1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân

137 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ý nghĩa thực tiễn - Từ chỗ góp phần làm rõ nhận thức, hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân về Luật Hôn nhân và gia đình trên cơ sở này giúp cho các cơ quan truyền thông, tư vấn có địn

Trang 1

Đại học quốc gia Hà Nội Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn

Khoa xã hội học

Nguyễn Việt Hà

Mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền

hôn nhân(Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội)

Hà Nội, 2/2009

Trang 2

Đại học quốc gia Hà Nội Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn

Khoa xã hội học

Nguyễn việt Hà

Mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền

hôn nhân(Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành : Xã hội học

Mã số : 60 31 30

luận văn thạc sĩ xã hội học

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYễn Thị Kim Hoa

Hà Nội, 2009

Trang 3

Mục lục

Phần I: Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

2.1 Mục đích nghiên cứu 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Giả thuyết nghiên cứu 3

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Khách thể nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Sơ đồ tương quan các biến số 5

7 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 6

7.1 ý nghĩa khoa học 6

7.2 ý nghĩa thực tiễn 6

8 Kết cấu của luận văn 7

Phần II: Nội dung 8

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Lý luận nhận thức Macxit 8

1.1.2 Các lý thuyết đặt cơ sở cho việc nghiên cứu 9

1.1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề hôn nhân - gia đình 16

1.1.4 Hoàn cảnh ra đời và phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình 17

1.2 Những vấn đề đang đặt ra trong nghiên cứu về hôn nhân, gia đình và Luật Hôn nhân và gia đình 22

1.3 Địa bàn nghiên cứu và đối tượng khảo sát 24

1.4 Các khái niệm cơ bản 26

Chương 2: Thực trạng nhận thức về Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên nam nữ trước kết hôn 33

2.1 Nhận thức về Luật Hôn nhân và gia đình 33

2.2 Nhận thức về các nội dung cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình 37

2.2.1 Về các nội dung liên quan đến kết hôn 38

2.2.2 Hiểu biết về những quy định trong quan hệ vợ chồng 50

2.2.3 Đánh giá nhận thức về các quan hệ khác trong gia đình 57 2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiểu biết của thanh niên trước kết hôn

Trang 4

về Luật Hôn nhân và gia đình 65

2.3.1 Tiếp cận qua các phương tiện truyền thông đại chúng và truyền thông trực tiếp

2.3.2 Cách thức nghiên cứu, tìm hiểu Luật và các văn bản dưới luật

Chương 3: Xu hướng biến đổi quan điểm về hôn nhân và gia đình trong thanh niên hiện nay

3.1 Xu hướng biến đổi quan điểm về giải quyết những vấn đề trong gia đình

3 2 Quan hệ tình dục trước hôn nhân

3.3 Sống thử

3.4 Ly hôn

Phần III: Kết luận và một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình của thanh

4.1 Kết luận

4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết về Luật hôn nhân gia đình trong thanh niên trước hôn nhân

4.3 Một số khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Phiếu trưng cầu ý kiến

Một số kết quả nghiên cứu định tính

Luật Hôn nhân và gia đình

Trang 5

ở từng quốc gia, dân tộc

ở Việt Nam, những năm gần đây, mở cửa đổi mới đã làm cho hệ giá trị, chuẩn mực xã hội có những biến đổi bước đầu Trong đó có sự pha trộn các yếu

tố của cả phương Đông và phương Tây Cái truyền thống và cái hiện đại đã đan xen và tác động mạnh mẽ đối với thanh niên - nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù về lứa tuổi với những đặc điểm tâm, sinh lý có nhiều biến động trong quá trình tiếp cận và học tập những yếu tố văn hoá từ bên ngoài Thanh niên tuy có sức khoẻ, hiểu biết, tri thức nhưng lại bồng bột, dễ bị cám dỗ bởi những giá trị ảo Hiện tại, quá trình xã hội hoá thanh niên diễn ra khá đa chiều, phức tạp với việc xuất hiện nhiều quan niệm mới lạ về tình bạn, tình yêu, hôn nhân gia đình và quan hệ tình dục Đây là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến đổi về hành vi, lối sống của thanh niên trong quá trình thiết lập hôn nhân và gia đình

Một trong những vấn đề đang được dư luận quan tâm là tình trạng quan

hệ tình dục trước hôn nhân và hiện tượng chung sống trước hôn nhân Một số khảo sát gần đây cho thấy, quan hệ tình dục và chung sống trước hôn nhân trong thanh niên đang có xu hướng gia tăng Điều này vừa do ảnh hưởng của lối sống, quan niệm sống ngoại lai vừa do tình trạng thiếu tri thức, thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về pháp luật Tất cả đưa đến những hậu quả xấu về sức khoẻ, đạo đức, tâm lý, hạnh phúc gia đình cho thanh niên, đặc biệt nữ thanh niên và cho toàn xã hội

Trang 6

ở một vài thập niên trước, các nhà quản lý lo ngại về hiện tượng thanh niên quan hệ tình dục trước hôn nhân và quan hệ tình dục sớm thì những năm gần đây, như một hệ quả tất yếu của quá trình mở cửa, đổi mới, tình trạng quan

hệ tình dục trước hôn nhân, chung sống trước hôn nhân của thanh niên đang có chiều hướng gia tăng Hiện tại, ở nước ta, tuy chưa có những số liệu thống kê chính thức về hiện tượng này nhưng từ những điều tra ít nhiều có liên quan cho thấy, chung sống trước hôn nhân đang phát triển trong giới trẻ sống xa gia đình,

ít chịu sự kiểm soát của gia đình như học sinh, sinh viên, những người lao động nhập cư vào các thành phố lớn Một khảo sát ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy

đã có 12.712 đôi bạn trẻ đã chung sống trước, kết hôn sau và 10.148 đôi chung sống không kết hôn [12]

Thực tế, quan hệ tình dục trước hôn nhân và chung sống trước hôn nhân

đã và đang để lại những hậu quả xã hội trên nhiều phương diện như: sức khoẻ, đạo đức, lối sống và sự bền vững của gia đình Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến hàng chục vạn ca nạo phá thai hàng năm và hàng ngàn gia đình tan vỡ sau đó Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, song một phần, do thiếu sự hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật còn kém của cộng đồng nhất là của thanh niên

Hiện nay, quan hệ tình dục ngoài hôn nhân và chung sống ngoài hôn nhân giữa những thanh niên có gia đình và thanh niên chưa lập gia đình cũng đang ngày càng gia tăng Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn tăng nhanh qua các năm, đặc biệt là ở các thành phố lớn [14] Theo

số liệu của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc Hội, số vụ vợ chồng xin ly hôn

đã tăng từ 22.000 vụ năm 1991 lên 44.000 vụ năm 1998 Còn theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao, năm 2000 có 51.361 vụ vợ chồng xin ly hôn, năm 2001

có 54.226 vụ, năm 2002 có 56.487 vụ, năm 2003 có 60.004 vụ và năm 2004 có tới 63.735 vụ ở một số thành phố lớn, tỷ lệ ly hôn đã trở thành một vấn đề xã hội rất đáng được quan tâm Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ lệ ly hôn cao nhất trong cả nước, năm 1998, số vụ ly hôn chiếm 20% tổng số các vụ kết hôn [16]

Trang 7

Hà Nội là thủ đô của cả nước, nơi tập trung bộ phận quan trọng lực lượng lao động trẻ ở mọi trình độ, số lượng sinh viên, học sinh đông ảnh hưởng của lối sống ngoại lai mạnh Do vậy, các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội kể cả chuẩn mực luật pháp lẫn những chuẩn mực đạo đức, lối sống diễn ra ngày càng nhiều Trên lĩnh vực hôn nhân gia đình, do những quan niệm thoáng hơn

về tình dục, tình yêu và hôn nhân tự do, nên những hành vi lệch chuẩn ngày càng nhiều Điều này tác động cả tích cực và tiêu cực đến đời sống xã hội, đặc biệt đến sự phát triển bền vững của gia đình Do vậy, tìm hiểu, đánh giá về nhận thức luật hôn nhân gia đình ở nam nữ trước khi kết hôn, cũng như những nguyên nhân ảnh hưởng tới nhận thức của họ về vấn đề này là hết sức cần thiết Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn đề tài “Mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân” (Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình

2 ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

2.1 ý nghĩa khoa học

- Luận văn sẽ góp phần khẳng định hơn nữa những lý thuyết xã hội học như: lý thuyết Hành động xã hội và lý thuyết Xã hội hóa cá nhân trong một lĩnh vực đặc thù - tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ giúp gợi mở những hướng nghiên cứu tiếp theo để đẩy mạnh việc tuyên truyền thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình và những văn bản luật pháp khác có liên quan

2.2 ý nghĩa thực tiễn

- Từ chỗ góp phần làm rõ nhận thức, hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân về Luật Hôn nhân và gia đình trên cơ sở này giúp cho các cơ quan truyền thông, tư vấn có định hướng và biện pháp phù hợp hơn trong việc tuyên truyền, giáo dục thanh niên thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình, đặc biệt là với đối tượng tiền hôn nhân

- Luận văn sẽ cung cấp thêm thông tin, dữ liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy xã hội về giới, gia đình cho sinh viên, học sinh và những nhóm xã hội khác

có yêu cầu

3 Mục đích - nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

Làm rõ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên nam nữ trước kết hôn đồng thời lý giải những nhân tố ảnh hưởng tới hiểu biết của họ nhằm đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao sự hiểu biết của thanh niên nam, nữ trong thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thu thập, xử lý và phân tích những thông tin có sẵn gồm: những báo cáo, luật, sách, bài báo, công trình khảo sát đã hoàn thành có liên quan đến hiểu biết và thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên

- Điều tra xã hội học bằng bảng câu hỏi có cấu trúc nhằm thu thập những thông tin liên quan đến hiểu biết của thanh niên nam nữ trước khi kết hôn về Luật Hôn nhân và gia đình

- Xử lý, phân tích, tổng hợp các thông tin thu được qua điều tra định tính

và định lượng để làm rõ mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình ở nam

nữ trước khi kết hôn

- Phân tích, tổng hợp những kết quả thu được để đưa ra những kết luận và những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của thanh niên trong độ tuổi kết hôn về Luật Hôn nhân và gia đình

4 Giả thuyết nghiên cứu

- Việc tuyên truyền, giáo dục, thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình tuy đã được quan tâm chú ý nhưng chư a tìm được những hình thức phù hợp cho thanh niên tiền hôn nhân, do vậy, hiểu biết Luật của họ còn chưa đầy đủ, thiếu chính xác

- Nam nữ thanh niên trước khi kết hôn đang còn ít quan tâm tới việc tìm hiểu văn bản Luật, chính sách liên quan đến vấn đề hôn nhân, gia đình đặc biệt

là Luật Hôn nhân và gia đình nên hiểu biết về luật còn chưa cao

- Hiểu biết của nam nữ thanh niên trong độ tuổi kết hôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, khu vực cư trú và đặc trưng văn hoá gia đình

5 Đối tƣợng, khách thể và địa bàn nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 9

Mức hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân

5.3 Địa bàn nghiên cứu

Đối tượng được chọn để tiến hành khảo sát là thanh niên nam, nữ chưa kết hôn tại phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy và xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh Nhóm đối tượng này được chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên Số phiếu phát ra là 400 phiếu, số phiếu thu về 397 phiếu Tất cả các phiếu đều hợp lệ, trong đó:

- Cơ cấu tuổi:

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như thống kê, logic-lịch sử điều tra xã hội học Trong đó, những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây được sử dụng:

- Phân tích tài liệu có sẵn:

Trên cơ sở tổng quan các tài liệu đã có gồm sách, tạp chí, thống kê công trình nghiên cứu đã được thực hiện, hồ sơ văn bản lưu trữ và các báo cáo của các

Trang 10

cơ quan chức năng… để có thêm thông tin làm rõ cả cơ sở lý luận lẫn thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

- Điều tra định lượng:

Tiến hành phỏng vấn theo phiếu trưng cầu ý kiến với 400 thanh niên chưa kết hôn Cách thức chọn mẫu: sử dụng phương pháp ngẫu nhiên phân tầng Cụ thể, ở nội thành, tác giả chọn quận Cầu Giấy, phường Nghĩa Tân; ở ngoại thành, chọn huyện Đông Anh, xã Vĩnh Ngọc Sau khi xác định 2 phường/xã, tác giả lập danh sách thanh niên từ 16 tuổi trở lên chưa lập gia đình; sau đó chọn ngẫu nhiên hệ thống cho đủ 400 mẫu theo dự định để tiến hành phát phiếu khảo sát

- Nghiên cứu định tính:

Ngoài phát phiếu điều tra định lượng, cuộc khảo sát còn tiến hành 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung, mỗi nhóm 10 người và 10 phỏng vấn sâu đối với những người đại diện cho nhóm thanh niên chưa lập gia đình, nhóm cán bộ và chủ hộ gia đình có thanh niên chưa lập gia đình

- Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu điều tra định lượng được làm sạch và xử lý bằng chương trình SPSS 12.5 Các tương quan cơ bản được xác định và đưa ra với những bảng số liệu nhằm đáp ứng các mục tiêu mà cuộc khảo sát hướng đến là đánh giá mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân

7 Sơ đồ tương quan các biến số

Trang 11

Biến độc lập

- Đặc điểm nhân khẩu của thanh niên chưa lập gia đình: Giới tính (nam, nữ), Tuổi (từ 16 đến hết 17 tuổi, từ 18-22 tuổi và trên 22 tuổi), Trình độ học vấn (Tốt nghiệp PTTH trở xuống, trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học), Địa bàn

cư trú (nội thành, ngoại thành)

- Đặc điểm xã hội nghề nghiệp cán bộ LĐQL (cán bộ tư pháp, cán bộ LĐTBXH, cán bộ văn hoá, thể thao, du lịch)

- Chủ hộ gia đình có thanh niên chưa kết hôn (nam/nữ)

Biến phụ thuộc

- Hiểu biết của đối tượng tiền hôn nhân với Luật Hôn nhân và gia đình theo các vấn đề:

+ ý nghĩa, tầm quan trọng của luật và các văn bản dưới luật

+ Nội dung của luật

+ Phạm vi tác động và đối tượng điều chỉnh của luật và văn bản dưới luật

- Một số kết quả bước đầu trong thực hiện Luật

Biến điều kiện

Các yếu tố kinh tế, xã hội trong đó đặc biệt là sự phát triển của kinh tế thị trường và các yếu tố liên quan đến phong tục tập quán, truyền thống văn hoá và

Kết quả thực hiện Luật

Phạm vi tác động và đối tượng điều chỉnh

Điều kiện kinh tế – xã

Nam, Nữ thanh niên chưa kết

Đối tượng khác

- CBLĐQL (CB tư pháp, CB

LĐTBXH )

- Chủ hộ gia đình có TN chưa kết hôn

Nội dung của Luật Hôn nhân

& gia đình

Trang 12

thông tin truyền thông Đây là những yếu tố tác động đến cả hiểu biết, thái độ của đối tượng tiền hôn nhân trong việc tìm hiểu và thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình

8 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng nhận thức về Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên nam nữ trước kết hôn

Chương 3: Xu hướng biến đổi quan điểm về hôn nhân và gia đình và một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên tiền hôn nhân hiện nay

Trang 13

Phần II: nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của Vấn đề nghiên cứu

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Lý luận nhận thức Macxit

Nhận thức và sự hiểu biết của con người từ đâu mà có? Con người có nhận thức được chân lý khách quan không và quá trình nhận thức của con người thế nào đã và đang là vấn đề mà triết học duy vật và duy tâm tranh luận

Theo quan điểm duy vật, nhận thức của con người là sự phản ánh của thế giới khách quan - Thế giới khách quan được con người nhận thức từ cảm giác, tri giác, biểu tượng đến tư duy trừu tượng Nhờ tư duy trừu tượng mà con người hiểu biết được bản chất của các sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên và xã hội, nắm được các quy luật và tính quy luật chi phối quá trình vận động và phát triển của nó - tiếp cận được với chân lý Chủ nghĩa duy vật Macxit cũng chỉ ra rằng, sở dĩ con người nhận thức được thế giới khách quan, do con người có lao động Nhờ lao động mà đầu óc con người được phản ánh những hiện tượng, những sự kiện, những quá trình của thế giới hiện thực Con người hiểu biết thế giới hiện thực Nhưng sự phản ánh này không chỉ là sự sao chép đơn thuần thế giới hiện thực mà còn là sự phản ánh bản chất của chúng với những mối liên hệ bên trong, tất yếu, tự nhiên của nó Con người, vì vậy, ngày càng khám phá bản chất của các sự vật, hiện tượng, phát hiện thêm các quy luật, tiến gần hơn đến chân lý tuyệt đối Như vậy, nhận thức của con người là một quá trình từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ hiểu biết ít đến hiểu biết nhiều - đến chân lý

áp dụng lý luận nhận thức vào việc nghiên cứu quá trình tiếp cận một hiện tượng, một sự vật của nhóm xã hội - thanh niên tiền hôn nhân là việc không dễ

Vì vậy, làm rõ hiểu biết của họ về ý nghĩa, tầm quan trọng của luật, nội dung các điều khoản chính yếu của luật và việc áp dụng luật trên thực tế là những việc cần làm ở đây, xuất phát từ những nguyên lý và lý luận nhận thức cần làm rõ thực trạng, nguyên nhân sự hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của nhóm thanh niên tiền hôn nhân với quan điểm duy vật, biện chứng, phát triển, lịch sử và hệ

Trang 14

thống Điều này đòi hỏi khi làm rõ hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân về Luật Hôn nhân và gia đình cần làm rõ những đặc điểm sinh học của nhóm, hoàn cảnh kinh tế, xã hội của gia đình và cộng đồng mà họ đang sống; trình độ học vấn, khả năng tiếp cận thông tin, mức độ tham gia các hoạt động xã hội mà những thành viên trong nhóm hiện có

Ngoài ra, theo quan điểm lịch sử và phát triển, hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân về Luật Hôn nhân và gia đình còn được nghiên cứu trong sự so sánh với thời gian ở đây, thời gian được tính theo độ tuổi của khách thể nghiên cứu đồng thời tính theo các giai đoạn phát triển về nhận thức của cộng đồng trong đổi mới Điều này sẽ giúp cho việc làm rõ những thay đổi trong nhận thức, hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân về Luật Hôn nhân và gia đình qua các giai đoạn phát triển của lịch sử cũng như qua quá trình phát triển sinh học và xã hội ở mỗi con người

Hôn nhân và gia đình là lĩnh vực luôn vận động, phát triển và biến đổi Theo đó, cơ cấu gia đình, chức năng gia đình, vai trò và vị trí của gia đình cũng như những quan niệm về giá trị, chuẩn mực trong gia đình đã có nhiều biến đổi theo thời gian Nghiên cứu hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân với Luật Hôn nhân và gia đình phải hết sức căn cứ vào những biến đổi của gia đình và những biến đổi của cộng đồng xã hội để xem xét những biến đổi trong nhận thức của nhóm xã hội đặc thù này Trong điều kiện mở cửa, đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, quan niệm thoáng đãng hơn về tình dục, tình yêu và hôn nhân cũng là những yếu tố phải tính tới khi nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật, biện chứng và lý luận nhận thức Macxit

1.1.2 Các lý thuyết xã hội học đặt cơ sở cho việc nghiên cứu

a Lý thuyết Hành động xã hội

Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội đã được các nhà xã hội học như V.Pareto, M.Weber, F.Znaniecki và một số nhà xã hội học khác đưa ra Nội dung chủ yếu của lý thuyết này coi hành động xã hội có cơ sở xuất phát từ nhu cầu, động cơ của cá nhân xã hội và kết quả của nó là sự thiết lập các quan hệ xã hội

Trang 15

Các lý thuyết gia khẳng định khi mỗi cá nhân tham gia vào cuộc sống xã hội, họ tất yếu phải thực hiện các hành động xã hội Hành động xã hội xuất hiện ngay từ khi con người được hình thành, nhu cầu hợp tác để tồn tại và phát triển

đã làm xuất hiện quan hệ tương tác giữa các chủ thể hành động; đến lượt mình, các hành động xã hội lại tạo kết quả là các mối quan hệ cá nhân - cá nhân, cá nhân - xã hội Không phải ngẫu nhiên mà cá nhân thực hiện hành động, ngược lại, họ hành động nhằm đạt được các mục đích riêng của bản thân và những mục đích chung

Mặc dù mỗi nhà xã hội học trên đều tiếp cận hành động xã hội ở các góc độ khác nhau, song họ đều thống nhất ở một số điểm:

- Hành động xã hội bao giờ cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức dù ở mức độ khác nhau, có nghĩa là chủ thể hành động luôn gắn cho hành động một ý nghĩa chủ quan nhất định

- Hành động xã hội có tính định hướng mục đích

- Hành động xã hội là hành động hướng tới người khác

Trên thực tế, không phải hành động xã hội nào cũng có tính xã hội hay đều là hành động xã hội Những hành động chỉ nhằm tới các sự vật mà không tính đến hành vi của người khác như việc hai người đi xe đạp vô tình va quệt vào nhau trên đường phố không phải là hành động xã hội, hành động giống nhau của các cá nhân trong một đám đông như khi mọi người cùng mặc áo mưa do đột nhiên trời đổ mưa cũng không được coi là hành động xã hội Với những hành động như thế này, chúng ta thấy hầu như không có sự tham gia của yếu tố

ý thức mà đó chỉ là sự phản ứng một cách tự nhiên trước hoàn cảnh mà thôi Thêm nữa, những hành động này thường diễn ra bất chấp ý chí hay mong muốn chủ quan của chúng ta Các nhà xã hội học gọi đây là hành động vật lý - bản năng

Chúng ta cũng có thể so sánh hành động của loài vật với hành động của con người Chẳng hạn, khi một con thú bị đói, nó sẽ ăn một cách ngấu nghiến những gì mà nó có thể ăn được chỉ để thoả mãn cơn đói Trong khi đó, ngay cả khi con người bị bỏ đói, họ cũng ăn theo văn hoá, theo thói quen; cách ăn của họ

Trang 16

cũng hướng đến những người xung quanh, nghĩa là làm sao để việc ăn của mình không gây phản cảm cho người khác và họ lựa chọn thức ăn phù hợp với họ; ví

dụ như một nhà tu hành theo Phật giáo thì khi đói vẫn chỉ lựa chọn thức ăn chay, hay một người theo ấn Độ giáo sẽ không chọn món thịt bò để ăn khi đói

So sánh như vậy để thấy sự khác biệt giữa con người và con vật khi thực hiện hành động Rõ ràng, hành động ăn của con người trong trường hợp nêu trên được coi là hành động xã hội, vì nó có tính chất văn hoá, tính chủ định và sự định hướng đến người người khác của các cá nhân xã hội khi thực hiện hành động

Lý thuyết hành động xã hội ra đời nhằm phản ứng lại quan điểm của các nhà hành vi luận cho rằng chúng ta không thể nghiên cứu được những yếu tố bên trong qui định hành vi của các cá nhân mà chỉ có thể biết đến những phản ứng bên ngoài Theo các nhà xã hội học, chúng ta không đơn thuần chỉ nghiên cứu phản ứng của các cá nhân trước các kích thích, mà chúng ta hoàn toàn có thể nghiên cứu những gì đang diễn ra bên trong, những gì tiềm ẩn trong mỗi cá nhân có tác dụng thôi thúc các nhân hành động để đạt mục đích

Để minh chứng cho quan điểm của mình, các nhà xã hội học đã đưa ra mô hình sau:

[11, 137]

Mô hình trên cho thấy cấu trúc của hành động xã hội, những nhân tố của hành động xã hội được đề cập đến trong mô hình này có mối quan hệ nhân - quả khăng khít với nhau Xem xét các nhân tố của hành động xã hội, chúng ta có thể nhận thấy mỗi hành động xã hội của con người có “điểm gốc” là nhu cầu, động

cơ của chủ thể, và “điểm ngọn” là mục đích cần đạt được của chủ thể đó Tất nhiên, chu trình của hành động chịu sự chi phối của yếu tố hoàn cảnh thực hiện hành động của chủ thể Chúng ta hãy quay lại ví dụ về một cá nhân khi bị đói,

Nhu cầu Động cơ Chủ thể

Hoàn cảnh

Công cụ phương tiện

Mục đích

Trang 17

họ có nhu cầu là được ăn Tuy nhiên nếu anh ta ở nơi mà anh ta chỉ có một mình, anh ta có thể ăn nhanh hơn để đạt đích "được ăn no" nhanh hơn; ngược lại, khi anh ta đang ở trong một đám đông, anh ta sẽ lựa chọn cách ăn từ tốn hơn, vì hành động của anh ta lúc này là định hướng vào đám đông nơi anh ta đang tham gia Điều này cho thấy, hành động xã hội mà con người thực hiện không phải là cách con người phản xạ trực tiếp đối với tác nhân kích thích, mà ở đây, họ phản ứng qua các biểu trưng có ý nghĩa, có nghĩa là họ phản ứng một cách gián tiếp Nói như G.Mead, con người tiếp nhận kích thích, tư duy về tình huống hành động, đặt mình vào vị trí của đối tượng hành động để dự đoán xu hướng hành động, từ đó, họ mới đưa ra phản ứng trước kích thích Những yếu tố này khiến cho hành động của con người mang tính xã hội cao hơn (hành động hướng đến người khác), và do đó, tính khách quan của hành động, tính định hướng về môi trường hành động cũng được nâng lên

Vận dụng lý thuyết này trong luận văn của mình, tác giả coi hiểu biết Luật hôn nhân gia đình của thanh niên tiền hôn nhân như là một hành động xã hội Hành động này bao giờ cũng kèm ý thức cá nhân ý thức đó có thể do từng cá nhân nhận thức sự cần thiết phải tìm hiểu luật khi đang trong giai đoạn tiền hôn nhân, các cá nhân tự giác tìm hiểu, không tự giác tìm hiểu luật hoặc chỉ tìm hiểu khi bị một tác động nào đó

Ngoài ra, việc tìm hiểu luật của đối tượng tiền hôn nhân được xem xét ở cả tính tích cực của họ Với nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị khác nhau, đối tượng tiền hôn nhân có những cách thức, mục đích tìm hiểu khác nhau Với những đối tượng có nhu cầu tìm hiểu luật để nâng cao trình độ hiểu biết về luật pháp thì mục đích là để nắm vững và thực thi nghiêm những quy định của pháp luật Những đối tượng này ý thức được sự cần thiết phải nghiên cứu, tìm hiểu kỹ luật nên họ chủ động tìm hiểu, cập nhật những văn bản pháp luật mới một cách kịp thời Cũng có những thanh niên không ý thức được tầm quan trọng của pháp luật nên thụ động trong việc tìm hiểu những văn bản pháp luật hay thậm chí làm sai luật mà không ý thức được Điều này tạo nên những cách tiếp cận và tìm

Trang 18

hiểu khác nhau của thanh niên trước hôn nhân với tinh thần và nội dung của luật

b Lý thuyết Xã hội hoá

Con người là một thực thể sinh học song còn là một thực thể xã hội Để sống, tồn tại và phát triển con người phải hội nhập vào nhóm, vào một cộng đồng xã hội xác định Mà để hội nhập mỗi con người phải tìm hiểu, tiếp cận, học hỏi, thực hành những hệ thống giá trị và chuẩn mực mà một nhóm, một tầng lớp, một cộng đồng đang thừa nhận, tuân theo Đây chính là quá trình mà mỗi cá nhân thiết lập quan hệ của mình với những cá nhân khác, thông qua đó cá nhân học hỏi, tiếp nhận các tri thức, kinh nghiệm, quy tắc ứng xử phù hợp với vai trò

mà nhóm, cộng đồng xã hội yêu cầu, chờ đợi

Với cách nhìn nhận cơ bản như vậy, các nhà xã hội học đã đưa ra những quan niệm ít nhiều khác nhau về xã hội hoá

Nhà xã hội học Mỹ Neil Smelser thì cho rằng: "Xã hội hoá là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình" [6, tr.254] để phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành động tương ứng với

hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình Theo định nghĩa này, vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hoá chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, tri thức, giá trị, chuẩn mực xã hội

Trong đó, xã hội hoá cá nhân diễn ra dưới tác động của ba nhân tố cơ bản:

sự mong đợi, sự thay đổi hành vi và thói khuôn phép ở đây, xã hội mong đợi mỗi

cá nhân tuân thủ những giá trị, chuẩn mực văn hoá của một nhóm, một cộng đồng

xã hội xác định mà cá nhân hội nhập vào Trên cơ sở này mà cá nhân xác định được vị thế của mình và đóng đúng được những vai trò mà vị thế ấy yêu cầu

Để làm được những việc này, mỗi cá nhân phải hiểu được những khuôn mẫu hành vi - những khuôn phép mà một nhóm, một cộng đồng xã hội đã định dạng tuân theo Đây chính là những khuôn mẫu xã hội đã được quy chuẩn bởi các nền văn hoá hay các tiểu văn hoá nhóm

Còn Fichter xem "Xã hội hoá là một quá trình tương tác giữa người này

và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và

Trang 19

thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó" [11] Như vậy, Fichter đã chú ý tới tính thích ứng của cá nhân trong quá trình xã hội hoá Đây là sự tương tác xã hội mà các quan hệ cá nhân được chuyển hoá thành những quan hệ xã hội có tính khuôn mẫu mà mỗi cá nhân khi hoà nhập vào từng nhóm, từng cộng đồng

xã hội phải tuân theo

Nhà khoa học người Nga G.Andreeva nêu ra hai mặt của quá trình xã hội hoá Bà cho rằng: "Xã hội hoá là quá trình hai mặt Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội đó" [11, tr.255]

Lý thuyết này nhấn mạnh đến không chỉ hoạt động cá nhân trong quá trình

xã hội hoá - đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội mà còn chuyển hoá nó thành những giá trị, tâm thế, xu hướng của cá nhân để tham gia tái sản xuất chúng trong

xã hội Mặt thứ nhất của quá trình xã hội hoá là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của môi trường tới con người Mặt thứ hai thể hiện sự tác

động của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình

Tony Bilton lại cho rằng Xã hội hoá là “quá trình quá độ mà chúng ta có thể tiếp nhận được nền văn hoá của xã hội mà trong đó chúng ta đã được sinh ra

- quá trình mà nhờ đó chúng ta đạt những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội của chúng ta - được gọi là quá trình xã hội hoá” [10]

Tony Bilton nhấn mạnh chủ yếu đến vai trò của xã hội trong việc truyền đạt những giá trị văn hoá cho cá nhân, giúp cá nhân có đầy đủ những điều kiện

về mọi mặt để hoà nhập vào xã hội Tuy nhiên, chúng ta thấy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cá nhân gần như bị mờ nhạt trong quá trình xã hội hoá

Xã hội hoá của mỗi cá nhân là một quá trình không thể thiếu từ khi còn là trẻ thơ đến thời kỳ trưởng thành Theo Tony Bilton môi trường xã hội hoá với mỗi cá nhân rất quan trọng, đó là môi trường gia đình, nhà trường, xã hội

Trang 20

Gia đình là một trong những môi trường xã hội hoá có tầm quan trọng đặc

biệt ở đây, con người sinh học bắt đầu hội nhập vào xã hội, lĩnh hội những quy chuẩn của xã hội thông qua cha, mẹ, người thân Vì vậy, truyền thống gia đình thể hiện qua gia đạo, gia giáo, gia phong, gia nghiệp có tác động không nhỏ hình thành tính cách của mỗi cá nhân Bầu không khí gia đình, sự hoà hợp hay xung đột của các thành viên gia đình để lại những dấu ấn quan trọng trong sự phát triển tính cách của thế hệ trẻ

Trường học là toàn bộ hệ thống giáo dục được lập ra có chủ định Theo

Tony Bilton trường học cũng là môi trường xã hội hoá chính yếu, giống như môi trường gia đình ở nhà trường, các cá nhân được tiếp thu cả tri thức tự nhiên, xã hội và cả những hệ thống, những giá trị chuẩn mực được thể hiện qua các quy chuẩn luật pháp, đạo đức, lối sống Qua hệ thống chương trình, giáo trình và bài giảng và qua cả sự tiếp xúc thầy - trò, trò - trò, mỗi cá nhân được xã hội hoá Các luật, văn bản dưới luật, quy chuẩn hành vi của con người, trong đó có quy chuẩn về hôn nhân và gia đình đã được giáo dục, tuyên truyền trong nhà trường

Xã hội là môi trường thứ ba giúp con người được xã hội hoá ở đây, thông

qua các phương tiện truyền thông đại chúng và thông qua các hình thức truyền thông trực tiếp, con người được truyền thông, tư vấn, tiếp thu những giá trị và chuẩn mực xã hội Các hệ tư tưởng, hệ thống các quan điểm chính trị, các khuôn mẫu hành vi có tính chuẩn mực xã hội được truyền bá qua các hệ thống truyền thông và qua giao tiếp người - người trong xã hội Nhờ vậy, xã hội hoá cá nhân được thực hiện Các quy chuẩn luật pháp, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán được mỗi cá nhân và cả cộng đồng tôn trọng, tuân theo thực hiện

Tính chất của quá trình xã hội hoá: Theo Tony Bilton xã hội hóa là "Một

quá trình khó khăn, phức tạp và rộng khắp” [10, tr.29] bởi vì xã hội hoá chính là việc tạo lập diện mạo của tất cả các quan hệ xã hội, của tất cả các hoạt động của con người, cho dù con người và nhóm xã hội có thể nhận thức được hay không nhận thức được trong quá trình hoạt động

Vận dụng lý thuyết xã hội hoá vào việc phân tích hiểu biết của nhóm xã hội thanh niên chưa kết hôn về Luật Hôn nhân và gia đình, cần phải đi sâu, làm

Trang 21

rõ đặc trưng xã hội của nhóm xã hội này, gồm: hoàn cảnh, điều kiện kinh tế-xã hội mà họ đang sống và hoạt động; đặc trưng văn hoá tiểu gia đình mà họ đã sinh ra, lớn lên; hệ thống giáo dục và tri thức tự nhiên, xã hội, nghề nghiệp mà

họ được đào tạo, những chuẩn mực xã hội và khuôn mẫu hành vi tác phong mà

họ được định hướng tới cùng hệ thống truyền thông mà họ có thể tiếp cận; những hình mẫu tiêu biểu mà họ ngưỡng mộ, định hướng, noi theo Thậm chí cả những loại hành vi, sai lệch xã hội mà hệ thống quản lý nhà nước đang điều khiển, kiểm sát, điều chỉnh trong quá trình thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình cũng là những yếu tố cần phải điều tra, làm rõ Trên cơ sở này mà tiến hành những đo lường cần thiết về nhận thức, thái độ của họ đối với ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung chính của Luật Hôn nhân và gia đình Từ đây mà làm rõ mức hiểu biết thực tế của nhóm xã hội đặc biệt - thanh niên trước kết hôn với luật và các văn bản pháp lý dưới luật của Luật Hôn nhân và gia đình

Trong quá trình xã hội hoá, cá nhân nào lĩnh hội được càng nhiều các điều Luật Hôn nhân và gia đình thì bản thân các cá nhân đó có được ý thức pháp luật tốt hơn Đồng thời sẽ là chủ thể có tác động trở lại đối với môi trường xã hội nhiều hơn Đầu tiên, chính bản thân họ sẽ là người có nhận thức đầy đủ về Luật Hôn nhân và gia đình, tìm hiểu một cách sâu sắc về nó và sau đó là truyền đạt nó đến cho các đối tượng để quán triệt và thực hiện Luật này

1.1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề hôn nhân - gia đình

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của gia đình Người nói: “Hạt nhân của xã hội là gia đình, chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa

xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt” Điều đó có nghĩa rằng cơ sở cho một xã hội mới cũng như sự đảm bảo cho thắng lợi của chúng ta trong tiến trình xây dựng xã hội mới cần phải xây dựng một gia đình tốt

Giữa gia đình và xã hội có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Gia đình là nền tảng của xã hội Sự giàu có của các gia đình, cá nhân tạo tiền đề cho một quốc gia vững mạnh Người nhấn mạnh: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt; gia đình tốt thì xã hội mới tốt”

Trang 22

Theo sự hướng dẫn của Người, trong tiến trình phát triển Đảng ta luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của gia đình Chính việc củng cố xây dựng gia đình truyền thống Việt Nam đã tạo cơ sở vững chắc đảm bảo thắng lợi của hai cuộc trường kỳ kháng chiến bảo vệ đất nước Trong điều kiện mới tập trung xây dựng đất nước trên cơ sở phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng

ta càng chú ý và nhấn mạnh vai trò của gia đình Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới”

Quan điểm trên đã được cụ thể hóa trong các văn bản chính sách về gia đình và đã thể hiện trong thực tế Trước yêu cầu mới của công cuộc phát triển phải đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, năm 2005 Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 49-CT/TƯ về xây dựng gia đình Việt Nam, trong đó khẳng định “Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Với việc coi trọng vai trò của gia đình, từ năm 2001 Đảng và Nhà nước đã quyết định lấy ngày 28-6 hàng năm là “Ngày gia đình Việt Nam” Bên cạnh đó

đã thể chế hóa thành luật và ban hành các pháp lệnh và nghị định để hỗ trợ và điều chỉnh các quan hệ gia đình và công tác gia đình Chẳng hạn như Luật Hôn nhân và Gia đình (2000), Luật Bảo vệ, Chăm sóc trẻ em (1991), Luật Phòng chống Bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới; Luật Đất đai, Pháp lệnh người tàn tật…

Đường lối của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước về gia đình đã

mở ra điều kiện thuận lợi cho củng cố và phát triển gia đình Việt Nam Trên thực tế hơn hai mươi năm qua đất nước, xã hội và con người Việt Nam đều đổi mới Kinh tế hộ gia đình đã có bước phát triển mạnh, trở thành bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần không nhỏ vào quá trình xóa đói giảm nghèo Vai trò của phụ nữ trong xã hội và gia đình được đề cao Các hoạt động cưới xin và lễ hội cũng có nhiều tiến bộ Cuộc vận động "Toàn dân đoàn

Trang 23

kết xây dựng đời sống văn hóa", các phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân Những điều đó làm đẹp thêm những giá trị nhân văn của gia đình Việt Nam

1.1.4 Hoàn cảnh ra đời và phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình

Mục tiêu cuối cùng trong quá trình phát triển của mỗi một quốc gia là nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Chính vì vậy, Nhà nước ta ngay

từ khi thành lập đến nay, đã có nhiều biện pháp nhằm từng bước nâng cao đời sống của nhân dân, đặc biệt đã ban hành, chỉnh sửa, bổ sung củng cố hoàn thiện

hệ thống luật pháp

Quan hệ hôn nhân là loại quan hệ tồn tại trong phát triển vận động trong suốt đời sống con người Nhà nước ta đã 3 lần ban hành Luật Hôn nhân và Gia

đình (1959, 1986, 2000) Luật Hôn Nhân và Gia Đình đầu tiên đã được Quốc

hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 11, thông qua tại phiên họp ngày 29 tháng 12 năm 1959 (có hiệu lực ngày 13/1/1960) gồm 6 chương, 35 điều Mục đích của bộ luật này là loại bỏ hệ thống hôn nhân dưới chế độ phong kiến, khuyến khích và cho mọi người quyền tự do tìm hiểu và kết hôn với nhau Luật cũng nêu rõ nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn của chồng

và vợ trong hôn nhân, những mối quan hệ giữa cha mẹ, con cái và ly hôn

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, tình yêu trở thành một nền tảng hợp pháp cho hôn nhân Các tài liệu của Đảng về bộ luật mới này được xuất bản trong Nếp Sống Văn hóa đã chỉ ra rằng hôn nhân phải xuất phát từ tình yêu và được xây dựng trên nền tảng của sự tự nguyện giữa hai con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem bộ luật năm 1959 như “một phần không thể thiếu của công cuộc cách mạng chủ nghĩa xã hội” vì nó “nhằm mục đích giải phóng người phụ nữ” Sự ban hành bộ luật năm 1959 về hôn nhân và gia đình là biểu hiện cho quyết tâm xây dựng một xã hội mới, một gia đình xã hội chủ nghĩa mới, tạo ra những điều kiện hợp pháp cho phụ nữ (và cả đàn ông) để tham gia các hoạt động bên ngoài gia đình

Cần phải nói thêm rằng, do đặc điểm lịch sử của nước ta, Luật Hôn nhân

và Gia đình năm 1959 sau khi ban hành, mới chỉ có hiệu lực ở miền Bắc Ở

Trang 24

miền Nam, thời điểm ỏp dụng Luật Hụn nhõn và gia đỡnh 1959 là ngày 25/3/1977 (ngày ban hành Nghị quyết 76/CP cụng bố danh mục văn bản phỏp luật ỏp dụng trong cả nước, trong đú cú luật Hụn nhõn và gia đỡnh năm 1959) Trước năm 1959, ở Việt Nam quan hệ hụn nhõn nhiều vợ, nhiều chồng cú đăng

ký giỏ thỳ hoặc khụng cú đăng ký giỏ thỳ vẫn tồn tại và được xó hội thừa nhận

Do tồn tại lịch sử, sau năm 1959, ở miền Bắc nhà nước Việt Nam đó khụng chỉ thừa nhận những quan hệ hụn nhõn cú đăng kớ là hợp phỏp mà cả những quan hệ hụn nhõn thực tế chưa đăng ký song thực tế đó tồn tại từ trước vẫn được coi là hợp phỏp Tương tự như ở miền Bắc, những quan hệ hụn nhõn xỏc lập trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam tuy khụng tuõn theo nguyờn tắc một vợ một chồng vẫn được cụng nhận hợp phỏp

Kế thừa và phỏt triển Luật hụn nhõn và gia đỡnh năm 1959, để tiếp tục xõy dựng và củng cố gia đỡnh theo định hướng xó hội chủ nghĩa, giữ gỡn và phỏt huy những phong tục, tập quỏn tốt đẹp của dõn tộc, xoỏ bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tớch của chế độ hụn nhõn và gia đỡnh phũng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hụn nhõn và gia đỡnh tư sản Ngày 29/12/1986, Quốc Hội nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa khoỏ VII, kỳ họp thứ 12, thụng qua Luật Hụn nhõn và gia đỡnh sửa đổi gồm 10 chương, 57 điều (cú hiệu lực vào ngày 3/1/1987)

Để đề cao vai trũ của gia đỡnh trong đời sống xó hội, giữ gỡn và phỏt huy truyền thống và những phong tục, tập quỏn tốt đẹp của dõn tộc Việt Nam, xoỏ bỏ những phong tục, tập quỏn lạc hậu về hụn nhõn và gia đỡnh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Đồng thời để nõng cao trỏch nhiệm của cụng dõn, Nhà nước và xó hội trong việc xõy dựng, củng cố chế độ hụn nhõn và gia đỡnh Việt Nam, kế thừa và phỏt triển phỏp luật về hụn nhõn và gia đỡnh Việt Nam, ngày 09 thỏng 6 năm 2000 Quốc hội nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam khúa X, kỳ họp thứ 7 thụng qua Luật Hôn nhân và gia đình gồm 13 chương

và 110 điều (cú hiệu lực thi hành vào ngày 1/1/2001)

Để một văn bản luật được thực thi trong cuộc sống, cần cú hệ thống những văn bản dưới luật giải thớch, hướng dẫn ỏp dụng chỳng đú Vớ dụ: Để hướng dẫn thi hành Luật Hụn nhõn và Gia đỡnh 1959 cú Thụng tư 60 ngày

Trang 25

22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao… Tương tự như vậy, để hưíng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20-1-1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao…

Đáng lưu ý là, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2001) đã có nhiều văn bản hướng dẫn áp dụng và đặc biệt là có nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng của Chính phủ Những văn bản hướng dẫn của Chính phủ không chỉ bao gồm những quy phạm mang tính chất của luật dân sự chỉ để cơ quan hành chính thực hiện, áp dụng luật mà còn để Tòa án phải áp dụng những quy định này khi giải quyết các án kiện về hôn nhân và gia đình Cụ thể: Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH ngày 9/6/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam về thực hiện Luật Hôn nhân và Gia đình Nghị quyết

số 35/2000/NQ-QH là văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 mà nội dung chủ yếu là xử lý đối với hôn nhân không có đăng ký kết hôn Các văn bản pháp luật hướng dẫn theo NQ 35/2000 là:

+ Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ (Nghị định 77/2001)

+ Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3-1-2001

+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

+ Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình

- Nghị định của Chính phủ số 87/2001/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2001 về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

- Nghị định 68/ 2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi tiết một số điều của Luật hôn nhân và gia đình

- Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính

Trang 26

phủ hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân gia đình về quan hệ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nước ngoài

- Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình

- Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình

- Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

Như vậy là, Luật Hôn nhân và gia đình ra đời đã hơn nửa thế kỷ, trải qua

3 lần sửa đổi, bổ sung, Luật đã được hoàn thiện khá hoàn chỉnh Dưới luật, Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ đã ban hành rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tuy nhiên trong thực tế việc hiểu biết luật pháp nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng của người dân còn hạn chế Tỷ lệ người am hiểu Luật ít, nhiều người vẫn không quan tâm đầy đủ đến Luật hay thậm chí không biết về Luật nên việc nghiêm túc thi hành Luật không cao

Trên thực tế, từ khi Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000) được ban hành đến nay, tuy các phương tiện truyền thông đại chúng và truyền thông trực tiếp đã đưa ra nhiều chương trình truyền thông - nhận thức, hiểu biết của cộng đồng với Luật Hôn nhân và gia đình đã được nâng cao một bước Việc chấp hành Luật Hôn nhân và gia đình và xử lý những hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình đã được tăng cường, song hiện tại vẫn còn nhiều việc phải làm để nâng cao hiểu biết, thái độ và hành động thực hiện có hiệu quả Luật Hôn nhân và gia đình Cụ thể, hiểu biết về tuổi kết hôn của thanh niên trước hôn nhân tuy đã được đa số nắm vững song vẫn còn những thanh niên kết hôn trước tuổi - tảo hôn Ngoài ra, trong những năm gần đây, số thanh niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân, sống thử

có xu hướng gia tăng Số này, có nhiều trong cả những nhóm thanh niên có học vấn cao như sinh viên, học sinh, trí thức Một số trong số này không biết luật có quy định về vấn đề này không hoặc cho rằng đó là quyền tự do của mọi người

Một số trường hợp bị bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS hoặc bị những bệnh mà việc kết hôn có thể sẽ nguy hiểm cho sức

Trang 27

khỏe (bệnh tim, bệnh tâm thần…) nhưng không thông báo cho người vợ/chồng tương lai của mình Ngoài ra, những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của vợ chồng, quyền sở hữu tài sản và phân chia tài sản khi ly hôn; trách nhiệm nuôi, dạy con cái, trách nhiệm với cha mẹ, người thân, quyền thừa kế tài sản… nhiều người nhất là thanh niên trước hôn nhân chưa nắm được Do vậy, đời sống một

số gia đình trẻ đã có những vấn đề gây bất đồng, rạn nứt thậm chí phải ly hôn ngay khi mới kết hôn một vài năm, thậm chí một vài tháng Đây rõ ràng là, những hiện tượng chứng tỏ Luật Hôn nhân và gia đình tuy đã được cả truyền thông đại chúng lẫn truyền thông trực tiếp quảng bỏ song luật hóa vào đời sống cộng đồng còn không ít vấn đề Tiếp tục tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục cộng đồng nhất là nhóm thanh niên trước hôn nhân vẫn là việc hết sức cần

1.2 Những vấn đề đang đặt ra trong nghiên cứu về hôn nhân, gia đình và Luật Hôn nhân và gia đình

Hôn nhân và gia đình là hình thức chung sống phổ biến của những người

trưởng thành khác giới Nói như tác giả Phạm Thanh Vân trong bài viết "Một vài

ý kiến về thực trạng hôn nhân và gia đình ở Hà Nội" in trong cuốn Gia đình Việt

Nam ngày nay (Nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội, 1996) do Giáo sư Lê Thi chủ biên thì hôn nhân là hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa đàn ông và

đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau

Hôn nhân là cơ sở của gia đình Vì vậy, việc lập gia đình của thanh niên

từ xưa đến nay vẫn được xem là việc nghiêm chỉnh và hệ trọng, ở độ tuổi 15 trở lên có 66% nam và 62% nữ hiện đang có vợ, có chồng [26]

Theo số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam, phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá (khu vực miền Bắc) năm 2002 thì tỷ lệ hôn nhân có đăng ký là 93,2% trong đó ở thành phố là 98%, đồng bằng 92,2%, trung du miền núi 91,7% Như vậy, tỷ lệ hôn nhân chưa đăng ký vẫn còn ở mức 6,8% Điều này cho thấy sự xáo trộn trong định hướng giá trị giữa truyền thống

và hiện đại đã tác động khá mạnh đối với thanh niên, nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù Quá trình xã hội hoá thanh niên diễn ra khá phức tạp cho thấy ở quan niệm tình bạn, tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình trong thanh niên rất đa

Trang 28

chiều và có nhiều thay đổi Vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và hiện tượng sống chung trước hôn nhân có chiều hướng gia tăng do sự thiếu hiểu biết

về pháp luật của thanh niên đã để lại những hậu quả về sức khoẻ, đạo đức lối sống, làm băng hoại giá trị chuẩn mực truyền thống của gia đình

Hôn nhân và gia đình là một mảng đề tài rộng lớn bao gồm nhiều vấn

đề rất cần đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu, lý giải Một trong số đó là nghiên cứu về cƣỡng bức tình dục trong hôn nhân Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung trong luận văn tốt nghiệp đã nghiên cứu vấn đề "Cưỡng bức tình dục

trong hôn nhân” - nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội Tác giả cho rằng, cưỡng bức tình dục trong hôn nhân xảy ra không phụ thuộc vào vị trí địa lí, tầng lớp xã hội, độ tuổi hay trình độ văn hoá Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân có mối liên hệ mật thiết với các hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ khác

Vấn đề bất bình đẳng giới đóng vai trò quan trọng và là cốt lõi của cưỡng bức tình dục trong hôn nhân Nó không chỉ ảnh hưởng đến vai trò tình dục của mỗi giới và còn góp phần vào quá trình hình thành các hành vi bạo lực, cưỡng

ép và lạm dụng tình dục trong hôn nhân Phụ nữ vẫn là nhóm yếu thế và thường

bị chồng ép buộc Tuy nhiên, nam giới cũng là người chịu ảnh hưởng bởi hành động cưỡng bức của mình Họ có thể thoả mãn về mặt thể xác nhưng tâm lí không hoàn toàn thoả mãn Mặc dù vậy họ vẫn không nhận ra rằng đó là do tư tưởng gia trưởng và sự thiếu hiểu biết về quyền phụ nữ, về sức khoẻ tình dục đã dẫn họ đến tình trạng này Đặc biệt là, cộng đồng và xã hội thiếu sự giúp đỡ đối với các trường hợp cưỡng bức tình dục trong hôn nhân do nhận thức về tình dục còn hạn chế khiến cho người phụ nữ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ở lại và nhẫn nhịn chịu đựng sự cưỡng bức của chồng

Năm 2003, TS Nguyễn Văn Cừ ở Đại học Luật Hà Nội đã tiến hành đề tài nghiên cứu về “Giải quyết hôn nhân thực tế theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000” Theo tác giả, hầu hết các cặp vợ chồng trong diện khảo sát biết rất ít thậm chí là không biết bất kỳ quy định nào trong Luật Hôn nhân và gia đình trước khi kết hôn Ngay cả lúc ly hôn thì khi ra toà chỉ có khoảng 17,1% có nắm

Trang 29

được một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình như quy định phân chia tài sản, quy định về quyền nuôi con Và phụ nữ là người thiệt thòi khi ly hôn vì có tới gần 1/4 số cặp không có hoặc không giữ được giấy chứng nhận kết hôn [28]

Có thể thấy, vấn đề gia đình và hôn nhân… đã thu hút được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu về các văn bản pháp luật chưa nhiều đặc biệt là nghiên cứu về Luật Hôn nhân và gia đình mới chỉ dừng lại ở một vài đề tài cấp cơ sở, chưa có đánh giá toàn diện nào về nhận thức của người dân về Luật Hôn nhân, gia đình và các văn bản pháp luật có liên quan nhất là với nhóm thanh, thiếu niên

Hôn nhân là cơ sở của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội Muốn xã hội phát triển vững mạnh thì gia đình phải là thiết chế bền vững Vì vậy, việc giáo dục nhận thức cho thanh niên chưa kết hôn hiểu biết rõ hơn về Luật Hôn nhân

và gia đình là điều cần thiết Đây là một thiết chế xã hội mang tính bắt buộc được chuẩn hoá và được xã hội công nhận Nó buộc các thành viên trong xã hội phải tuân thủ để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và định hướng cho thanh niên phát huy được những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống vừa tiếp nhận được những giá trị chân chính tốt đẹp của gia đình hiện đại

1.3 Địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Địa bàn nghiên cứu

Thành phố Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giới hạn trong khoảng từ 20o53‟ đến 21o23‟ vĩ độ Bắc, 105o44‟ đến 106o02‟ kinh độ Đông, tiếp giáp với 5 tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc, Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía đông, Hoà Bình ở phía nam và Vĩnh Phúc phía tây Tháng 8/2008 Hà Nội sáp nhập với tỉnh Hà Tây nâng tổng diện tích tự nhiên từ 918,1km2

lên thành 3672,4km2 Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú và nổi tiếng lâu đời Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước

Theo tổng tra dân số, đến 1/9/2001 Hà Nội có 2.931.400 người trong đó dân số thành thị là 1.659.000 dân số nông thôn là 1.272.400 người Tỷ lệ tăng

Trang 30

dân số tự nhiên là 1,08% Hà Nội có mật độ dân số cao nhất khu vực các tỉnh phía Bắc, đứng thứ hai so với cả nước, sau thành phố Hồ Chí Minh Năm 1990, mật độ dân số là 2.223 người/km2, năm 2002 là 3000 người/km2 Mật độ khu vực nội thành có tỷ lệ đặc biệt cao là 18.246 người/km2

Năm 1990, toàn thành phố chỉ có 220 xã, phường với 4 quận là Ba Đình; Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa Đến năm 2003, Hà Nội thành lập thêm 5 quận mới là Hoàng Mai, Cầu Giấy, Tây Hồ, Long Biên, Thanh Xuân nâng cao tổng

số quận nội thành lên 9 quận và 5 huyện ngoại thành Tháng 8/2008 khi Hà Nội sáp nhập với Hà Tây đã mở rộng địa giới hành chính của thủ đô lên gấp 4 lần và nâng tổng số quận/huyện từ 14 thành 29 quận/huyện với 577 phường/xã, thị trấn

Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá nhanh cùng với sự phát triển mạnh

về kinh tế - xã hội, do đó sức hút của các luồng di dân từ các tỉnh trong cả nước Tốc độ tăng dân số cơ học chiếm tỷ lệ đáng kể Năm 1995 có 0.8% dân số từ tỉnh ngoài di cư tới Hà Nội; năm 1997 có 2,1% (gấp 2.6 lần so với năm 1995), năm 1998 là 1,12% Như vậy, bình quân mỗi năm có khoảng 1,5% dân số là dân

từ tỉnh ngoài vào Hà Nội

Trong gần 20 năm qua, từ năm 1990 đến nay, Hà Nội đang tiến vào thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đạt nhiều thành tựu quan trọng: kinh tế phát triển, chính trị ổn định, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần nhân dân được nâng lên và cải thiện rõ rệt Tốc độ tăng trưởng GDP liên tục trung bình từ 1990 đến nay là 16.8%

Mặc dù trong nhiều năm qua kinh tế Hà Nội tăng trưởng liên tục, đời sống nhân dân được cải thiện nhưng nhìn chung đại bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến các quan hệ trong gia đình Hệ thống cơ sở hạ tầng còn thấp, quá tải về giao thông, nhà ở, ô nhiễm môi trường Nhiều vấn đề xã hội bức bách tác động xấu đến quan hệ gia đình, tỷ lệ ly hôn tăng

- Địa bàn khảo sát

Quận Cầu Giấy và phường Nghĩa Tân

Quận Cầu Giấy nằm ở phía Tây thành phố, là một trong 9 quận nội thành

cũ của thành phố Hà Nội, đang trong quá trình đô thị hoá nhanh, dân số là

Trang 31

142.800 người Quận có 7 phường, 398 tổ dân phố, 33.170 hộ, tỷ lệ các gia đình

Huyện Đông Anh và xã Vĩnh Ngọc

Huyện Đông Anh nằm phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội, huyện đang trong quá trình đô thị hoá nhanh Kinh tế toàn huyện những năm vừa qua tăng ở mức cao Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn năm 2007 tăng 2,77 lần so với năm 2002, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm đạt 22,65% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ngày càng giảm, xuất hiện ngày càng nhiều khu công nghiệp Huyện có 18 xã với gần 35.000 hộ, dân cư chủ yếu làm nông nghiệp

Xã Vĩnh Ngọc là một xã thuần nông, nằm ven sông Hồng phía tây huyện Đông Anh Xã có 8 thôn, năm 2006 dân số của xã là 34.176 người Nhân dân trong huyện chủ yếu làm nông nghiệp Vĩnh Ngọc là một trong những xã nghèo nhất của huyện Đông Anh Trong những năm qua, cơ cấu nội ngành nông nghiệp đang dần chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, cây hàng hoá có giá trị kinh tế cao Đời sống của người dân trong vùng có nhiều cải thiện

1.4 Các khái niệm cơ bản trong nghiên cứu

1.4.1 Hiểu biết

Hiểu biết là khái niệm chỉ mức nhận thức của con người đối với các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Hiểu biết được chia thành những cấp độ: Hiểu biết sâu sắc, hiểu biết chưa sâu sắc, hiểu biết bên trong - bản chất, hiểu biết bên ngoài - chưa bản chất, hiểu biết đúng, hiểu biết sai, hiểu biết rộng, hiểu biết hẹp Song dù ở cấp độ nào, hiểu biết của con người cũng xuất phát từ nhận

Trang 32

thức mà con người do sự phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới khách quan Vì vậy, về cơ bản, hiểu biết của con người được quy về nhận thức của họ

Theo từ điển Tiếng Việt: "Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh

và tái hiện hiện thực trong quá khứ".[20]

V.I.Lênin định nghĩa: "Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàn chỉnh

mà là một quá trình, cả một chuỗi sự trừu tượng, sự cấu thành, sự hình thành ra các khái niệm, quy luật và chính các khái niệm, quy luật này bao quát một cách

có điều kiện, gần đúng quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động

và phát triển".[21]

Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan, trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội" [22]

K.K.Platonov định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tiếp nhận những tri thức chân thực trong thế giới khách quan, trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội” [23]

Như vậy, nhận thức có nhiều định nghĩa khác nhau, song các định nghĩa này đều nhấn mạnh đến sự hiểu biết của con người ở các mức độ khác nhau về thế giới khách quan Nhận thức chính là kết quả của quá trình con người tác động vào tự nhiên, tìm hiểu tự nhiên, hiểu biết các quy luật vận động phát triển của tự nhiên và xã hội Nhận thức chính là hoạt động của con người nhằm hiểu biết các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, và hiểt biết về chính bản thân mình “Nhận thức” là sự hiểu biết của con người về sự vật, hiện tượng nào

đó từ hình thức đến bản chất, dưới nhiều mức độ khác nhau Do vậy, nhận thức

có khi đúng, có khi chưa đúng, khi đầy đủ, khi chưa đầy đủ, khi tốt và khi chưa tốt

Hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình chính là đối tượng nhận thức của thanh niên trước hôn nhân mà luận văn muốn tìm hiểu ở đây, hiểu biết được xem xét dưới khía cạnh: ý nghĩa, tầm quan trọng của Luật, nội dung các điều

Trang 33

khoản chính quy định của luật; phạm vi và đối tượng điều chỉnh của luật và kết quả mà luật đã được thực hiện

1.4.2 Thanh niên: là một khái niệm được sử dụng nhiều trong nghiên cứu cũng

như trong cuộc sống hàng ngày với nhiều cách hiểu khác nhau, tuỳ theo từng trường hợp Có trường hợp "thanh niên" được dùng chỉ một con người nào đó cụ thể, có khi được dùng để chỉ tính cách, trẻ trung của con người, có khi lại dùng

Các nhà tâm lý học nhìn nhận thanh niên gắn với lứa tuổi đang phát triển

và định hình về nhân cách Đây là giai đoạn con người dễ bồng bột, nhiệt tình, hăng say song rất dễ mắc các sai lầm

Các nhà kinh tế học nhấn mạnh thanh niên với góc độ là lực lượng lao động trẻ, khỏe, đầy tiềm năng,là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ lao động trên các lĩnh vực sản xuất vật chất và tinh thần

Luật Thanh niên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra ngày

09 tháng 12 năm 2005, xác định thanh niên là nhóm công dân Việt Nam "đủ từ mười sáu đến ba mươi tuổi".[17]

Nhìn từ góc độ xã hội học thanh niên là một nhóm dân số xã hội lớn được phân chia theo khoảng tuổi trong đời sống con người (16-30 tuổi) Đây là nhóm

xã hội đang phát triển, trưởng thành về cả sinh học lẫn xã hội để gánh vác những nhiệm vụ, trọng trách về cả kinh tế, chính trị và xã hội Vì thế, vai trò của nhóm

xã hội thanh niên đặc biệt quan trọng trong đời sống mỗi con người và trong xã hội Thanh niên với việc kết hôn là một trong những mốc quan trọng đánh giá sự trưởng thành về mặt xã hội cũng như nâng cao vị thế, vai trò của họ trong cả gia đình và cộng đồng

Trang 34

1.4.3 Hôn nhân: "Hôn nhân" là khái niệm được tiếp cận dưới nhiều góc độ

khác nhau Ví dụ:

- Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn [19]

- Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo các nghi thức xác định quan hệ giới tính giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ) được coi nhau là chồng, vợ; Quy định mối quan hệ trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa

họ với con cái của họ: Sự xác nhận đó trong quá trình phát triển xã hội dần dần mang thêm những yếu tố mới…[24]

- Hôn nhân còn được xem xét như là sự cam kết chung sống giữa những người trưởng thành khác giới được phê chuẩn của luật pháp Những người kết hôn có những quyền và nghĩa vụ đối với nhau, cũng như quyền nghĩa vụ đối với con cái họ được sinh ra Bất kể những khác biệt về văn hoá hôn nhân là một chế định xã hội, đòi hỏi những điều kiện và thủ tục cần thiết như: tuổi kết hôn, phạm

vi kết hôn, những nghi thức về pháp lý, phong tục tập quán và nghi lễ tôn giáo khi kết hôn… Giống như mọi chế định khác của xã hội, hôn nhân chịu sự tác động của các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá trong lịch sử phát triển loài người Hôn nhân đã từng tồn tại nhiều hình thức khác nhau như: Chế độ một vợ một chồng; Chế độ nhiều vợ/đa thê; Chế độ nhiều chồng/đa phu; Chế độ mẫu hệ

và chế độ phụ hệ; Hôn nhân đối ngẫu…[13]

Bàn tới "Hôn nhân" phải bàn tới khái niệm "kết hôn" - Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu và quản lý xã hội, kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ

vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.[19]

Về cơ bản kết hôn là qui trình xác lập trách nhiệm pháp lý của hai người -

nữ (vợ), nam (chồng) trong một nhóm xã hội - gia đình Kết hôn phải được cơ quan có chức năng quản lí nhà nước thừa nhận, đồng thời được cộng đồng chứng kiến Điều này không chỉ được ghi trong các văn bản luật pháp nhà nước

mà còn được qui định trong những luật tục của cộng đồng, nhiều khi hết sức khắt khe

Trang 35

1.4.4 Ly hôn: Là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết

định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc của cả hai vợ chồng.[19] Ly hôn

là hiện tượng xã hội, pháp lý bình thường Song ly hôn không dễ dàng với những xã hội mà quyền con người và quyền tự do hôn nhân thiếu được tôn trọng, các quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo, luật tục khắt khe

1.4.5 Tiền hôn nhân

Theo quan niệm về "đường đời"; tiền hôn nhân là phần đầu của con đường phát triển, tồn tại của một gia đình Lúc này, nam và nữ thanh niên tìm hiểu nhau trên cơ sở tình yêu để có thể đi đến quyết định chọn lựa người bạn đời cho mình Sự lựa chọn này mang tính chủ quan Thực tế cho thấy, việc hai cá nhân trong xã hội tìm hiểu nhau và trở thành vợ, chồng đã bị chi phối bởi các nhân tố xã hội khác nhau Đây là giai đoạn mà cá nhân chủ định xác lập quan hệ,

họ sớm cảm nhận về người kia và đưa ra những chuẩn mực, giá trị mà họ tin rằng hợp với người kia

Dựa trên lý thuyết Bánh xe tình yêu của I.Reiss (nghiên cứu quá trình từ

những kẻ xa lạ trở thành người thân Ông chia bốn thời kỳ của một mối quan hệ như sau: thời kỳ thân thiết và tin cậy lẫn nhau (rapport); tự bộc lộ (self- revelation); Phụ thuộc lẫn nhau (Mutual dependency) và thoả mãn nhu cầu riêng tư của cá nhân (personality need fulfiment) Theo ông “người ta phải lần lượt trải qua các thời kỳ theo đúng trật tự trên, giống như quay hết một vòng của bánh xe"), [27, tr 125] hai tác giả Mỹ D.Karp và W.Yoels phân tích giai

đoạn tiền hôn nhân theo hai thời kỳ Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ mới làm quen, các cá nhân nam nữ có xu hướng đưa ra những hình ảnh tốt đẹp về mình, và che giấu những thông tin mà họ cho rằng có thể sẽ làm hại đến việc xác lập quan hệ… Đồng thời họ tìm cách khai thác thông tin về người kia và phần lớn chấp nhận những hình ảnh tốt đẹp mà người khác đưa ra Thời kỳ thứ hai là thời kỳ phụ thuộc qua lại và gắn bó lẫn nhau Quan hệ của cặp này không còn là việc riêng của họ nữa; họ được công chúng (cha mẹ, bạn bè…) coi là một đôi, họ tiến hành các hoạt động cho thấy mức độ gắn bó ngày càng tăng… Trong thời kỳ này một số khó khăn có thể nảy sinh như cha mẹ và bạn bè một bên nào đó có thể

Trang 36

đánh giá tiêu cực về người kia và chất vấn chủ thể thấy gì, thích gì ở người kia… [27, tr 126, 127]

Nhƣ vậy, tiền hôn nhân là khoảng thời gian từ lúc một người bắt đầu trưởng

thành đến khi lập gia đình Do vậy, không chỉ người lớn mới bước vào thời kỳ tiền hôn nhân mà có thể cả người ở tuổi vị thành niên - những người chưa phát triển đầy đủ về mặt tâm lý, xã hội nhưng đã phát triển về bộ máy sinh sản - cũng được xem như người đã bước vào thời kỳ tiền hôn nhân

Như vậy, tiền hụn nhõn là một khỏi niệm chỉ khoảng thời gian trong cuộc sống của con người, từ khi con người phát triển và hoàn thiện bộ máy sinh sản, phát triển về nhân cách, xã hội trước khi kết hôn - lập gia đình Thông thường đây là lứa tuổi bắt đầu từ tuổi dậy thì đến hết tuổi thanh niên

Trong nghiên cứu này, thanh niên tiền hôn nhân là những người trong độ tuổi thanh niên theo quy định của luật pháp Việt Nam từ 16 tuổi đến 30 tuổi nhưng chưa kết hôn

1.4.6 Gia đình

- Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam định nghĩa: "Gia đình là một tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các quyền lợi và nghĩa vụ giữa họ với nhau".[19]

- Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới thông qua hôn nhân để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngưỡng Khi gia đình đã có con thì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn nhân vừa bằng quan hệ huyết thống (theo dòng bố hoặc dòng mẹ) Gia đình là một phạm trù lịch sử thay đổi cùng với sự phát triển xã hội Ngày nay, nhiều người cho rằng, nếu về phương diện hôn nhân người ta đi từ quần hôn đến hôn nhân cá thể thì trên lĩnh vực gia đình, loài người đi từ đại gia đình (đại gia đình mẫu hệ, đại gia đình phụ hệ) đến tiểu gia đình Nói chung, người ta quan niệm đại gia đình bao gồm từ ba thế hệ trở lên là một đơn vị kinh tế, là tế bào của xã hội Tiểu gia đình cũng là một đơn vị kinh tế, một tế bào xã hội nhưng chỉ bao gồm bố mẹ và con cái".[24]

Trang 37

- Gia đình là một khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại) Gia đình có thể hiểu như một đơn vị xã hội vi mô, nó chịu sự chi phối của xã hội, song nó có tính độc lập tương đối Nó có tính quy luật phát triển riêng với tư cách là một thiết chế xã hội đặc thù Những thành viên gia đình được gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hoá, tình cảm một cách hợp pháp, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.[25]

1.4.7 Luật Hôn nhân và gia đình

Luật Hôn nhân và gia đình được nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000 Luật Hôn nhân và gia đình quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước

và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam.[19]

Với ý nghĩa là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình là một hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thể chế hoá, điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình - tức là các quan hệ về nhân thân và về tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con và giữa những người thân thích ruột thịt khác trong gia đình

Luật Hôn nhân và gia đình cũng xác định: "Luật Hôn nhân và gia đình có

nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho các ứng xử của thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững"

Trang 38

Chương 2: Thực trạng nhận thức về Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên tiền hôn

nhân

2.1 Nhận thức về Luật Hôn nhân và gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội, mỗi thành viên trong gia đình là một phần

tử làm lành mạnh tế bào ấy Thanh niên - thế hệ trẻ của đất nước, là người chủ tương lai của gia đình và của quốc gia, vì thế họ phải là những người tiên phong trong việc học hỏi, tìm hiểu nắm chắc những quy định có tính luật pháp để xây dựng gia đình trong đó đặc biệt là Luật Hôn nhân và gia đình Đây chính là hành lang pháp lý cho tất cả mọi người, đặc biệt với những thanh niên đang chuẩn bị kết hôn

Làm rõ về hiểu biết của thanh niên trước hôn nhân với Luật Hôn nhân và gia đình, trước tiên cần phải xem xét thanh niên đã hiểu như thế nào về ý nghĩa, tầm quan trọng của luật này Tổng hợp số liệu từ khảo sát cho thấy hầu hết thanh niên đều cho rằng hiểu biết Luật Hôn nhân và gia đình là rất cần thiết Chỉ có một số rất ít cho sự hiểu biết này là không cần thiết (Xem số liệu biểu đồ 1)

Biểu đồ 1: Đánh giá mức độ cần thiết phải hiểu

biết Luật HN&GĐ

Trang 39

Tuy nhiên, nếu so sánh với những chỉ báo về mức chủ động tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên thì giữa nhận thức và hành vi của thanh niên trong tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia đình còn một khoảng cách khá xa Thực tế, thanh niên hiện nay chưa có sự chuẩn bị tích cực để tự trang bị cho mình những kiến thức mà họ cho là rất cần thiết Phải chăng, thanh niên tuy đã ý thức được tầm quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng trong cuộc sống

họ bị cuốn hút vào nhiều công việc đời thường mà chưa có thời gian, điều kiện tìm hiểu một cách sâu sắc về những nội dung của luật? Hơn nữa, việc tuyên truyền quảng bá luật có thể chưa có nhiều hình thức và biện pháp thích hợp nên chưa thực sự cuốn hút đối với giới trẻ? Điều này đặt ra với các nhà quản lý nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến Luật Hôn nhân và gia đình một cách thích hợp hơn Trước hết, cần có chiến lược truyền thông cụ thể nhằm đưa những nội dung của luật tới quần chúng nhân dân, nói chung và tầng lớp thanh niên, nói riêng

Điều đáng quan tâm là, dù số thanh niên được hỏi có tỷ lệ trả lời cao khi đánh giá về sự cần thiết phải biết Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng chủ động, tích cực tìm hiểu thì chưa tốt Hơn nữa, số trả lời Luật Hôn nhân và gia đình là tương đối cần thiết, không cần thiết và không biết có cần không cũng còn tới 22,2% (gần 1/4 số người được hỏi) Điều này cho thấy ý thức của một bộ phận thanh niên với Luật nhất là Luật Hôn nhân và gia đình còn chưa thật cao Lý do

để cắt nghĩa tình trạng này có nhiều Nhưng thói quen tìm hiểu luật, nắm luật, thi hành luật trong cộng đồng dân cư nước ta còn thấp, kể cả với Luật Hôn nhân và gia đình - luật gắn liền với đời sống của mỗi người, mỗi gia đình Phỏng vấn sâu một nữ thanh niên, 27 tuổi, làm nông nghiệp cho thấy rõ điều này: “Tôi thấy ở xã hội mình có mấy ai biết gì về luật pháp đâu Nhiều người từ già tới trẻ đều chưa nắm vững luật, vẫn lấy chồng, lấy vợ và sống yên ấm cả đấy chứ? Tôi nghĩ bần cùng bất đắc dĩ khi có vấn đề giữa vợ và chồng như ly dị hay mẫu thuẫn, tranh chấp thì lúc đó mới cần quan tâm đến luật Biết nhiều chỉ thêm mệt đầu ra có khi biết nhiều quá lại hay vận dụng để cãi nhau, gây mất đoàn kết gia đình không khéo gia đình lại lủng củng ấy”.

Khi được hỏi về thời điểm mà thanh niên cần hiểu biết về Luật Hôn nhân

và gia đình thì có 46,2% ý kiến cho rằng cần hiểu biết Luật Hôn nhân và gia đình khi bước vào tuổi 16; 34,6% cho là cần thiết phải tìm hiểu luật hôn nhân

Trang 40

khi đủ tuổi kết hôn Nhìn chung, thanh niên đã ý thức được việc tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia đình khi họ đã là người trưởng thành, đủ tuổi kết hôn, đủ những tri thức cần thiết để làm chủ gia đình và làm chủ cuộc sống của mình

Bảng 1: Tương quan giữa thời điểm cần thiết hiểu biết Luật Hôn nhân và gia

Khi có quan hệ với bạn khác

giới

5

So sánh tương quan giới tính trong việc trả lời thời điểm thanh niên cần thiết phải hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình, thì thấy, rõ ràng, nữ giới đã có câu trả lời chính xác hơn so với nam giới

Khi bước vào tuổi 16, tuổi phát triển khá đầy đủ về sinh học của mỗi con người Vì thế, ở lứa tuổi này, nhiều thanh niên đã bắt đầu nảy sinh tình cảm khác giới Do vậy, họ cần bắt đầu tìm hiểu về Luật Hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, khi trả lời bước sang tuổi 16 cần có sự hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình không, thì chỉ có 39,3% nam thanh niên đồng tình Trong khi đó có tới 50,7%

nữ giới cho là cần thiết phải tìm hiểu vấn đề này Điều này một lần nữa chứng tỏ

sự phát triển và quan tâm đến hôn nhân, gia đình và Luật Hôn nhân và gia đình, giới nữ sớm hơn và cao hơn ở giới nam

Xét tương quan với độ tuổi thì có 39,3% thanh niên trong độ tuổi từ trên

22 đến 30 được hỏi trả lời, thời điểm cần thiết phải hiểu biết về Luật Hôn nhân

và gia đình là khi đủ tuổi kết hôn; 35,7% cho là khi bước vào tuổi 16 Trong khi

đó thanh niên trong độ tuổi từ 18 đến 22 lại cho rằng thời điểm phù hợp là khi

Ngày đăng: 07/02/2021, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w