1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào từ kinh nghiệm của pháp luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

95 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 909,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, vấn đề BVQLNTD cũng rất được quan tâm, với một loạt các công trình như: “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông tin của người tiêu dùng” – Tác giả Nguyễn Văn Cương; “Tính

Trang 1

ARTAR SENGDAVONG

ĐỀ TÀI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TỪ KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Mã số : 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THỊ HỒNG VÂN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ARTAR SENGDAVONG

Trang 3

BVQLNTD Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 6

1.1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 6

1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng 6

1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các nhân tố tham gia và các yếu tố tác động đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 8

1.2 Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 13

1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 13

1.2.2 Đặc điểm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 16

1.2.3 Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 18

1.2.4 Nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 19

1.3 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 25

2.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Lào 25

2.1.1 Các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng 25

2.1.2 Các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ 34

2.1.3 Trách nhiệm từ phía Nhà nước 44

2.1.4 Trách nhiệm của các tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng 48

2.1.5 Những biện pháp đảm bảo thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 50

2.2 Thực tiễn thi hành pháp pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63

Trang 5

ĐẢM HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI

TIÊU DÙNG NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 64

3.1 Bài học kinh nghiệm của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam số 59/2010/QH12 về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 64

3.2 Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực thi hiệu quả pháp luật Lào về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 73

3.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật Lào về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên cơ sở kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam 73

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên cơ sở kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam 74

3.2.3 Giải pháp thực thi hiệu quả pháp luật Lào về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Người tiêu dùng (NTD) là một lực lượng đông đảo và có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế nói riêng và sự phát triển của toàn xã hội nói chung Thực tế cho thấy, khi kinh tế phát triển thì văn hóa, chính trị, xã hội cũng có những sự tiến bộ tương ứng Do đó, việc nghiên cứu về hành vi tiêu dùng và củng cố hơn nữa vai trò của NTD là rất quan trọng trong việc giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của NTD, từ đó mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mình

và sự thịnh vượng cho nền kinh tế Với vai trò quan trọng như vậy, lẽ ra NTD phải được các doanh nghiệp tôn trọng và bảo vệ quyền lợi Tuy nhiên, NTD lại đang là những người phải chịu thiệt thòi khi thực hiện hành vi tiêu dùng Nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quyền lợi của NTD – bên yếu thế trong mối quan hệ với các tổ chức, cá nhân, sản xuất kinh doanh ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng Vì nhu cầu lợi nhuận, đạo đức kinh doanh suy đồi, không ít nhà cung cấp đã lạm dụng ưu thế của mình để khai thác, bóc lột, lừa dối NTD bằng rất nhiều hình thức: sản phẩm không đúng chất lượng, không đủ số lượng, quảng cáo gian dối, hơn thế nữa, tính mạng, sức khỏe NTD đứng trước sự đe dọa bởi thực phẩm độc hại, sản phẩm không an toàn

Mặc dù Luật Bảo vệ NTD số 02/NA (Law on Consumer Protection No 02/NA) được Quốc hội nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) thông qua vào ngày 30/6/2010, nhưng cho đến nay quyền lợi của NTD vẫn đang và

có nguy cơ tiếp tục bị vi phạm trầm trọng Luật Bảo vệ NTD số 02/NA mặc dù có những tiến bộ nhất định trong việc BVQLNTD, tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau,

Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 vẫn chưa phải là một sản phẩm “hoàn

hảo”, là một công cụ bảo vệ tốt nhất quyền lợi ích hợp pháp của NTD hiện nay

Chính vì vậy, bên cạnh nhu cầu nâng cao “chất lượng” của bản thân pháp

luật hiện hành về BVQLNTD, thì việc thông qua điều chỉnh pháp luật để tăng cường các khả năng và nhiệm vụ của các thiết chế BVQLNTD là nhu cầu cấp bách đặt ra hiện nay Điều này có ý nghĩa rất lớn không những đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, mà còn là điều kiện không thể thiếu được của một

xã hội văn minh, công bằng và nhân đạo Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn

đề lý luận về pháp luật BVQLNTD, cũng như thực tiễn thực thi, áp dụng pháp luật BVQLNTD là hết sức cần thiết, trên cơ sở đó đưa ra định hướng, giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật BVQLNTD trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa

cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn

Trang 7

Là một lưu học sinh người Lào, tôi thấy rằng, Việt Nam và Lào có những điểm tương đồng về hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội, tuy nhiên, nền lập pháp của Việt Nam lại cao hơn so với Lào Do đó, trong quá trình hoàn thiện các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD), việc học tập những kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam là điều cần thiết Nhận thức được

điều này, tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ kinh nghiệm của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” với hy vọng có thể góp một phần phân

tích về thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật BVQLNTD cũng như nâng cao hiệu quả trong công tác BVQLNTD ở Lào trong trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là những vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Hầu như năm nào, các bài nghiên cứu về BVQLNTD liên quan đến trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp cũng được đăng tải

Ở Việt Nam, vấn đề BVQLNTD cũng rất được quan tâm, với một loạt các

công trình như: “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông tin của người tiêu

dùng” – Tác giả Nguyễn Văn Cương; “Tính cắt khúc trong việc xây dựng và thực thi luật ở Việt Nam: Từ thực tiễn soạn thảo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010” - Tác giả Nguyễn Văn Cương; Tài liệu hội thảo “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện” của Trường Đại học Luật

Hà Nội; Đề tài khoa học “Nghiên cứu vai trò của Hội bảo vệ người tiêu dùng trong

việc bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội do

Nguyễn Thị Vân Anh chủ biên; “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động

quảng cáo thương mại theo pháp luật Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ luật học của Võ

Thị Hạnh năm 2015; “Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi

vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ

luật học của Đặng Đình Ngọc năm 2013; “Trách nhiệm của thương nhân trong việc

bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay” - Luận văn thạc sĩ luật học

của Nguyễn Thị Thu Hiền năm 2011; …

Ở nước CHDCND Lào, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, vấn đề BVQLNTD cũng dần được quan tâm, tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề bảo vệ NTD chỉ được đề cập đến một cách khái quát trong các sách, tài liệu, hoặc nghiên cứu trên một số khía cạnh trong một số tạp chí chuyên ngành, trong đó có thể kể đến các công

trình như: Tài liệu “Nội dung cơ bản của Nghị định số 15/PMO ngày 04/02/2004 về

cạnh tranh thương mại” của Cục Tuyên truyền - Phổ biến pháp luật, Bộ Tư pháp Lào

Trang 8

năm 2004; Tài liệu “Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Bảo vệ người tiêu dùng số

02/NA ngày 30/6/2010” của Cục Tuyên truyền - Phổ biến pháp luật, Bộ Tư pháp Lào

năm 2010; bài viết “Chế định chống cạnh tranh không lành mạnh – Quy định pháp

luật và một số vấn đề cần bàn luận” của tác giả Xổm Xay Xỉ Hà Chắc đăng trên Tạp

chí Luật học số 10/2005, tr 42-48; bài viết “Nghị định 15/PMO về cạnh tranh thương

mại và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng” của tác giả Sith Ma la vông đăng trên Tạp chí

Luật học, số 12/2009, tr.40-43; bài viết “Sự cần thiết phải sửa đổi hoàn thiện pháp

luật về cạnh tranh thương mại Lào trong bối cảnh hội nhập hiện nay” Phô Thi Lát

Phôm phô Thi đăng trên Tạp chí Giáo dục lý luận, số 12/2014, tr.25-28; bài viết

“Pháp luật bảo vệ NTD trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay” của tác giả Sith

Ma la vông đăng trên Tạp chí Alunmay, số 5/2015, tr.30-35;

Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài mà tác giả tiếp cận được, có thể thấy rằng, cũng như Việt Nam, vấn đề quyền lợi NTD và vấn đề BVQLNTD ở Lào mới chỉ được quan tâm nghiên cứu từ sau khi đất nước chuyển từ

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường và đặt biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quyền lợi của NTD ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng Nhu cầu bảo vệ NTD xuất hiện đồng thời với khá nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh các nhau Tuy nhiên, nếu như ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về bảo vệ NTD, thì ở Lào, phần lớn các công trình khoa học pháp lý về lĩnh vực này được công bố dưới hình thức các bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học Do đó vẫn chưa thể giải quyết một cách thỏa đáng, hệ thống tất cả các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo vệ NTD Nhìn chung các công trình trên chỉ đề cập đến một số hoặc một khía cạnh nào

đó của vấn đề BVQLNTD; chưa luận giải và đề xuất cụ thể và toàn diện các giải pháp nhằm đáp ứng được yêu cầu bảo vệ hữu hiệu NTD Lào khi quyền lợi của họ bị

vi phạm khá nghiêm trọng như trong bối cảnh hiện nay Hơn nữa, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đề cập tới vấn đề hoàn thiện pháp luật tiêu dùng của Lào trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm từ pháp luật BVQLNTD của Việt Nam Chính vì vậy, có thể nói, đề tài nghiên cứu là một trong những vấn

đề khá mới trong những năm gần đây

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là những nội dung pháp luật liên quan đến vấn đề BVQLNTD trong Luật bảo vệ NTD số 02/NA năm 2010 của nước

Trang 9

CHDCND Lào; thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật BVQLNTD ở Lào; kinh nghiệm của Việt Nam trong xây dựng pháp luật BVQLNTD

- Phạm vi nghiên cứu: Bên cạnh việc đặt trọng tâm vào nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, luận văn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, đánh giá tính phù hợp, thống nhất, hợp lý và khả thi của Luật bảo vệ NTD số 02/NA năm 2010 của nước CHDCND Lào trong những năm qua, trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra những hạn chế và phương hướng hoàn thiện Ngoài ra, luận văn cũng nghiên cứu một số quy định về BVQLNTD của pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật BVQLNTD, góp phần giải quyết những điểm khuyết trong lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật BVQLNTD của Lào

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm sáng tỏ vấn đề lý luận về NTD, các quyền cơ bản của NTD, nghĩa

vụ của các chủ thể khác, quan hệ tiêu dùng và pháp luật BVQLNTD

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật BVQLNTD cũng như việc thực thi pháp luật BVQLNTD ở nước CHDCND Lào

- Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nước CHDCND Lào

5 Các câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Cơ sở lý luận NTD, quan hệ tiêu dùng, các quyền của NTD, nghĩa vụ của các chủ thể khác trong hệ thống pháp luật BVQLNTD như thế nào?

- Vai trò, vị trí của NTD, pháp luật BVQLNTD trong hệ thống pháp luật Lào như thế nào?

- Sự ghi nhận quyền và BVQLNTD ở một số quốc gia trên thế giới đã để lại những kinh nghiệm gì cho pháp luật Lào?

- Pháp luật hiện hành quy định về BVQLNTD khi quyền lợi của NTD bị xâm phạm như thế nào?

- Thực trạng áp dụng pháp luật BVQLNTD ở Lào trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu, cũng như còn những khó khăn, vướng mắc gì, nguyên nhân của chúng?

- Pháp luật Việt Nam về BVQLNTD quy định như thế nào? Những bài học kinh nghiệm rút ra?

Trang 10

- Tính cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật BVQLNTD nước CHDCND Lào và những đề xuất phương hướng, những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật BVQLNTD cũng như nâng cao hiệu quả công tác BVQLNTD ở Lào

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích để phân tích, đánh giá các quy định pháp luật; phương pháp tổng hợp để tổng hợp các kết quả của thực tiễn thi hành pháp luật; phương pháp diễn giải - quy nạp để trình bày các nội dung

cụ thể; phương pháp so sánh để so sánh quy định pháp luật về BVQLNTD của Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Các kết quả nghiên cứu của luận văn đạt được là: giải quyết một cách thỏa đáng những vấn đề mang tính lý luận của pháp luật BVQLNTD ở nước CHDCND Lào Luận văn cũng nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật BVQLNTD của Lào hiện hành Trên cơ sở đó chỉ ra sự khiếm khuyết, bất hợp lý cần sửa đổi, bổ sung của pháp luật BVQLNTD sao cho phù hợp với đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường cũng như phù hợp với điều kiện văn hóa, xã hội và yêu cầu xây dựng Nhà nước CHDCND Lào trong thời kỳ hội nhập quốc tế Những kết quả này mang ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đối với nước CHDCND Lào Là

sự đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật BVQLNTD, góp phần quan trọng trong việc BVQLNTD, đảm bảo trật tự và công bằng xã hội Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật BVQLNTD

8 Bố cục của luận văn

Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, để đảm bảo tính hợp lý, logic của nội dung luận văn, luận văn được kết cấu thành 03 (ba) chương:

Chương 1: Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và một số giải pháp hoàn thiện, bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Trang 11

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng

Dưới giác độ kinh tế học, khái niệm NTD đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội NTD là những con người, là tất cả chúng ta1 NTD là một bộ phân bao gồm những người trong xã hội mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ của những người kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Đó có thể là tổ chức, cũng có thể là cá nhân, cũng có thể là hộ gia đình mua hàng hoá để sử dụng, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc cũng có thể sử dụng dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh Có thể nói, bất cứ

cá nhân, tổ chức nào mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của chính bản thân mình, của người khác đều được coi là NTD NTD luôn là một bộ phận chiếm số lượng lớn trong xã hội

Người tiêu dùng là đối tượng được pháp luật bảo vệ đặc biệt hơn trong quan

hệ với doanh nghiệp trong nền kinh tế Tuy nhiên, quan niệm về NTD ở các quốc gia trên thế giới không hoàn toàn giống nhau Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ NTD của một số quốc gia trên thế giới, ta có thể nhận thấy quan niệm về NTD ở các nước là khác nhau, nhưng có thể tựu chung lại ở 2 nhóm:

- Pháp luật Trung Quốc, Hoa Kỳ và Châu Âu, quy định NTD chỉ là thể nhân (cá nhân) Pháp nhân do có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với doanh nghiệp trên thị trường nên pháp luật không cần phải can thiệp sâu vào quan hệ tiêu dùng của họ

- Pháp luật Hàn Quốc quy định NTD bao bồm cả thể nhân và pháp nhân Quy định này tuy hơi rộng và có quan điểm cho rằng nó sẽ làm giảm hiệu lực của Luật bảo vệ NTD2 Tuy nhiên cách quy định này đã khắc phục được hạn chế của cách quy định thứ nhất Bởi lẽ, không phải lúc nào pháp nhân cũng là người đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả

là nếu Luật bảo vệ NTD không bảo vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội bị xâm phạm, điều này

sẽ gây thiệt hại chung cho toàn xã hội

nhân dân, Hà nội, tr.14

2

Bộ Công thương (2009), Báo cáo tóm tắt nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp luật bảo vệ

người tiêu dùng và đề xuất cho Việt Nam, Hà Nội, tr.3

Trang 12

Ngoài ra, còn có một cách tiếp cận nữa tương đối mới mẻ là quy định những người mới chỉ được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ

đã có thể được coi là NTD3 Cụ thể, Điều 3 Luật Bảo vệ NTD Thái Lan năm 1979

quy định: “Người tiêu dùng là người mua hàng hoá hoặc dịch vụ hoặc được chào

mua hàng hoá hoặc dịch vụ từ một người kinh doanh, bao gồm người thực sự sử dụng hàng hoá, tiêu thụ dịch vụ có nguồn gốc từ người kinh doanh mặc dù người này không trực tiếp trả tiền cho việc sử dụng hàng hoá, tiêu thụ dịch vụ đó”4

Mặc dù có sự khác nhau về quan niệm NTD, song hầu hết các quốc gia trên thế giới quy định một người sử dụng hàng hóa, dịch vụ được coi là NTD khi họ sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó vào mục đích phi thương mại Điều đó có nghĩa là, đa số các quốc gia giới hạn NTD là các cá nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp và cơ sở xác lập quan hệ tiêu dùng thông qua quan hệ mua bán hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Ở Việt Nam, từ sau năm 1986, khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm NTD xuất hiện với đúng nghĩa là thành tố thị trường Khái niệm NTD chính thức được ghi nhận lần đầu trong Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999 Năm 2010, Luật BVQLNTD được ban hành, tiếp tục kế thừa Điều 1 của Pháp lệnh ghi nhận tại

Khoản 1 Điều 3 “người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục

đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”

Ở nước CHDCND Lào, Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ NTD số 02/NA năm

2010 định nghĩa về NTD là “Người tiêu dùng có nghĩa là cá nhân, pháp nhân hoặc

tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hoá và dịch vụ hợp pháp mà không có mục đích lợi nhuận” Như vậy, cả Việt Nam và Lào đều quy định NTD bao gồm cả tổ chức và cá

nhân Việc quy định như vậy là rất hợp lý, bởi lẽ, trong thực tiễn, không chỉ cá nhân

là đối tượng dễ bị xâm phạm quyền lợi mà rất nhiều tổ chức cũng không đủ khả năng đối mặt với vi phạm từ nhà sản xuất kinh doanh Đồng thời, các tổ chức này cũng phải mua các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu để phục vụ cho các cán bộ, nhân viên của họ và giá trị giao dịch của họ tương đối lớn

3

Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương (2010), “So sánh Luật bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật bảo vệ người

tiêu dùng của Việt Nam”, Tài liệu phục vụ công tác xây dựng Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam do Cục

Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương thực hiện, tr.20-21

4

Võ Thị Hạnh (2015), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại theo pháp

luật Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, tr.5-6

Trang 13

Về mục đích mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của NTD thì nội hàm khái niệm NTD tại Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam đã chỉ rõ mục

đích của hoạt động mua là để phục vụ “tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,

tổ chức” Còn Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 của Lào

quy định mục đích của hoạt động mua là “không nhằm mục đích lợi nhuận” So

sánh cho thấy, mục đích mua hàng hóa dịch vụ trong pháp luật Việt Nam hẹp hơn

so với pháp luật Lào Nhưng theo tác giả, việc giới hạn mục đích của pháp luật Việt Nam là phù hợp, không quá rộng đến mức khó thực hiện đồng thời cũng không quá hẹp đến mức làm hạn chế quyền của mỗi NTD

Tuy nhiên, cả hai đạo Luật vẫn chỉ sử dụng một khái niệm rất chung chung là

“người” để giải thích cho khái niệm NTD “Người” (mua, sử dụng hàng hóa, dịch

vụ) là thể nhân (cá nhân), pháp nhân, tổ chức hay bao gồm cả thể nhân, pháp nhân

và tổ chức? Đây là câu hỏi đã được tranh luận rất rất nhiều, nhưng cho đến nay, các nhà làm luật vẫn tiếp tục sử dụng cách giải thích gây nhiều tranh cãi này

Từ những phân tích trên, tác giả luận văn có thể đưa ra khái niệm NTD như

sau: NTD chính là cá nhân/tổ chức/pháp nhân mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho

mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức và không vì mục đích lợi nhuận; những cá nhân/tổ chức/pháp nhân đó có thể trực tiếp hoặc không trực tiếp giao kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân sản xuất/ kinh doanh

1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các nhân tố tham gia

và các yếu tố tác động đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.1.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

BVQLNTD là làm sao để quyền lợi của NTD không bị xâm hại, làm sao để NTD tránh được những rủi ro khi tham gia vào tiêu dùng Điều này rất cần thiết bởi

vì NTD có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia Nền kinh tế phát triển thì sản xuất kinh doanh phải diễn ra suôn sẻ, mặt khác, sản xuất kinh doanh lại gắn liền với tiêu dùng Do đó, muốn nền kinh tế phát triển thì phải kích thích được tiêu dùng và bảo đảm nhu cầu của NTD phải được đáp ứng Vấn đề BVQLNTD luôn là vấn đề trọng tâm được nhiều các ngành các cấp quan tâm

Khi nền kinh tế còn ở trình độ sơ khai, quan hệ dân sự chủ yếu là quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các cá nhân với nhau trong xã hội và hàng hóa, dịch vụ cũng ở dạng đơn giản, dễ nhận biết và việc đàm phán hợp đồng diễn ra không quá phức tạp Tuy nhiên, thế kỷ XX đánh dấu sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin; hàm lượng chất xám trong hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng; nhiều sản phẩm rất khó có

Trang 14

thể kiểm tra chất lượng bởi một người bình thường Các giao dịch dân sự giờ đây đã chuyển từ thế bình đẳng sang tình trạng lợi thế nghiêng về phía nhà cung cấp (nhà chuyên môn), bởi vì nhà cung cấp là bên nắm mọi ưu thế về chất lượng của hàng hóa, dịch vụ bao gồm tính năng, công dụng, thành phần cấu tạo, khuyết tật ẩn giấu, những nguy hiểm tiềm tàng Mặt khác, nhà cung cấp cũng là người nắm ưu thế trong kỹ năng đàm phán, giao kết hợp đồng 5

Vì vậy mà NTD khi tham gia quan

hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ với thương nhân gặp nhiều điểm bất lợi trong đó có thể khái quát thành 4 yếu thế cơ bản sau: yếu thế về thông tin; yếu thế về khả năng đàm phán; yếu thế về khả năng chi phối giá cả và các điều kiện giao dịch; yếu thế

về khả năng chịu các rủi ro phát sinh từ quá trình tiêu dùng hàng hóa6

Chính vì những yếu thế như vậy, NTD đã trở thành đối tượng được pháp luật

quan tâm bảo vệ và xuất hiện khái niệm BVQLNTD Theo đó, BVQLNTD được

hiểu là việc đảm bảo quyền lợi cho những cá nhân/tổ chức/pháp nhân mua, sử dụng

hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức

Để đảm bảo phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội, Điều 2 Luật Bảo vệ NTD số

02/NA năm 2010 của Lào đã định nghĩa: “Bảo vệ người tiêu dùng là việc áp dụng

các biện pháp bảo vệ sức khoẻ, tài sản, quyền hợp pháp và lợi ích của người tiêu dùng do ảnh hưởng của việc tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ như thực phẩm, thuốc men, mỹ phẩm, chữa bệnh, kể cả giải quyết tranh chấp xảy ra giữa người tiêu dùng

và nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật”

1.1.2.2 Các nhân tố tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thứ nhất, Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền:

Bảo vệ quyền lợi NTD là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước và được hiện thực hóa bởi một hệ thống quy định pháp lý cụ thể Thực tiễn cho thấy, khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, mức độ tự do hóa thương mại càng gia tăng thì càng nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến quyền lợi NTD Việc chờ đợi ý thức trách nhiệm của các cơ sở sản xuất kinh doanh nếu thiếu vắng một hệ thống quy định pháp lý là điều không thể, bởi họ còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố liên quan đến lợi nhuận, cạnh tranh… Những quy định pháp lý sẽ là cơ

sở cho các nhà sản xuất kinh doanh ý thức được vấn đề quyền lợi NTD và trách

Hội thảo khoa học Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện, tháng 9/2010, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.98-99

6 Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Tổng quan hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng”, Hội thảo khoa học Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng và hướng

hoàn thiện, tháng 9/2010, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.8

Trang 15

nhiệm của mình trong việc BVQLNTD Bên cạnh đó, NTD cũng có cơ sở để thực hiện quyền lợi của mình Trong trường hợp các doanh nghiệp không tuân thủ đúng quy định của pháp luật liên quan đến BVQLNTD thì hệ thống pháp lý sẽ tạo khung quy định những biện pháp xử phạt và cưỡng chế đối với những doanh nghiệp đó

Vấn đề BVQLNTD không chỉ thể hiện trong các văn bản pháp luật mà còn trong thiết chế thực thi pháp luật như các cơ quan Nhà nước, cơ quan hành chính, hệ thống tòa án các cấp, các tổ chức BVQLNTD Nhà nước ở bất cứ quốc gia nào cũng luôn có vai trò to lớn trong bảo vệ NTD Đó là cơ quan lập ra các chính sách, tổ chức thực hiện các chính sách và kiểm tra giám sát việc thực hiện các chính sách bảo vệ NTD ở nước mình Các tổ chức phi chính phủ như Hiệp hội bảo vệ NTD và các cơ quan quản lý của nhà nước như Cục Quản lý cạnh tranh, Cục quản lý thị trường phải tham gia đôn đốc, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ để họ có ý thức hơn về việc đảm bảo quyền lợi NTD Nhờ đó, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi gây tổn hại đến quyền

và lợi ích hợp pháp của NTD Chính quyền và các đoàn thể có trách nhiệm tuyên truyền giáo dục kiến thức về tiêu dùng, cung cấp thông tin về chất lượng hàng hóa, giám sát thị trường, kịp thời can thiệp những hành vi vi phạm quyền lợi NTD, cũng như chấn chỉnh, kiểm tra về chuyên môn theo từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh để bảo đảm độ an toàn cao cho NTD

Thứ hai, Người sản xuất, kinh doanh: Người sản xuất, kinh doanh muốn phát

triển bền vững thay vì chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình thì phải hơn nữa đến quyền và lợi ích chính đáng của NTD Họ phải có trách nhiệm đối với NTD về sự

an toàn khi sử dụng sản phẩm, phải phục vụ tốt NTD, hướng dẫn NTD trong việc sử dụng sản phẩm, phải lắng nghe tiếng nói của NTD để nâng cao chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, nhà sản xuất, kinh doanh nên có trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời và chính xác về hàng hóa và dịch vụ, trách nhiệm bảo đảm tiêu chuẩn đo lường và chất lượng, trách nhiệm bảo hành, trách nhiệm bảo đảm an toàn cho NTD

và trách nhiệm tiếp nhận khiếu nại cũng như đền bù thỏa đáng cho NTD

Thứ ba, bản thân NTD: Chính NTD phải có trách nhiệm tự bảo vệ mình, phải

có hiểu biết để sử dụng đồng tiền của mình một cách hợp lý, đồng thời phải quan tâm đến mọi người, môi trường xung quanh, phải cảnh giác, phối hợp với các bên có liên quan trong việc ngăn chặn và trừng trị những vấn đề tiêu cực trong xã hội

Người tiêu dùng có khả năng tự bảo vệ chính mình thông qua việc ý thức được quyền lợi chính đáng và trách nhiệm của mình Khi quyết định tiêu dùng, để đảm bảo quyền lợi của mình, việc nghiên cứu, tìm hiểu kỹ về chất lượng, xuất xứ,

Trang 16

thông tin chính xác về sản phẩm là một công việc không thể thiếu Từ đó NTD có thể bảo vệ chính mình tránh khỏi các thông tin sai lệch, hiểu lầm và rủi ro, thiệt hại khi tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ

Người tiêu dùng có quyền bày tỏ ý kiến đối với nhà sản xuất, kinh doanh, đối với các cơ quan có thẩm quyền NTD có quyền được khiếu nại và bồi thường nếu khiếu nại hợp lý NTD có quyền chọn lựa không dùng hàng kém chất lượng, tẩy chay hàng giả, hàng nhái, điều này cũng giúp các nhà sản xuất chân chính được bảo

vệ Khi NTD góp ý, phản ánh về chất lượng sản phẩm, dịch vụ; nhà sản xuất thấy được khuyết điểm và khắc phục, sửa chữa, sẽ giúp cho hàng hóa, dịch vụ tốt hơn, chính điều này lại tạo lợi thế cho NTD khi được sử dụng sản phẩm tốt, còn nhà sản xuất, kinh doanh có lợi là được tín nhiệm bán được nhiều hàng hóa, dịch vụ thu lợi nhuận nhiều hơn…

Người tiêu dùng nên phải tự bảo vệ mình, có ý thức chọn lựa hàng tốt, tẩy chay không mua hàng giả, hàng nhái, và có ý thức trách nhiệm góp phần bảo vệ quyền lợi chung của cả cộng đồng bằng hành động thiết thực như đóng góp ý kiến về chất lượng hàng hóa, lên tiếng báo động xã hội đối với những vấn đề làm thiệt hại lợi ích chung

Sức mạnh to lớn của NTD là thái độ với các nhà sản xuất, kinh doanh và quyền tẩy chay sản phẩm Quyền này chỉ được phát huy khi NTD ý thức được sức mạnh của mình và đoàn kết lại Khi hội NTD đã phát triển thành một lực lượng đông đảo, sẵn sàng tham gia tổ chức bảo vệ quyền lợi của chính mình thì vấn đề xâm hại quyền lợi NTD sẽ có xu hướng giảm

Người tiêu dùng là một lực lượng đông đảo của xã hội và dư luận xã hội

cũng là một trong “vũ khí” hiệu quả mà họ tạo ra trong việc bảo vệ quyền lợi của

chính mình Do đó, dư luận xã hội có ý nghĩa lớn trong việc khuyến khích các hành động góp phần bảo vệ NTD, đồng thời lên án, phê phán những hành động xâm phạm quyền lợi của NTD

Vấn đề BVQLNTD hiện nay được toàn thể xã hội quan tâm và được coi là một trong những vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm tốc độ tăng trưởng luôn đi đôi với chất lượng tăng trưởng BVQLNTD là trách nhiệm chung của toàn xã hội Mọi quyền và lợi ích hợp pháp của NTD phải được tôn trọng và bảo vệ Mọi hành vi vi phạm quyền và lợi ích chính đáng của NTD phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Như vậy, BVQLNTD là một vấn đề rất đang được chú ý và là trách nhiệm của mọi người, của toàn xã hội Hiệu quả của hoạt động bảo vệ này có được khi có

Trang 17

sự tham gia và phối hợp hành động của mọi người, từ người làm công tác quản lý nhà nước đến các doanh nhân, doanh nghiệp, từ các tổ chức BVQLNTD đến chính bản thân NTD Việc xây dựng luật bảo vệ NTD hay thành lập các tổ chức, uỷ ban đại diện bảo vệ NTD đều cần thiết trong việc dẫn dắt NTD tiếp cận thông tin, tiếp cận pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình; hướng dẫn NTD tạo thói quen thiết lập chứng cứ; quy rõ trách nhiệm cho đơn vị quản lý nhà nước và liên kết các lực lượng

xã hội để cùng giải quyết các vấn đề bảo vệ NTD Để quyền và lợi ích chính đáng của NTD được bảo vệ thì cần có một chiếc “kiềng ba chân” trong đó, Nhà nước cùng các cơ quan chức năng, người sản xuất kinh doanh và NTD đóng vai trò là ba chiếc chân vững chắc

1.1.2.3 Những yếu tố tác động đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thứ nhất, hệ thống pháp lý và sự quản lý của các cơ quan chức năng có liên quan

Một khi hệ thống pháp lý chưa đầy đủ sẽ tạo những kẽ hở cho các cơ sở sản xuất kinh doanh không chân chính thực hiện những hoạt động gây ảnh hưởng lớn đến quyền lợi NTD Sự quản lý, kiểm tra, giám sát đôn đốc thực hiện của Nhà nước

và các cơ quan chức năng là rất cần thiết trong vấn đề tham gia bảo vệ NTD Thiếu

sự tham gia này, quyền lợi NTD sẽ rất dễ bị xâm phạm bởi vì sẽ không có đủ chế tài cũng như quy định để xử phạt các hoạt động gây tổn hại tới quyền lợi NTD Theo

đó người sản xuất kinh doanh sẽ không ngần ngại lách luật và có những hành động

vi phạm tới quyền lợi NTD nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Thứ hai, yếu tố lợi nhuận của các cơ sở sản xuất kinh doanh

Quan hệ kinh tế chủ yếu trong xã hội, bên cạnh quan hệ giữa các nhà sản xuất với nhau là quan hệ giữa NTD và nhà sản xuất kinh doanh Là lực lượng hết sức đông đảo, nhưng vì chưa nhận thức đầy đủ các quyền và trách nhiệm của mình, không có đầy đủ kiến thức về mọi mặt và thường hành động riêng lẻ nên trong mối quan hệ đó, NTD thường đứng ở thế yếu và chịu nhiều thiệt thòi Để tăng lợi nhuận, một số doanh nghiệp thường lợi dụng những khiếm khuyết của pháp luật, sơ hở trong công tác quản lý và lòng tin của NTD để thực hiện những hành vi thủ đoạn gian dối làm tổn hại đến lợi ích của NTD dưới những hình thức rất đa dạng, như cung cấp hàng hóa, dịch vụ kém phẩm chất, ép giá, gian lận về đo lường hoặc đưa

ra những thông tin thiếu trung thực dễ gây nhầm lẫn… Khi đó, NTD thường mắc phải những sai lầm trong việc lựa chọn tiêu dùng và có nguy cơ sử dụng hàng hóa, dịch vụ thiếu độ an toàn, đặc biệt là đối với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người

Trang 18

Thứ ba, kiến thức, sự am hiểu về hàng hóa, dịch vụ cũng như cách thức tiêu dùng của bản thân NTD

NTD thường không có đủ kiến thức cũng như về điều kiện kỹ thuật để tự mình biết được hàng hóa, dịch vụ có thực sự tốt như những thông tin được công bố hay không Nói cách khác, NTD luôn ở vào vị trí bất lợi về thông tin so với doanh nghiệp Chính vì những lý do trên, những nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ

có rất nhiều động cơ gây tổn hại đến quyền lợi của NTD Nếu sự quản lý của nhà nước không đủ mạnh và không hiệu quả trong việc trấn áp những hoạt động đó thì quyền lợi của NTD sẽ khó được đảm bảo

1.2 Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trong thực tế, quan hệ giữa NTD và nhà cung cấp hàng hoá dịch vụ là các quan hệ tư Tuy nhiên, do có đặc điểm về sự khác biệt giữa vị thế của người cung cấp và NTD trong quan hệ này, cụ thể là NTD luôn ở thế yếu hơn, thiếu thông tin về hàng hoá, dịch vụ, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của Nhà nước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế Một trong những công cụ tốt nhất để bảo vệ quyền lợi NTD chính là việc xây dựng các quy định pháp luật về bảo vệ NTD

Pháp luật BVQLNTD là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa NTD

và các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Lĩnh vực pháp luật này quy định quyền của NTD, trách nhiệm sản phẩm của thương nhân ngăn chặn các giao dịch không công bằng, bảo vệ thông tin của cá nhân

Để có khái niệm pháp luật BVQLNTD, trước hết cần tìm hiểu hai thuật ngữ

đó là “pháp luật” và “Bảo vệ người tiêu dùng” “Pháp luật” có thể hiểu là hệ thống

các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã

hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội Trong khi đó, “Bảo vệ người tiêu

dùng”, theo Điều 2 Luật Bảo vệ NTD số 02/NA năm 2010 của Lào là “việc áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khoẻ, tài sản, quyền hợp pháp và lợi ích của người tiêu dùng do ảnh hưởng của việc tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ như thực phẩm, thuốc men, mỹ phẩm, chữa bệnh, kể cả giải quyết tranh chấp xảy ra giữa NTD và nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo quy định và pháp luật” Như vậy, “Bảo vệ người tiêu dùng” có thể hiểu là tổng hợp các biện pháp được Nhà nước quy định và đảm

bảo thực hiện để bảo đảm quyền lợi của NTD khi sử dụng dịch vụ hàng hoá; ngăn chặn những nhà sản xuất có hành vi gian lận, lừa dối để thu lợi bất chính, bao gồm

Trang 19

các biện pháp pháp luật, kinh tế, văn hoá, xã hội Nói cách khác, BVQLNTD là ghi nhận và làm cho các lợi ích chính đáng của NTD được thực hiện trên thực tế Tuy nhiên, trong số các công cụ chủ yếu Nhà nước sử dụng để BVQLNTD thì pháp luật

là công cụ hữu hiệu hơn cả vì nó là phương thức hiện thực hoá các công cụ bảo vệ NTD khác trong điều kiện Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đều coi luật pháp là một trong những phương tiện chủ yếu bảo vệ NTD, là một hệ thống các quy tắc xử sự liên quan đến nhiều mặt như quan hệ xã hội dân sự, kinh tế, hành chính, hình sự, trình tự tố tụng có liên quan đến đời sống tiêu dùng của cá nhân Vì thế, yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD là trách nhiệm chung của toàn xã hội với sự phối hợp của nhiều biện pháp, mà chủ yếu trong đó là biện pháp pháp luật

Trên thế giới, quan niệm về pháp luật bảo vệ NTD cũng khác nhau Theo Từ

điển Black’s Law thì,“Luật bảo vệ NTD là luật của bang hoặc liên bang được ban

hành nhằm bảo vệ NTD trước những hành vi thương mại hoặc những hoạt động tín dụng không lành mạnh có liên quan đến hàng tiêu dùng, đồng thời bảo vệ NTD trước những hàng hoá nguy hại hoặc hàng giả”, “Luật Người tiêu dùng là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh những giao dịch liên quan đến NTD, đó là việc sử dụng tín dụng, tiêu dùng hàng hóa, bất động sản hoặc những dịch vụ phục vụ cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia

Luật Bảo vệ NTD của Inđônesia là khá rộng, bao gồm: toàn bộ các loại hàng hóa, hữu hình hoặc vô hình, di động hoặc bất động, có thể tiêu thụ hoặc không thể tiêu thụ, có tính thương mại được NTD tiêu dùng, sử dụng hoặc khai thác và tất cả các loại hình dịch vụ cũng như các hình thức quảng bá hàng hóa và dịch vụ.9

Có thể nói, pháp luật BVQLNTD là biện pháp bảo vệ NTD bằng pháp lý thông qua việc Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD từ giai đoạn tìm kiếm, mua hàng hoá, dịch vụ trên thị trường đến giai đoạn tiêu dùng sản phẩm cũng như hậu quả phát sinh (nếu có)

Như vậy có thể đưa ra khái niệm pháp luật BVQLNTD như sau: “Pháp luật

bảo vệ NTD là hệ thống các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật do nhà nước

Nguyễn Thị Thư (2013), Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay, Luận

án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr.44

Trang 20

ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng”10

Theo quan niệm này, pháp luật BVQLNTD gồm quy phạm thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, miễn có chung mục đích bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của NTD Tuy nhiên, khi xác định các ngành, lĩnh vực pháp luật

được coi là thuộc phạm trù “pháp luật bảo vệ người tiêu dùng”, có nhiều ý kiến

khác nhau Có quan niệm cho rằng, các quy phạm thuộc lĩnh vực pháp luật cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh cũng được xếp vào pháp luật BVQLNTD

Sở dĩ như vậy vì các lý thuyết kinh tế học đã chứng minh rằng, môi trường cạnh tranh tự do, lành mạnh và công bằng là điều kiện tốt nhất để quyền lợi giữa nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ và NTD được đảm bảo sự hài hoà11 Đó cũng là môi trường mà quyền lợi của NTD được đảm bảo một cách tốt nhất Pháp luật cạnh tranh (chống các thoả thuận hạn chế cạnh tranh, chống các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, chống các thoả thuận tập trung kinh tế bất hợp pháp) và pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh (chống các loại hành vi như dèm pha, nói xấu đối thủ cạnh tranh, chiếm đoạt bí mật thương mại v.v.) có chung mục tiêu đảm bảo môi trường cạnh tranh tự do, lành mạnh và công bằng, cũng có tác dụng quan trọng trong việc BVQLNTD Ngày nay, khi nói tới vai trò, chức năng của pháp luật về cạnh tranh, người ta thường nhấn mạnh tới vai trò, tác dụng BVQLNTD của pháp luật cạnh tranh và pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, nếu xét

từ góc độ lịch sử, các đạo luật về BVQLNTD thường được ban hành sau các quy phạm pháp luật về cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh Thêm vào đó, bảo vệ quyền lợi của NTD chỉ là một trong những hệ quả của điều chỉnh pháp luật

về cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh Pháp luật về cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh trước hết có mục tiêu đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trên thị trường, đảm bảo sự bình đẳng về cơ hội cạnh tranh trên thị trường Chính vì thế, chúng tôi cho rằng, pháp luật cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành mạnh nên coi là một lĩnh vực độc lập tương đối so với lĩnh vực pháp luật BVQLNTD

Nhìn lại lịch sử quá trình phát triển của pháp luật BVQLNTD ở các nước phát triển, có thể thấy rằng, các đạo luật về BVQLNTD được ban hành đầu tiên chủ yếu vào thập niên 1950-1970 Đây là thời kỳ mà phong trào bảo vệ NTD trở thành

Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr.44

11

Paul A Samuelson, William D Nordhaus (2002), Kinh tế học, (bản dịch của Vũ Cương, Đinh Xuân Hà,

Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Đình Toàn) tập 1, NXB Thống kê, tr 297

Trang 21

một trong những chủ điểm kinh tế, chính trị quan trọng12 Ví dụ, tại Hoa Kỳ và Anh, trong thập niên 1960-1970 hàng loạt đạo luật về BVQLNTD được ban hành13,14, cũng trong giai đoạn đó, Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về BVQLNTD (năm 1968) còn Úc ban hành Luật về các hành vi thương mại năm 1974 (the Trade Practices Act of 1974) với nhiều quy định về BVQLNTD Các chương trình về BVQLNTD của Liên minh Châu Âu cũng được khởi động từ thập niên 19704 Từ đó đến nay, Liên minh Châu Âu cũng ban hành nhiều văn bản quan trọng về BVQLNTD15

1.2.2 Đặc điểm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Pháp luật BVQLNTD có một số nét đặc trưng như:

Thứ nhất, pháp luật BVQLNTD đã áp đặt những điều kiện bắt buộc thương

nhân phải tuân thủ để khắc phục những bất lợi của NTD trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ

Cụ thể, pháp luật bảo vệ NTD tập trung quy định những vấn đề kiểm soát điều kiện giao dịch chung; cấm các điều khoản không công bằng Việc can thiệp này làm cho nguyên tắc tự do khế ước chỉ còn ý nghĩa tương đối trong các giao dịch giữa NTD và thương nhân Đặc biệt, pháp luật một số nước, ví dụ Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam đã quy định cụ thể trách nhiệm của các thương nhân trong việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung, hợp đồng theo mẫu đối với việc kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng

12

David A Rice (1975), Consumer Protection, Little, Brown and Company, Boston, p 2

Act of 1960), Luật về đóng gói và ghi nhãn công bằng năm 1966 (The Fair Packaging and Labeling Act of 1966), Luật về tính trung thực trong hoạt động cho vay năm 1968 (The Truth in Lending Act of 1968), Luật

về tiết lộ thông tin đầy đủ trong các giao dịch bất động sản liên bang năm 1968 (The Interstate Land Sales Full Disclosure Act of 1968), Luật đảm bảo an toàn đồ chơi cho trẻ em năm 1969 (The Child Protection and Toy Safety Act of 1969), Luật về báo cáo tín dụng công bằng năm 1970 (The Fair Credit Reporting Act of 1970), Luật về san toàn sản phẩm tiêu dùng năm 1972 (The Consumer Product Safety Act of 1972), Luật về

cơ hội tín dụng bình đẳng năm 1974 (The Equal Credit Opportunity Act of 1974), Luật bảo hành Magnuson Moss năm 1975 (Magnuson Moss Warranty Act of 1975), Luật về hành vi đòi nợ công bằng năm 1977 (The Fair Debt Collection Practices Act of 1977) v.v

thương mại năm 1967 (Misrepresentation Act of 1967), Luật về các mô tả thương mại năm 1968 (Trade Descriptions Acts of 1968), Luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ ngoài ý muốn của NTD năm 1971 (Unsolicited Goods and Services Act of 1971), Luật thương mại công bằng năm 1973 (Fair Trading Act of 1973), Luật về các điều khoản mặc nhiên trong hợp đồng cung ứng hàng hoá năm 1973 (Supply of Goods (Implied Terms) Act of 1973), Luật về tín dụng tiêu dùng năm 1974 (Consumer Credit Act of 1974), Luật về các điều khoản hợp đồng không công bằng năm 1977 (Unfair Contract Terms Act of 1977), Luật về an toàn tiêu dùng năm 1978 (Consumer Safety Act of 1978)

85/577/EEC về bảo vệ NTD trong các giao dịch bán hàng ở ngoài địa điểm kinh doanh thường xuyên (chẳng hạn bán hàng tại nhà của NTD); Chỉ thị số 90/314/EEC về dịch vụ du lịch trọn gói; Chỉ thị số 93/13/EEC về các điều khoản không công bằng trong các hợp đồng tiêu dùng; Chỉ thị số 94/47/EC về bảo vệ bên mua quyền sử dụng bất động sản theo thời vụ; Chỉ thị số 97/7/EC về bảo vệ NTD trong các hợp đồng bán hàng từ xa; Chỉ thị số 1999/44/EC về việc bán hàng hoá tiêu dùng; Chỉ thị số 2002/65/EC về tiếp thị dịch vụ tài chính

từ xa; Chỉ thị số 2005/29/EC về hành vi thương mại giữa doanh nghiệp và NTD không công bằng

Trang 22

Chính phủ ban hành Còn Luật bảo vệ NTD Lào năm 2010 thì yêu cầu thương nhân phải đảm bảo việc sản xuất, nhập khẩu, phân phối hàng hoá và dịch vụ sẽ không ảnh hưởng vượt ra ngoài tiêu chuẩn môi trường đã được xác định, thực hiện nghiêm ngặt các giao kết với NTD và nhãn hiệu hàng hóa theo đúng quy định

Thứ hai, pháp luật BVQLNTD xác định trách nhiệm của thương nhân một

cách nghiêm khắc và mở rộng về chủ thể chịu trách nhiệm

Theo đó, những người chịu trách nhiệm đối với khuyết tật của sản phẩm chính là những người gây ra khuyết tật, nhưng cũng có thể không phải là người gây

ra khuyết tật đó nhưng có tham gia vào chuỗi hoạt động đưa sản phẩm đến tay NTD Việc quy định trách nhiệm đối với sản phẩm khuyết tật là một việc làm rất cần thiết nhằm bảo vệ tốt đa quyền lợi NTD khi mua sản phẩm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh Hầu hết các nước trên thế giới đều có Luật trách nhiệm sản phẩm nằm trong hoặc độc lập với Luật bảo vệ NTD Chẳng hạn, ở Thái Lan, Luật trách nhiệm sản phẩm được ban hành năm 2008 trong khi đó Luật bảo vệ NTD của họ có

từ năm 197916

Trách nhiệm sản phẩm tại Lào được quy định trong Điều 35 Luật Bảo vệ NTD

Lào số 02/NA năm 2010, còn ở Việt Nam, quy định về trách nhiệm sản phẩm được

quy định tại Điều 22, 23, 24 Luật BVQLNTD Việt Nam năm 2010 Theo đó, khi phát hiện hàng hoá có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá có trách nhiệm thu hồi hàng đó Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá có trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) trong trường hợp hàng hoá có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại trong trường hợp hàng hoá có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của NTD, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp chứng minh được khuyết tật của hàng hoà không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá cung cấp cho NTD

Thứ ba, pháp luật BVQLNTD thiết lập những ngoại lệ so với những nguyên

tắc tố tụng dân sự truyền thống Đây là những ngoại lệ về điều kiện, hình thức khởi kiện hoặc giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh Pháp luật tố tụng dân sự đã quy định đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh khi khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Khác với nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống, việc quy định những ngoại lệ như khởi kiện tập thể ở Hoa kỳ hoặc đảo nghĩa vụ chứng

16

Nguyễn Thị Vân Anh và đ.t.g (2012), Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Công an

nhân dân, Hà Nội, tr.24

Trang 23

minh ở Đức… sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho NTD tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền lợi của mình bị vi phạm

Thứ tư, pháp luật bảo vệ NTD là một lĩnh vực pháp luật liên quan đến nhiều lĩnh

vực khác nhau của đời sống xã hội Có những quy định BVQLNTD được thể hiện trong Bộ luật dân sự (BLDS) như trách nhiệm BTTH cho NTD, biện pháp buộc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền lợi NTD, có những quy định bảo vệ NTD được thể hiện trong Bộ luật hình sự (BLHS) như các quy định về tội buôn bán hàng giả, tội lừa dối khách hàng Luật BVQLNTD là luật quan trọng nhất quy định cụ thể về BVQLNTD nhưng không phải là luật duy nhất quy định về vấn đề này mà quy định BVQLNTD còn được thể hiện trong một số luật chuyên ngành như Luật an toàn thực phẩm, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá, Luật viễn thông…

1.2.3 Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế tri thức, sự tác động ngày càng sâu của cuộc cách mạng công nghệ (cách mạng công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học v.v.), toàn cầu hoá và sự phát triển thương mại điện tử đang càng làm cho quá trình chuyên môn hoá có những bước nhảy vọt hơn nữa về chất, khoảng cách giữa nhà sản xuất và NTD ngày lại càng xa nhau, sự chênh lệch giữa hiểu biết của nhà sản xuất về sản phẩm với tri thức mà NTD biết về sản phẩm ngày càng lớn, quy mô kinh tế giữa thương nhân với NTD càng có sự chênh lệch Điều đó càng làm cho nhà sản xuất với NTD có độ chênh lệch lớn về vị thế thực tế Trong bối cảnh ấy, nếu NTD không có các công cụ hỗ trợ, việc NTD bị nhà sản xuất, phân phối lạm dụng là hoàn toàn có khả năng xảy ra Nếu chỉ trông chờ vào khả năng tự bảo vệ của mình, NTD sẽ khó có thể phòng ngừa và khắc phục được những rủi ro trong quá trình tham gia giao dịch với nhà sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ cũng như trong quá trình sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó17 Đó chính là lý do vì sao, sự hiện diện của nhà nước, sự can thiệp của nhà nước bằng pháp luật là cần thiết để quan hệ giữa nhà sản xuất, phân phối với NTD trở nên lành mạnh, công bằng hơn Khi xã hội càng phát triển, lĩnh vực pháp luật BVQLNTD sẽ càng cần thiết và càng cần được quan tâm

bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà

Nội, tr.12

Trang 24

1.2.4 Nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tuỳ thuộc quan niệm của từng nước, pháp luật BVQLNTD có thể có những nội dung khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung, pháp luật BVQLNTD ở các nước đều

có những nội dung sau:

Thứ nhất, quy định về quyền và nghĩa vụ của NTD Đây là nội dung quan

trọng nhất của pháp luật BVQLNTD Quy định này có ý nghĩa trong việc giúp NTD nhận thức rõ hơn quyền và nghĩa vụ của mình, qua đó có thể tự bảo vệ được mình trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh; đồng thời cũng nâng cao công tác

bảo vệ NTD của các nước “Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD” kèm theo Nghị quyết

Đại hội hồng Liên hợp quốc số A/RES/39/248 ngày 16/4/1985 đã quy định NTD có các quyền sau: quyền được an toàn; quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản; quyền được lắng nghe ý kiến; quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản; quyền được đền bù; quyền được giáo dục và quyền được sống ở môi trường trong lành18

Tại Việt Nam, Luật BVQLNTD năm 2010 cũng đã cụ thể hoá các quyền và nghĩa

vụ của NTD tại Điều 8 và Điều 9 Tại nước CHDCND Lào, Luật Bảo vệ NTD số

02/NA năm 2010 đã cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của NTD tại các Điều 33 và

33 Ngoài ra, Điều 57 Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 quy định về các hành vi cấm đối với NTD

Thứ hai, quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của người cung cấp hàng hoá,

dịch vụ cho NTD cũng là một nội dung đặc thù của pháp luật BVQLNTD Ngoài những nghĩa vụ theo thoả thuận và được điều chỉnh bởi những ngành luật tư, tổ chức, cá nhân kinh doanh đều có trách nhiệm đối với sản phẩm, dịch của mình Đây

là một loại trách nhiệm pháp lý đặc biệt khi hàng hoá, dịch vụ của nhà cung cấp có những khuyết tật, kể cả trong trường hợp những chủ thể này không có lỗi đối với những khuyết tật đó

Pháp luật cũng quy định thương nhân có nghĩa vụ chứng minh việc mình không có lỗi khi sản phẩm được cung cấp ra có khuyết tật Ở đây, các nhà làm luật

đã buộc các thương nhân phải có nghĩa vụ chứng minh như người khởi kiện Các thương nhân phải chứng minh là mình được miễn trách nhiệm sản phẩm Trường hợp không thể chứng minh mình được miễn, họ phải chịu trách nhiệm đối với những các buộc của nguyên đơn về khuyết tật của hàng hoá, dịch vụ mà mình đã sản xuất, thiết kế hoặc cung cấp

18

Nguyễn Thị Vân Anh và đ.t.g (2012), Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Công an

nhân dân, Hà Nội, tr.30

Trang 25

Thứ ba, về trách nhiệm bảo vệ NTD từ phía Nhà nước và các cơ quan có

thẩm quyền Như trên đã phân tích, BVQLNTD là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước và được thực hiện qua thiết chế thực thi pháp luật như các cơ quan Nhà nước, cơ quan hành chính, hệ thống tòa án các cấp, các tổ chức BVQLNTD Do đó, pháp luật phải thiết lập khung pháp lý cụ thể quy định về trách

nhiệm bảo vệ NTD từ phía Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền

Thứ tư, Những biện pháp đảm bảo thực thi pháp luật BVQLNTD Việc thực

thi pháp luật BVQLNTD trên thực tế muốn đạt được hiệu quả, phải có những biện pháp đảm bảo nhất định Những biện pháp này được thể hiện qua các quy định về trách nhiệm của các thương nhân đối với sản phẩm, việc chống cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ NTD, quy định phương thức giải quyết tranh chấp giữa NTD và thương nhân, cũng như việc quy định các chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD

Trong đó, về phương thức giải quyết tranh chấp giữa NTD và thương nhân:

Đối tượng của tranh chấp là các quan hệ tư nên các tranh chấp với NTD sẽ được giải quyết theo trình tự luật tư Các tranh chấp này thường sẽ được giải quyết theo cách thức: thương lượng, hoà giải, trọng tài và toà án Điều 37 Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 quy định về các phương thức giải quyết tranh chấp và bảo

vệ NTD bao gồm: thương lượng, hòa giải, thủ tục hành chính của tổ chức thực hiện BVQLNTD, trọng tài, và, tòa án Các bằng chứng mà NTD phải cung cấp khi là: bằng chứng chứng minh việc mua bán với nhà cung cấp; bằng chứng chứng minh vi phạm của Nhà cung cấp

Về các chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD Luật bảo

vệ NTD các nước đều hướng tới loại bỏ những hành vi thương mại không lành mạnh ngay khi chúng không hướng đến NTD cụ thể nào Theo thông lệ, luật bảo vệ NTD quy định những hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại như: quảng cáo gian dối, che giấu khuyết tật sản phẩm, cung cấp hàng hoá có khả năng gây nguy hại đến sức khoẻ cộng đồng, quấy rối, ép buộc NTD Các chế tài sẽ thường xuyên được áp dụng để xử lý những chủ thể có hành vi xâm phạm quyền lợi NTD Các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của NTD sẽ phải chịu các chế tài xử lý đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm sẽ có tác dụng răn đe, trừng phạt nghiêm khắc những chủ thể này, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích chính đáng của NTD Bên cạnh đó, việc quy định các chế tài xử lý đối với hành vi vi

Trang 26

phạm pháp luật BVQLNTD sẽ có tác dụng thiết luật một trật tự xã hội tốt hơn trong quan hệ mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ

1.3 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Sau năm 1975 đến trước năm 1991, nền kinh tế Lào là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với cơ chế quản lý bao cấp Trong thời kỳ này, chưa có văn bản nào quy định về BVQLNTD

Đến năm 1991, với Hiến pháp Lào năm 1991, được thông qua ngày 14/8/1991 tại kỳ họp thứ 6 Hội đồng Nhân dân Tối cao khóa 2 Việc thông qua Hiến pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, khi Hiến pháp năm 1991 của Lào đã bắt đầu cởi mở trong việc tự do kinh tế và chính trị hóa, cũng như việc thay đổi chính sách đối ngoại với các quốc gia truyền thống và cựu thù, các nguyên tắc chung sống hòa bình được tuân thủ Trên cơ sở đó, các đạo luật trong lĩnh vực kinh tế được ban hành, các mối quan hệ kinh tế - xã hội phát triển Trong giai đoạn này, hàng hóa, dịch vụ phong phú, đa dạng hơn so với thời bao cấp trước đây; do vậy NTD có quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình Do vậy, trong thời kỳ này đã xuất hiện một số quy định về BVQLNTD Tuy nhiên, các quy định này lại nằm tản mạn, rải rác trong nhiều văn bản như: Khuyến nghị về thực phẩm số 035/FMC tháng 8/1991; Danh mục các loại thuốc bị cấm dựa trên Nghị định của Bộ Y tế năm 1994; Nghị định của Thủ tướng chính phủ

về Thương hiệu hàng hóa số 06/PM ngày 18 tháng 1 năm 1995; Nghị định về Quản

lý Tiêu chuẩn và Chất lượng Hàng hoá và Dịch vụ năm 1996; Luật Nông nghiệp số 198/NA được Quốc hội thông qua ngày 06/12/1998; Luật về Thuốc và Sản phẩm Y

tế tháng 4 năm 2000; Nghị định về Thương mại Hàng hoá năm 2001; Nghị định về Sáng chế năm 2002… các quy định này chủ yếu liên quan đến đến an toàn thực phẩm và dược phẩm, giả cả, chất lượng và tiêu chuẩn của sản phẩm và lưu thông, bằng sáng chế và nhãn hiệu Tuy nhiên, hệ thống những quy định liên quan đến BVQLNTD trong giai đoạn này vẫn còn chung chung, thiếu những chế tài cụ thể để

xứ lý hành vi xâm phạm quyền lợi NTD Bởi vậy, tình trạng xâm phạm quyền lợi NTD vẫn xảy ra thường xuyên với các hành vi kinh doanh thiếu chung thực, lừa dối NTD… và chưa có cơ chế giải quyết thống nhất

Năm 2001, khi Đảng và Nhà nước CHDCND Lào quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, bối cảnh kinh tế - xã hội Lào đã có những thay đổi cơ bản Trong đó

là việc tích cực gia nhập các Điều ước quốc tế, tham gia các tổ chức kinh tế thế giới

Trang 27

Ngược lại, Lào cũng nhận được sự giúp đỡ của các nước phát triển để cải thiện hệ thống pháp luật cũng như nền tảng kinh tế Trong đó, với sự trợ giúp kỹ thuật của UNCTAD và sự tham gia của Văn phòng NTD Châu Á Thái Bình Dương, Bộ Thương mại đã có những bước đi ban đầu để thành lập Ủy ban Thương mại lành mạnh để giải quyết các vấn đề cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ NTD Bước đầu tiên trong hướng này, Nghị định của Chính phủ về Cạnh tranh Thương mại được ban hành vào đầu năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2004 Mục tiêu này quy định các quy tắc và quy định để đối phó với hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ quyền của NTD và khuyến khích các hoạt động kinh doanh lành mạnh để cạnh tranh và hoạt động hiệu quả19 Đây được xem

là văn bản chuyên ngành đầu tiên quy định về vấn đề BVQLNTD thông qua việc điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh Cùng với đó, một loạt các đạo luật chuyên ngành được ban hành cũng có các quy định về bảo vệ NTD, trong đó có thể kể đến như Luật Thực phẩm được ban hành tháng 4 năm 2004 (Luật này quy định về kiểm tra thường xuyên việc sản xuất và tiêu thụ thực phẩm về chất lượng và vệ sinh và để điều tra bất kỳ khiếu nại của NTD về thực phẩm không an toàn); Luật sở hữu trí tuệ năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Những quy định trong các văn bản này là một bước tiến lớn, thế hiện vấn đề BVQLNTD đang dần được quan tâm tại Lào Tuy nhiên, việc quy định tản mạn trong các đạo luật chuyên ngành gây nên tình trạng chồng chéo trong thi hành, và việc bảo đảm quyền lợi NTD mới chỉ được quy định trong một vài lĩnh vực chứ chưa được quy định một cách toàn diện

Trước những yêu cầu, đòi hỏi của phát triển kinh tế thị trường, cũng như yêu cầu khắc phục những hạn chế trong các quy định tản mạn về BVQLNTD, qua một thời gian dài học tập kinh nghiệm nước ngoài, soạn thảo, lấy ý kiến trong nước, Luật Bảo vệ NTD của nước CHDCND Lào đã được Quốc hội thông qua và ban hành vào 30/6/2010 (Luật Bảo vệ NTD số 02/NA ngày 30/6/2010) Đạo luật bao gồm 74 Điều, được chia thành 9 phần, ngoài Phần I- Những quy định chung, và Phần IX- Những điều khoản cuối cùng, 7 phần còn lại quy định lần lượt các vấn đề: Bảo vệ NTD; Cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ bảo vệ NTD và Hiệp hội bảo

vệ NTD; Quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà cung cấp; Giải quyết tranh chấp; Các hành vi bị cấm; Quản lý và thanh tra về hoạt động bảo vệ NTD; Xử lý vi phạm pháp luật về BVQLNTD

19

P A S Dahanayake (2005), “Making Markets Work Better for Development and the Poor in Lao PDR”,

Report prepared by Dr P A S Dahanayake Consultant to UNCTAD and CI, UNCTAD and CI

Trang 28

Trên cơ sở Luật Bảo vệ NTD số 02/NA ngày 30/6/2010, các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ NTD số 02/NA trong một số lĩnh vực cũng lần lượt được ban hành, trong đó có thể kể đến: Lệnh của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và thương mại số 2501/MOIC.DTD về ngôn ngữ nhãn hiệu Lào ngày 16/12/2015 và mới dây nhất là Dự thảo Nghị định của Chính phủ về bảo vệ NTD trong lĩnh vực tài chính dưới sự giám sát của Ngân hàng CHDCND Lào20

Cùng với đó, các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng có sự sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tăng cường cơ chế bảo vệ NTD, trong đó phải kể đến sự sửa đổi bổ sung Luật sở hữu trí tuệ năm 2007 vào năm 2011, và việc xây dựng và ban hành Luật Canh tranh Lào năm 2015

Như vậy, cùng với sự ra đời của Luật bảo vệ NTD số 02/NA ngày 30/6/2010,

hệ thống pháp luật về bảo vệ NTD của nước CHDCND Lào đã có bước phát triển mạnh mẽ, vấn đề bảo vệ NTD ngày càng được quan tâm, các quy định về bảo vệ NTD càng được xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, các giao dịch kinh tế, phù hợp với nhu cầu của NTD - bên yếu thế trong quan hệ kinh doanh hiện nay Điều này góp phần bảo vệ NTD một cách tốt hơn, cũng như nâng cao vị thế của NTD trong mối quan hệ với các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

NTD là bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế mỗi quốc gia BVQLNTD

và hoàn thiện pháp luật BVQLNTD là vấn đề được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và không ngừng thực hiện Việc nghiên cứu góp phần hoàn thiện pháp luật BVQLNTD nhằm đảm bảo công bằng xã hội và phải phù hợp với đặc thù của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển Nhận thức được điều đó, Chương 1 Luận văn đã tập trung nghiên cứu về một số vấn đề lý luận về BVQLNTD Qua việc triển khai các nội dung nghiên cứu trong chương 1 cho thấy, pháp luật

BVQLNTD được xây dựng bằng những quy phạm “đặc biệt” để bảo vệ NTD, xuất

phát từ tính đặc thù của quan hệ tiêu dùng - quan hệ giữa NTD bên yếu thế với tổ chức, cá nhân kinh doanh Thế nên, pháp luật bảo vệ NTD can thiệp khá sâu vào quan hệ dân sự này, một quan hệ dân sự không có sự tự do và bình đẳng khi xác lập, thực hiện hợp đồng

Pháp luật BVQLNTD là một lĩnh vực pháp luật còn “non trẻ” không những

đối với Lào mà cả các quốc gia phát triển trên thế giới Và đa phần pháp luật bảo vệ

20

ngày truy cập 08/5/2017

Trang 29

NTD các nước có quan điểm không giống nhau về đối tượng, phạm vi điều chỉnh cũng như mức độ bảo hộ của nhà nước đối với NTD Hầu hết các quốc gia xây dựng

mô hình pháp lý bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật mang tính tiêu chuẩn nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và cả các quy phạm quy định trách nhiệm pháp lý đối với thiệt hại sau khi xảy ra hành vi vi phạm Mô hình pháp lý này bảo vệ NTD tối

ưu, có tính chất phòng ngừa các hành vi vi phạm và giảm thiểu tối đa nguy cơ thiệt hại cho NTD, đồng thời bù đắp được lợi ích đã mất của NTD Chính vì vậy, việc đi tìm hiểu, nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ mô hình pháp luật BVQLNTD trên thế giới, cấu trúc nội dung pháp luật BVQLNTD là hết sức cần thiết Trên cơ sở đó

có cái nhìn tổng thể, bao quát nhằm xác lập cách thức, định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật BVQLNTD của Lào, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, kỷ nguyên của hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA

NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Mặc dù vấn đề BVQLNTD được ghi nhận trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng trong phạm vi luận văn này, chỉ tìm hiểu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật BVQLNTD của nước CHDCND Lào trong phạm vi Luật Bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan

2.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Lào

2.1.1 Các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng

2.1.1.1 Về quyền của người tiêu dùng

Pháp luật về BVQLNTD trên thế giới là một lĩnh vực non trẻ so với lịch sử phát triển lâu đời của pháp luật của nền kinh tế thị trường Thuật ngữ “người tiêu dùng” cũng chỉ được sử dụng với tư cách là thuật ngữ pháp lý trong thời gian gần đây Chính vì thế, hầu như các quy định của pháp luật ghi nhận các quyền cơ bản của NTD chưa hề xuất hiện trước khi có lời phát biểu của J.F.Kennedy, tổng thống Hoa kỳ vào năm 1962 Tại phiên họp tại Thượng nghị viện Hoa kỳ ngày 15/3/1962, J.F.Kennedy là người đầu tiên đưa ra khái niệm về những quyền cơ bản của NTD:

“NTD theo định nghĩa, bao gồm toàn thể chúng ta Họ là nhóm người đông đảo

nhất, có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của hầu hết các quyết định về kinh tế, dù là của nhà nước hay tư nhân Vậy mà họ là nhóm người quan trọng độc nhất mà quan

tồn tại trong xã hội và tham gia vào nền kinh tế với vai trò là người dẫn dắt nền kinh

tế Bởi vậy, NTD có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế cũng như các mặt văn hóa, chính trị, xã hội của một đất nước

Với vai trò quan trọng đó, pháp luật các quốc gia cũng như quốc tế đã ghi

nhận các quyền lợi của NTD Trong đó, Nghị quyết với tên gọi “Các nguyên tắc chỉ

đạo để bảo vệ NTD” được đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9/05/1985,

Liên hợp quốc đã chỉ ra 8 quyền cơ bản của NTD, bao gồm: (1) Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; (2) Quyền được an toàn; (3) Quyền được thông tin; (4)

21

Nguyên văn: "… consumers are the largest economic group, affecting and affected by almost every public

and private economic decision Yet they are the only important group whose views are often not heard.",

trích trong: Dr Sung-Hie Hong (2001), “Food Safety and Inspection Service to Protect Consumers”, Food

and Fertilizer Technology Center, Taipei, Taiwan R.O.C.,

http://www.fftc.agnet.org/library.php?func=view&id=20110717204233&type_id=4 , ngày truy cập

17/7/2011.

Trang 31

Quyền được lựa chọn; (5) Quyền được lắng nghe; (6) Quyền được bồi thường; (7) Quyền được giáo dục về tiêu dùng; (8) Quyền được có một môi trường lành mạnh

và bền vững

Phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của mình, trên cơ sở nghiên cứu tham khảo, kế thừa Nghị quyết của Liên hợp quốc, Luật bảo vệ NTD số 02/NA năm 2010 của nước CHDCND Lào đã ghi nhận 5 quyền cơ bản sau của NTD Lào tại Điều 32 như sau:

“Điều 32 Quyền của người tiêu dùng

Người tiêu dùng có các quyền sau đây:

1 Lựa chọn và quyết định hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình

2 Nhận được thông tin, chỉ dẫn rõ ràng về chất lượng, giá cả, địa điểm sản xuất, tên nhà sản xuất, phương thức sử dụng và hướng dẫn sử dụng, tính năng đặc biệt, nội dung, ngày sản xuất và hết hạn, giấy chứng nhận sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng và các thông tin cần thiết khác;

3 Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp;

4 Yêu cầu bồi thường hoặc khiếu nại bồi thường thiệt hại do hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng mà ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ và tài sản;

5 Báo cáo với các tổ chức thực hiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về quy trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ bất hợp pháp như sản phẩm giả mạo, các hoạt động ảnh hưởng đến môi trường vượt ra ngoài tiêu chuẩn”

Như vậy, Điều 32 Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 quy định NTD nước CHDCND Lào có 5 quyền cơ bản sau:

Thứ nhất, quyền lựa chọn và quyết định hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình Đây là quyền được tiếp cận với những hàng hoá, dịch vụ có

chất lượng, đảm bảo an toàn, giá cả hợp lý để đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất của con người là ăn, mặc, ở, nước sạch, điện, vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ, tinh thần và giáo dục

Trên cơ sở những thông tin được cung cấp, NTD có quyền lựa chọn hàng hoá, dịch vụ an toàn, phù hợp với khả năng và nhu cầu của bản thân về loại hình, chất lượng, giá cả của hàng hoá, dịch vụ Ngoài ra NTD phải được tiếp cận với các dịch vụ và hàng hóa đa dạng với chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh để thực hiện quyền lựa chọn của mình Họ được toàn quyền quyết định trong việc có nên tiêu

Trang 32

dùng hay không để đảm bảo quyền được thỏa mãn và an toàn NTD cần phải tự mình quyết định trong việc tiêu dùng của mình Bất cứ hành vi gò ép, dụ dỗ, mồi chài nào đối với NTD đều không được chấp nhận, thậm chí ngay cả khi dựa vào vị thế độc quyền trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ

Để quyền này của NTD phát sinh hiệu lực trên thực tế thì phải làm tốt công tác chống độc quyền; kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh, lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường để áp đặt giá

Thứ hai, quyền nhận được thông tin, chỉ dẫn rõ ràng về chất lượng, giá cả, địa điểm sản xuất, tên nhà sản xuất, phương thức sử dụng và hướng dẫn sử dụng, tính năng đặc biệt, nội dung, ngày sản xuất và hết hạn, giấy chứng nhận sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng và các thông tin cần thiết khác

Đối với NTD nói chung, thông tin về hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ mà họ sử dụng là rất cần thiết Tuy nhiên, không phải lúc nào các nhà sản xuất kinh doanh cũng cung cấp đúng và đầy đủ thông tin, thậm chí đôi khi vì lợi nhuận còn cố tình nói sai lệch về những sản phẩm của mình gây nhầm lẫn trong quá trình lựa chọn hàng hóa của NTD Điều đó đã vi phạm quyền được thông tin của NTD Theo quy định, NTD có quyền được cung cấp đầy đủ thông tin xác thực và tin cậy về chất lượng, giá thành cũng như tính năng sử dụng của hàng hóa đó để từ đó họ có thể đưa ra quyết định tiêu dùng Bất cứ nội dung gì liên quan đến hàng hóa, dịch vụ cũng cần phải được thông tin cho NTD biết Nội dung thông tin cho NTD có thể được thực hiện thông qua việc ghi nhãn mác, hướng dẫn sử dụng hay qua quảng cáo giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng

Do đó, Khoản 2 Điều 32 đã quy định NTD có quyền quyền nhận được thông tin, chỉ dẫn rõ ràng về chất lượng, giá cả, địa điểm sản xuất, tên nhà sản xuất, phương thức sử dụng và hướng dẫn sử dụng, tính năng đặc biệt, nội dung, ngày sản xuất và hết hạn, giấy chứng nhận sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng và các thông tin cần thiết khác Việc được cung cấp những thông tin này một cách trung thực, chính xác sẽ giúp NTD có thể đưa ra quyết định hay lựa chọn một cách đúng đắn, khách quan, chính xác Đảm bảo tốt quyền được cung cấp thông tin sẽ giúp cho NTD có được các dữ liệu, dữ kiện cần thiết cho việc lựa chọn

Thứ ba, quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp

Nhu cầu về an toàn là nhu cầu được xếp ưu tiên sau nhu cầu cơ bản về thể chất và sinh lý An toàn về tính mạng nghĩa là bảo vệ cho con người tránh được các

Trang 33

nguy cơ đe dọa cuộc sống và an toàn về tinh thần là tránh được mọi sự sợ hãi, lo lắng Tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu nhưng vấn đề an toàn thì nhất thiết cần được đảm bảo NTD được quyền bảo vệ tránh khỏi những hàng hóa dịch vụ có hại cho thể chất, sức khỏe và tinh thần để NTD có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe Quyền về an toàn ở đây không chỉ liên quan đến hàng hóa, dịch vụ cuối cùng mà còn liên quan đến cả quá trình sản xuất hàng hóa đó

Quyền an toàn có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực vệ sinh thực phẩm Sự an toàn này phải đáp ứng cả trước mắt và lâu dài cho người sử dụng

Thứ tư, quyền yêu cầu bồi thường hoặc khiếu nại BTTH do hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng mà ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ và tài sản

Trong trường hợp NTD có những điều không vừa ý, bị thiệt thòi, thiệt hại, họ

có quyền khiếu nại Quyền khiếu nại này được thực hiện trực tiếp đến cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hoặc khởi kiện trước tòa án để đòi BTTH

Nếu những khiếu nại đó là chính xác và hợp lý, NTD có quyền được bồi thường những thiệt hại cả vật chất lẫn tinh thần do những vấn đề đó gây ra Các nhà sản xuất kinh doanh phải có trách nhiệm BTTH nếu sản phẩm của mình gây tổn hại đến NTD Nhà sản xuất kinh doanh phải bồi thường cho NTD nếu sản phẩm dịch vụ

do họ cung ứng không đúng với nội dung đã giới thiệu, quảng cáo, giao kết hợp đồng Các khiếu nại của NTD có thể được giải quyết bằng cách hòa giải giữa người cung ứng và NTD thông qua các văn phòng khiếu nại của NTD; bằng cách trực tiếp giữa người cung ứng và NTD hoặc thông qua các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, hoặc trong trường hợp không giải quyết được thì có thể thông qua hệ thống tòa án dân sự Bồi thường thỏa đáng cho những khiếu nại chính đáng của NTD sẽ nâng cao được tín nhiệm của doanh nghiệp, cải thiện được hình ảnh của doanh nghiệp trong con mắt NTD

Thứ năm, quyền báo cáo với các tổ chức thực hiện BVQLNTD về quy trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ bất hợp pháp như sản phẩm giả mạo, các hoạt động ảnh hưởng đến môi trường vượt ra ngoài tiêu chuẩn

Quyền này nằm trong phạm vi quyền được lắng nghe của NTD Theo đó, họ được quyền liên hệ, bày tỏ ý kiến với nhà sản xuất kinh doanh về các loại hàng hóa, dịch vụ do họ cung ứng cũng như góp ý với nhà nước, các cơ quan, tổ chức có liên quan đến những vấn đề của họ NTD có thể trực tiếp đề xuất ý kiến của mình hoặc thông qua các cơ quan chức năng, hội NTD, hay thông qua đại diện của mình để bày tỏ ý kiến NTD cần được giải đáp những thắc mắc trong quá trình tiêu dùng một cách rõ ràng và nhanh chóng Những hành vi không tôn trọng, phớt lờ hoặc đàn áp ý

Trang 34

kiến NTD đều là vi phạm quyền được lắng nghe của NTD Tôn trọng quyền được lắng nghe của NTD không chỉ là nghĩa vụ, quyền lợi của các nhà sản xuất kinh doanh mà còn là bí quyết giúp các nhà sản xuất kinh doanh củng cố và phát triển vị thế của mình hay có được niềm tin của khách hàng bởi khi đó họ sẽ hiểu NTD cần

gì hơn nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại hay tạo ra những nguồn cung mới trong tương lai Tôn trọng quyền được lắng nghe của NTD không chỉ là nghĩa vụ, quyền lợi của các nhà sản xuất kinh doanh mà con là bí quyết giúp các nhà sản xuất kinh doanh củng cố và phát triển vị thế của mình hay có được niềm tin của NTD - mấu chốt để doanh nghiệp tồn tại và phát triển bởi khi đó họ sẽ hiểu NTD cần gì hơn nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại hay tạo ra những nguồn cung mới trong tương lai

Người tiêu dùng cần phải được bảo vệ và cần có những quyền lợi cơ bản làm

cơ sở cho việc hoạch định các nghĩa vụ của nhà cung cấp Sở dĩ NTD cần được pháp luật bảo vệ xuất phát từ mối quan hệ “bất bình đẳng” với các nhà sản xuất kinh doanh, chính từ quan hệ này quyền và lợi ích hợp pháp của NTD dễ bị xâm phạm bởi các nhà sản xuất, kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động của họ Vì vậy, bên cạnh quyền của NTD thì không thể thiếu nghĩa vụ của nhà sản xuất kinh doanh Chính họ là chủ thể quan trọng và trước hết có nghĩa vụ tôn trọng các quyền của NTD, có những động thái nhất định để đảm bảo quyền của NTD được thực thi

Có thể nói nghĩa vụ của nhà sản xuất kinh doanh phát sinh từ các quyền của NTD Nhà sản xuất phải có nghĩa vụ đăng ký, công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật và thực hiện đúng cam kết với NTD; phải thường xuyên kiểm tra về an toàn, chất lượng hàng hóa, dịch vụ để đảm bảo an toàn cho NTD trong quá trình tiêu dùng; thực hiện việc cân đo đong đếm chính xác Để NTD có thể sử dụng quyền được thông tin của mình thì người sản xuất kinh doanh phải thông tin, quảng cáo chính xác về hàng hoá dịch vụ; niêm yết giá hàng hoá dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng dịch

vụ hàng hoá của mình cho NTD Nhà sản xuất, kinh doanh phải kịp thời giải quyết khiếu nại của NTD về hàng hóa dịch vụ của mình không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; thực hiện trách nhiệm bảo hành hàng hoá đối với khách hàng Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm lắng nghe, tiếp thu, nghiên cứu ý kiến của khách hàng, BTTH cho NTD theo quy định pháp luật Tuy nhiên, ngoài các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và các chủ thể khác thì NTD cũng có trách nhiệm và thực hiện các nghĩa vụ cần thiết để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Trang 35

Tuy nhiên, so với Nghị quyết của Liên hợp quốc thì pháp luật Lào còn một

số hạn chế sau:

Thứ nhất, Luật Bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 không quy định về quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản Nghiên cứu cho thấy, Luật Bảo vệ

NTD Lào số 02/NA năm 2010 dường như đã bỏ qua một quyền hết sức quan trọng

và cơ bản của NTD với tư cách là con người, đó chính là “quyền được thỏa mãn

những nhu cầu cơ bản” mà Tổ chức quốc tế NTD (Consumers International viết tắt

tiếng Anh là CI)22, Liên Hiệp Quốc và nhiều nước trên thế giới đã công nhận cho NTD, công dân của họ Đây là quyền được tiếp cận, được đáp ứng, được thỏa mãn những hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, đáp ứng nhu cầu cơ bản và tối thiểu nhất của con người trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau như ăn, mặc, ở, điện, nước sạch, vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ, tinh thần và giáo dục

Vì nhiều lý do khác nhau, hiện nay ở Lào, các công ty nhà nước vẫn nắm giữ

độc quyền trong một số lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ như điện, nước, xăng dầu mà đây là một trong những loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, phục vụ nhu cầu hàng ngày

của NTD Một thực tế mà ai cũng biết là với sự độc quyền của những ông “chủ lớn”

Nhà nước thì NTD không dễ dàng gì được tiếp cận, được đáp ứng một cách đầy đủ các loại hàng hóa, dịch vụ này, chưa kể đến việc chất lượng hàng hóa, dịch vụ kém nhưng giá cả thì liên tục tăng trong những năm qua Điều này đã khiến cho, quyền được tiếp cận, được đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày –

quyền cơ bản và tối thiết nhất của NTD - đã và đang bị “chà đạp”, bị chối bỏ bởi

gốc rễ của sự độc quyền và phần lớn là do nguyên nhân chưa được ghi nhận bởi pháp luật BVQLNTD

Việc Luật BVQLNTD của Lào không đảm bảo được quyền tiếp cận, được đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày - quan trọng nhất của NTD với tư cách là con người, mà quyền này lại được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia hiện đại - cũng là một phần nguyên nhân khiến các quyền được lựa chọn, quyền được thông tin, quyền được an toàn khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ, quyền được khiếu nại và bồi thường đã và đang bị vi phạm nghiêm trọng

Thứ hai, Luật Bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 không quy định quyền được giáo dục về tiêu dùng của NTD Hành vi tiêu dùng là một hành vi phức tạp và

bị chi phối bởi nhiều yếu tố Không phải tiêu dùng nào cũng là tốt NTD có quyền

22

Xem trang Web của Consumer international tại địa chỉ:

http://www.consumersinternational.org/Templates/Internal.asp?NodeID=89655 ,

Trang 36

được hướng dẫn, giáo dục những kiến thức và kỹ năng về tiêu dùng Khi kiến thức tiêu dùng được nâng cao, NTD có khả năng tự bảo vệ mình tránh khỏi những thiệt thòi không đáng có Việc giáo dục NTD có thể được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, hội thảo, triển lãm… Nhiều nước đã đưa giáo dục về tiêu dùng vào các chương trình giáo dục ở các trường học

Có thể nói, đây là cái quyền rất nhân văn và cần thiết vì tất cả NTD Lào vừa bước ra từ nền kinh tế tập trung bao cấp và hầu hết được đánh giá là lạc hậu, thiếu hiểu về pháp luật, kiến thức về hàng hóa, dịch vụ23 Thế nhưng, quyền này khó mà thực hiện vì Luật bảo vệ NTD số 02/NA năm 2010 của Lào đã không ghi nhận, cũng như không có cơ chế để thực thi quyền này một cách cụ thể Vậy trên thực tế, NTD

dựa vào đâu để đòi hỏi các chủ thể có nghĩa vụ thực hiện việc “giáo dục” cho mình

Thứ ba, Luật BVQLNTD Lào số 02/NA 2010 không quy định quyền được có một môi trường lành mạnh và bền vững của NTD

NTD nào cũng muốn được sống trong một môi trường lành mạnh Các nhà sản xuất kinh doanh không nên vì tối đa hóa lợi nhuận mà làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, gây ô nhiễm không khí, nguồn nước hay khiến nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Ô nhiễm môi trường chắc chắn sẽ không thể đảm bảo một môi trường bền vững Việc bảo vệ và tạo ra một môi trường trong sạch lành mạnh là một công việc rất cần thiết, nếu không, nó có thể ảnh hưởng tới cả

những thế hệ tương lai Với sự thiếu sót và “chểnh mảng” nói trên, pháp luật

BVQLNTD của Lào cần nhanh chóng khắc phục, cần quy định một cách rõ ràng, đầy đủ về công việc, quy trình, kinh phí cũng như chế tài đối với chủ thể thực hiện nghĩa vụ tư vấn, hỗ trợ, giáo dục kiến thức tiêu dùng cho NTD Có như vậy thì NTD

Lào mới có thể nhanh chóng trở thành “NTD thông thái” như khẩu hiệu kêu gọi từ

các cơ quan quản lý Nhà nước

2.1.1.2 Nghĩa vụ của người tiêu dùng

Về mặt lý luận, nghĩa vụ là một chế định pháp luật bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong những văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích chủ thể quyền Hiểu theo nghĩa hẹp, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy

tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định

những định hướng lập pháp”, Báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc

tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009

Trang 37

vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác

Như vậy, nói đến nghĩa vụ là nói đến tính bắt buộc phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định của chủ thể có nghĩa vụ Nội hàm thuật ngữ nghĩa vụ mang tính cưỡng chế nhà nước trong trường hợp bên có nghĩa

vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình Căn cứ phát sinh nghĩa vụ có thể do hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương hoặc do nhà nước quy định Tuy nhiên, đã là nghĩa vụ thì buộc phải thực hiện (thể hiện ở việc hành động hoặc không hành động)

và phải chịu trách nhiệm - hậu quả pháp lý bất lợi - trong trường hợp không hoàn thành nghĩa vụ của mình

Việc quy định nghĩa vụ của NTD là một biện pháp tốt để giúp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với cộng đồng Mỗi NTD là một thành viên trong xã hội, vì vậy ngoài việc tự bảo vệ mình, NTD cũng có nghĩa vụ bảo vệ những NTD khác trước sự xâm phạm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh Ngoài ra, nếu NTD không tuân thủ chặt chẽ các quy định liên quan đến nghĩa vụ của mình trong các giao dịch thì khó có thể nói đến việc đảm bảo quyền lợi cho họ trước sức mạnh của doanh nghiệp Và hơn hết, khi thực hiện quyền của mình, nghĩa vụ của NTD cũng thể hiện ở chỗ họ không được lạm quyền gây khó khăn và thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh Bởi lẽ, suy cho cùng thì NTD và nhà cung cấp là hai chủ thể hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật, họ được hưởng các quyền và phải chịu trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Bên cạnh các quyền được ghi nhận trong pháp luật bảo vệ NTD, NTD còn phải có nghĩa vụ theo Điều 33 Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 như sau:

“Điều 33 Nghĩa vụ của người tiêu dùng

Người tiêu dùng có các nghĩa vụ sau:

1 Thanh toán bằng đồng tiền Lào (LAK) chi phí của các sản phẩm và dịch vụ;

2 Tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ đúng theo hướng dẫn hoặc sách hướng dẫn

sử dụng;

3 Cung cấp thông tin về chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ cho các cán bộ liên quan”

Theo đó, NTD nước CHDCND Lào có 3 nghĩa vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, nghĩa vụ thanh toán bằng đồng tiền Lào (LAK) chi phí của các sản phẩm và dịch vụ Đây là một trong những nghĩa vụ cơ bản nhất của bên mua trong

hợp đồng mua bán hàng hóa - nghĩa vụ thanh toán Người tiêu dùng, trong quan hệ

Trang 38

với các nhà cung cấp, cũng chính là bên mua hàng Chính vì vậy, họ có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận trong hợp đồng Theo đó, NTD sau khi lựa chọn, nhận hàng hóa, có nghĩa vụ phải thanh toán bằng đồng tiền Lào (LAK) chi phí của các sản phẩm và dịch vụ Về phương thức thanh toán, pháp luật Lào không có quy định, do đó, NTD có thể trả tiền bằng nhiều phương thức khác nhau Tuy nhiên, đồng tiền dùng để thanh toán phải là đồng tiền Lào (LAK) bởi cho đến nay, Lào vẫn chưa chấp nhận giao dịch bằng ngoại tệ

Thứ hai, nghĩa vụ tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ đúng theo hướng dẫn sử dụng

Thực hiện nghĩa vụ này, NTD có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định và hướng dẫn của người sản xuất, người nhập khẩu, người bán hàng về việc vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa Việc quy định nghĩa vụ này nhằm đảm bảo quyền an toàn cho NTD Muốn đảm bảo an toàn cho NTD, đầu tiên được đảm bảo nếu như các quy định về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, vệ sinh được tuân thủ một cách nghiêm ngặt bởi các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, dịch vụ; và nếu như NTD được thông báo chính xác về thành phần, cách thức sử dụng, bảo quản, các nguy cơ tiềm tang, v.v Theo đó, khi đưa hàng hóa lưu thông trong thị trường, nhà sản xuất có nghĩa vụ phải cung cấp các tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa bao gồm kết quả đánh giá sự phù hợp, tài liệu quảng cáo, giới thiệu tính năng, công dụng, đặc tính, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, hàng hóa Hướng dẫn sử dụng hàng hóa được hiểu là thông tin liên quan đến cách sử dụng, các điều kiện cần thiết để sử dụng, bảo quản hàng hoá; cảnh báo nguy hại; cách xử lý khi xảy ra sự cố nguy hại Tuy nhiên, muốn đảm bảo an toàn, NTD cũng phải tự giác thực hiện tuân thủ đúng hướng dẫn sử dụng sản phẩm, hàng hóa nhằm đảm bảo hàng hóa, dịch vụ được tiêu thụ đúng cách, quy trình, đảm bảo an toàn cho người sử dụng sản phẩm, hàng hóa đó

Thứ ba, nghĩa vụ cung cấp thông tin về chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ cho các cán bộ liên quan Thực hiện nghĩa vụ này, tức là, NTD thực hiện

nghĩa vụ biết phê bình theo CI Theo đó, NTD phải luôn tỉnh táo, cảnh giác và biết nhận xét đối với giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà mình sẽ mua, sẽ thuê, sẽ

sử dụng Khi thấy những hiện tượng tiêu cực làm ảnh hưởng tới lợi ích của mình và của xã hội, NTD có trách nhiệm phát hiện, phê bình và đấu tranh

Như vậy, NTD không chỉ có quyền được bảo vệ, mà còn có nghĩa vụ tự bảo

vệ mình và những NTD khác, phải đảm bảo, tạo điều kiện cho công tác BVQLNTD của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được thực hiện một cách hiệu quả Tuy nhiên, những quy định về nghĩa vụ của NTD nói trên còn rất chung chung, chưa cụ thể và khó mà thực hiện được

Trang 39

Có thể nói, quy định trên không mới, nhưng vấn đề ở đây là cần “làm mới”

tư duy của nhà làm luật, nhà quản lý lẫn NTD Bởi lẽ, không có một Nhà nước, tổ chức nào đủ khả năng bảo vệ quyền lợi ích cho một chủ thể mà không có sự hợp tác tích cực từ chủ thể đó Hơn nữa, NTD trước hết là một thành viên của cộng đồng xã hội, vì vậy ngoài việc tự bảo vệ mình, NTD cũng có nghĩa vụ bảo vệ những NTD khác trước sự xâm phạm của nhà sản xuất kinh doanh Chính vì lẽ đó, khi NTD không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình, thì nhất thiết phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi, có như vậy mới đảm bảo tính hiệu lực, nghiêm minh của pháp luật và thực hiện tốt công tác BVQLNTD Tuy nhiên, việc áp dụng chế tài đòi hỏi phải phù hợp với trình độ nhận thức của NTD và phải đảm bảo rằng về phía

cơ quan quản lý Nhà nước đã thực hiện rất tốt nghĩa vụ, trách nhiệm của mình

2.1.2 Các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ

Không thể chối bỏ rằng quyền lợi của NTD có bị xâm hại hay không phụ thuộc vào hoạt động, thái độ và cách cư xử của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ (mà Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 gọi chung

là nhà cung cấp) Hay nói cách khác, chỉ có tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh mới trực tiếp làm thiệt hại đến quyền lợi của NTD Chính vì vậy, trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp cho NTD thì đối tượng liên quan trực tiếp và có giá trị quyết định tính hiệu quả của hoạt động bảo vệ NTD đó chính là các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Họ là đối tượng quan trọng nhất, hành vi tuân thủ pháp luật của họ là cơ sở chắc chắn nhất cho quyền lợi của NTD được đảm bảo

Chính vì vậy, Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010, cùng với việc quy định các quyền của nhà cung cấp tại Điều 34, đã quy định các nghĩa vụ của nhà cung cấp tại Điều 35 Luật bảo vệ NTD Lào số 02/NA năm 2010 như sau:

“Điều 35 Nghĩa vụ của nhà cung cấp

Nhà cung cấp có các nghĩa vụ sau:

1 Đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật;

2 Đảm bảo việc sản xuất, nhập khẩu, phân phối hàng hoá và dịch vụ sẽ không ảnh hưởng vượt ra ngoài tiêu chuẩn môi trường đã được xác định;

3 Cung cấp thông tin chính xác, chính xác về sản xuất, nhập khẩu, phân phối và phục vụ người tiêu dùng;

4 Chịu trách nhiệm về những thiệt hại do chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ gây ra

Trang 40

5 Thực hiện nghiêm ngặt các giao kết với người tiêu dùng và nhãn hiệu hàng hóa theo đúng quy định;

6 Cung cấp sự hợp tác và thông tin về hàng hoá và dịch vụ của họ cho các quan chức liên quan”

Như vậy, nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ (nhà cung cấp), theo quy định của pháp luật Lào, có những nghĩa vụ sau:

Thứ nhất, đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật

Nhà làm luật xác định trách nhiệm này cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng quyền được an toàn của NTD, sự an nguy của NTD phụ thuộc rất lớn vào thái độ của chủ thể thực hiện nghĩa vụ Bên cạnh việc tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm trước khi đưa ra thị trường, hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và hàng hóa lưu thông trên thị trường thì

họ còn phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất, kinh doanh hoàn lại hoặc đổi hàng mới, nhận lại hàng có khuyết tật bị NTD trả lại; ngưng sản xuất, thông báo biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thu hồi, xử lý hàng hóa không bảo đảm chất lượng; trả chi phí, lệ phí phục vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước; thực hiện việc cân, đong, đo đếm chính xác

Thứ hai, đảm bảo việc sản xuất, nhập khẩu, phân phối hàng hoá và dịch vụ

sẽ không ảnh hưởng vượt ra ngoài tiêu chuẩn môi trường đã được xác định

Bảo vệ môi trường là các hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoai, phục hồi và cải hiện môi trường; khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng Ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường ảnh hưởng tiêu cực đến sự sống, sức khỏe, cuộc sống của mọi người và sự phát triển bền vững của quốc gia Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, “là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đính và cá nhân

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến môi trường Nếu chúng

ta đòi hỏi hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn không ảnh hưởng đến môi trường thì chắc chắn không có bất kỳ hoạt động kinh tế nào xảy ra Khi Lào ngày càng hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế, cùng với việc ký kết các Hiệp định thương mại khu vực,

Ngày đăng: 11/03/2019, 21:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Tổng quan hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Hội thảo khoa học Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện, tháng 9/2010, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, "Hội thảo khoa học Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện, tháng 9/2010
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2010
2. Nguyễn Thị Vân Anh và đ.t.g (2012), Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh và đ.t.g
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2012
3. Bộ Công thương (2009), Báo cáo tóm tắt nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và đề xuất cho Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và đề xuất cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2009
4. Bộ Công Thương nước CHDCND Lào (2015), Báo cáo thực thi pháp luật bảo vệ NTD, Viêng Chăn (Bản Tiếng Lào) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực thi pháp luật bảo vệ NTD
Tác giả: Bộ Công Thương nước CHDCND Lào
Năm: 2015
5. Bộ Công Thương nước CHXHCN Việt Nam (2015), Báo cáo Tóm tắt Tổng kết công tác BVQLNTD giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tóm tắt Tổng kết công tác BVQLNTD giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Bộ Công Thương nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2015
6. Bryan A.Garner (1999), Editor in chief, “Black’s Law Dictionary”, Deluxe Seventh edition, by West group Sách, tạp chí
Tiêu đề: Black’s Law Dictionary
Tác giả: Bryan A.Garner
Năm: 1999
7. Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, “So sánh Luật bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam”, Tài liệu phục vụ công tác xây dựng Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh Luật bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam”, "Tài liệu phục vụ công tác xây dựng Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
8. David A. Rice (1975), Consumer Protection, Little, Brown and Company, Boston Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumer Protection
Tác giả: David A. Rice
Năm: 1975
9. Võ Thị Hạnh (2015), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động quảng cáo thương mại theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Võ Thị Hạnh
Năm: 2015
10. Nguyễn Hữu Huyên (2010), “Kinh nghiệm pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Hội thảo khoa học Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện, tháng 9/2010, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hữu Huyên (2010), “Kinh nghiệm pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, "Hội thảo khoa học Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện, tháng 9/2010
Tác giả: Nguyễn Hữu Huyên
Năm: 2010
11. Đặng Đình Ngọc (2013), Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Đình Ngọc
Năm: 2013
12. P A S Dahanayake (2005), “Making Markets Work Better for Development and the Poor in Lao PDR”, Report prepared by Dr. P A S Dahanayake Consultant to UNCTAD and CI, UNCTAD and CI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Making Markets Work Better for Development and the Poor in Lao PDR”, "Report prepared by Dr. P A S Dahanayake Consultant to UNCTAD and CI
Tác giả: P A S Dahanayake
Năm: 2005
13. Paul A Samuelson, William D. Nordhaus (2002), Kinh tế học, (bản dịch của Vũ Cương, Đinh Xuân Hà, Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Đình Toàn) tập 1, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Tác giả: Paul A Samuelson, William D. Nordhaus
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
14. Nguyễn Như Phát (2003), “Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ƣớc”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, (182), tr.42-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ƣớc”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Như Phát
Năm: 2003
15. Nguyễn Như Phát (2009), “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và những định hướng lập pháp”, Báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và những định hướng lập pháp”, "Báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Như Phát
Năm: 2009
16. Nguyễn Thị Thƣ (2013), Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thƣ
Năm: 2013
17. www.laoofficialgazette.gov.la/kcfinder/upload/files/08052017.pdf, ngày truy cập 08/5/2017 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w