào, Luận văn thạc sĩ

luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.12

8

Chittana Langsilimphone (2016), Quyền phụ nữ theo pháp luật quốc tế và pháp luật Lào, Luận văn thạc sĩ

luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.12

Trang 16

quyền của phụ nữ trong HN&GĐ là nhằm mục đích tạo ra cơ sở pháp lý phù hợp để người phụ nữ thực hiện chức năng làm con, làm vợ, làm mẹ, làm bà trong gia đình, nâng cao vị thế của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân, quan hệ gia đình và là cơ sở quan trọng để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở các quốc gia Nếu các quyền của phụ nữ được ghi nhận không nhằm phục vụ cho mục đích nâng cao vị thế, vai trò, bảo đảm bình đẳng giới trong quan hệ hôn nhân, quan hệ gia đình thì đó không phải là quyền phụ nữ trong HN&GĐ

1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ

nữ trong hôn nhân và gia đình

1.2.1 Khái niệm

Lịch sử xã hội loài người đã từng trải qua giai đoạn mà địa vị của người phụ

nữ đã được tôn vinh Người phụ nữ có nhiều quyền và địa vị “vinh dự” hơn nam giới Đó là thời kỳ tồn tại chế độ mẫu quyền Nhưng rồi chế độ mẫu quyền bị thay

thế bởi chế độ phụ quyền Ph Ăngghen cho rằng: “Chế độ mẫu quyền lật bị lật đổ

là sự thất bại lịch sử lớn nhất của giới phụ nữ” 9

Quyền con người, quyền phụ nữ không phải là một khái niệm trìu tượng, cũng không chỉ là quyền cá nhân con người mang tính tự nhiên, bẩm sinh mà luôn gắn liền với từng trình độ phát triển và tiến bộ xã hội, chịu sự hạn định của chế độ kinh tế, đặc biệt là chế độ chính trị - Nhà nước

Tiếp cận vấn đề quyền con người cần phải xuất phát từ mối quan hệ giữa cá

nhân với Nhà nước “Quyền con người không phải là một nhân tố đầu tiên có trước

Nhà nước mà phải bằng pháp luật ghi nhận và thiết định trở thành hiện thực” 10

Vì vậy, quyền con người, một mặt có tính chất tự nhiên “quyền con người vốn có, không phải ai ban tặng cho họ” nhưng mặt khác các quyền tự nhiên đó phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thì mới trở thành quyền về thực chất

Có nhiều phương thức để bảo vệ quyền của phụ nữ, song phương thức quan trọng

và không thể thiếu chính là bảo vệ bằng pháp luật Theo đó, bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật nói riêng, trước hết phải được hiểu là sự ghi nhận các quyền con người bằng pháp luật và phải bảo đảm cho quyền đó được thực hiện Mặt khác, do phụ nữ là nhóm xã hội đặc biệt, bởi vậy quyền phụ nữ phải được xem xét

và ghi nhận dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật phải ghi nhận quyền phụ nữ dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng giới Vì vậy, bảo vệ quyền của

9 C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, tr.214

10

Viện thông tin khoa học và xã hội, Trung tâm nghiên cứu về quyền con người (1995), “Quyền con người

trong thế giới hiện đại”, Nhà in Viện thông tin khoa học và xã hội, tr.81

Trang 17

phụ nữ nói riêng, bảo vệ quyền con người nói chung phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của Nhà nước Nhà nước ghi nhận các quyền con người, quyền của phụ nữ và đảm bảo cho những quyền này được thực hiện bằng các biện pháp thực hiện, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện việc bảo vệ quyền của phụ nữ Đây chính là nội dung của việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật

Bảo vệ quyền của phụ nữ trong HN&GĐ là bảo vệ quyền kết hôn, quyền bình đẳng vợ chồng về nhân thân và tài sản, quyền đối với con cái và với các thành viên gia đình, quyền ly hôn,… Bảo vệ quyền của phụ nữ trong HN&GĐ được ghi nhận trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật dân sự, hệ thống pháp luật HN&GĐ và nhiều hệ thống pháp luật khác, nhưng chủ yếu là được ghi nhận trong pháp luật HN&GĐ Đặc biệt, phụ nữ khi thực hiện chức năng làm mẹ được Nhà nước, xã hội và gia đình giúp

đỡ để họ có thể thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ Do vậy, bảo vệ quyền của phụ nữ trong HN&GĐ khi làm mẹ không chỉ được thể hiện trong pháp luật HN&GĐ mà còn được thể hiện trong hệ thống pháp luật lao động, an sinh xã hội

Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa về bảo vệ quyền phụ nữ trong HN&GĐ như

sau: Bảo vệ quyền phụ nữ trong HN&GĐ là việc ghi nhận các quyền của phụ nữ

trong HN&GĐ bằng pháp luật và bảo đảm cho các quyền đó được thực thi

1.2.2 Đặc điểm

Từ khái niệm về bảo vệ quyền, lợi ích phụ nữ trong HN&GĐ, có thể thấy được các đặc điểm của bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ như sau:

Thứ nhất, bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ có rất nhiều

phương thức, biện pháp Tuy nhiên, việc bảo đảm bằng các quy định pháp luật quy định về quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ; quy định pháp luật về phương thức, biện pháp bảo vệ, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ là một cách thức bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ thực chất nhất, có hiệu quả nhất Bởi lẽ, pháp luật là hình thức thể hiện ý chí của Nhà nước, có tính cưỡng chế thi hành cao và được cả xã hội tuân theo

Thứ hai, việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ có tính đến

những đặc thù về giới của người phụ nữ, vị trí, vai trò của người phụ nữ trong HN&GĐ Các yếu tố về giới, về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong HN&GĐ là

cơ sở quan trọng để nhận thức về tính cần thiết phải bảo vệ quyền, lợi ích của phụ

nữ trong HN&GĐ, vừa là cơ sở để xây dựng các quy định về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ Nếu như việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong các lĩnh vực khác

Trang 18

có cơ sở là yếu tố về giới, vệ vị trí, vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực đó, thì việc bảo

vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ nhất thiết phải xem xét đến yếu tố về vị trí, vai trò quan trọng của người phụ nữ trong HN&GĐ11

Thứ ba, bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ đề cao vai trò của Nhà

nước, xã hội Bên cạnh vai trò của các thành viên trong gia đình trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ bằng việc tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ thì Nhà nước, xã hội có một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ, quyền lợi ích của phụ nữ, bởi lẽ gia đình “là một xã hội thu nhỏ” và xuất phát tư tưởng không đề cao phụ quyền trong xã hội phương Đông thì quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ trong HN&GĐ rất dễ xâm hại và lúc này chỉ có Nhà nước mới có đầy đủ quyền lực, công cụ cùng với dư luận của xã hội mới đủ sức bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất cho người phụ nữ trong HN&GĐ12

1.2.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân

và gia đình

Việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ không chỉ

là việc ghi nhận các quyền con người của phụ nữ mà còn bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả Điều này càng có ý nghĩa sâu sắc khi quyền, lợi ích của phụ nữ thường bị xâm hại, đặc biệt là các quyền, lợi ích trong HN&GĐ Phụ nữ bị đối xử không công bằng trong quan hệ HN&GĐ là tình trạng khá phổ biến ở khắp mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia phương Đông, trong đó có Lào và Việt Nam Sự bất bình đẳng này xuất phát từ vấn đề quyền và những đặc quyền không tương xứng giữa nam giới và nữ giới trong HN&GĐ Sự không tương xứng đó chủ yếu do tác độ của luật tục, của tập quán và những quan niệm sai lệch của cộng đồng và gia đình về vị trí, vai trò của người phụ nữ

Do vậy, trong quan hệ HN&GĐ, khi quyền, lợi ích của phụ nữ được pháp luật ghi nhận và bảo vệ sẽ làm cho người phụ nữ có quyền tự chủ và quyền kiểm soát trong các vấn đề của quan hệ HN&GĐ, bao gồm vấn đề kết hôn; ly hôn; quyết định sinh con,

số con, chăm sóc con cái; quản lý và sử dụng tài sản chung vợ chồng, tài sản riêng; về thừa kế,… Khi người phụ nữ có vị thế và vai trò quan trọng hơn trong gia đình, có thể ngang bằng với nam giới một cách tương đối thì họ có cơ hội học tập nâng cao nhận

Trang 19

thức và tiếp cận thông tin, giải phóng phụ nữ khỏi lao động việc nhà, đưa họ vào thị trường lao động với vai trò là người trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch

vụ, đưa họ tham gia các công tác quản lý nhà nước và xã hội Điều này đảm bảo cho lợi ích gia đình được hài hóa, tránh những mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ vợ chồng Đây là vấn đề cốt lõi để hạn chế ly thân, ky hôn, góp phần xây dựng chế độ gia đình bền vững và tác động tốt đến việc hình thành, phát triển nhân cách của con cái; sự phát triển của xã hội loài người, khi mà “gia đình là tế bào của xã hội”13

Như vậy, việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ nói chung và quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ nói riêng bằng pháp luật là hết sức cần thiết Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là việc bảo đảm các quyền đó được thực hiện,

về vấn đề này, pháp luật lại giữ vai trò quyết định bởi chỉ có pháp luật mới có sức mạnh cưỡng chế đủ mạnh để có thể thay đổi phần nào nhận thức của nam giới, của các thành viên gia đình, của xã hội về vị trí, vai trò của phụ nữ Với ý nghĩa quan trọng đó, quyền, lợi ích của phụ nữ được thể chế hóa thành pháp luật phải được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng cho chính người phụ nữ, nam giới, các thành viên gia đình và toàn xã hội để họ giác ngộ, nâng cao ý thức tự bảo vệ, nâng cao ý thức tôn trọng và thực hiện các quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ đã được pháp luật ghi nhận và được Nhà nước bảo đảm thực hiện

1.3 Các yếu tố tác động đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình

Bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ nói riêng bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có cả yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan Các yếu tố được xác định dưới đây đều tác động theo hai chiều hướng là tác động tích cực và tác động tiêu cực đến việc bảo vệ quyền, lợi ích

của của phụ nữ trong HN&GĐ bằng pháp luật

1.3.1 Những tư tưởng tôn giáo, triết học

Thứ nhất, những tư tưởng tôn giáo Các tư tưởng tôn giáo lớn trên thế giới đều

quan tâm đến vấn đề phụ nữ ở những mức độ nhất định Đầu tiên các tôn giáo đều đã

đề cập đến vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, đó là cơ sở đầu tiên cho việc bảo vệ quyền phụ nữ nói chung và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ nói riêng Một trong những tôn giáo có ảnh hưởng tích cực đến việc

13

Lương Ánh Nhàn (2016), Bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình, Luận văn thạc sĩ

luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.17-18

Trang 20

bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ chính là Phật giáo.Theo đó, Đức Phật coi tất cả mọi chúng sinh đều có quyền bình đẳng như nhau, đồng thời Đức Phật cũng không đồng tình với quan điểm “trọng nam khinh nữ” của Đạo Bà La Môn truyền thống14 Trong khi đó Nho giáo với việc coi trọng gia đình, chú trọng xây dựng gia đình nề nếp, gia giáo, giữ lễ bằng cách tạo ra hòa mục, đem lại cái hài hòa, cái đẹp trong gia đình và theo Nho giáo để làm được điều này thì gia đình phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm “cha ra cha, con ra con, vợ ra vợ, chồng ra chồng, anh ra anh, em ra em”, đồng thời Nho giáo nêu ra tứ đức “công, dung, ngôn, hạnh” là tiêu chuẩn đối với phụ nữ ngày xưa và đôi khi cũng là tiêu chuẩn đối với phụ nữ ngày nay15 Những quan niệm này của các tôn giáo chính là điều kiện tiền đề để giúp phụ nữ vươn lên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong gia đình và xã hội Các quan niệm này cũng tác động tích cực đến việc ghi nhận và bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật ở các quốc gia, điển hình như pháp luật HN&GĐ hiện hành của Việt Nam và nước CHDCND Lào đều thể hiện tư tưởng của Phật giáo là vợ chồng có quyền, nghĩa vụ bình đẳng với nhau, cũng như pháp luật của hai nước đã xóa bỏ chế độ “đa thê”, tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” đã tồn tại trong chế độ phong kiến ở hai quốc gia

Tuy nhiên, các tư tưởng tôn giáo cũng ảnh hưởng tiêu cực đến việc ghi nhận và bảo vệ quyền phụ nữ nói chung và quyền phụ nữ trong HN&GĐ nói riêng, bằng các giáo lý, quan điểm hạn chế quyền con người của phụ nữ, tạo ra sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới Điển hình nhất ở đây là, quy định của đạo Hồi về quyền và bảo vệ quyền của phụ nữ Theo Kinh Koran, phụ nữ luôn có địa vị thấp hơn và phụ thuộc vào

nam giới “Đàn ông có quyền đối với đàn bà vì Chúa đã sinh ra đàn ông cao quý hơn

đàn bà và vì đàn ông phải bỏ tài sản của mình ra để nuôi họ Đàn bà tốt phải biết vâng lời đàn ông vì đàn ông có quyền ruồng bỏ, không cho nằm chung giường và có quyền đánh đập” (Koran 4:43), do đó phụ nữ đạo Hồi không có các quyền về chính trị, dân

sự, kinh tế hoặc một ít quyền mà họ có không bao giờ được bình đẳng với nam giới16

Phụ nữ đạo Hồi được quyền có tài sản và hưởng thừa kế, không có quan hệ tình bạn giữa nam và nữ Hôn nhân của người phụ nữ đạo Hồi cũng mang tính ép buộc, phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào chồng, xã hội Hồi giáo thừa nhận chế độ đa thê nên nam giới

Đặng Thị Hồng Tuyến- Phạm Thùy Linh, Đạo hồi và ảnh hưởng của nó tới quyền của phụ nữ ở một số

nước châu Á, Tạp chí Nghề Luật, số 3/2011, tr 65

Trang 21

không bị kết tội ngoại tình, trong khi đó phụ nữ đạo Hồi chỉ được phép có một chồng

và phụ nữ ngoại tình là tội phạm nặng nhất, tương ứng với hình phạt bị ném đá tới chết Người vợ có nghĩa vụ phục tùng, chung thủy với người chồng sau khi ly hôn và thậm chí cả khi người chồng đã chết Kinh Koran quy định về “thời gian ở giá” đối với phụ

nữ ly hôn và góa phụ Phụ nữ sau khi ly hôn và góa phụ Hồi giáo chỉ được tái hôn khi

đã hết “thời gian ở giá” Nếu trong “thời gian ở giá” họ có quan hệ tình cảm hoặc tái hôn với người đàn ông khác thì sẽ bị coi là phạm tội ngoại tình17 Do không có quyền hoặc quyền bị hạn chế rất nhiều so với nam giới Trong khi đó ở các quốc gia theo đạo Hồi thì các quan điểm, tư tưởng của đạo Hồi ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống, đến xây dựng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ

Trong quan niệm của Nho giáo về phụ nữ và quyền của phụ nữ cũng có một

số quan điểm tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng pháp luật nhằm bảo

vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ như tư tưởng “nam tôn nữ ti” tức là trọng nam khinh nữ hay quy định ngặt nghèo về sự phụ thuộc tuyệt đối của phụ nữ vào đàn ông theo đạo tam tòng “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”18, trong hôn nhân, phụ nữ không được tự do yêu đương mà bị ép duyên theo kiểu gả bán, do cha mẹ quyết định “đặt đâu ngồi đó”

Như vậy, nếu ở các quốc gia mà các tư tưởng tôn giáo có tác động rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội thì việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật, trong đó có lĩnh vực HN&GĐ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, cản trở Hiện tại trên thế giới có một số quốc gia theo đạo Hồi việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật thể hiện rõ sự bất bình đẳng giữa nam giới với nữ giới, đặc biệt là các quốc gia theo đạo Hồi ở Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á,…

Thứ hai, các tư tưởng triết học Các tư tưởng triết học ngày nay có một vị trí rất

quan trọng trong đời sống xã hội ở các quốc gia Thậm chí các tư tưởng triết học còn là

cơ sở tiền đề để xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật Tuy nhiên, không phải tư tưởng triết học nào cũng tác động tích cực đến quá trình đó, mà còn có những tư tưởng triết học gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật

Trang 22

- Ở góc độ tác động tích cực, tư tưởng triết học có tác động tích cực đến việc

bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ đó chính là triết học Mác - Lênin, cụ thể là tư tưởng của triết học Mác - Lênin về giải phóng phụ nữ Các nhà tư tưởng mác xít cho rằng trong xã hội nguyên thủy phụ nữ có vị trí, vai trò rất lớn trong gia đình và ngoài xã hội nhưng chuyển sang các xã hội có giai cấp đối kháng, vị trí, vai trò của người phụ nữ đã có những thay đổi cơ bản, trở nên rất thấp kém19, các nhà tư tưởng

này còn nhận xét “áp bức đàn bà về mặt kinh tế” là phổ biến trong gia đình tư sản,

còn các gia đình vô sản, vợ chồng trở nên bình đẳng hơn

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con đường và những điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên thực tế - đó là con đường cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ nguồn gốc kinh tế mà từ đó đẻ ra mọi sự bất bình đẳng trong xã hội, bao gồm cả bất bình đẳng giữa nam và nữ, trong đó chế độ sở hữu tư nhân phải được thay thế bằng sử hữu xã hội; phải đưa phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào

công việc xã hội Ph.Ăngghen viết: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam

giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”20 Đồng thời cần phải tổ chức phân công lao động xã hội

và gia đình theo hướng giảm nhẹ gánh nặng gia đình cho phụ nữ bằng cách xã hội hóa một phần công việc gia đình Luật pháp hóa mục tiêu bình đẳng nam nữ, bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa hai giới Chính tư tưởng triết học Mác - Lênin đã tác động tích cực đến việc xây dựng pháp luật ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng nam nữ, ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

bằng pháp luật, trong đó có Việt Nam và Lào

- Ở góc độ tác động tiêu cực, một số nhà triết học cổ đại cũng có những tư

tưởng sai lầm về người phụ nữ và bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ Điển hình là

Aristotle đã nhìn phụ nữ từ phương diện không hoàn thiện của giới tính “Phụ nữ chỉ là

một người đàn ông khiếm khuyết” Tư tưởng này ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu bền ở

phương Tây Còn J Bruyère, nhà phê bình người Pháp, nhìn đàn bà ở sự cực đoan:

“Đàn bà là cái gì đó vô cùng cực đoan, họ hoặc vượt trội hoặc thấp kém hơn so với

đàn ông” Nietzsche, với vẻ hoài nghi và cảnh giác: “Trước lúc đến với đàn bà, mi đừng quên mang theo một cây roi!”21 Như vậy, trong lịch sử cũng có những tư tưởng

19 C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Tr 93

20

C.Mác và Ăngghen tuyển tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Tr 689

21 Đỗ Minh Hợp (2014), Lịch sử triết học phương Tây, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, tr 27

Trang 23

triết học tiêu cực về vị trí, vai trò của người phụ nữ và chính những tư tưởng tiêu cực này làm cho phụ nữ ở thời kỳ cổ đại, trung đại gần như không có bất cứ một quyền hành gì trong gia đình và xã hội, cũng như việc bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ gần như không được pháp luật quan tâm điều chỉnh Các tư tưởng triết học có quan điểm tiêu cực về phụ nữ này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng pháp luật trong quá khứ và hiện tại về bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ Đặc biệt là ở các quốc gia mà vị trí, vai trò của phụ nữ chưa được thừa nhận và đánh giá cao như ở các nước ở khu vực Đông Á, Trung Á, Đông Nam Á,…

1.3.2 Chế độ chính trị, kinh tế - xã hội

Chế độ chính trị, kinh tế - xã hội là các yếu tố rất quan trọng trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người nói chung và quyền phụ nữ nói riêng, trong đó có bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

Thứ nhất, chế độ chính trị Chế độ chính trị được hiểu là phương thức tổ chức và

hoạt động của hệ thống chính trị quốc gia mà trung tâm là Nhà nước Một chế độ chính trị được tổ chức và hoạt động theo kiểu độc tài, chuyên trị thì các quyền con người sẽ không được ghi nhận hoặc ghi nhận ở mức độ hạn chế trong pháp luật, đặc biệt là quyền, lợi ích của người phụ nữ sẽ bị xem nhẹ Do vậy, việc xây dựng các thiết chế và thể chế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ sẽ không được quan tâm đúng mức, làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền con người nói chung và quyền, lợi ích của người phụ nữ nói riêng, điển hình nhất ở đây là chế độ chính trị của chế độ phong kiến, các quyền và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ không được nhà nước phong kiến quan tâm điều chỉnh bằng pháp luật Ngược lại, các chế độ chính trị đề cao tính dân chủ, coi trọng quyền con người thì hệ thống pháp luật ghi nhận về quyền và cơ chế bảo vệ quyền phụ

nữ sẽ được quan tâm thường xuyên hơn, điển hình nhất ở đây là ở chế độ chính trị tư sản

và chế độ chính trị XHCN, quyền và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ, trong đó có cả lĩnh vực HN&GĐ được pháp luật ngày càng quan tâm và hoàn thiện ở cả góc độ pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Đặc biệt là chế độ chính trị XHCN có bản chất là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bình đẳng và bao cấp nên các quyền và

cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ được công nhận22

Chính vì vậy, chế độ chính trị tác động không nhỏ đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực nhất ở cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế

22

Lê Thu Thảo (2014), Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình tại Việt

Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.21

Trang 24

Thứ hai, điều kiện kinh tế - xã hội Điều kiện kinh tế - xã hội là một vấn đề ảnh

hưởng rất nhiều đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ, ở cả góc độ tác động tích cực và tiêu cực Điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi sẽ là cơ sở quan trọng để Nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển, trong đó có việc chăm lo cho đời sống nhân dân,

mà cụ thể là người phụ nữ, đây là tiền đề quan trọng để ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật Kinh tế - xã hội càng phát triển thì các nguồn lực sẽ ngày càng dồi dào, Nhà nước sẽ có nhiều nguồn lực hơn để xây dựng và hoàn thiện pháp luật, trong đó có hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ Ngược lại, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Nhà nước thiếu nguồn lực để đầu tư cho phát triển thì việc ghi nhận và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ nói riêng và quyền con người nói chung sẽ bị hạn chế23 Ngoài ra, điều kiện kinh tế - xã hội cũng là cơ sở tiền đề

để Nhà nước mở rộng các thiết chế, thể chế bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

1.3.3 Mức độ hoàn thiện của pháp luật

Nếu như các yếu tố ở trên tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm việc xây dựng, hoàn thiện các thiết chế, thể chế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, trong đó có lĩnh vực HN&GĐ thì mức độ hoàn thiện của pháp luật là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả hoặc kìm hãm việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

Nếu pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ được hoàn thiện, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn công tác bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ nó sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ nâng cao hiệu quả hoạt động của mình Ngược lại, nếu pháp luật về bảo

vệ quyền, lợi ích của phụ nữ chưa được hoàn thiện, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập thì sẽ gây ra khó khăn cho công tác bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm

1.3.4 Năng lực hoạt động của các thiết chế có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

Năng lực hoạt động của các thiết chế có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ có tác động rất mạnh mẽ đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ bằng pháp luật Cùng với sự hoàn thiện của pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ thì năng lực hoạt động của các thiết chế bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ sẽ bảo đảm cho hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong lĩnh vực HN&GĐ Nếu năng lực của các thiết chế này thực sự cao thì bên cạnh việc đạt được những hiệu quả trong

23 Tlđđ, tr.21

Trang 25

công tác bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, các thiết chế này còn có khả năng đóng góp cho việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ tốt hơn nữa

Ngược lại, nếu năng lực của các thiết chế có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ không thực sự cao, bên cạnh việc hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trên thực tế không được bảo đảm thì các thiết chế này cũng sẽ không đóng góp nhiều cho việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

Bên cạnh những tác động tích cực, tiêu cực như đã phân tích ở trên thì các yếu tố tác động đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ còn còn

sự tác động qua lại với nhau Những tư tưởng tôn giáo, triết học cộng với chế độ chính trị, kinh tế - xã hội cùng một số yếu tố khác sẽ quyết định đến mức độ hoàn thiện của pháp luật cũng như năng lực hoạt động của các thiết chế có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong các lĩnh vực nói chung và trong HN&GĐ nói riêng Nếu những tư tưởng tôn giáo, triết học có nhìn nhận tích cực về vị trí, vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực nói chung và trong HN&GĐ nói riêng thì nó sẽ là hệ

tư tưởng quan trọng để Nhà nước xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, bảo đảm sự bình đẳng của phụ nữ so với nam giới Nếu chế độ chính trị ổn định, điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi, phát triển thì sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực hoạt động của các thiết chế có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ Bởi lẽ các thiết chế này cũng cần được bảo đảm về mặt tài chính, nhân lực, vật lực để nâng cao hoạt động của chính mình mà những bảo đảm đó sẽ do chế độ chính trị, điều kiện kinh tế xã hội chi phối Ngược lại, nếu các

tư tưởng tôn giáo, triết học có cái nhìn không tích cực về vị trí, vai trò của phụ nữ; chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội không phát triển thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ hoàn thiện của pháp luật, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực hoạt động của các thiết chế có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

Như vậy, để bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong các lĩnh vực nói chung

và trong HN&GĐ nói riêng ở nước CHDCND Lào, Việt Nam và các quốc gia khác thì cần phải xem xét đến những yếu tố này theo hướng, phát huy những tác động tích cực, triệt tiêu, hạn chế những điểm tiêu cực để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, cũng như xây dựng các biện pháp, cách thức để bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ

Trang 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Như vậy, bảo vệ quyền, lợi ích trong HN&GĐ của phụ nữ là một nội dung quan trọng trong pháp luật về bảo vệ các quyền con người của phụ nữ Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về quyền phụ nữ và bảo vệ quyền, lợi ích trong HN&GĐ của phụ nữ có thể rút ra các kết luận sau:

Một là, hiện nay có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau về phụ nữ

nhưng tựu chung lại thì phụ nữ được coi là những người có sự phân biệt rõ ràng về giới tính so với nam giới, đạt độ tuổi nhất định, phụ nữ là những người có khả năng mang thai, sinh nở Các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đều thừa nhận phụ nữ

là một trong những nhóm người yếu thế trong xã hội, dễ bị tổn thương Do vậy, vấn

đề ghi nhận và bảo vệ quyền phụ nữ được đặt ra hết sức bức thiết

Hai là, với tư cách là nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội nhưng phụ

nữ lại có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của gia đình và xã hội loài người Để người phụ nữ khẳng định vị trí, vai trò đó thì cần phải dành cho họ những quyền, đặc quyền nhất định trong lĩnh vực HN&GĐ Tuy nhiên hiện nay chưa có một khái niệm chung về quyền của phụ nữ trong HN&GĐ mà chỉ có thể hiểu đơn giản quyền của phụ nữ trong HN&GĐ là hệ thống các quyền của phụ nữ phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Những quyền này của phụ nữ trong HN&GĐ bảo đảm cho phụ nữ được sống, hoạt động và phát triển một cách tích cực, bình đẳng trong quan hệ HN&GĐ

Ba là, bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ đi từ góc độ tiếp cận

dưa trên quyền, cho thấy mỗi quốc gia không chỉ ghi nhận quyền HN&GĐ của phụ

nữ bằng pháp luật mà cần phải bảo đảm đề quyền này được thực thi Vì thế, cần phải

có những thiết chế đảm bảo thực thi các quyền, lợi ích trong HN&GĐ của phụ nữ

Thứ tư, HN&GĐ là một lĩnh vực rộng, gắn liền với vấn đề tình cảm của cn

người nên cũng có rất nhiều yếu tố tác động đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ

nữ trong HN&GĐ bằng pháp luật Các yếu tố mà tác giả xác định trên đây, đã, đang

và luôn luôn tác động theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực đến xây dựng, hoàn thiện cũng như thực thi pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ nói chung và trong lĩnh vực HN&GĐ nói riêng Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả điều chỉnh pháp luật các quyền, lợi ích trong HN&GĐ của phụ nữ cần phải xem xét đến các yếu tố này, phát huy điểm tích cực và hạn chế các điểm tiêu cực thì quyền, lợi ích của phụ nữ nói chung và trong HN&GĐ nói riêng mới được đảm bảo trên thực tế

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH

CỦA PHỤ NỮ TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2.1 Quyền phụ nữ trong hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Quyền của phụ nữ trong HN&GĐ là một phạm trù rất rộng, nó bao gồm tất

cả các quyền của người phụ nữ phát sinh trong HN&GĐ Trong đó, nổi bật nhất là các nhóm quyền dưới đây

2.1.1 Quyền kết hôn

Quyền tự do kết hôn hay quyền kết hôn hoặc quyền lập gia đình lần đầu tiên được đề cập trong Điều 16 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR) Theo Điều này thì: Nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không

có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo Nam và nữ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống và khi ly hôn Việc kết hôn được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn tự và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai

Cụ thể hóa quyền kết hôn theo quy định của Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR), pháp luật HN&GĐ Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện quy định về quyền tự do kết hôn, mà một trong những chủ thể hưởng thụ quyền này chính là người phụ nữ

Điều 36 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: “Nam, nữ có quyền

kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” Bộ luật Dân sự năm 2015 cụ thể hóa bằng

quy định: “Cá nhân có quyền kết hôn,…” (Điều 39) Như vậy, Hiến pháp năm 2013

và Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ ghi nhận quyền kết hôn chứ không phải là quyền tự

do kết hôn như quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và

Bộ luật Dân sự năm 2005 Đây là sự thay đổi về thuật ngữ nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa nội dung với tên gọi quyền kết hôn

Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định cụ thể thế nào là quyền kết hôn mà

mô tả quyền kết hôn thông qua các điều kiện kết hôn Theo đó, để được hưởng thụ quyền kết hôn người phụ nữ ở đây phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Điều kiện về tuổi là người phụ nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên;

- Điều kiện về ý chí là người nữ và người nam phải tự nguyện quyết định việc kết hôn Bên cạnh đó người nữ và người nam không bị mất năng lực hành vi dân sự;

Trang 28

- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn như: Kết hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; người đang

có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha,

mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014)

Như vậy, người phụ nữ có quyền kết hôn theo quy định của pháp luật Phụ nữ cũng như nam giới khi kết hôn đều phải tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn Bên cạnh các quy định về điều kiện kết hôn, pháp luật HN&GĐ cũng quy định các biện pháp chế tài cần thiết để bảo vệ quyền kết hôn của phụ nữ Trường hợp, việc kết hôn bị lừa dối, cưỡng ép trái với ý chí của một bên thì người kết hôn có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định của điểm a khoản 2 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2014 và khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

2.1.2 Quyền bình đẳng của vợ và chồng

Cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015

về quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng Luật HN&GĐ năm 2014 quy định rõ về quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, thể hiện ở các góc độ sau

2.1.2.1 Quyền nhân thân giữa vợ và chồng

Theo quy định tại Điều 17 Luật HN&GĐ năm 2014 : “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật có liên quan” Với ý nghĩa đó, quyền nhân thân giữa vợ chồng được được

tôn trọng và bảo vệ Cụ thể, trong lĩnh vực HN&GĐ, quyền của người phụ nữ với tư

cách người vợ luôn luôn bình đẳng với người chồng

- Về mặt tình cảm, người vợ bình đẳng với người chồng trong các quyền sau

đây: (i) Người vợ có quyền được yêu thương, nhận được sự chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, được chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình từ người chồng Người vợ có quyền được chung sống với người chồng, trừ trường hợp vợ chồng

có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác (Điều 19) (ii)

Trang 29

Người vợ được quyền thỏa thuận với người chồng để thống nhất việc lựa chọn nơi cư trú Không có một sự ràng buộc nào về phong tục, tập quán, địa giới hành chính làm ảnh hưởng đến quyền này của người vợ (Điều 20) (iii) Người vợ có quyền và nhận được sự tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín từ người chồng (Điều 21) (iv) Người vợ có quyền

và nhận được được sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ người chồng (Điều 22) (v) Người vợ có quyền được tạo điều kiện, giúp đỡ từ phía người chồng trong việc chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 23)

- Ngoài ra, người vợ bình đẳng với người chồng trong việc đại diện vợ chồng: (i)

Người vợ có quyền được ủy quyền cho người chồng xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan nếu hai bên vợ chồng đã đồng ý về việc ủy quyền này (khoản 2 Điều 24) (ii) Người vợ có quyền được đại diện cho người chồng khi người trồng mất năng lực hành vi dân sự nếu người vợ đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc người vợ được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự, trừ trường hợp người chồng phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 24) (iii) Người vợ có quyền được đại diện cho người chồng trong quan hệ kinh doanh trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung, trừ trường hợp khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác (khoản 1 Điều 25)

* Người vợ bình đẳng với người chồng trong các quyền về tài sản

- Về việc lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận:

Phụ nữ và nam giới trước khi kết hôn đều có quyền bình đẳng với nhau trong

việc lựa chọn chế độ tài sả Nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung theo thỏa thuận thì bên cạnh việc người vợ có quyền thỏa thuận với chồng lựa chọn hình thức

và nội dung chế độ tài sản chung theo thỏa thuận, người vợ còn có quyền thỏa thuận với chồng về việc sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản (khoản 1 Điều 49) n theo thỏa thuận(khoản 1 Điều 28)

- Đối với chế độ tài sản theo luật định

+ Vợ chồng bình đnăgr với nhau trong việc tạo lập tài sản chnng hợp nhất, + Người vợ có quyền thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (khoản 1 Điều 30)

Trang 30

+ Người vợ có quyền thỏa thuận với người chồng về việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng Nếu trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của chồng thì việc xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó thuộc quyền của người chồng nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho người vợ (Điều 31)

+ Người vợ có quyền xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán nếu người vợ đứng tên trong các tài khoản đó (khoản 1 Điều 32)

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì người vợ được quyền ghi tên, bên cạnh tên của người chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng, trừ khi có thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 34); Người vợ được quyền thỏa thuận với người chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, trong một số trường hợp thì vợ chồng phải thỏa thuận bằng văn bản (Điều 35); Người vợ có quyền thỏa thuận với chồng và nếu thỏa thuận thành, lập văn bản thì người vợ có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung được đưa vào kinh doanh (Điều 36); người vợ có quyền thỏa thuận với người chồng để chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp quy định tài Điều 42 Luật này, nếu người vợ không thỏa thuận được với người chồng thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết để chia một phần hoàn toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38); các quyền của người vợ trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng được chia (khoản 4 Điều 39, khoản 3 Điều 41)

+ Quyền có tài sản riêng của người vợ: Người vợ có quyền có tài sản riêng (Điều 43); Người vợ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung (khoản 1 Điều 44) Quy định này giúp cho người vợ có quyền độc lập về tài sản, có quyền định đoạt tài sản mà họ có trước khi kết hôn hoặc được tặng cho, thừa kế trong thời kỳ hôn nhân Khi đã có tài sản, độc lập và tự chủ về tài sản thì người vợ có thể chủ động trong cuộc sống, không bị phụ thuộc vào người chồng

* Người vợ bình đẳng với người chồng trong các quyền đối với con: Bên

cạnh việc Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về vợ chồng bình đẳng trong các quyền về nhân thân, các quyền về tài sản thì Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định

vợ chồng bình đẳng trong các quyền đối với con cái Vợ bình đẳng với chồng trong

Trang 31

việc yêu thương con, quyền chăm lo việc học tập, giáo dục con phát triển lành mạnh

về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội; vợ có quyền bình đẳng với chồng trong việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; người vợ bình đẳng với người chồng trong việc giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật Dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự (Điều 69) Cụ thể:

- Người vợ bình đẳng với người chồng để cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (khoản 1 Điều 71); người vợ bình đẳng với người chồng trong việc giáo dục, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập (khoản 1 Điều 72); người vợ bình đẳng với người chồng trong việc đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân

sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật Người vợ bình đẳng với người chồng trong việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự (Điều 77)

2.1.3 Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con

Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 người phụ nữ còn có quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con Theo đó:

- Nếu người con là người phụ nữ thì họ có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể

cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết (khoản 1 Điều 90);

- Nếu người phụ nữ là người mẹ thì họ có quyền nhận con, ngay cả trong trường hợp người con đã chết (khoản 1 Điều 91);

- Người phụ nữ trong trường hợp được nhận là mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định đó không phải là con mình (khoản 2 Điều 89), tức là quyền không nhận con, nếu đủ căn cứ xác định đó không phải là con do mình sinh ra

Người phụ nữ có quyền được sinh con theo quy định của pháp luật, người phụ nữ không thể sinh con một cách tự nhiên thì có thể sinh con bằng bằng kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản, đặc biệt, người phụ nữ có chồng mà không thể sinh con khi đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì có thể nhờ người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định của pháp luật

Trang 32

2.1.4 Quyền được nuôi con nuôi

Trong trường hợp người phụ nữ không thể tự sinh con một cách tự nhiên

hoặc không thể sinh con mặc dù đã áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản thì quyền làm mẹ của người phụ nữ vẫn được bảo đảm Pháp luật Việt Nam hiện hành bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ trong những trường hợp này bằng việc ghi nhận quyền nhận nuôi con nuôi Bên cạnh đó, trong những trường hợp đặc biệt, người phụ nữ còn có quyền được nhận làm con nuôi Điều 6 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi

theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”

2.1.5 Quyền với tư cách là thành viên trong gia đình

Bên cạnh việc người phụ nữ có tư cách người mẹ có quyền đối với chồng, con thì trong gia đình, người phụ nữ còn có tư cách là người bà (bà nội, bà ngoại); người chị, em gái; người cô, người dì, bác gái ruột Với những tư cách này sẽ phát sinh những quyền nhất định dành cho người phụ nữ trong gia đình được Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cụ thể như sau:

- Người phụ nữ là bà nội, bà ngoại thì họ sẽ có những quyền sau đây với cháu ruột (cháu nội, cháu ngoại): Quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu; quyền được kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng từ cháu ruột, trong trường hợp người phụ

nữ này không có con để nuôi dưỡng mình hoặc có con nhưng con đã chết thì những người phụ nữ này có quyền nhận cấp dưỡng từ cháu đã thành niên (Điều 104 và khoản 2 Điều 113) Khi người phụ nữ với tư cách là bà nội, bà ngoại ốm đau, già yếu còn có quyền được nhận cấp dưỡng từ cháu ruột theo các quy định về cấp dưỡng của Luật HN&GĐ năm 2014

- Người phụ nữ là chị, em gái trong gia đình thì có quyền và nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với các anh, chị, em của mình và ngược lại họ cũng có quyền được chăm sóc, yêu thương, nuôi dưỡng, cấp dưỡng từ anh, chị, em theo quy định của pháp luật

- Người phụ nữ là cô, dì, bác gái ruột thì họ sẽ có những quyền sau đối với cháu ruột: Quyền yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ, quyền nuôi dưỡng cháu ruột trong trường hợp cần được nuôi dưỡng mà cháu ruột không còn cha, mẹ (Điều 106) Bên cạnh đó, cô, dì, bác gái ruột có quyền nhận cấp dưỡng từ cháu ruột trong trường hợp những người này không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng (khoản 2 Điều 114)

Trang 33

- Người phụ nữ là con dâu chung sống với cha mẹ chồng họ cũng có quyền được tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và nhận sự giúp đỡ từ cha mẹ chồng (Điều 80)

2.1.6 Quyền, lợi ích của phụ nữ khi chấm dứt hôn nhân

Theo quy định của Luật HN&GĐ quan hệ hôn nhân đã được xác lập một cách hợp pháp có thể bị chấm dứt trong hai trường hợp là vợ, chồng ly hôn và hôn nhân chấm dứt do vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết

* Trường hợp hôn nhân chấm dứt do vợ chồng ly hôn

- Người phụ nữ với tư cách người vợ hoặc người mẹ, người thân thích khác của người vợ, người chồng chồng có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn

+ Trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 36 Hiến pháp năm 2013: “Nam, nữ có

quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,

vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” Luật HN&GĐ năm 2014 tại khoản 1 Điều

51 cũng quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly

hôn” Từ quy định này mà người vợ có quyền thỏa thuận với chồng để cùng yêu cầu ly

hôn (thuận tình ly hôn) theo Điều 55; người vợ cũng có quyền yêu cầu ly hôn (ly hôn theo yêu cầu của một bên) trong trường hợp chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được (khoản 1 Điều 56); người vợ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn trong trường hợp người chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích (khoản 2 Điều 56)

+ Người phụ nữ với tư cách là người mẹ hoặc người thân thích khác của bên

vợ, người chồng là người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ, chồng của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho người

vợ, người chồng trong trường hợp này (khoản 2 Điều 51) Quy định này là một quy định mới, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích của người vợ trong trường hợp họ không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi hoặc vì một lý do khách quan, chủ quan nào đó mà không thể thực hiện quyền ly hôn nên phải sống trong gia đình với những điều kiện bất lợi, nên rất dễ bị xâm phạm quyền, lợi ích của mình Vì vậy,pháp luật quy định những người thân thích của họ có quyền được yêu cầu Tòa

án giải quyết ly hôn là để nhằm bảo vệ quyền, lợi ích cho những người này khi họ không có khả năng thực hiện quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn

Trang 34

- Trước và trong khi giải quyết ly hôn tại Toà án người vợ có quyền trong việc phân chia tài sản khi ly hôn: Người vợ được quyền thỏa thuận với người chồng về việc chia tài sản trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định; nếu chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì người vợ được quyền chia tài sản theo đúng thỏa thuận đó (khoản 1 Điều 59); trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận hoặc có lựa chọn nhưng chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận đó bị tuyên bố là vô hiệu thì việc phân chia tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật và chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định; người vợ được quyền chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình (Điều 61); quyền được chia quyền sử dụng đất của vợ chồng (Điều 62); quyền được nhận tài sản thuộc tài sản chung của vợ chồng đang dùng để thực hiện hoạt động kinh doanh (Điều 64)

- Sau khi ly hôn với người chồng, người vợ có các quyền sau đây đối với con: Người vợ bình đẳng với người chồng trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; trong trường hợp con của hai vợ chồng dưới 36 tháng tuổi thì người vợ được giao cho người vợ trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục, trừ trường hợp không đủ điều kiện

để nuôi con hoặc hai vợ chồng có thỏa thuận khác (khoản 3 Điều 81); người phụ nữ có quyền thăm con nếu con được giao cho chồng nuôi (khoản 3 Điều 82); người vợ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người chồng không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ tôn trọng quyền của con; nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; người vợ có quyền yêu cầu người chồng không trực tiếp nuôi con và các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình (Điều 83)

- Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của chồng đã đưa vào sử dụng chung nhưng chưa nhập vào tài sản chung của vợ chồng thì khi ly hôn vẫn thuộc tài sản riêng của người chồng Tuy nhiên, sau khi ly hôn nếu người vợ có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điều 63)

- Trong trường hợp sau khi ly hôn mà người vợ khó khăn, túng thiếu thì có quyền yêu cầu người chồng cấp dưỡng (Điều 115)

* Trong trường hợp hôn nhân chấm dứt do chồng chết hoặc bị Toà án tuyên

bố là đã chết

- Khi người chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì người vợ có quyền quản lý tài sản chung của hai vợ chồng, trừ trường hợp di chúc của người chồng lập trước khi chết đã chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người

Trang 35

thừa kế của người chồng cùng với người vợ thỏa thuận cử người khác quản lý di sản (khoản 1 Điều 66)

- Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác, người vợ sẽ có quyền được hưởng một nửa phần tài sản chia đôi Đối với tài sản chung đã được chia cho người chồng thì đây sẽ được coi là di sản thừa kế của người chồng Trong trường hợp này, người vợ được hưởng thừa kế (quyền thừa kế) theo quy định của pháp luật thừa kế đối với phần tài sản chia đôi mà người chồng được hưởng (khoản 2 Điều 66)

- Người vợ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ, gia đình (khoản 3 Điều 66)

- Người phụ nữ được quyền kết hôn với người khác khi hôn nhân chấm dứt

do người chống chết hoặc có quyết địnhc ảu Tào án tuyên bố người chồng chết

Như vậy, xuất phát từ các quy định hiến định về quyền con người, Luật HN&GĐ năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan đã quy định cụ thể về quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ Các quyền, lợi ích của phụ nữ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật này đã được xây dựng theo hướng thiết thực hơn, cụ thể thể hơn, gắn liền với mục tiêu bình đẳng giới mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã vạch ra Bên cạnh đó, các quyền, lợi ích của phụ

nữ trong HN&GĐ cũng được ghi nhận dựa trên những nét đặc trưng về giới của người phụ nữ Việt Nam nhằm ghi nhận và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích của phụ

nữ trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội đất nước có nhiều thay đổi

2.2 Phương thức bảo đảm thực hiện quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình

Việc ghi nhận quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ chỉ là cơ sở pháp lý quan trọng để người phụ nữ thực hiện các quyền, lợi ích đó Việc các quyền, lợi ích

đó có được thực hiện hay không thì cần có phương thức bảo đảm thực hiện, bao gồm chủ thể bảo vệ (thiết chế) và phương thức bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

Vấn đề này được pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định như sau

2.2.1 Chủ thể bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình

Xuất phát từ vị trí, vai trò của người phụ nữ, xuất phát từ việc phụ nữ là một chủ thể trong nhóm những người dễ bị tổn thương và xuất phát từ sự đa dạng, phức

Trang 36

tạp, tế nhị của các quan hệ trong lĩnh vực HN&GĐ nên việc bảo vệ quyền phụ nữ

trong lĩnh vực HN&GĐ đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều chủ thể, nhóm chủ thể

* Nhóm các chủ thể là cơ quan nhà nước

Nhóm chủ thể này bao gồm cơ quan lập pháp, các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan tư pháp

- Quốc hội Việt Nam là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của cơ quan nhà nước (Điều 69 Hiến pháp năm 2013) Quốc hội có một trong những nhiệm vụ, quyền hạn chính là làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật (khoản 1 Điều 70 Hiến pháp năm 2013) Do vậy, Quốc hội Việt Nam cũng là cơ quan duy nhất ban hành luật, sửa đổi Hiến pháp Nhiều đạo luật được Quốc hội ban hành

đã kịp thời ghi nhận quyền của phụ nữ, trong đó có các quyền của phụ nữ trong lĩnh vực HN&GĐ như: Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật HN&GĐ năm

2014, Bộ Luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015… nhằm quy định cụ thể về quyền và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ Từ đó có thể xác định Quốc hội có nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện Hiến pháp, luật nhằm tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng nhất để bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ nói chung và bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong HN&GĐ nói riêng

- Chính phủ và cơ quan hành chính nhà nước Khoản 2 Điều 4 Luật HN&GĐ năm

2014 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình Các bộ,

cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình theo sự phân công của Chính phủ Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan khác thực hiện quản lý nhà nước

về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật” Như vậy, Chính phủ, các cơ quan

của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan đại diện ngoại giao của nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài là những cơ quan trực tiếp thi hành pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ nói chung và trong quan hệ HN&GĐ nói riêng

- Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân các cấp Là các cơ quan tư pháp của nước CHXHCN Việt Nam, cũng có trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ trong HN&GĐ Việc bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ

nữ của các cơ quan này được thể hiện thông qua việc Toà án nhân dân các cấp áp dụng pháp luật HN&GĐ, pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật hình sự và tố tụng hình

Trang 37

sự để giải quyết, xét xử các vụ việc HN&GĐ Viện Kiểm sát nhân dân các cấp tiến hành truy tố bị can, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hình sự khi Toà án nhân dân các cấp xét xử các tội phạm, giải quyết các vụ việc dân

sự trong lĩnh vực HN&GĐ có liên quan đến quyền, lợi ích của phụ nữ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người phụ nữ trong HN&GĐ

* Nhóm chủ thể là tổ chức chính trị - xã hội Khoản 3 Điều 4 Luật HN&GĐ

năm 2014 quy định: “Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ,

công chức, viên chức, người lao động, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hóa; kịp thời hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên gia đình Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình cho thế hệ trẻ”

Một trong những cơ quan này có vai trò thiết thực đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ trong HN&GĐ đó chính là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt nam, mà một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Hội chính là yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn nhằm bảo vệ

quyền, lợi ích của người phụ nữ (điểm d khoản 2 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2014)

* Nhóm chủ thể là các thành viên trong gia đình Do quan hệ HN&GĐ rất phức

tạp, đan xen nhiều quan hệ và đôi khi còn có tư tưởng chuyện gia đình là chuyện nội

bộ, không muốn người ngoài tham gia nên việc bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ trong HN&GĐ gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ trong HN&GĐ được pháp luật quy định mang tính quyền và nghĩa vụ tương ứng, tức là quyền của người này được bảo đảm thực hiện bằng nghĩa vụ của người kia

Do vậy, việc bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ trong HN&GĐ đề cao vai trò của các chủ thể như: người chồng, người cha, người mẹ, con, anh, chị, em, ông, bà, cô, dì, chú, bác ruột Pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định nghĩa vụ cho những chủ thể này và việc các chủ thể này thực hiện nghĩa vụ đó chính là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ trong HN&GĐ Ví dụ như theo Điều 19 Luật HN&GĐ năm

2014 người vợ có quyền được yêu thương, nhận được sự chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, được chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình từ người chồng Các quyền này của người vợ được bảo đảm thực hiện bằng nghĩa vụ của người chồng theo quy định của pháp luật hiện hành

Ngoài ra, các chủ thể này cũng được pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận cho một số quyền để làm công cụ, phương thức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ

Trang 38

trong HN&GĐ như: Điểm a khoản 2 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cha,

mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật có quyền yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm a, c, d khoản 1 Điều 8 của Luật này hay khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Toà án

giải quyết việc ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn

nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ;…

2.2.2 Bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình trong các trường hợp cụ thể

2.2.2.1 Phương thức bảo vệ quyền kết hôn của phụ nữ

Bảo vệ quyền kết hôn của phụ nữ trong chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 được thực hiện bằng rất nhiều phương thức như quy định các nguyên tắc của Luật HN&GĐ; quy định các điều kiện kết hôn; chế tài xử lý đối với các trường hợp vi phạm quyền kết hôn,…

Để bảo vệ quyền bình đẳng nam nữ trong việc kết hôn, Luật HN&GĐ năm

2014 quy định một nguyên tắc cơ bản và đây cũng chính là nội dung của quyền kết

hôn: “Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người

theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng

và được pháp luật bảo vệ” (khoản 2 Điều 2) Điều này có nghĩa là pháp luật không

có bất kỳ một sự phân biệt nào về quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng trong việc kết hôn giữa nam và nữ nếu họ đã đáp ứng được các điều kiện mà pháp luật đặt ra Việc cản trở quyền kết hôn của nam và nữ vì yếu tố quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng sẽ bị pháp luật nghiêm trị bằng những chế tài cụ thể

Hơn nữa, khoản 1 Điều 2 Luật HN&GĐ cũng quy định: “Hôn nhân tự nguyện,

tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” Nguyên tắc này bảo đảm cho người

phụ nữ được quyền thể hiện ý kiến về việc hôn nhân cùng với người mình yêu thương trong việc quyết định kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật; hơn nữa nguyên tắc cũng bảo vệ người phụ nữ khỏi chế độ “đa thê”, người phụ nữ là vợ duy nhất của người chồng và ngược lại Từ các nguyên tắc này mà pháp luật sẽ quy định các điều kiện kết hôn, chế tài xử lý trong trường hợp vi phạm các điều kiện kết hôn

Trang 39

Từ các nguyên tắc trên về điều kiện kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 mà cả nam và nữ trước khi kết hôn với nhau phải đáp ứng Giả sử nếu chỉ quy định các điều kiện này dành cho nữ thì sẽ không có cơ chế để bảo vệ quyền của người phụ nữ khi kết hôn, cũng như trong cuộc sống vợ chồng sau này Do vậy, việc quy định các điều kiện kết hôn cho cả nam và nữ theo hướng bình đẳng với cả hai bên

Hơn nữa, kết hôn là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận

Vì vậy, việc kết hôn là việc “quan trọng, đại sự”, do đó phải do hai bên nam, nữ tự nguyện quyết định Họ phải xuất phát từ tình cảm của nam và nữ là thực sự yêu thương nhau, mong muốn được kết hôn với nhau để trở thành vợ chồng Luật

HN&GĐ năm 2014 quy định: “Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định (điểm

b khoản 1 Điều 8) Tự nguyện kết hôn là không có hành vi cưỡng ép hoặc lừa dối để kết hôn đồng thời phải có sự thống nhất giữa các bên Nam, nữ khi kết hôn phải được tự do bày tỏ ý chí của mình là mong muốn trở thành vợ chồng của nhau Ý chí của các bên phải được thực hiện bằng hình thức nhất định, đó là sự bày tỏ ý chí Pháp luật đòi hỏi sự bày tỏ ý chí của các bên nam, nữ không phản ánh được đúng ý chí của họ có thể bị coi là thiếu sự tự nguyện trong kết hôn, theo căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật thì việc kết hôn do vi phạm sự tự nguyện có thể bị hủy Để xác định nam, nữ có tự nguyện kết hôn hay không phải căn cứ vào vi phạm của họ Vi phạm sự tự nguyện là có hành vi lừa dối, cản trở, cưỡng ép kết hôn của một trong hai bên chủ thể kết hôn với chủ thể còn lại hoặc hành vi cưỡng ép

Theo khoản 9 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích thì cưỡng ép kết hôn:

“Là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái ý muốn của họ” Hành vi cưỡng ép thông

thường là hành vi của một trong hai bên chủ thể; hoặc những chủ thể có quan hệ họ hàng thân thuộc như: Trưởng họ, ông bà, cha mẹ,… Trong thực tế, do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến nên nhiều cô gái bị cha mẹ, người thân sắp đặt trong việc kết hôn, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Do đó, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nam, nữ có quyền tự mình quyết định việc kết hôn đã xóa bỏ tư tưởng lạc hậu, bảo vệ quyền kết hôn của người phụ nữ Có thể nói quy định này là con đường đi đến hạnh phúc của nam nữ, đặc biệt là của phụ nữ Quy định này cũng góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ, hạn chế tình trạng vi phạm quyền tự nguyện trong kết hôn

Trang 40

Như vậy, ý chí tự nguyện của nam, nữ trong việc kết hôn với nhau là điều kiện cần thiết quyết định tính hợp pháp của hôn nhân Song, việc đánh giá sự tự nguyện không chỉ có căn cứ và sự tự nguyện của nam, nữ mà còn dựa trên cơ sở pháp lý mà mục đích của việc kết hôn, là mong muốn của những người kết hôn đạt tới Mục đích đó không có gì khác ngoài để được cùng nhau chung sống và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững Vì vậy, quy định này đã góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, người phụ nữ được phép kết hôn theo ý chí của mình, có quyền lựa chọn hoặc từ chối việc kết hôn

Để các nguyên tắc, cũng như điều kiện về kết hôn được nam và nữ tuân thủ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ trong việc kết hôn và đời sống vợ chồng sau khi kết hôn Pháp luật đã quy định về thủ tục đăng ký kết hôn và chế tài

xử lý các trường hợp vi phạm trong kết hôn:

- Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về việc kết hôn phải được đăng

ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định pháp luật thì sẽ không có giá trị pháp lý Phương thức bảo vệ quyền phụ nữ thông qua việc buộc hai bên nam và nữ kết hôn với nhau phải thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, thể hiện ở chỗ: Khi cơ quan đăng ký kết hôn thực hiện việc đăng ký kết hôn cho đôi nam nữ sẽ tiến hành kiểm soát, phát hiện những vi phạm trong kết hôn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích của người phụ nữ Một trong những phương thức kiểm soát đó là khi hai bên kết hôn cư trú ở hai địa phương khác nhau thì cần phải

có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân24 Thông qua qua đó, các hành vi vi phạm trong hết hôn sẽ được phát hiện sớm và loại bỏ để không ảnh hưởng xấu đến quyền, lợi ích của người phụ nữ Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như Luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định về thủ tục xử lý việc kết hôn trái pháp luật; thủ tục xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền Các thủ tục này cũng là một trong những phương thức để bảo vệ quyền, lợi ích của người phụ nữ trong kết hôn, cũng như đời sống vợ chồng sau khi kết hôn

24 Theo Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2017 về việc đơn giản hoá thủ tục hành chính, giấy tờ

công dân liên quan đến quan lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp thì từ

ngày 04/7/2017 sẽ bỏ việc Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi đăng ký kết hôn Tuy nhiên, ngày 10/7/2017 trả lời báo chí Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc cho biết việc Bỏ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sẽ chỉ được thực hiện khi cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được hoàn thiện, kết nối với cơ sở

dữ liệu hộ tịch điện tử cũng như cơ sở dữ liệu khác Do vậy, quy định này chỉ là định hướng chứ chưa áp dụng ngay Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/bo-tu-phap-chua-bo-ngay-giay-xac-nhan-tinh-trang- hon-nhan-3611474.html

Ngày đăng: 14/03/2019, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm