1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở việt nam hiện nay

96 636 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tác động của nhân tố này được thực hiện thông qua khung khổ pháp lý, hệ thống chính sách vĩ mô và quá trình hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với KTTT từ trung ương đến cơ sở, cũ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DOÃN THỊ VÂN ANH

HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ QU¶N Lý NHµ N¦íC

§èI VíI HîP T¸C X· ë VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG MINH TUẤN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Doãn Thị Vân Anh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ 7

1.1 Khái quát chung về hợp tác xã và quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 7

1.1.1 Về hợp tác xã 7

1.1.2 Về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 13

1.2 Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 16

1.2.1 Pháp luật bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 16

1.2.2 Pháp luật bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của hợp tác xã 17

1.3 Lịch sử pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 18

1.3.1 Giai đoạn trước khi có khi có Luật hợp tác xã 18

1.3.2 Giai đoạn sau khi có Luật hợp tác xã 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 24

2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 24

Trang 4

2.1.1 Về bộ máy quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 24

2.1.2 Về hoạt động quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 30

2.2 Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội 38

2.2.1 Khái quát quá trình phát triển hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội 38

2.2.2 Tình hình thực hiện pháp luật về các chính sách hỗ trợ đối với hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội 41

2.3 Đánh giá chung 49

2.3.1 Những thành tựu đạt được 49

2.3.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CƠ CHẾ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 63

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 63

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 66

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 66

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CN-TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

DGRV German Co-operative and Raiffeisen Coferederation

- Liên minh hợp tác xã cộng hoà Liên bang Đức

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tỷ lệ doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của khu vực

HTX so với các thành phần kinh tế khác 10 Bảng 1.2 Tỷ trọng của kinh tế tập thể (chủ yếu là hợp tác xã) trong GDP 11 Bảng 1.3 Số lượng HTX trong cả nước giai đoạn 2002 - 2010 22 Bảng 2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về HTX hiện nay 26

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã là đường lối chiến lược nhất quán trong mọi giai đoạn cách mạng của Đảng và Nhà nước ta, hợp tác xã được từng bước đổi mới theo hướng phù hợp với điều kiện khách quan và trải qua thăng trầm trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá chỉ huy sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Quan điểm của Đảng về kinh tế tập thể (trong đó nòng cốt là hợp tác xã): “ Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” (Nghị quyết Trung ương 5, Đại hội Đảng lần thứ IX về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả của kinh tế tập thể)

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), trên cơ sở những chủ trương, đường lối lớn của Đảng, đã khẳng định: "Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi Nhà nước tạo điều kiện để củng cố

và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả" Điều đó là kết quả của một

thời gian dài vận động thực tiễn và tổng kết lý luận của Đảng và Nhà nước ta

về hợp tác xã Sự khẳng định của Hiến pháp năm 1992 đã tạo đà cho sự đổi mới không ngừng về cơ chế quản lý phát triển hợp tác xã của nhà nước

Thể chế hoá quan điểm, đường lối phát triển kinh tế tập thể của Đảng, Luật hợp tác xã (1996, 2003 và 2012) đã được ra đời Luật hợp tác xã ban hành là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo ra nhiều thuận lợi và thông thoáng hơn cho các hợp tác xã phát triển

Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, sự phát triển của hợp tác xã luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng của yếu tố quản lý nhà nước Thể chế hóa quan điểm đổi mới khu vực kinh tế tập thể tại Nghị quyết 13/NQ-TW ngày

Trang 8

18/3/2002, Luật hợp tác xã năm 2012 đã có nhiều đổi mới, các quy định về quản lý nhà nước đã được bổ sung hơn so với Luật hợp tác xã năm 2003 song mới chỉ dừng lại là quy định khung, cần phải có các quy định cụ thể, rõ ràng

để Luật hợp tác xã đi vào cuộc sống và có tính khả thi cao

Quản lý nhà nước có vai trò ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hình thành phát triển hợp tác xã Sự tác động của nhân tố này được thực hiện thông qua khung khổ pháp lý, hệ thống chính sách vĩ mô và quá trình hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với KTTT từ trung ương đến cơ sở, cũng như quá trình

tổ chức, triển khai trong thực tiễn của bộ máy này Theo đánh giá của Bộ chính trị tại Kết luận số 56-KL/TW ngày 21 tháng 02 năm 2013 về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, thì một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém của khu vực kinh tế hợp tác xã hiện nay là do công tác quản lý nhà nước về hợp tác xã còn nhiều hạn chế, bộ máy phân tán, hoạt động kém hiệu quả, khung pháp luật và chính sách phát triển kinh tế hợp tác

xã còn nhiều bất cập Cụ thể là: chưa có quy định về bộ máy thống nhất quản

lý từ trung ương đến địa phương; hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước đối với hợp tác xã còn thiếu cơ chế phối hợp, liên kết cũng như phân định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hợp tác xã chưa rõ ràng; việc ban hành các chính sách hỗ trợ hợp tác xã còn chậm, thiếu đồng bộ, còn bỏ sót một số chính sách quan trọng trong hỗ trợ phát triển hợp tác xã; công tác thanh tra, kiểm tra còn buông lỏng, chưa được coi trọng

Những tồn tại này dẫn đến việc các hợp tác xã chậm phát triển cả về số lượng và chất lượng Thực trạng này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã với mục đích nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước, giúp cho hợp tác xã ngày càng hoạt động hiệu quả hơn, phát triển bền vững hơn, phát huy tối đa vai trò và ý nghĩa kinh tế -

Trang 9

xã hội của loại hình tổ chức này, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

Với nhận thức đó, tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện pháp luật về quản

lý nhà nước đối với hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay ", tìm hiểu pháp luật về

quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, thực trạng hoạt động quản lý nhà nước, thực tiễn áp dụng khung chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội làm đề tài luận văn thạc sỹ, với mong muốn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, qua

đó đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm giải quyết vấn đề trên

Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến khung pháp luật về hợp tác xã:

- Kinh tế hợp tác xã - một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Liên minh HTX Việt Nam, 1998

- Khung khổ pháp lý và kinh nghiệm phát triển hợp tác xã của một số nước - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, 2006

- Một số vấn đề pháp lý về hợp tác xã và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội - Luận văn cao học Luật của Trần Lệ Thu, 2010

- Một số giải pháp về khung pháp lý cho dịch vụ hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở Việt Nam - Đề tài cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), TS Nguyễn Minh Tú, 2010

Trang 10

Nội dung của quản lý nhà nước đối với hợp tác xã mới chỉ được nghiên cứu chung chung hoặc lồng ghép với những nội dung khác trong các công trình nghiên cứu nêu trên

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu nhằm mục đích sau:

- Những vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của hợp tác xã, quản lý nhà nước đối với hợp tác xã hiện nay, vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

- Hệ thống những quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

- Nghiên cứu đánh giá về thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước trong triển khai thực hiện khung chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Đánh giá ưu, nhược điểm của pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật

vềquản lý nhà nước đối với hợp tác xã và phân tích nguyên nhân

- Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp để tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về quản lý nhà nước phù hợp với điều kiện và thực trạng hoạt động của hợp tác xã hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý

luận pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hợp tác xã Khung khổ pháp lý, cơ chế chính sách luôn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động phát triển của hợp tác xã Việc áp dụng các chính sách không đồng bộ, không kịp thời, thiếu hợp lý, không sát với thực tế

là rào cản kìm hãm sự phát triển của hợp tác xã Vì vậy, tác giả cũng tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng khung chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó rút ra đánh giá chung pháp luật

Trang 11

về quản lý nhà nước và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với hợp tác xã Từ đó

có những giải pháp và kiến nghị phù hợp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực

thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã hiện nay ở nước ta

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn là:

- Phương pháp thu thập tư liệu: Số liệu thu thập được từ cơ quan quản

lý, từ tạp chí, sách và các tài liệu khác có liên quan

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh giữ các số liệu, chỉ tiêu giữa các thời kỳ Tất cả đều dựa trên cơ

sở các kiến thức đã học ở trường và số liệu thực tế ở các hợp tác xã

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Luận văn được nghiên cứu, phân tích

và đánh giá trên cơ sở thu thập thông tin về quản lý nhà nước đối với hợp tác

xã trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Những nét mới của Luận văn

- Luận văn hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về pháp luật trong quản

lý nhà nước đối với hợp tác xã, vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

- Luận văn đưa ra những kết quả phản ánh thực trạng quản lý nhà nước trong thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

- Luận văn chỉ rõ những quy định phù hợp, những hạn chế và những thiếu sót cần bổ sung của pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

- Luận văn đề xuất các giải pháp có căn cứ khoa học, mang tính thực tiễn trong hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của Luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với hợp tác xã; chỉ ra được những điểm tiến bộ và cả những điểm chưa hợp lí trong các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, khắc phục, góp phần cho hoạt động quản lý nhà nước hiệu lực và hiệu quả hơn

Các kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo về luật học và phần nào có ý nghĩa đối với cán bộ làm công tác quản lý nhà nước trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và thực thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn này gồm phần mở đầu, ba chương và phần kết luận

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với hợp tác

xã và pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Chương 2 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

và thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực

thi pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Có nhiều định nghĩa khác nhau về HTX tuỳ quốc gia và tuỳ quan niệm trong từng thời kỳ:

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội Liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) lần thứ 31 tổ chức tại Manchester - Vương quốc Anh đã định nghĩa về hợp tác xã như sau: “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ”[62] Đến năm 1995, khái niệm này

đã được hoàn thiện thông qua tuyên bố: HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết

Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa:

Trang 14

HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung [46, tr 148]

Ở Việt Nam, theo Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 tại Điều 20 nêu rõ bản chất của HTX: " do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất kinh doanh trên nguyên tắc, tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi" [37]

Theo Điều 3, Luật hợp tác xã năm 2012, ngoài căn cứ và đặc điểm phát triển kinh tế và văn hóa của mình, cũng như kế thừa nguyên tắc về HTX của Liên minh HTX quốc tế, đã đưa ra định nghĩa HTX như sau:

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã [39, tr8]

Từ khái niệm trên rút ra một số đặc trưng cơ bản của HTX:

Một là, xét về góc độ kinh tế, HTX là một tổ chức kinh tế cơ bản và

quan trọng nhất của kinh tế tập thể Đặc trưng của HTX là hình thức sở hữu tập thể và dựa trên sở hữu của các xã viên HTX, từ đó mà phát sinh các quan

hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối tương ứng HTX là một hình thức của quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất kinh doanh cũng như đời sống kinh tế và mục tiêu xa hơn

Trang 15

là nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi xã viên Việc xác định HTX là một tổ chức kinh tế tạo điều kiện cho HTX bình đẳng trước pháp luật với các loại hình doanh nghiệp khác và đảm bảo quyền lợi vật chất chính đáng của các thành viên HTX

Hai là, xét về góc độ xã hội, HTX mang tính chất xã hội sâu sắc Tính

xã hội của HTX thể hiện trong toàn bộ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX Với việc tạo điều kiện cho người lao động, những người sản xuất nhỏ chẳng những có thể trụ vững trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh mà còn đẩy mạnh sự phát triển, xóa bớt gánh nặng về thất nghiệp cho xã hội Tuy nhiên, những hoạt động có ý nghĩa như trên sẽ chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt trên nền tảng của hoạt động kinh tế

Ba là, xét về góc độ pháp lý, HTX là một tổ chức kinh tế có tư cách

pháp nhân HTX là tổ chức kinh tế được thành lập theo thủ tục pháp lý nhất định, có đăng ký hoạt động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản tách biệt với tài sản của xã viên, có thẩm quyền nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật Tuy nhiên, có một số đặc trưng khác so với các loại hình doanh nghiệp khác như sau: loại hình HTX được quyết định không phải số vốn góp mà là yếu tố xã viên HTX, nhằm giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh, không thuần túy để thu lợi nhuận trên số vốn góp Mọi quyết định cuối cùng và cao nhất của HTX là quyết định của tập thể đa số thành viên theo tính đối nhân, mỗi người một phiếu biểu quyết, bất kể góp vốn nhiều hay ít

Bốn là, về tổ chức quản lý, HTX hoạt động trên nguyên tắc tự chủ, tự

chịu trách nhiệm Các thành viên của HTX cùng góp tài sản, công sức, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm Các thành viên cùng sản xuất, cùng kinh

doanh, cùng làm các dịch vụ và phân phối lợi nhận theo nguyên tắc “lời ăn,

lỗ chịu” Các thành viên trong HTX được nhà nước đảm bảo quyền tự chủ

Trang 16

trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, nhưng pháp luật cũng yêu cầu họ phải

tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình

Năm là, về phân phối, HTX thực hiện phân phối theo vốn góp và mức độ

tham gia dịch vụ của mỗi thành viên Việc phân phối trong HTX không chỉ dựa trên nguyên tắc vốn góp mà còn tùy theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX

Tóm lại: Mục tiêu chính của HTX là hợp tác, liên kết thành viên để giải quyết các công việc mà từng cá nhân riêng lẻ không thực hiện được, hoặc thực hiện kém hiệu quả và cùng hành động vì quyền lợi của tất cả thành viên, không vì lợi ích của cá nhân Sự khác biệt đó nói lên bản chất của HTX, đồng

thời khẳng định vị trí, vai trò của HTX trong nền kinh tế nói chung

* Vai trò của hợp tác xã

Kinh tế tập thể (KTTT) với nòng cốt là HTX đóng góp quan trọng cho GDP: bình quân 6,38% (khoảng 173.536 tỷ đồng trong giai đoạn 2002 - 2011, trong khi tỷ trọng vốn đầu tư tài sản cố định và đầu tư tài chính chỉ chiếm 0,5% trong tổng số vốn đầu tư cả nước (theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2010 tổng số vốn kinh doanh của HTX ước khoảng 67.700 tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng vốn sản xuất kinh doanh của nền kinh tế)

Bảng 1.1 Tỷ lệ doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của khu vực HTX

so với các thành phần kinh tế khác

Đơn vị tính: %

Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 TỔNG SỐ 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 Doanh nghiệp

Nhà nước 51,24 46,61 41,46 38,85 35,82 31,48 28,90 24,90 25,4

Trung ương 39,12 35,26 31,00 30,74 28,75 25,30 23,90 20,13 20,3 Địa phương 12,12 11,35 10,46 8,11 7,07 6,17 5,00 4,77 5,1

Trang 17

Lĩnh vực phi nông

Tư nhân 7,60 7,14 7,77 7,99 8,15 7,48 7,01 5,55 5,3 Công ty hợp danh 0,23 0,71 0,00 0,00 0,00 0,00 0,01 0,00

3 Kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài 13,76 14,47 15,13 15,89 17,02 17,96 18,68 18,33 18,72 18,97

Nguồn: Tổng cục thống kê [45]

Trang 18

Các số liệu đóng góp của HTX và KTTT vào GDP nói trên chỉ mới tính được phần đóng góp trực tiếp của KTTT vào GDP, chưa thể hiện phần đóng góp gián tiếp thông qua tác động của HTX tới kinh tế hộ thành viên HTX, kinh tế thành viên tổ hợp tác

HTX không chỉ tham gia trực tiếp vào GDP mà còn tham gia gián tiếp vào sự phát triển kinh tế Với hơn 10 triệu thành viên trong đó có tới 6 triệu thành viên là hộ gia đình nông dân, nông nghiệp, nông thôn thì kinh tế của xã viên chưa hề được tính vào đóng góp GDP của khu vực HTX Các HTX chủ yếu là cung cấp sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ cho thành viên, kinh tế HTX không thay thế kinh tế cá thể, kinh tế hộ mà chỉ giúp họ hoạt động hiệu quả hơn Và hiệu quả của thành viên, kinh tế hộ lại tính vào đóng góp GDP của khu vực kinh tế cá thể và tư nhân

Vai trò của HTX còn thể hiện ở việc thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tạo mối liên kết, hợp tác giữa những cơ sở sản xuất nhỏ với nhau nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp HTX tích cực hỗ trợ, thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tạo

ra quan hệ liên kết, hợp tác giữa những người sản xuất nhỏ, tăng cường sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường, khai thác các nguồn tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật để phát triển các ngành nghề, đa dạng hóa kinh tế nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất, thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hộ nông dân, thành viên với Nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước, tăng cường quan hệ liên minh công nông về kinh tế

HTX đóng góp rất lớn vào phát triển xã hội, đặc biệt khu vực nông thôn, góp phần gìn giữ ổn định xã hội ở nông thôn, góp phần quan trọng xây dựng nông thôn mới Đó là những đóng góp và ý nghĩa xã hội rất lớn và quan trọng của HTX mà các con số thống kê về GDP, về tăng trưởng kinh tế không thể nói thay được HTX ở nhiều nơi, đặc biệt là ở nông thôn đã tích cực tham gia đóng góp quan trọng vào xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình

Trang 19

phúc lợi nhưng đường giao thông, đường điện, mương máng, thủy lợi, trường học, nhà trẻ, ủng hộ các hoạt động tuyên truyền, giáo dục xã hội, đề cao tinh tinh thần đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, nâng đỡ các gia đình khó khăn

Cùng với việc thực hiện vai trò kinh tế, các HTX đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập và đảm bảo đời sống ổn định cho thành viên và người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội ở địa phương, tham gia tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là tiền đề quan trọng để thực hiện dân chủ hóa, hợp tác hóa và nâng cao văn minh ở nông thôn

1.1.2 Về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

* Khái niệm về quản lý nhà nước

Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có

cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của minh và đưa ra ra định nghĩa riêng về quản lý

Nội dung thuật ngữ quản lý có nhiều cách diễn đạt khác nhau Với ý nghĩa thông thường phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã định

Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật định luật hay nguyên tắc tương ứng

để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước

Với khái niệm trên, quản lý bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản

lý và khách thể quản lý

- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng

Trang 20

quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

- Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản

lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau

- Khách thể quản lý là sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản

lý, đó là các hành vi của con người các quá trình xã hội

Quản lý ra đời nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong công việc Thực chất của quản lý con người, quản lý xã hội để phát huy cao nhất khả năng của con người, ổn định và phát triển xã hội theo định hướng đã đề ra Mục đích quản lý ở đây là cái đích do chủ thể quản lý đã định trước, đây là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn các phương pháp và thực hiện các biện pháp tác động quản

lý khoa học phù hợp quy luật phát triển khách quan của xã hội

Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc quan trọng của xã hội do nhà nước quản lý Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước

Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Như vậy tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Theo quan điểm của G.S TSKH G.V.Atamantrruc: “Quản lý nhà nước

là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ cấu của nhà nước) lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức

Trang 21

của con người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước” [25, tr.98]

Quản lý nhà nước là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ cấu của nhà nước) lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước

Tóm lại, quản lý nhà nước có thể định nghĩa như sau: Quản lý nhà nước

là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

* Khái niệm về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Theo thông lệ quốc tế và Luật hợp tác xã hiện hành, HTX là một tổ chức kinh tế, được bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác Điều đó khẳng định sự công nhận, bảo hộ của nhà nước về việc HTX được bình đẳng với các doanh nghiệp khác Mặt khác, cho thấy khi đã được bình đẳng thì HTX cũng phải chịu sự quản lý nhà nước giống như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Theo đó, HTX không chỉ có quyền mà cũng phải chịu các nghĩa vụ giống như doanh nghiệp khác Ví dụ như các nghĩa vụ đăng ký kinh doanh, nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ chế độ tài chính kế toán, thống kê, các quy định chuyên ngành tùy loại hình kinh doanh của HTX (ví dụ HTX tín dụng - ngân hàng, HTX giao thông…) theo các qui định pháp luật chuyên ngành và pháp luật về môi trường, lao động, phá sản…

Nói một cách khác, nhà nước, chính quyền tôn trọng và bảo hộ sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của HTX Quản lý nhà nước trước hết là quản lý theo ngành nghề kinh tế Mỗi lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, cần có sự quản lý nhà nước, giám sát, thanh tra của các cơ

Trang 22

quan Bộ chuyên ngành Đây là chức năng của Bộ hoặc cơ quan nhà nước quản lý về chuyên ngành Và cũng chỉ Bộ hay cơ quan chuyên từng ngành mới có đủ năng lực chuyên môn và thẩm quyền để quản lý nhà nước các HTX

ở từng lĩnh vực kinh doanh, kinh tế khác nhau một cách đầy đủ, có hiệu lực

và tối ưu nhất về chi phí

HTX ra đời và tồn tại trước hết không phải là vì nhà nước hay mục đích của Nhà nước đề ra HTX ra đời và tồn tại trước hết là do mong muốn của người dân, do xã viên muốn có HTX để họ có lợi ích cao hơn, để họ sản xuất kinh doanh hiệu quả, để họ cải thiện cuộc sống của mình HTX như thế có vai trò kinh tế và xã hội rất quan trọng, đặc biệt với các tầng lớp yếu thế hơn, khó khăn hơn Vì thế, nhà nước ủng hộ, khuyến khích và hỗ trợ người dân thành lập HTX

và phát triển HTX Khi cuộc sống người dân được cải thiện, kinh tế hộ phát triển cũng là đóng góp cho phát triển chung của kinh tế - xã hội của địa phương và của cả nước Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) cũng đã khẳng định:

Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc

tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi Nhà nước tạo điều kiện để củng cố

và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả [37]

1.2 Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Vai trò pháp luật trong quản lý nhà nước đối với HTX được thể hiện trên các phương diện căn bản sau:

1.2.1 Pháp luật bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Nhà nước quản lý kinh tế (trong đó có HTX) bằng nhiều công cụ khác nhau nhưng pháp luật là công cụ hiệu quả nhất Sự cần thiết của quá trình tác động này có thể thấy thông qua vai trò của pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của HTX Pháp luật về HTX quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của

Trang 23

người lao động ra nhập HTX cũng như quy định địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý, giám sát, điều hành HTX HTX coi những quy định của pháp luật như là những khuôn mẫu cho sự tổ chức và hoạt động của mình Sự phát triển của HTX nếu không có những định hướng đúng thì sẽ phát triển không đúng mục tiêu đã đề ra của việc hợp tác hóa thường xuyên, cải thiện ngày càng tốt hơn điều kiện sống và làm việc của người lao động, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp phát triển đất nước Đạt được mục tiêu đó cũng chính là đạt được hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với HTX

Nhà nước tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của HTX Việc ủng hộ, khuyến khích và hỗ trợ của Nhà nước trước hết thể hiện ở việc có một khuôn khổ pháp lý thông thoáng và ổn định cho HTX Tức là khuôn khổ pháp lý phải thuận lợi cho HTX và thành viên trong việc thành lập, phát triển HTX Việc ban hành hay sửa đổi Luật hợp tác xã không được gây cản trở, hạn chế sự phát triển của HTX và người dân tham gia HTX

Luật hợp tác xã và hệ thống quy định kèm theo chính là những công cụ quan trọng nhất để quản lý nhà nước về HTX Ở Việt Nam đến nay đã có 3 lần ban hành Luật hợp tác xã (Năm 1996 Quốc hội đã thông qua Luật hợp tác

xã và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1997; Năm 2003 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật hợp tác xã và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004; Luật Hợp tác xã năm 2012 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2013)

1.2.2 Pháp luật bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của hợp tác xã

Nhà nước trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật không chỉ quan tâm đến việc bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, lợi ích của nhà nước, của công dân Việt Nam, mà còn chú trọng mục đích về quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế trong xã hội Từ góc độ này mà xét thì pháp luật là phương tiện bảo vệ lợi ích của KTTT, trong đó có HTX và nhà nước là chủ thể có trách nhiệm thực thi nghĩa vụ bảo vệ đó

Trang 24

Nhà nước tạo điều kiện để HTX được cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong xã hội Nhà nước thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của HTX thông qua hệ thống các chính sách hỗ trợ HTX Ví dụ:

Hỗ trợ về tư vấn và đào tạo; Hỗ trợ thông qua các quỹ tín dụng, quỹ bảo lãnh dành riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có HTX; Hỗ trợ thông qua việc HTX được hưởng các chương trình ưu đãi, khuyến khích của nhà nước Chính phủ dành cho các doanh nghiệp khác như chương trình ưu đãi giảm lãi suất vốn, chương trình giảm thuế, giãn thuế, chậm thu thuế cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; Hỗ trợ của nhà nước về thông tin, tuyên truyền mô hình HTX kiểu mới, quảng bá thương hiệu HTX, sản phẩm HTX nói chung

Bên cạnh đó, nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích HTX tham gia các

tổ chức Hiệp hội, Liên minh, hệ thống liên kết của HTX Nhà nước có thể không hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các Hiệp hội, Liên minh HTX nhưng công nhận, cho phép, khuyến khích các tổ chức này thực hiện các chức năng như kiểm toán HTX, làm đầu mối tham gia các chương trình của Chính phủ về hỗ trợ HTX, thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các HTX khi bị xâm hại Nhà nước quy định khung pháp luật, cơ chế và chính sách để HTX được đối xử bình đẳng như các doanh nghiệp khác cũng là nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho HTX, tạo điều kiện cho HTX có cơ hội cạnh tranh và phát triển Qua đó HTX sẽ có cơ hội đem lại lợi ích nhiều nhất cho thành viên, thu hút được đông đảo thành viên và cộng đồng xã hội tham gia, đóng góp ngày càng nhiều hơn vào phát triển của nền kinh tế nói chung

1.3 Lịch sử pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

1.3.1 Giai đoạn trước khi có khi có Luật hợp tác xã

Phát triển kinh tế hợp tác, HTX là đường lối chiến lược nhất quán trong mọi giai đoạn cách mạng của Đảng và Nhà nước ta, HTX được từng bước đổi mới theo hướng phù hợp với điều kiện khách quan và đã trải qua thăng trầm

Trang 25

trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá chỉ huy sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Giai đoạn trước khi có Luật hợp tác xã, có thể chia ra các thời kỳ quản lý nhà nước đối với HTX như sau:

Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975

Trong lịch sử xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, kinh tế hợp tác và HTX đã được quan tâm phát triển và có vai trò to lớn trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng như xây dựng đất nước Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử thay đổi, nhưng chúng ta vẫn chủ quan, duy ý chí, áp đặt mô hình kinh tế hợp tác, HTX cứng nhắc, lại duy trì kéo dài nên phong trào HTX đã gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong phát triển, đặc biệt là những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX

Công tác quản lý nhà nước đối với HTX giai đoạn này chủ yếu dựa trên các Nghị quyết, chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng qua các thời kỳ, các văn bản pháp luật về HTX hầu như không được ban hành

Đến năm 1961, nhà nước lần đầu tiên ban hành Điều lệ HTX công nghiệp Việt Nam làm căn cứ thống nhất để củng cố tổ chức và cải tiến quản lý HTX Sau năm 1972, tình hình kinh tế của các HTX nhìn chung còn rất nhiều khó khăn, do thiếu hẳn về con người và vật chất

Giai đoạn từ năm 1976 đến trước khi có Luật Hợp tác xã năm 1996

Đường lối đổi mới do Đại hội VI đề xướng đã khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX được khẳng định cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân

Trước khi có Luật hợp tác xã, các văn bản quy phạm pháp luật chỉ tồn tại ở các văn bản của Chính phủ, Bộ ngành mang tính tản mát, không tập trung Sự giúp đỡ của Nhà nước cho kinh tế hợp tác, HTX cũng thiếu kịp thời

và không theo kịp tình hình phát triển, nên có thể coi đây là thời kỳ khó khăn nhất trong quá trình phát triển HTX ở nước ta

Trang 26

1.3.2 Giai đoạn sau khi có Luật hợp tác xã

Trong thời kỳ đầu đổi mới, chính sách của Nhà nước đối với HTX mới được pháp điển hóa và được thể chế hóa vào Luật hợp tác xã Những văn bản pháp luật quan trọng nhất thể chế hóa đường lối trên của Đảng là Hiến pháp

1992, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật HTX (năm 1996, 2003, 2012) Sự phát triển của pháp luật trong quản lý nhà nước về HTX kể từ khi có Luật hợp tác

xã có thể chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn từ khi có Luật hợp tác xã năm 1996 đến năm 2002

Đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VIII, một số nội dung về đường lối phát triển HTX đã được cụ thể hóa thêm một bước và khẳng định: Đổi mới kinh tế HTX, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên Nhà nước giúp đỡ, hỗ trợ và hướng dẫn phát triển các loại hình kinh tế hợp tác trong các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế, trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, kết hợp được sức mạnh của tập thể và sức mạnh của hộ xã viên

Luật hợp tác xã năm 1996 ra đời tạo hành lang pháp lý cho các HTX hoạt động trong điều kiện kinh tế mới của cơ chế thị trường Để chỉ đạo quá trình thực thi Luật hợp tác xã, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 68-CT-BTT.TW (khóa VII), Chính phủ đã ban hành một số Nghị định thi hành Luật hợp tác xã: Nghị định 02/CP ngày 02/01/1997 quy định về chức năng quản lý nhà nước đối với HTX, 15/CP ngày 21/2/1997 về chính sách khuyến khích phát triển HTX, Nghị định 16/CP ngày 21/02/1997 quy định về chuyển đổi HTX theo Luật Tuy vậy trên thực tế các Bộ chức năng không có văn bản hướng dẫn thực hiện, nên hầu hết các HTX chưa được hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước.Song có thể đánh giá, đây là lần đầu tiên chúng ta có một hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh về HTX, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức

và hoạt động của HTX trong nền kinh tế thị trường định XHCN

Trang 27

Ngày 18/3/2003 Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 5 khóa IX ra Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT Việc thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW đã đạt được một số kết quả, thúc đẩy KTTT phát triển Nhiều chính sách quy định, phát triển về kinh tế hợp tác, HTX tiếp tục ban hành và sửa đổi tạo tiền đề cho việc ban hành Luật hợp tác xã mới hoàn thiện hơn

Giai đoạn từ khi có Luật Hợp tác xã năm 2003 đến cuối năm 2012

Theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa IX), Chính phủ và các Bộ, ngành đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật để thực thi Nghị quyết

số 13 NQ/TW của Ban chấp hành TW Đảng khóa IX

Pháp luật về HTX lại được tiếp tục hoàn thiện phù hợp với sự thay đổi của pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp Luật hợp tác xã năm 2003

ra đời trên tinh thần kế thừa và bổ sung Luật tác xã năm 1996, tạo được hành lang pháp lý cụ thể, bao quát hơn cho HTX phát triển Sau khi có Luật HTX năm 2003 đã có 01 Chỉ thị (Chỉ thị số 22/2003/CT-TTg, ngày 03/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về KTTT) và 08 Nghị định của Chính phủ liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với HTX được ban hành Đây là cơ sở pháp lý tương đối hoàn chỉnh thúc đẩy HTX phát triển xứng tầm với vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ khuyến khích HTX còn được quy định tại một số Luật như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, Luật đất đai năm 2003, Luật Bảo hiểm xã hội và tại một số Nghị định hướng dẫn thi hành các luật trên

Kinh tế hợp tác, HTX đã góp phần nhiều vào sản phẩm quốc nội, góp phần thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tăng thu nhập cho xã viên và người lao động, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

Trang 28

Bảng 1.3 Số lượng HTX trong cả nước giai đoạn 2002 - 2010

Năm 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng số 11.631 12.240 13.228 14.402 13.456 14.366 13.532 12.249 12.045

Lĩnh vực nông, lâm,

thủy sản 7.527 8.090 7.879 8.068 7.237 7.677

Lĩnh vực phi nông nghiệp 4.104 4.150 5.349 6.334 6.219 6.689

Nguồn: Tổng cục thống kê [44]

Giai đoạn từ khi có Luật Hợp tác xã năm 2012 đến nay

Việt Nam với tư cách là thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế giới đã cam kết thực hiện nhiều Điều ước quốc tế Khung pháp luật về kinh tế, trong đó có khung pháp luật về HTX đã được ban hành, cần được sửa đổi bổ sung phù hợp

Quá trình gần 10 năm thực hiện Luật hợp tác xã năm 2003 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Việc sửa đổi Luật hợp tác xã là cần thiết để làm rõ bản chất tổ chức HTX và lợi ích của thành viên tham gia HTX, góp phần hiện thực hóa chủ trương về kết hợp “bốn nhà” trong nông nghiệp; bảo đảm

hỗ trợ, thúc đẩy HTX phát triển lành mạnh, bền vững đúng với bản chất và mục đích thành lập, tránh lạm dụng hỗ trợ của nhà nước; thực hiện quản lý nhà nước về HTX có hiệu quả, từ đó góp phần định hướng XHCN nền kinh

tế thị trường ở nước ta

Do vậy, ngày 20/11/2012, Quốc hội đã thông qua Luật hợp tác xã gồm

9 chương và 64 điều và có hiệu lực vào ngày 01/7/2013 Luật hợp tác xã năm

2012 tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế HTX, là một tổ chức kinh tế mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc

Ngày 21/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 193/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật hợp tác xã năm 2012

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã

Để tạo điều kiện cho HTX phát triển không thể thiếu vai trò quản lý nhà nước đối với HTX Khung pháp luật về quản lý nhà nước đối với HTX thể hiện trước hết trong Luật hợp tác xã và những văn bản pháp luật hiện hành

có liên quan Sự ra đời của Luật hợp tác xã Việt Nam đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của kinh tế HTX, phù hợp với bản chất, nội dung và nguyên tắc HTX mà chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đề ra, đồng thời có sự chọn lọc tinh hoa của phong trào HTX quốc tế để vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Khung pháp luật là cơ sở pháp lý thúc đẩy HTX phát triển, đặc biệt là việc ban hành các chính sách phù hợp với kinh tế HTX trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử phát triển

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

HỢP TÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

2.1.1 Về bộ máy quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

2.1.1.1 Pháp luật về bộ máy quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Trước khi có Nghị quyết số 13 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 5 khóa IX ngày 18/3/2003, bộ máy quản lý nhà nước về KTTT hầu như chưa được thành lập ở cả các cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương và cấp địa phương, làm cho các Nghị quyết Đảng, chính sách của nhà nước đối với khu vực kinh tế này chậm được triển khai thực hiện; không có

cơ quan chuyên trách quản lý Nhà nước về KTTT; không có hệ thống theo dõi thống kê về KTTT; chưa tạo được môi trường pháp luật, thể chế mang tính ổn định, lâu dài cho thành lập và phát triển HTX Cho đến nay gần như không có bất cứ tổ chức nghiên cứu lý luận một cách cơ bản và mang tính hệ thống, cũng như tổ chức đào tạo chính quy về KTTT, HTX Do đó, trong giai đoạn này, sự chuyển đổi của nhiều HTX kiểu cũ sang kiểu mới theo Luật hợp tác xã năm 1996 còn mang tính hình thức; hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã viên HTX; sự phát triển HTX ở nhiều vùng chưa được khuyến khích…

Thực tiễn phát triển KTTT, HTX ở nước ta qua nhiều giai đoạn đã đặt

ra nhiều vấn đề mới, phức tạp đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc, thể hiện sự khẳng định đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước về tầm quan trọng của KTTT trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã thông qua Nghị quyết 13 NQQ/TW ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới, phát

Trang 31

triển và nâng cao hiệu quả KTTT, đánh dấu một bước tiến quan trọng về tư duy và chủ trương cụ thể HTX ở nước ta, trong đó không thể thiếu nhiệm vụ tăng cường công tác quản lý nhà nước về HTX

Thực hiện theo tinh thần của nghị quyết Trung ương 5, Chính phủ và các Bộ, ngành đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật để thực thi Nghị quyết số 13/NQ/TW, cụ thể như: Chỉ thị số 22/2003/CT-TTg, ngày 03/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện Nghị Quyết Trung ương 5 (Khóa IX) về KTTT; Nghị định số 86/2002/NĐ-

CP của Chính phủ ngày 05/11/2002; Nghị định số 171/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/9/2004 đều đề ra nhiệm vụ kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về KTTT, HTX

Quyết định số 272/2005/QĐ-TTg, ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển KTTT 5 năm (2006-2010) quy định rõ: cấp Bộ thành lập Vụ, cấp Sở thành lập phòng chuyên trách về KTTT, cấp huyện, quận có cán bộ chuyên trách và cấp xã có cán bộ chuyên trách theo dõi KTTT [49]

Giai đoạn thực hiện Luật hợp tác xã năm 2003, cơ bản bộ máy quản lý nhà nước về KTTT, HTX đã được củng cố Luật hợp tác xã năm 2012 đã quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với HTX Hiện nay, theo quy định tại Nghị định 193/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/11/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hợp tác xã, Chính phủ giao Bộ Kế hoạch

và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà nước về KTTT; trong đó Vụ HTX

là tổ chức chuyên trách, tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về KTTT, HTX Tại các Bộ, ngành khác về cơ bản, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý về KTTT, HTX thuộc ngành, lĩnh vực nào được giao cho bộ quản lý ngành, lĩnh vực đó thực hiện và quy định tại các Nghị định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ gồm: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải,

Trang 32

Bộ Công thương, Bộ xây dựng và Ngân hàng nhà nước Việt Nam Theo đó các

bộ này được thành lập tổ chức chuyên trách thực hiện Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực khác còn lại không thành lập tổ chức chuyên trách mà giao cho một tổ chức hoặc đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ đảm nhiệm

Tuy nhiên, hiện nay chỉ có Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập được tổ chức chuyên trách thực hiện chức năng quản lý nhà nước về HTX, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực còn lại không thành lập được tổ chức chuyên trách mà giao cho một tổ chức hoặc đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ đảm nhiệm

Bảng 2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về HTX hiện nay

I Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập

thể ở cấp Bộ

Cục/vụ chuyên trách về kinh

tế tập thể

1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư Có Vụ HTX

2 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Có Cục Kinh tế hợp tác và

phát triển nông thôn

3 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Có Vụ chuyên trách

4 Bộ Giao thông vận tải Có cán bộ chuyên trách

5 Bộ Công thương Có Vụ địa phương

2 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Có Chi cục HTX và Phát

triển nông thôn

Trang 33

2.1.1.2 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Mặc dù Luật hợp tác xã năm 2012 đã quy định rõ hơn về bộ máy quản

lý nhà nước về HTX, chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành trong quản lý nhà nước đối với HTX Tuy nhiên, Luật hợp tác xã năm 2012 quy định về bộ máy quản lý nhà nước đối với HTX vẫn còn một số hạn chế sau:

(1) Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Kết quả công tác quản

lý nhà nước đối với HTX (năm 2012) thì hiện nay không có tổ chức bộ máy cán bộ chuyên trách thống nhất từ Trung ương tới địa phương để thực hiện hiệu quả công các quản lý nhà nước đối với HTX

Ở cấp Bộ: Ngoài Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thì các Bộ quản lý nhà nước chuyên ngành khác chưa thành lập bộ phận chuyên trách hoặc chưa bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi về KTTT, HTX

Ở những Bộ, Ngành, địa phương đã kiện toàn được bộ máy, bố trí cán

bộ chuyên trách theo dõi HTX, thì Bộ, Ngành và địa phương đó thực hiện tương đối tốt việc xây dựng cơ chế chính sách, kế hoạch 5 năm và hàng năm, kiểm tra, sơ kết tổng kết; tổ chức hướng dẫn, hỗ trợ khu vực HTX khắc phục hạn chế, yếu kém, xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến Ở những Bộ, ngành, địa phương chưa kiện toàn bộ máy, chưa bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi về HTX thì công tác quản lý nhà nước đối với HTX rất yếu

Theo quy định Luật Tổ chức HĐND và UBND, Nghị định số 171/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/9/2004, Thông tư liên tịch giữa các

Bộ và Nội vụ, việc thành lập phòng quản lý KTTT do UBND tỉnh quyết định theo cơ cấu về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Tuy nhiên, đến nay UBND các cấp cũng chưa tổ chức được bộ máy quản lý nhà nước tại cấp mình mà đa phần chỉ có một cán

bộ chuyên trách (hoặc kiêm nhiệm) theo dõi về HTX

Trang 34

Sở Kế hoạch và Đầu tư giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về KTTT, HTX Đại đa số các Sở, chưa có phòng nghiệp vụ theo dõi kinh tế HTX, thường phân công cho phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập Chi cục hợp tác xã và Phát triển nông thôn trực thuộc Sở để tham mưu thực hiện chức năng quản lý nhà nước về KTTT, HTX trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Các Sở, ngành còn lại không có các phòng nghiệp vụ mà chỉ bố trí cán bộ quản lý theo dõi kinh tế HTX Các Sở thường được phân công thực hiện một phần công việc quản lý nhà nước về HTX như:

có Sở chỉ được giao nhiệm vụ tổng hợp, xây dựng cơ chế, chính sách, kế hoạch

về mô hình phát triển HTX; có Sở được giao nhiệm vụ hướng dẫn, theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện chính sách phát triển HTX; có Sở được giao nhiệm

vụ báo cáo tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ thành lập mới, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX theo yêu cầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Theo quy định tại Nghị định 193/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/11/2013 của Chính phủ, phòng Tài chính - Kế hoạch là cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế tập thể Tuy nhiên, phần lớn các UBND huyện mới chỉ bố trí được cán bộ kiêm nhiệm thực hiện chức năng này Đối với lĩnh vực quan trọng như nông nghiệp, theo báo cáo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, nhiều địa phương cũng mới bố trí được cán bộ kiêm nhiệm theo dõi tình hình các HTX nông nghiệp ở cấp huyện, rất ít nơi bố trí được cán bộ chuyên trách theo dõi

Ở UBND cấp xã, phần lớn chưa phân công cán bộ bán chuyên trách theo dõi KTTT, HTX

(2) Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước đối với HTX đa số là cán bộ làm kiêm nhiệm, được điều động từ các lĩnh vực khác sang, hoặc là cán bộ trẻ chưa được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nên gặp nhiều khó khăn trong việc tích lũy kiến thức chuyên ngành về KTTT, HTX; thiếu kinh nghiệm thực

Trang 35

tiễn cũng như thiếu kiến thức về KTTT, HTX, khung pháp luật và chính sách

về HTX nên chưa đủ năng lực tham mưu giúp lãnh đạo cấp tỉnh thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước đối với HTX, không triển khai kịp thời và đồng bộ Nghị quyết của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước đối với HTX; các báo cáo đánh giá tình hình phát triển KTTT, HTX còn sơ lược; chưa có hệ thống số liệu cơ bản đầy đủ, cập nhật và độ tin cậy cao; việc tổng hợp và xây dựng các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý nhà nước chưa được chú ý quan tâm

(3) Luật hợp tác xã năm 2012 chưa khắc phục được hạn chế của Luật hợp tác xã năm 2003 là quy định chưa rõ sự phối kết hợp trong quản lý nhà nước giữa các bộ, ngành Đây là nguyên nhân dẫn đến công tác quản lý nhà nước còn thiếu tính thống nhất

Việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước về HTX còn rời rạc, chưa thống nhất giữa các ngành cùng cấp, giữa các cấp trong công tác hướng dẫn, tuyên truyền và triển khai thực hiện Luật hợp tác xã, các văn bản dưới luật, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với HTX

Cụ thể hiện nay, quy định ở điều khoản chuyển tiếp theo Luật hợp tác

xã năm 2012 là các HTX phải thực hiện chuyển đổi, đăng ký lại trong vòng 3 năm kể từ ngày Luật hợp tác xã có hiệu lực (từ 01/7/2013) Nhưng cho đến nay, chưa có văn bản nào của các bộ, ngành hướng dẫn các quy trình, thủ tục chuyển đổi, đăng ký lại nên hầu hết các HTX trên cả nước vẫn chưa thực hiện được việc chuyển đổi, đăng ký lại theo Luật hợp tác xã năm 2012

Sự phối hợp hoạt động rời rạc, không thống nhất còn có nguyên nhân

là do ở cấp tỉnh, huyện, xã, việc tham mưu, hỗ trợ cho UBND trong việc thực hiện chức năng quản lý về HTX chưa có đầu mối rõ ràng Tùy điều kiện, địa phương phân công cho Liên minh hợp tác xã cấp tỉnh, Sở Kế hoạch

Trang 36

và Đầu tư hoặc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc thậm chí Sở Tài chính), nên hệ thống báo cáo không đồng nhất, chất lượng không cao Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước về ngành không có số liệu cập nhật và hệ thống về tình hình sản xuất kinh doanh của HTX Từ đó dẫn đến khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên trong việc đánh giá đúng, chính xác thực trạng HTX

2.1.2 Về hoạt động quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

2.1.2.1 Pháp luật về hoạt động quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

Quản lý nhà nước đối với HTX được tiếp cận theo quy trình của quản

lý nhà nước và là một yếu tố của phát triển HTX

Luật HTX năm 2012 tại Điều 59 quy định về nội dung quản lý nhà nước như sau:

- Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về HTX và văn bản pháp luật có liên quan;

- Xây dựng bộ máy và tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình, chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với HTX;

- Tổ chức và hướng dẫn Đăng ký kinh doanh;

- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật đối với HTX; xử lý hành

vi vi phạm pháp luật của HTX;

- Tổ chức chỉ đạo hợp tác quốc tế về HTX

Luật giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư giúp Chính phủ quản lý nhà nước về HTX Đồng thời Luật hợp tác xã năm 2012 có một điểm mới trong công tác quản lý nhà nước là bổ sung một điều quy định về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhằm tăng cường việc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về HTX góp phần lành mạnh hóa, thúc đẩy khu vực HTX phát triển Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy

Trang 37

định pháp luật về HTX Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp trong phạm

vi chức năng, nhiệm vụ thực hiện thanh tra, kiểm tra hoạt động của HTX Việc kiểm toán HTX do Chính phủ quy định Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm phối hợp với mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; các tổ chức xã hội khác trong việc tổ chức thi hành pháp luật về HTX; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về HTX; triển khai các chương trình, dự án phát triển HTX

So với Luật hợp tác xã năm 2003, Luật hợp tác xã hiện hành đã quy định rõ hơn trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ (Điều 29) như sau:

1 Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp tác xã, xây dựng chiến lược, chính sách, chương trình,

kế hoạch phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;

2 Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công;

3 Thực hiện công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, tổ chức tham gia và thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;

4 Thực hiện các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình;

5 Tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội;

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định trách nhiệm của UBND các cấp (Điều 30) như sau:

1 Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước của

cơ quan quản lý nhà nước về hợp tác xã trên địa bàn;

2 Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển hợp tác xã trên địa bàn;

3 Thực hiện công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, tổ chức tham gia và thành lập hợp tác xã;

Trang 38

4 Ban hành các biện pháp, chính sách hỗ trợ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo thẩm quyền;

5 Tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội;

6 Phối hợp, hỗ trợ Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên ở các cấp, các tổ chức xã hội khác trong việc; Tổ chức thi hành pháp luật

về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; triển khai các chương trình, dự án phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; khuyến khích thành viên của tổ chức mình tham gia hợp tác xã

2.1.2.2 Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với hợp tác xã

* Tổ chức đăng ký hợp tác xã

Theo quy định của pháp luật, HTX nộp hồ sơ đăng ký tại cơ quan đăng

ký kinh doanh cấp huyện Cùng với công tác đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng

ký HTX ở cấp huyện làm nhiệm vụ tham mưu cho UBND cấp huyện trong việc giải thể tự nguyện và giải thể bắt buộc các HTX không còn hoạt động hoặc tồn tại hình thức Các HTX được thành lập mới theo đó phải thực hiện đăng ký theo quy trình, thủ tục quy định của pháp luật hiện hành về hồ sơ, thủ tục áp dụng, trong đó có cơ chế một cửa trong việc tiếp nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký HTX cho thành lập mới, bổ sung, thay đổi nội dung hoạt động của các HTX Quy định mới này đã thống nhất trên cả nước cơ quan đăng ký HTX, giúp giảm thiểu các thủ tục hành chính phiền hà cho các HTX

Theo quy định của Luật hợp tác xã năm 2012, Nghị định

193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ đã thống nhất 01 cấp cơ quan đăng ký HTX, được tổ chức ở quận, huyện, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh (phòng tài chính - kế hoạch trực thuộc UBND cấp huyện) Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ thì cho đến nay,

Trang 39

vẫn chưa có biểu mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thống nhất trong

cả nước nên nhiều địa phương, dẫn đến nhiều cơ quan đăng ký còn lúng túng trong việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký thành lập mới HTX, đăng ký lại HTX Hiện cũng chưa có hướng dẫn xây dựng điều lệ HTX trên cơ sở nguyên tắc chung, có sự khác biệt giữa điều lệ HTX nông nghiệp với các HTX hoạt động trên các lĩnh vực khác

Do chưa thống nhất tài liệu, hồ sơ đăng ký HTX trên toàn quốc, nên một số địa phương còn yêu cầu HTX khi đăng ký lại bổ sung thêm các tài liệu khác ngoài quy định như: phương án sản xuất kinh doanh, xác nhận trụ sở quyết định của cấp xã về thành lập HTX

Việc theo dõi, quản lý nhà nước sau đăng ký HTX chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ, như: xây dựng, quản lý hệ thống thông tin, cung cấp thông tin về HTX, kiểm tra HTX theo nội dung đăng ký kinh doanh Do vậy, các

cơ quan quản lý nhà nước không nắm được tình hình hoạt động của HTX sau đăng ký kinh doanh, không xử lý được các vi phạm pháp luật của HTX

* Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của hợp tác xã

và các văn bản pháp luật có liên quan

Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của HTX, nhằm phát hiện kịp thời các sai phạm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời, đảm bảo cho các HTX hoạt

động đúng pháp luật

Điều 61 Luật hợp tác xã năm 2012 quy định về thanh tra, kiểm tra do

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật

về HTX Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ thực hiện thanh tra, kiểm tra hoạt động của HTX Tuy nhiên, quy định pháp luật về trách nhiệm giám sát, kiểm tra thi hành Luật chưa rõ Thực

Trang 40

tiễn cho thấy tổ chức triển khai việc giám sát, kiểm tra thi hành Luật bị buông lỏng Phần lớn UBND các tỉnh quan tâm và giao Sở Kế hoạch và Đầu tư, các

sở chuyên ngành, các phòng nghiệp vụ của cấp huyện, UBND các huyện, thành phố và Liên minh hợp tác xã cấp tỉnh tiến hành thường xuyên, định kỳ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của HTX và các văn bản pháp luật

có liên quan, tập trung vào các nội dung như: xây dựng vả sửa đổi Điều lệ HTX, thực hiện Điều lệ HTX; tổ chức đại hội xã viên; quản lý tài chính HTX, vốn điều lệ, nộp thuế cho nhà nước, nhằm: đánh giá mặt làm được, chưa làm được và đưa ra giải pháp tiếp tục thực hiện Luật tốt hơn; uốn nắn các sai sót, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật

Thực tiễn công tác thanh tra, giám sát, kiểm tra thi hành Luật hợp tác

xã chưa được triển khai triệt để, chủ yếu mới chỉ tập trung vào sửa đổi, bổ sung nội dung điều lệ, quyết toán tài chính hàng năm, tổ chức đại hội xã viên,

xử lý giải thể HTX Nhiều tỉnh buông lỏng kéo dài việc kiểm tra, thanh tra thực hiện Luật hợp tác xã và chính sách hỗ trợ phát triển HTX, hoặc nếu tiến hành thì mang tính đối phó, chưa xử lý nghiêm và kịp thời các vi phạm pháp luật, thậm chí cơ quan nhà nước cấp xã, huyện còn vi phạm pháp luật Mặc dù Luật đã quy định các Bộ ngành trong phạm vi của chức năng, nhiệm vụ của mình có quyền tiến hành thanh tra, kiểm tra HTX Tuy nhiên các cơ quan Trung ương hầu như không có năng lực tổ chức, bộ máy, nhân sự để chỉ đạo

và thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện hoặc xử lý vi phạm quy định pháp luật về HTX

Bên cạnh đó, hạn chế trong quy định về các chế tài xử lý vi phạm pháp luật: Chưa có chế tài cụ thể và đủ sức răn đe để pháp luật có hiệu lực, để tình trạng vi phạm pháp luật kéo dài trong hoạt động của cơ quan nhà nước và các HTX như: kiểm tra hoạt động của các cơ quan đăng ký kinh doanh; chế tài đối với HTX đã đăng ký HTX nhưng không sửa đổi, bổ sung điều lệ HTX

Ngày đăng: 17/10/2015, 13:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ lệ doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của khu vực HTX - Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở việt nam hiện nay
Bảng 1.1. Tỷ lệ doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của khu vực HTX (Trang 16)
Bảng 1.2. Tỷ trọng của kinh tế tập thể (chủ yếu là hợp tác xã) trong GDP - Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở việt nam hiện nay
Bảng 1.2. Tỷ trọng của kinh tế tập thể (chủ yếu là hợp tác xã) trong GDP (Trang 17)
Bảng 1.3. Số lượng HTX trong cả nước giai đoạn 2002 - 2010 - Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở việt nam hiện nay
Bảng 1.3. Số lượng HTX trong cả nước giai đoạn 2002 - 2010 (Trang 28)
Bảng 2.1. Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về HTX hiện nay - Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1. Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về HTX hiện nay (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w