Sử dụng hệ thống quan điểm trên để nghiên cứu nguyên nhân xung đột trong gia đình vợ chồng trẻ: - Theo quan điểm lịch sử: - Không tách gia đình với hoàn cảnh kinh tế, văn hoá - xã hội củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Hào Quang
Hà Nội - 2003
Trang 3Mục lục
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
5- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
II- Chương 2: Một số nguyên nhân và các dạng xung đột
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
Trong đời sống xã hội từ xưa đến nay, gia đình có một vị trí vô cùng quan trọng Đối với người Việt Nam, gia đình mang một giá trị cao cả, thiêng liêng Hôn nhân và gia đình luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của nền kinh tế – xã hội Gia đình Việt Nam hiện nay đang phải đương đầu với nhiều thử thách mới khi chuyển từ mô hình gia đình truyền thống sang mô hình gia đình hiện đại Thực tế cho thấy, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng không tương xứng với sự phát triển văn hoá - xã hội đã làm khủng hoảng nhiều hệ thống giá trị tinh thần, đạo đức của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Tỷ lệ ly hôn ở các cặp vợ chồng trẻ đặc biệt ở khu vực thành phố hiện nay đang có xu thế tăng lên, kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực về mặt xã hội Theo số liệu thống kê ngành toà án (1993), tỷ lệ
ly hôn ở thành phố là 3.33% ; tỷ lệ ly thân ở thành phố là 1,77% [7, tr.14] Báo An ninh thủ đô số 379 ra ngày 16 –2-2002 đã thống kê từ tháng 1 đến tháng 10-2001, các toà án quận, huyện trên 61 tỉnh thành trong cả nước đã thụ lý 35.326 vụ án về hôn nhân và gia đình Trong số đó có đến 21.013 vụ
do các nguyên nhân về xung đột trong gia đình, 2092 vụ do nguyên nhân ngoại tình, 8628 vụ ly hôn vì những nguyên nhân khác Như vậy, xung đột trong gia đình là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn Vậy nguồn gốc của các xung đột trong gia đình như thế nào? Những nhân tố nào tác động đến xung đột trong gia đình? Các cặp vợ chồng giải quyết xung đột như thế nào? Nhân tố nào tác động đến cách giải quyết đó? Nghiên cứu nguồn gốc của xung đột gia đình cũng như cách giải quyết xung đột sẽ giúp chúng ta hiểu được độ bền vững của hôn nhân cũng như các nhân tố tác động tới độ bền vững này
- Dưới góc độ Xã hội học, gia đình được coi là một nhóm nhỏ, do vậy sự tương hợp giữa các thành viên trong nhóm là rất cần thiết cho sự tồn tại của nhóm một cách bình thường Sự tương hợp này sẽ tạo ra sự cố kết bên trong nhóm và sự bền vững của nhóm Sự khác biệt quá lớn về động
cơ, mục đích, nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị … giữa các thành viên trong nhóm sẽ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột Gia đình tồn tại và phát triển trên cơ sở các hoạt động chung, các xung đột kéo dài giữa vợ và chồng sẽ
Trang 5ảnh hưởng đến các hoạt động chung và sẽ ảnh hưởng đến sự bền vững của hôn nhân Vì thế, Nghiên cứu nguyên nhân xung đột trong gia đình đang trởthành một vấn đề cấp bách, có ý nghĩa thực tiễn to lớn Về mặt lý luận, trên cơ sở vận dụng các lý thuyết xã hội học về gia đình lý giải các nguyên nhân xung đột trong gia đình vợ chồng trẻ, góp phần làm phong phú thêm các lý thuyết về gia đình Góp phần vào nghiên cứu lý luận, củng cố và bổ sung tri thức cho xã hội học gia đình Về mặt thực tiễn, những kết quả điều tra thực tế của đề tài góp phần bổ sung tư liệu thực tế, làm tài liệu tham khảo và cơ sở cho các nghiên cứu khác…
Vì thế tìm hiểu các nguyên nhân xung đột trong gia đình, tìm biện pháp giải quyết các xung đột đang là một vấn đề đáng quan tâm
Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài này với những lý do sau:
a- Những xung đột gia đình làm cho tỷ lệ ly hôn cao
b- Tầm quan trọng của sự ổn định gia đình trong sự phát triển xã hội nói chung và các thành viên trong gia đình nói riêng
c- Những biến đổi kinh tế – xã hội kéo theo sự thay đổi trong gia đình, lý giải những nguyên nhân xung đột trong quan hệ giữa vợ và chồng dưới góc độ lý luận và thực tiễn đang trở nên rất cần thiết
d- Nghiên cứu nguyên nhân xung đột để tìm hiểu các loại xung đột, các hình thức và sự phát triển xung đột trong giai đoạn hiện nay
2- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :
2.1 Mục đích nghiên cứu:
- Thông qua tác động của các yếu tố Kinh tế, văn hóa chính trị, xã hội để tìm hiểu nguyên nhân xung đột trong gia đình của các cặp vợ chồng trẻ ở Hà Nội hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng xung đột trong các cặp vợ chồng trẻ hiện nay
- Phân tích các nguyên nhân xung đột trong gia đình dưới các góc
độ quan điểm sống, cách ứng xử, đời sống kinh tế của gia đình, sự hoà hợp trong quan hệ tình dục
- Xem xét tác động của các yếu tố kinh tế, văn hoá, chính trị,… tới xung đột và cách thức giải quyết xung đột trong gia đình
Trang 63- Đối tượng, khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Nguyên nhân xung đột trong gia đình vợ chồng trẻ ở Hà Nội
- Khách thể nghiên cứu là các cặp vợ chồng tuổi từ 18-30
- Phạm vi khảo sát: phường Nghĩa tân – Quận Cầu Giấy và phường Cửa Đông – Quận Hoàn Kiếm
4- Giả thuyết nghiên cứu
- Trong nền kinh tế thị trường sự biến đổi các yếu tố kinh tế xã hội làm tăng các xung đột trong gia đình trẻ
- Những xung đột trong quan hệ vợ chồng bắt nguồn từ sự khác biệt về quan điểm sống của hai vợ chồng
- Mối quan hệ giữa vợ chồng với các thành viên khác trong gia đình, họ hàng là một trong những lý do dẫn đến xung đột giữa hai
vợ chồng
- Yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến sự ổn định trong gia đình
- Các cặp vợ chồng có sự khác biệt về trình độ học vấn, nghề nghiệp, lứa tuổi có cách xử lý xung đột khác nhau
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1- Phương pháp luận Mác-xít
Phương pháp luận Mác xít chỉ rõ: “Những nguyên lý cơ bản của lý luận Mác – Lê nin về xã hội là nguyên lý duy vật, nguyên lý phát triển, nguyên lý tính hệ thống, nguyên lý tính phản ánh …” [15, tr.13] Sử dụng
hệ thống quan điểm trên để nghiên cứu nguyên nhân xung đột trong gia đình vợ chồng trẻ:
- Theo quan điểm lịch sử: - Không tách gia đình với hoàn cảnh kinh
tế, văn hoá - xã hội của đất nước trong các giai đoạn lịch sử cũng như hiện nay
- Theo quan điểm hệ thống: Gia đình là tế bào của xã hội, là một bộ phận hợp thành của một chỉnh thể thống nhất bao gồm một hệ thống các yếu tố có liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau Nghiên cứu nguyên nhân
Trang 7xung đột trong gia đình cần phải đặt trong mối tương quan, tác động qua lại qua các yếu tố như: Văn hoá, Chính trị, Kinh tế …
- Theo quan điểm phát triển: Gia đình luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng Theo đó hàng loạt các cơ cấu, chức năng của gia đình cũng như vị thế vai trò của các thành viên trong gia đình cũng không ngừng vận động và biến đổi
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 - Phương pháp phân tích tài liệu
Mục đích cơ bản của phương pháp này là dựa trên cơ sở tổng quan của các nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm làm rõ cơ sở lý luận của đề tài Tham khảo các nguồn tư liệu khác nhau: Những hồ sơ, văn bản, các tài liệu lưu trữ, các nguồn sách báo, tạp chí trong và ngoài nước nhằm bổ sung những tư liệu cho việc điều tra
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp cơ bản,
chủ yếu sử dụng để thu thập thông tin về nhận thức, hành vi của những vợ hoặc chồng có độ tuổi từ 18-30 Bảng hỏi được thiết kế để hỏi chung cho tất cả các đối tượng điều tra trong mẫu chọn
- Nội dung bảng hỏi chia thành các nhóm thông tin chính như sau:
+ Các thông tin về bản thân người được hỏi (Tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp …)
+ Các thông tin về quan điểm lối sống (về các vấn đề sinh con;
Cách thức chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm trên cơ sở đó
có khung mẫu gồm hai cụm là phường Nghĩa Tân – quận Cầu Giấy và
Trang 8phường Cửa Đông – quận Hoàn Kiếm Sau đó lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản với kích thước mẫu là 300, tiếp tục sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng có được cơ cấu mẫu như sau:
Sau khi hoàn thành quá trình khảo sát thực địa, các thông tin định lượng được kiểm tra, mã hoá và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 12.0 Các bảng tần suất (Frequencies) và các bảng tương quan (Crosstabulation) giữa các biến số được sử dụng như là sản phẩm chính trong báo cáo nghiên cứu Những thông tin định tính được lựa chọn, khái quát hoá, trích dẫn nhằm phục vụ theo từng chủ đề của luận văn
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Bổ sung các dữ liệu định tính, nhằm
hiểu sâu hơn về vấn đề nghiên cứu và góp phần lý giải những kết quả định lượng thu được
Phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 nhằm phát hiện vấn đề và xây dung bảng hỏi định lượng Giai đoạn 2: sau khi thu thập và phân tích sơ bộ thông tin thu được, tiến hành phỏng vấn sâu
để lý giải những kết quả định lượng
Đối tượng phỏng vấn sâu:
- 5 nam, 5 nữ cưới năm 2000-2002, tuổi 20-30
Sử dụng chương trình xử lý định tính NVivo để phân tích kết quả nghiên cứu định tính
Nội dung phỏng vấn gồm các thông tin sau:
+ Các thông tin về bản thân người được hỏi (Tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp …)
+ Các thông tin về quan điểm sống (về các vấn đề sinh con; Sử dụng tiền; về vấn đề tình dục …)
150 người ở Nghĩa Tân
Trang 9+ Các thông tin về kinh tế (mức thu nhập; người đóng góp ngân sách, người quản lý tiền )
+ Thông tin về quan hệ họ hàng bên nội, bên ngoại, quan hệ bạn bè
6 – Khung lý thuyết
- Nghiên cứu này xác định biến độc lập là: điều kiện kinh tế – xã hội, chính trị – xã hội, văn hoá - xã hội; các đặc điểm riêng của vợ, chồng và biến phụ thuộc là những xung đột trong gia đình các cặp vợ chồng trẻ Sự tác động của các biến này thông qua các biến trung gian là nhận thức của
- Chính trị
Trang 10PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI I- Cơ sở lý luận:
1- Lý thuyết:
- Lý thuyết xung đột:
Các nhà lý thuyết xung đột cũng đặt trọng tâm nghiên cứu về cấu trúc và thể chế xã hội Những quan điểm của họ về vấn đề này lại đối lập với các nhà chức năng luận Chẳng hạn, nếu như các nhà chức năng luận xem xã
hội là một trạng thái tĩnh hoặc có quan điểm xem xã hội là trạng thái
chuyển động thăng bằng, thì các nhà xung đột lại cho rằng xã hội trong mọi thời điểm đều hướng tới quá trình biến đổi Các nhà xung đột nhìn
nhận thấy sự bất đồng và xung đột ở bất kỳ một thời điểm nào trong hệ thống xã hội thì các nhà chức năng lại đề cao tính trật tự của xã hội Xu hướng của các nhà chức năng coi xã hội được duy trì và liên kết nhờ các giá trị và nền tảng đạo đức chung, còn các nhà xung đột luôn chỉ ra tính trật
tự của xã hội là sự áp bức của một số người có vị trí ở trên cùng Hay nói
cách khác, các nhà chức năng nhấn mạnh tới vai trò của giá trị trong sự cố kết xã hội thì các nhà xung đột lại nhấn mạnh vai trò của quyền lực trong
việc duy trì trật tự xã hội
Khái quát về lý thuyết xung đột theo xã hội học
Có thể tóm tắt các luận điểm của lý thuyết này được phổ biến rộng rãi như sau: Các chức năng và các hành động xã hội góp phần vào sự phát triển của tập đoàn và của xã hội, chúng hoà hợp với nhau, hoặc một cách tự phát, hoặc do ý chí của quyền lực xã hội Nhưng trong nhiều trường hợp, chúng cũng xung đột với nhau Thậm chí người ta có thể nói rằng , nếu hiểu xung đột theo nghĩa rộng nhất của nó, thì xung đột là một trong những mặt thường xuyên của cuộc sống con người Nó tồn tại ở tất cả các trình độ trong gia đình, tập đoàn (tộc người, tầng lớp, giai cấp), xã hội - chính trị, cộng đồng thế giới
- Sự xung đột qui định cả một loạt những hành động đặc thù nhằm giải quyết nó, và đi từ sự thảo luận để sửa lại sự vật cho đúng và tìm kiếm một miếng đất thoả hiệp cho cuộc đấu tranh và cho chiến tranh Sự giải
Trang 11quyết nó đem lại những kết quả khác nhau, trong đấy, có khả năng lập một hay nhiều tập đoàn có thể biến mất Nhưng nó luôn luôn dẫn đến một sự phân phối lại, ít nhiều quan trọng các vai trò xã hội, xuất phát từ đấy mà tạo nên một sự thống nhất mới Người ta phân biệt hai kiểu xung đột lớn: những xung đột làm nguy hại cho sự tồn tại của tập đoàn và những xung đột xét cho cùng chỉ là biểu hiện sức sống của tập đoàn đó Tuy nhiên, một
sự tích luỹ quá lớn những xung đột nhỏ có thể đưa đến một sự thay đổi về chất, được thể hiện thành một cuộc xung đột lớn và không sao có thể hàn gắn được Tiêu chuẩn nặng hay nhẹ của một cuộc xung đột chính yếu không gây nên sự đoạn tuyệt của những mối liên hệ xã hội, mà chỉ xác nhận sự đoạn tuyệt ấy Sự đoạn tuyệt đã có trong thực tế và tập đoàn chỉ tiếp tục sống về bên ngoài
- Nguồn gốc của những xung đột thật khác nhau, tuỳ theo sự khác nhau của bản thân những cuộc xung đột Nhưng mọi cuộc xung đột đều được giải thích bởi sự kiện là những hành động xã hội và mục đích mà chúng tìm kiếm tất yếu sẽ gặp nhau, đúng như là tự do của mỗi người gặp
gỡ tự do của người khác Việc gặp gỡ này là một sự hạn chế lẫn nhau Nếu
nó được thừa nhận và chấp nhận ngay tức khắc, thì tình hình xung đột không nảy sinh Trong trường hợp ngược lại, sự xung đột không thể tránh khỏi Tóm lại, nguồn gốc của những sự xung đột là ở trong vô số những quyền lợi xã hội đặc thù Nếu nhiều cuộc xung đột không nảy sinh, đó là vì
xã hội, bằng các quyền lực và các luật lệ của nó, đã qui định từ trước những giới hạn mà mọi người đều biết và được chấp nhận như qui luật của trò chơi Một số những xung đột rất hiện thực và được thể hiện thành một cuộc thử sức mạnh, cũng diễn ra trong khuôn khổ của xã hội, điều này cũng duy trì chúng trong một giới hạn nào đó Người ta cũng nhận thấy rằng những cuộc thử sức (và cả chiến tranh nữa) đều không xoá bỏ sự thảo luận, bàn bạc: các bên hữu quan của xung đột vẫn tiếp tục, nếu không phải là điều đình thì ít ra cũng là thảo luận, và thường là thảo luận kín
- Người ta muốn coi ganh đua như là một xung đột Thực tế, nó là hình thức bình thường của những cuộc xung đột bình thường của một xã hội Đôi khi, người ta đề nghị những người ganh đua hãy tỏ ra "hiếu chiến"
Và giống như những cuộc xung đột nghiêm trọng hơn, việc ganh đua, dẫn
Trang 12đến sự loại bỏ một đối thủ Thêm nữa, ganh đua và xung đột không phải là
vô chính phủ; chúng cũng có qui tắc mà trong cả hai trường hợp, đôi khi cũng bị vi phạm Cuối cùng, việc loại bỏ đối phương không bao giờ là vĩnh viễn Trong một cuộc ganh đua, đối thủ này trỗi dậy, thay đổi và tiếp tục cuộc đấu tranh lại tiếp tục Trong một cuộc xung đột xã hội,, đối thủ thua không bao giờ thừa nhận hoàn toàn sự thất bại của họ Vì thế, thường thường những sự xung đột lại là nguồn gốc đẻ ra những sự xung đột
- Sự xung đột có thể là ở bên trong tập đoàn hoặc giữa tập đoàn này với một tập đoàn khác Trong trường hợp sau, sự đe doạ xung đột, là một yếu tố làm cho tập đoàn có liên quan cấu kết lại với nhau, và chính quyền
có thể viện ra sự đe doạ ấy, dù nó là hoang đường, vì mục đích đoàn kết nói trên Thực vậy, trước sự đe doạ này, các quyền lợi đang xung đột hoặc ganh đua với nhau có thể dễ dàng tự hạn chế lại để đương đầu với tình hình: sự tồn tại của tập đoàn, là một điều kiện cơ bản cho sự sống còn của
họ
Nhận xét này, dẫn đến một nhận định quan trọng Các xã hội năng động và đang phát triển được đặc trưng bởi một tinh thần đấu tranh rất rõ rệt trong nội bộ của nó cũng như đối với bên ngoài Một xã hội mất tinh thần ấy, một xã hội không biết đến sự xung đột căng thẳng, hoặc che giấu chúng và không dám đương đầu với chúng, sẽ nhanh chóng rơi vào trạng thái hôn mê Đó là một trong những chân lý lớn mà chủ nghĩa Mác đã làm sáng tỏ, đó là chân lý cho rằng xung đột, đấu tranh là những yếu tố bên trong của sự phát triển xã hội…
Thực vậy, những sự va chạm về quyền lợi luôn luôn đặt thành vấn
đề, những vấn đề công lý: con người và các xã hội xung đột với nhau vì công lý và xung quanh công lý Và những vấn đề công lý này còn bắt nguồn từ sự kiện là những quan niệm về công lý là khác nhau, chúng tiến triển, chúng chú ý đến những hoàn cảnh và đến sự đổi mới của hoàn cảnh
đó
Trên cơ sở lý thuyết xung đột, đề tài đã tập trung phân tích ảnh hưởng của các nhân tố hành động xã hội tới sự hình thành và phát triển các dạng xung đột trong gia đình vợ chồng trẻ
Trang 132 Khái niệm:
2.1 Khái niệm chung về xung đột: Thuật ngữ xung đột được hiểu như là
sự va chạm, sự đụng độ, sự xô xát, chống đối giữa những khuynh hướng đối lập nhau, không tương hợp nhau trong ý thức của một cá nhân riêng biệt, trong sự tác động qua lại liên nhân cách của các cá thể hay của các nhóm người, gắn liền với những thể nghiệm xúc cảm tiêu cực, gay gắt Xung đột xã hội là những tranh chấp giữa hai hoặc nhiều cá nhân hay nhóm Nguyên nhân mâu thuẫn có thể là những vấn đề khác nhau trong đời sống xã hội Chẳng hạn, xung đột về vật chất, về các giá trị và cá phương châm sống, về quyền lực, về những khác biệt địa vị – vai trò của cơ cấu xã hội, về những khác biệt cá nhân Như vậy, xung đột bao trùm lên tất cả mọi phạm vi hoạt động sống của con người, toàn bộ mọi quan hệ xã hội, sự
tương tác xã hội Xung đột thực chất là một trong số những kiểu tác động
xã hội mà chủ thể và người tham gia trong đó là các cá thể đơn lẻ, các tập đoàn, các tổ chức xã hội.[24, tr.252]
Tuy nhiên, sự tương tác xung đột tạo ra sự đối đầu giữa các bên, tức là hành động nhằm chống đối nhau
Cơ sở của xung đột là những mâu thuẫn chủ quan - khách quan, xung đột
xã hội đó là sự đối đầu công khai, là mâu thuẫn giữa hai hoặc nhiều hơn nữa chủ thể và người tham gia vào tương tác xã hội mà nguyên nhân là sự bất đồng về nhu cầu, lợi ích và giá trị
- Các chủ thể tham gia vào xung đột: Người tham gia xung đột có thể tự
giác và không hoàn toàn ý thức được mục đích và nhiệm vụ đối kháng tham gia vào xung đột và cũng có thể ngẫu nhiên hoặc bất chấp ý chí và bị cuốn hút vào xung đột Vì vậy, chủ thể xung đột khi tham gia đối đầu tự giác theo đuổi và bảo vệ mục đích và lợi ích của mình
Khách thể của xung đột
Một trong những yếu tố nhất định phải có của xung đột là khách thể,
mà có nó mới hình thành xung đột Khách thể, đó là nguyên nhân, động cơ, động lực cụ thể của xung đột Tất cả mọi khách thể được phân ra ba dạng
cơ bản: 1 Các khách thể mà chúng không thể phân thành các phần và không hợp sức cùng ai chế ngự chúng 2 Các khách thể mà chúng có thể
Trang 14phân theo những tỷ lệ thức khác nhau giữa những người tham gia xung đột…3 Các khách thể mà cả hai người tham gia xung đột có thể hợp sức chế ngự chúng, đây là tình thế "xung đột ảo"
Các hình thức xung đột
Trong giới nghiên cứu xã hội học, không quan điểm thống nhất về vấn đề phân loại xung đột xã hội Tuy nhiên, quan điểm của V.I Szepaskij [24, tr.252], được nhiều nhất các nhà lý thuyết xã hội quan tâm, vì ông đề xuất việc định ra cơ sở để phân loại Chẳng hạn, nếu lấy đặc thù của các bên làm cơ sở thì có thể tách ra xung đột cá nhân, xung đột giữa cá nhân và tập đoàn, xung đột bên trong tập đoàn, xung đột giữa các cộng đồng xã hội nhỏ và lớn, xung đột giữa các sắc tộc và giữa các quốc gia Nếu lấy các phạm vi đời sống xã hội, mà trong đó bộc lộ xung đột làm cơ sở để phân loại thì có thể nói về xung đột chính trị, kinh tế, hệ tư tưởng, xã hội, pháp
lý, đời sống gia đình, văn hoá xã hội v.v…
Tuỳ thuộc vào nguyên nhân xung đột, các nhà lý thuyết xã hội học tách ra ba cụm xung đột xã hội: 1 Xung đột về việc phân chia quyền lực
và vị trí quyền lực hiện có trong thứ bậc các cấu trúc quyền lực và quản lý
2 Xung đột về vật chất 3 Xung đột về các giá trị, các phương châm sống
cơ bản
NHỮNG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA XUNG ĐỘT
Trong xung đột xã hội thường phân ra bốn giai đoạn phát triển: giai đoạn tiền xung đột, giai đoạn phát triển xung đột, giai đoạn giải quyết xung đột và giai đoạn hậu xung đột
Giai đoạn tiền xung đột
Đi trước xung đột là tình thế tiền xung đột Đây là bước gia tăng căng thẳng trong quan hệ giữa các chủ thể tiềm tàng của xung đột xuất phát
từ những mâu thuẫn được khẳng định Nhưng các mâu thuẫn như đã nói ở
trên, không phải bao giờ cũng kéo theo xung đột Chỉ những mâu thuẫn nào được các chủ thể tiềm tàng của xung đột nhận thức là những mặt đối lập xung khắc nhau về lợi ích, mục đích, giá trị v.v…, mới dẫn tới chỗ căng thẳng xã hội gay gắt và xung đột
Trang 15Căng thẳng xã hội không phải bao giờ cũng là điều báo trước xung đột Đây là hiện tượng xã hội phức tạp mà nguyên nhân phát sinh có thể hết sức khác nhau Chúng ta sẽ điểm tên một số nguyên nhân làm gia tăng căng thẳng xã hội:
- "Những tổn thương" thực sự về lợi ích, nhu cầu và giá trị của mọi người
- Nhận thức không đúng về những thay đổi đang xảy ra trong xã hội hoặc trong một số cộng đồng xã hội
- Thông tin sai hoặc bị bóp méo về các sự kiện, biến số này hay khác (thực hoặc ảo…)
Căng thẳng xã hội thực chất là trạng thái tinh thần của mọi người và đến trước khi bắt đầu xung đột Căng thẳng xã hội, biểu hiện tiêu biểu nhất trong thời kỳ này là những tình cảm tập đoàn Vậy mức độ nhất định trong căng thẳng xã hội đang vận hành tối ưu là điều hoàn toàn tự nhiên, như thế
là phản ứng tự vệ và thích ứng của một cơ thể xã hội Tuy nhiên vượt qua mức căng thẳng xã hội "nhất định" có thể dẫn tới xung đột
Trong đời sống hiện thực, các nguyên nhân phát sinh căng thẳng xã hội có thể nguyên nhân này "chồng lên" nguyên nhân kia, hoặc nguyên nhân này bị thay thế bằng nguyên nhân kia Ví dụ, thái độ tiêu cực đối với thị trường ở một số bộ phận công dân Nga, trước hết là do những khó khăn kinh tế nhưng thường thường nó được bộc lộ ra như thế là định hướng giá trị Và ngược lại, các định hướng giá trị thông thường được biện giải bằng các nguyên nhân kinh tế
Thái độ "không vừa lòng" cũng là một trong số những khái niệm
then chốt trong xung đột xã hội Sự tích luỹ thái độ không vừa lòng về sự thể hoặc tiến trình phát triển các sự kiện hiện có sẽ dẫn tới chỗ gia tăng căng thẳng xã hội Lúc này xảy ra sự chuyển hoá thái độ không vừa lòng từ chủ quan - khách quan sang chủ quan - chủ quan Thực chất sự "chuyển hoá" này là ở chỗ chủ thể tiềm tàng của xung đột do bất mãn với sự thể tồn tại một cách khách quan nên phơi bày ra (nhân cách hoá) những người khởi xướng thực và dự định của thái độ không vừa lòng, đồng thời xảy ra việc
Trang 16chủ thể (các chủ thể) của xung đột nhận thức được là không giải quyết tình thế xung đột đã hình thành bằng các phương pháp tương tác thông thường
Giai đoạn tiền xung đột có thể ước định phân chia thành ba kỳ phát triển mà tiêu biểu với chúng có các đặc điểm dưới đây trong mối quan hệ qua lại giữa các bên:
Phát sinh mâu thuẫn về khách thể tranh chấp nào đó; gia tăng thái
độ không tin cậy và căng thẳng xã hội; đưa ra các yêu sách đơn phương hoặc cho nhau; giảm tiếp xúc và sự tích tụ sự oán giận
Cố gắng chứng minh tính đúng đắn trong những yêu sách của mình
và buộc tội đối thủ không muốn giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng những biện pháp "công bằng"; thu mình trong những khuôn mẫu của riêng mình; xuất hiện thái độ định kiến và hằn học trong tình cảm;
Phá bỏ các cơ cấu tương tác; chuyển từ những lời buộc tội lẫn nhau sang đe doạ; tăng cường gây sự; tạo ra hình ảnh "kẻ thù" và chuẩn bị tranh chấp
Như vậy, tình thế xung đột dần dần chuyển thành xung đột công khai Nhưng tự bản thân tình thế xung đột có thể tồn tại một thời gian dài vì không chuyển thành xung đột Để xung đột trở thành thực tế cần đến sự phức tạp, rắc rối
Rắc rối là cái cơ bên ngoài để khởi sự cuộc đụng độ trực tiếp giữa
các bên Chẳng hạn, vụ giết thái tử của vua Áo - Hung Franc Ferdinand và
vợ ông ta do nhóm khủng bố Bsnigia thực hiện ngày 28 tháng 6 năm 1914
ở thành phố Saraevo, trở thành cái bên ngoài để bắt đầu thế chiến I Mặc dù khách quan mà nói tình trạng căng thẳng giữa khối Đồng minh và khối quân sự Đức đã có từ nhiều năm
Rắc rối có thể xảy ra ngẫu nhiên và cũng có thể gây nên bởi chủ thể (các chủ thể) xung đột Rắc rối còn có thể là kết quả của tiến trình phát triển tự nhiên của các sự kiện Thông thường, "thế lực thứ ba" nào đó theo đuổi lợi ích của mình trong cuộc xung đột do "người khác" tạo ra làm công việc chuẩn bị và khiêu khích rắc rối
Trang 17Các tác giả cuốn sách "Hãy chú ý: xung đột!", F.M.Borodkin và N.M.Korjak phân ra bốn kiểu tình thế xung đột và bốn kiểu rắc rối theo đặc tính phát sinh của chúng:
- Khách quan có mục đích (ví dụ, áp dụng các hình thức dạy và học mới, do đó phát sinh sự cần thiết phải thay đổi cơ cấu giảng dạy và thay thế đội ngũ giảng viên);
- Khách quan phi mục đích (tiến trình phát triển tự nhiên của nền sản xuất đưa tới mâu thuẫn với các tổ chức lao động hiện có);
- Chủ quan có mục đích (người ta đến với xung đột nhằm giải quyết những vấn đề của mình);
- Lợi ích chủ quan phi mục đích của hai hay vài bên (bất ngờ bị đụng độ), có một phiếu đi an dưỡng nhưng lại có một số người muốn đi9
Rắc rối đánh dấu xung đột chuyển hoá sang phẩm chất mới Ở tình thế này, có thể có bản dị bản chính hành vi của các bên xung đột
Các bên (hay một bên) gắng sức dàn xếp những mâu thuẫn nảy sinh và tìm ra sự nhượng bộ;
Một trong số các bên làm ra vẻ "chẳng có gì ghê gớm cả" (để tránh xung đột);
Rắc rối trở thành tín hiệu khởi sự cho cuộc đối đầu công khai Việc lựa chọn dị bản này hay khác, phần nhiều phụ thuộc vào chủ trương xung đột (các mục tiêu, hi vọng, định hướng tình cảm) của các bên
Giai đoạn phát triển xung đột
Bước khởi sự cuộc đối đầu công khai giữa các bên là kết quả của hành vi xung đột được hiểu là những hành động nhằm vào bên đối địch nhằm định đoạt, kìm chế khách thể tranh chấp hoặc buộc người phản thiện
từ bỏ các mục tiêu của mình hoặc thay đổi chúng Các nhà lý thuyết về xung đột phân ra một số hình thức hành vi xung đột:
- Hành vi xung đột chủ động (thách thức);
- Hành vi xung đột bị động (đáp trả thách thức);
- Hành vi xung đột nhượng bộ
Trang 18Tuỳ thuộc vào chủ trương xung đột và hình thức hành vi xung đột của các bên, xung đột sẽ có lôgíc phát triển riêng của nó Xung đột bị mở rộng, có xu thế tạo nên những lý do bổ sung để xung đột trầm trọng thêm
và gia tăng Mỗi "nạn nhân" mới đều trở thành "lời biện hộ" cho cuộc xung đột leo thang "Và nếu như xung đột chẳng bị cái gì ngăn trở, thì nó dường như bắt đầu tự dung dưỡng mình, để ra ngày các lý do mới để tiếp tục phát triển Vì thế, ở chừng mực nhất định, mỗi cuộc xung đột đều có đặc trưng độc nhất vô nhị
Có thể tách ra ba giai đoạn cơ bản trong bước phát triển xung đột ở giai đoạn thứ hai của nó: 1 Xung đột chuyển từ trạng thái tĩnh tại sang đối đầu công khai giữa các bên Cuộc tranh chấp nổ ra đến lúc này mới chủ dùng đến các nguồn lực hạn chế và mang tính chất cục bộ Đây là sự thử sức đầu tiên, ở kỳ này vẫn còn nhiều khả năng thực thế đẻ chấm dứt cuộc tranh chấp công khai và giải quyết xung đột bằng các biện pháp khác 2 Tiếp tục leo thang đối đầu Để đạt được các mục tiêu của mình và phong toả hành động của đối thủ, các bên sử dụng tất cả nguồn lực ngày càng mới Hầu như mọi khả năng tìm ra sự nhượng bộ đều bị bỏ lỡ Xung đột trở lên ngày càng không thể kiểm soát và không thể dự đoán 3 Xung đột đạt tới đỉnh điểm và mang hình thức chiến tranh tổng lực, áp dụng tất cả mọi lực lượng và phương tiện có thể có Ở kỳ này, các bên xung đột dường như quên đi các nguyên nhân và mục đích thực của xung đột Gây tổn thất tối
đa cho đối thủ đã trở thành mục tiêu chủ yếu
Đề tài này dựa vào dạng xung đột thứ 3 “ Xung đột về các giá trị, các phương châm sống cơ bản.” để tìm hiểu về các dạng nguyên nhân dẫn tới các quá trình xung đột trong đời sống vợ chồng trẻ
Trong nghiên cứu này chúng tôi xem xét các dạng xung đột biểu hiện dưới các hình thức : (Tranh luận, mắng chửi, chiến tranh lạnh, đánh đập, bỏ nhà đi, cấm đoán làm một việc gì đó và doạ ly hôn)
2.2 Gia đình – Gia đình trẻ: Gia đình là một phạm trù xuất hiện rất sớm
trong lịch sử xã hội loài người và không ngừng biến đổi cùng với những bước tiến của nền văn minh nhân loại Lịch sử loài người đã trải qua nhiều dạng gia đình khác nhau Ph.Ăng-ghen đã khái quát lại rằng “Có 3 hình thức hôn nhân chính, tương ứng về đại thể với 3 giai đoạn phát triển chính
Trang 19của nhân loại Ở thời đại mông muội, có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man có chế độ hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh có chế độ hôn nhân một vợ một chồng”
Có thể nói, hình thức gia đình biến thiên theo lịch sử và khác nhau ở các xã hội khác nhau Thế nhưng trong nhiều năm, các nhà xã hội học đã sử dụng định nghĩa hạn chế của George Murdock về gia đình như là một chuẩn mực Murdock định nghĩa gia đình là “một nhóm xã hội được xác định bởi một nơi trú ngụ chung, sự cộng tác và tái sản xuất về kinh tế (bao gồm):
những người trưởng thành của cả hai giới, trong đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tình dục được xã hội công nhận, và một hoặc nhiều đứa trẻ, là con đẻ hay con nuôi, của những người trưởng thành có quan hệ như
Theo Hình (1) thì gia đình trẻ nằm ở các giai đoạn 1 và 2
M.C Matxcôpski định nghĩa gia đình trẻ là gia đình mà cả hai vợ chồng ở tuổi thanh niên, mới kết hôn lần đầu
Gia đình được coi là gia đình trẻ nếu nó đảm bảo những tiêu chí sau:
- Cả hai vợ chồng chưa quá 30 tuổi
- Vợ chồng đã có 1-2 con hoặc chưa có con
- Thời gian chung sống chưa quá 5 năm
Khái niệm gia đình trẻ phản ánh những đặc trưng xã hội như tuổi trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm trong đời sống gia đình
Trang 20HÌNH 1: CHU KỲ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH [19, Tr.55]
Giai đoạn xã hội hoá Làm ông
làm bà Giai đoạn
sinh sản
- Cơ cấu gia đình: Cơ cấu là các yếu tố và các mối quan hệ gắn bó
với nhau hợp thành hệ thống Gia đình là một tiểu hệ thống, vì vậy gia đình cũng có cơ cấu của nó Cơ cấu gia đình gồm 4 loại đáng chú ý nhất đó là :
Cơ cấu tổ chức, cơ cấu quyền uy, cơ cấu giao tiếp, cơ cấu vai trò
- Cơ cấu tổ chức: Cho biết kiểu gia đình được hình thành (gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng…), số lượng các thành viên, tình trạng hôn nhân, các thế hệ cùng chung sống
- Cơ cấu quyền uy: Cho biết người quyền lực quyết định trong gia đình thuộc về thành viên nào Từ đó thấy được gia đình gia trưởng hay gia đình dân chủ
- Cơ cấu giao tiếp: Cơ cấu giao tiếp phản ánh trình độ văn hoá và mức độ giao tiếp của các thành viên gia đình; phản ánh trình độ văn hoá và mức độ giao tiếp của các thành viên và sự bền vững của hôn nhân gia đình
- Cơ cấu vai trò: phản ánh vị thế và quan hệ tương tác giữa các thành viên trong gia đình Các yếu tố pháp lý qui định liên quan đến gia đình được xã hội thừa nhận Cơ cấu vai trò thể hiện ở vai trò của các thành viên trong gia đình và xã hội
Sinh con thứ nhất
Sinh con tiếp theo
1 trong những đứa con kết hôn sinh cháu thứ nhất
Tan rã gia đình (chết một hoặc
cả hai vợ chồng)
Kết hôn
Thời gian hôn nhân
Trang 212.3- Hôn nhân: Gia đình hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan
hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó Khái niệm hôn nhân hẹp hơn khái niệm gia đình, nó chỉ sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn
bà, là quan hệ tính giao tình cảm giữa nam và nữ, được xã hội phê chuẩn dưới nhiều hình thức khác nhau Theo quan điểm hiện đại, hôn nhân là sự kết hợp tự nguyện, bình đẳng tự do trên cơ sở tình yêu và được pháp luật công nhận
2.4 Quan hệ vợ chồng: là một dạng quan hệ xã hội, một sự kết hợp độc
đáo giữa hai cá nhân, tạo thành một nhóm nhỏ xã hội Nhóm nhỏ này chịu
sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế – xã hội – chính trị và văn hoá Quan hệ vợ chồng được tạo lập bởi hai cá nhân khác giới, hai chủ thể riêng biệt với những vai trò và trách nhiệm riêng của từng cá nhân Quan
hệ vợ chồng được thể hiện bằng sự tác động qua lại giữa hai thành viên và
sẽ tan vỡ khi nào sự tác động qua lại đó chấm dứt Quan hệ này thể hiện tính đa chức năng; những chức năng có thể bổ sung hoặc mâu thuẫn với nhau, tuỳ thuộc vào quan niệm và điều kiện sống của đôi vợ chồng
Nói đến quan hệ vợ chồng, người ta thường nói đến sự hoà hợp về các mặt như sự tương đồng tâm lý, tương đồng về các quan hệ xã hội, tương đồng
về tình dục … Tuy nhiên, trên thực tế hầu như không có những cặp vợ chồng hoà hợp với nhau về tất cả các mặt trên Vì vậy, việc xem xét mối quan hệ giữa vợ và chồng sẽ làm sáng tỏ được những nguyên nhân xung đột nội tại trong gia đình
Có thể nói Quan hệ vợ chồng là quan hệ trực tiếp giữa hai người nam và nữ được pháp luật thừa nhận, nó có tính ổn định tương đối, là quan hệ chủ đạo trong gia đình, nhằm mục đích thoả mãn các nhu cầu khác nhau trong gia đình, thực hiện các chức năng của gia đình trong những điều kiện lịch sử -
xã hội cụ thể
II- Cơ sở thực tiễn:
Trang 221 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong bài viết “Hoà giải ở nông thôn miền bắc Việt Nam” (2001) do tác giả Bùi Quang Dũng thực hiện cho rằng mâu thuẫn và hoà giải trong bối cảnh Việt Nam hiện nay chỉ có các nhà dân tộc học quan tâm đến chủ
đề này, và chủ yếu đề cập đến xã hội truyền thống trước năm 1954 mặc dù nhiều tác giả nước ngoài đã viết về chủ đề này và đa số nói về xã hội nông thôn (Robert Samson 1967, James Scott 1976, Samuel Popkin 1979 )
PGS TS – Lê Thị Quý đã xem xét các vấn đề xung đột trong gia đình dưới các hình thức bạo lực trong gia đình, chia bạo lực trong gia đình thành hai dạng: bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được Bạo lực không nhìn thấy được là sự phân công lao động bất hợp lý giữa nam và nữ Trong xã hội, phụ nữ làm việc như nam giới, về nhà lại làm việc nội trợ dẫn đến xung đột do làm việc quá sức, không có thời gian nghỉ ngơi và không có thời gian học tập để nâng cao trình độ Nó không nhìn thấy được vì quan niệm của xã hội cho rằng nội trợ là thiên chức của phụ
nữ Bạo lực nhìn thấy được là kết quả tiêu cực của xung đột thể hiện ra các hành vi như là đánh vợ, bạo lực tâm lý, bạo lực tình dục Hình thức này thì
Trên cơ sở xem xét hiện tượng xung đột vợ chồng trong gia đình mà hai người đều là công chức, đặt vào bối cảnh của hệ thống phát triển giới trong xã hội Trung Quốc để tìm hiểu căn nguyên và thực chất của vấn đề xung đột vợ chồng thì Phan Thanh Nội (1999) cho rằng xung đột vợ chồng
là hiện tượng tất nhiên trong quá trình thay đổi mô hình phân công lao động theo giới trong gia đình mặc dù tác giả không phủ nhận các yếu tố khác như cá tính không hòa hợp, tập quán không giống nhau giữa vợ chồng ảnh hưởng đến quan hệ hôn nhân, mà muốn nhấn mạnh quan hệ về giới không
Trang 23bình đẳng trong gia đình cũng là một nhân tố quan trọng dẫn đến xung đột hôn nhân và là điểm không thể xem thường
Vấn đề được đề cập tới là sự biến đổi mô hình phân công giới trong gia đình vợ chồng công chức Trung Quốc trong bối cảnh xã hội đang đề xướng “nam nữ bình đẳng” Tư tưởng “nam chủ ngoại, nữ chủ nội” và tư tưởng “ trọng nam khinh nữ” theo truyền thống hiện vẫn đang tồn tại trong gia đình và xã hội Trung Quốc Họ cho rằng cần phải nhấn mạnh quan niệm truyền thống nam quyền “chưa thay đổi” nhưng khi nghiên cứu hiện tượng xung đột vợ chồng trong gia đình cả hai là công chức ở Trung Quốc
mà chỉ phát hiện cái “chưa thay đổi” là không đầy đủ, hơn thế nữa cần phải tìm ra được cái gì “đã thay đổi”, đó là quan niệm truyền thống “nam quyền” ít nhiều đã thay đổi, không còn hiện diện nhiều trong tâm trí của họ trong xã hội hiện nay, bởi vì nếu như chỉ chú ý đến các thực tế “chưa thay đổi” thì không thể giải thích đầy đủ mối liên hệ giữa xung đột vợ chồng ngày càng phức tạp với sự phân công theo giới bất bình đẳng, hay nói cách khác là nếu hình thức phân công lao động ban đầu (không bình đẳng) không chịu sự “tấn công” nào và cũng không sinh ra biến đổi nào cả, thì việc dẫn đến xung đột vợ chồng chỉ là một khả năng Sự va chạm giữa
“biến mất“ và “biến đổi” chỉ có khi mà trên cơ sở của ý thức đối với
“không bình đẳng” và cảm thấy không công bằng mà hai vợ chồng không thể hoà hợp lập trường thì việc phát sinh xung đột mới có khả năng
“ Điều tra tâm lý xã hội học về vai trò vợ chồng và cơ cấu gia đình”
do Hubert Touzard thực hiện là cuốn sách giới thiệu trọn vẹn một công trình nghiên cứu xã hội học về gia đình Pháp (Đặng Thanh Trúc, 1989) Tác giả đã dành một số trang nhất định để phân tích về vấn đề mâu thuẫn trong nhóm vợ chồng Ông chỉ ra rằng có hai loại mâu thuẫn về vai trò: giữa các cá nhân và trong từng cá nhân Mâu thuẫn trong một cá nhân sinh
ra khi người vợ (chồng) phải thực hiện cùng một lúc những vai trò khác nhau, còn mâu thuẫn giữa các cá nhân nảy sinh khi người vợ hoặc người chồng thấy thất vọng trong sự chờ đợi vào việc thực hiện những vai trò không được lựa chọn của người kia
Xung khắc xuất hiện thì hoà giải được đặt ra và chính sự bổ sung của vai trò hoà giải là biện pháp làm cân bằng tạm thời mâu thuẫn Những mâu
Trang 24thuẫn về văn hoá cũng được Touzard bàn đến, chủ yếu là xung khắc trong văn hoá gia đình được biểu hiện ra trong các bữa ăn, cách cho con ngủ, những đêm dạ hội, ngày tết gia đình và trong những thói quen trong cách sống chung, cách cảm thụ những giá trị Đôi vợ chồng có thể xung khắc nhau trong lĩnh vực này khi nền văn hoá gia đình của họ có những nét rất khác nhau Muốn giải quyết mâu thuẫn gia đình, tốt hơn hết là nên có một bầu không khí dân chủ cho phép có những cuộc bàn luận giữa hai vợ chồng
để đi đến hoà giải
Kế thừa các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này tập trung xem xét nguyên nhân xung đột gia đình trẻ dưới các tác động của các nhân tố kinh
tế, xã hội, văn hoá xã hội
2.2- Sơ lược địa bàn và mẫu nghiên cứu
2.2.1 – Sơ lược về thành phố Hà Nội
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, là Thủ đô của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giới hạn trong khoảng từ 200
53' đến 21023' vĩ độ Bắc, 1050
44' đến 1060 02' kinh độ đông, tiếp giáp với 5 tỉnh: Bắc Thái ở phía bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía đông, Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía nam và phía tây Hà Nội có diện tích tự nhiên 918,1 km2, khoảng cách dài nhất từ phía bắc xuống phía nam là trên 50 km và chỗ rộng nhất từ tây sang đông 30 km Điểm cao nhất là núi Chân Chim: 462 m (huyện Sóc Sơn); nơi thấp nhất thuộc xã Gia Thuỵ (huyện Gia Lâm) 12 m
so với mặt nước biển Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú và nổi tiếng từ lâu đời Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước
Theo tổng điều tra dân số đến 1/9 năm 2001 Hà Nội có 2.931.400 người trong đó dân số thành thị là 1.659,000 (chiếm 56,6% ) dân số nông thôn là 1,272,400 (chiếm 43,4%); Dân số Nam là 1,466,500 (chiếm 50%); Dân số Nữ là 1,464,900 (chiếm 50%) [25] Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1.08% Hà Nội có mật độ dân số cao nhất khu vực các tỉnh phía Bắc, đứng thứ hai so với cả nước, sau Thành phố Hồ Chí Minh Năm 1990 mật độ dân
Trang 25số là 2.223 người/km2, năm 2002 là 3000 người /Km2 Mật độ khu vực nội thành có tỷ lệ đặc biệt cao là 18.246 người /km2
Năm 1990 toàn thành phố chỉ có 220 xã, phường với 4 quận là Ba Đình; Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa Từ năm 1995 đến nay Hà Nội thành lập thêm 5 quận mới là: Hoàng Mai, Cầu Giấy, Tây Hồ, Long Biên, Thanh Xuân, nâng tổng số quận nội thành lên 9 quận, với 5 Huyện
Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn
Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá nhanh cùng với sự phát triển mạnh về Kinh tế- Xã Hội, do đó sức hút của các luồng di dân từ các tỉnh trong cả nước Tốc độ tăng dân số cơ học chiếm tỷ lệ đáng kể Năm 1995
có 0.8% dân số từ tỉnh ngoài di cư tới Hà Nội; năm 1997 có 2,1% (gấp 2.6 lần so với năm 1995) , năm 1998 là 1,12% Như vậy, bình quân mỗi năm
có khoảng 1,5% dân số là dân từ tỉnh ngoài vào Hà Nội [25]
Trong hơn 10 năm qua từ năm 1990 đến nay, Hà Nội đang tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đạt nhiều thành tựu quan trọng : kinh tế phát triển, chính trị ổn định, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng lên và cải thiện rõ rệt Tốc độ tăng trưởng GDP liên tục trung bình từ 1990 đến nay là 16.8% Từ năm 1995 đến nay, thu nhập bình quân theo nhân khẩu tăng lên đáng kể: năm 1995 là 318.000 đồng; năm 1996 là 342.000 đồng; năm 1997 là 350.000 đồng; năm 1999 là 427.000 đồng; năm 2002 là 494.000 đồng [25]
Mặc dù trong nhiều năm qua kinh tế Hà Nội tăng trưởng liên tục, đời sống nhân dân được cải thiện, nhưng nhìn chung đại bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến các quan hệ trong gia đình Hệ thống cơ sở hạ tầng còn thấp, quá tải về giao thông, nhà ở, ô nhiễm môi trường Nhiều vấn đề xã hội bức bách tác động xấu đến các quan hệ gia đình , tỷ lệ ly hôn tăng
2- Sơ lược địa bàn khảo sát
2.1 Quận Hoàn Kiếm và phường Cửa Đông
Quận Hoàn Kiếm là một quận trung tâm kinh tế và văn hoá của Thủ đô Hà Nội, là một quận có mật độ người cao nhất thành phố (gần 4 vạn người /Km2) Quận Hoàn Kiếm có nhiều khu phố cổ, là một đầu mối giao lưu quan trọng về kinh tế, văn hoá với cả nước và quốc tế Đây là địa bàn có
Trang 26nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, văn hoá, nhưng khó khăn vì diện tích hẹp, người đông, cơ sở hạ tầng xuống cấp Quận còn nhiều vấn đề nổi cộm như vệ sinh môi trường, ô nhiễm, về quản lý đô thị, và các vấn đề xã hội phức tạp
Phường Cửa Đông : là một trong 18 phường của quận Hoàn Kiếm thuộc thành phố Hà Nội, dân số có 20.129 người gồm 5.132 hộ Phần lớn dân cư
là cán bộ công nhân viên chức Trên địa bàn Phường có nhiều khu vực quân đội, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình tốt, số con bình quân của các gia đình ít
2.2- Quận Cầu Giấy và phường Nghĩa Tân:
Quận Cầu Giấy là một quận mới được thành lập, đang trong quá trình đô thị hoá nhanh, dân số có 142.800 người Quận có 7 phường, 398 tổ dân phố, 33.170 hộ., tỷ lệ các gia đình có độ tuổi từ 18-30 chiếm 1/3,
Phường Nghĩa Tân là một trong 7 phường mới được thành lập của quận Cầu Giấy thuộc thành phố Hà Nội, Phường có 8 cụm dân cư, 61 tổ dân phố Dân số của phường là 19.000 người, gồm 4.939 hộ Dân cư của phường chủ yếu sống trong các khu nhà cao tầng dành cho cán bộ, viên chức nhà nước Trên địa bàn phường còn có nhiều cơ quan Trung ương, đơn vị quân đội đóng Đời sống vật chất của phường có nhiều cải thiện
Trang 27CHƯƠNG II: MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC DẠNG
XUNG ĐỘT
A- THỰC TRẠNG XUNG ĐỘT TRONG GIA ĐÌNH TRẺ:
Khảo sát 300 hộ gia đình có độ tuổi của vợ và chồng từ 18 – 30 tại hai phường Nghĩa Tân (Cầu Giấy) và Cửa Đông (Hoàn Kiếm) thuộc Thành phố Hà Nội cho thấy hầu hết trong các gia đình đều có xung đột Tuy nhiên, mức độ xung đột và hình thức xung đột có khác nhau
2- Các nguyên nhân dẫn tới xung đột:
Khi tìm hiểu các nguyên nhân xung đột của các cặp vợ chồng trẻ, chúng tôi thấy nổi lên các vấn đề sau:
Trang 28Bảng 1.2: Phân loại các vấn đề dẫn tới xung đột
Qua bảng phân loại, chúng tôi thấy vấn đề thường ảnh hưởng tới quan hệ của các cặp vợ chồng trẻ nhiều nhất là về vấn đề nuôi dạy con cái (33,7%).Trên thực tế, xung đột trong gia đình nảy sinh từ hàng loạt các nguyên nhân Sự kết hợp đa dạng của các yếu tố này tạo cho xung đột giữa các cặp
vợ chồng trẻ có màu sắc rất riêng biệt Đây là tiền đề để chúng tôi xem xét
các nguyên nhân xung đột với các biến tương quan khác
Trang 294- Các giai đoạn xuất hiện xung đột trong đời sống vợ chồng trẻ:
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự tương quan khá mật thiết giữa thời gian chung sống và hình thức xung đột, (bảng 1.3)
Bảng 1.4 : Thời gian chung sống và các hình thức xung đột
Bảng trên cho thấy thời gian các cặp vợ chồng trẻ từ 1 –2 năm thì hình thức xung đột chủ yếu là tranh luận và chiến tranh lạnh; từ 2 – 3 năm bắt đầu xuất hiện hình thức xung đột nặng hơn như cãi nhau to tiếng, chửi bới, đánh đập tuy nhiên, hình thức chiến tranh lạnh cũng vẫn được phổ biến trong giai đoạn này; Các giai đoạn tiếp theo thì các dạng xung đột nhẹ ít xuất hiện, thay vào đó là các hình thức xung đột nặng hơn như bỏ nhà đi hoặc doạ ly hôn xuất hiện vào giai đoạn chung sống từ 4 – 5 năm
B- MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN
I- XUNG ĐỘT VỀ QUAN ĐIỂM SỐNG:
Qua kết quả điều tra định lượng cũng như kết quả phỏng vấn sâu, chúng tôi thấy rằng trong cuộc sống gia đình, hầu hết các cặp vợ chồng trẻ
có xung đột xảy ra
Một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa các cặp vợ chồng trẻ
là do bất đồng về quan điểm, lối sống Điều này cũng là dễ hiểu bởi trong thực tiễn xã hội ngày nay, đời sống con người được nâng cao cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là về tư tưởng đã được thay đổi: trong gia đình,
vợ chồng có quyền bình đẳng, có quyền bày tỏ ý muốn, suy nghĩ của mình, chứ không như thời xã hội phong kiến người chồng quyết định toàn bộ mọi
Trang 30việc trong gia đình, còn người vợ chỉ có thể tuân theo Hơn nữa, ngày nay, người vợ cũng là một nhân tố tích cực tham gia các hoạt động nghề nghiệp, góp phần cải thiện kinh tế gia đình, cũng là yếu tố cơ bản tạo sự bình đẳng giới
Bên cạnh đó, tư tưởng gia trưởng cố hữu ở một số người chồng, thói quen thiếu tôn trọng vợ, sự quá tải và mệt mỏi của hai vợ chồng trong việc mưu sinh hàng ngày, cộng với việc không chia sẻ công việc gia đình từ phía người chồng tạo nên những bất đồng trong cuộc sống vợ chồng
Những xung đột về quan điểm, lối sống thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau như: xung đột về quan niệm sinh con, giáo dục con; quan niệm sinh con trai, con gái; quan niệm về các yếu tố đảm bảo hạnh phúc gia đình; quan niệm về chuyện ngoại tình; và về việc phân công công việc trong gia đình
Do điều kiện hạn hẹp về khuôn khổ thời gian, chúng tôi chỉ có thể đi vào nghiên cứu một số xung đột về quan điểm sống tiêu biểu nhất
1) Quan niệm về con cái trong gia đình:
1.1) Quan niệm về vai trò của con cái trong gia đình:
Khi điều tra về quan niệm sinh con, có 169 người, chiếm 56,3% đồng ý với quan niệm “phải có con mới gọi là gia đình” và 72 người cho rằng “phải có con để trông nhờ khi tuổi già”, chiếm 24,0%, đồng thời có 59 người, chiếm 19,7% cho rằng “không có con sẽ bị người đời cho là thất đức”
Trong số những người có quan niệm “Phải có con mới gọi là gia đình” có 37 người mới kết hôn, số năm chung sống mới chỉ khoảng 1 năm (chiếm 62,7%), có 14 người đã kết hôn được 2 - 3 năm (23,7%), có 8 người lập gia đình từ 4 - 5 năm (13,6%)
Xét về trình độ học vấn thì những người lựa chọn “Phải có con mới
là gia đình”có tỷ lệ tương ứng như sau: Phổ thông: 14 người (8,3%) , Trung cấp & Cao đẳng: 29 người (17,2%), Đại học: 114 người (67,5%), và sau Đại học 12 người (7,1%)
Tỷ lệ này cũng tương đương khi xét với tương quan nghề nghiệp Các cặp vợ chồng là cán bộ nhà nước có quan niệm này chiếm 59,8%;
Trang 31những người làm công ty tư nhân 24,3%, nghề tự do chiếm 9,5%, thất nghiệp chiếm 0,6%, sinh viên chiếm 5,3% và buôn bán chiếm 0,6%
Với quan niệm “có con để trông nhờ khi tuổi già” xét về tương quan mức thu nhập bình quân hàng tháng, chúng tôi nhận thấy chiếm tỷ lệ cao ở quan niệm này là những gia đình có mức thu nhập tương đối thấp (dưới 1 triệu đồng/tháng): 63,9%; lựa chọn này tỷ lệ thuận với các mức thu nhập ở mức cao hơn: 1 – 2 triệu đồng (20,8%), các gia đình có mức thu nhập từ 2 – 3 triệu chỉ có 6,9%
Chúng tôi nhận thấy rằng với quan niệm “không có con sẽ bị người đời cho
là thất đức”, những người có trình độ học vấn cao dường như rất ít người lựa chọn quan niệm này Đại học (16,9%) và sau Đại học thì không có trường hợp nào lựa chọn Trong khi đó, tỷ lệ lại rất cao ở những người có trình độ học vấn thấp hơn, chiếm tới 83,1%
Có thể thấy rằng hầu hết các cặp vợ chồng đều coi trọng việc sinh con Với quan niệm “phải có con mới gọi là gia đình” các cặp vợ chồng ở mọi lứa tuổi, ở mọi trình độ, cán bộ nhà nước cũng như những người buôn bán, hay thất nghiệp đều có chung quan niệm trên
Với quan niệm này, những cặp vợ chồng chưa có con thì hình thức xung đột thường xảy ra nhất là: tranh luận (83,3%), các hình thức xung đột sau chiếm tỷ lệ không đáng kể với các tỷ lệ tương ứng như sau: chiến tranh lạnh (3,7%), bỏ nhà đi (5,6%), doạ ly hôn (7,4%) Sở dĩ hình thức xung đột
ở các cặp vợ chồng chưa có con mà có quan niệm này chỉ ở mức tranh luận
là vì hầu hết các cặp vợ chồng mới chỉ có thời gian chung sống chưa nhiều (từ 0 - 1 năm chiếm tới 71%) Trong thực tế, nhiều cuộc nghiên cứu khác
đã cho thấy những cặp vợ chồng chung sống lâu năm mà chưa có con thì hình thức xung đột thường xảy ra rất nặng nề, có nhiều trường hợp dẫn tới
ly hôn
Cũng với quan niệm này, tỷ lệ cũng không chênh lệch ở các hình thức xung đột khi so sánh với các cặp vợ chồng chưa có con: tranh luận (67%), mắng chửi (7%), chiến tranh lạnh (15,7%), bỏ nhà đi (0,9%), doạ ly hôn (9,6%)
Trang 32Biểu 1: Hỡnh thức xung đột và quan niệm “Phải cú con mới là gia
đỡnh” (Xột theo chỉ bỏo con cỏi)
Nhỡn vào biểu đồ, ta thấy với cỏc cặp vợ chồng đó cú con và cỏc cặp
vợ chồng chưa cú con thỡ tỷ lệ tương ứng ở cỏc hỡnh thức xung đột Tuy nhiờn, hỡnh thức doạ ly hụn và mắng chửi lại được lựa chọn nhiều hơn so với cỏc cặp vợ chồng chưa cú con Điều này cũng dễ hiểu vỡ việc xuất hiện của con cỏi là một niềm vui của cỏc cặp vợ chồng, song cũng kốm theo đú
là hàng cỏc vấn đề khú khăn khỏc như thiếu thốn về kinh tế, quỹ thời gian chăm súc nhau của hai vợ chồng bị hạn hẹp
Biểu 2: Hỡnh thức xung đột và quan niệm sinh con
đức Quan niệm
có con để trông nhờ tuổi già
Trang 33Nhìn biểu đồ trên, ta thấy hình thức xung đột của các cặp vợ chồng
có quan niệm “không có con sẽ bị người đời cho là thất đức” xảy ra nặng
nề hơn những cặp vợ chồng có quan niệm “có con để trông nhờ tuổi già” với các hình thức: chiến tranh lạnh (16,9%), đánh đập (5,1%) và doạ ly hôn (15,3%) Điều này là do những cặp vợ chồng có quan niệm “không có con
là thất đức” đã có những định kiến cổ hủ trong suy nghĩ, quan niệm của họ thường bảo thủ hơn những người khác và dễ dẫn đến bất đồng khi vợ (chồng) mình có quan điểm trái ngược
Như vậy có thể thấy rằng: ngày nay, các cặp vợ chồng trẻ cũng rất coi trọng về vấn đề con cái Và theo họ, một gia đình nhất thiết phải có con.Thực tế, những cặp vợ chồng thường xảy ra bất hoà cũng là những cặp
vợ chồng chưa có con Chẳng thế mà có người đã cho rằng con cái là cầu nối giữa bố mẹ Làm sao hai vợ chồng có thể giận nhau lâu khi có đứa con nói những câu bi bô hài hước, hoặc khi ngủ cứ đòi có cả bố lẫn mẹ nằm cạnh Khi có con, cả hai vợ chồng thường dành sự quan tâm săn sóc đặc biệt cho đứa con, do đó cũng dễ bỏ qua cho nhau mọi việc để cho con cuộc sống hạnh phúc Dù cho hai vợ chồng có xảy ra xung đột trầm trọng đến mức không muốn sống chung với nhau nữa, khi nghĩ về con, họ vẫn có thể chịu đựng để duy trì cuộc sống gia đình Cho nên, từ xưa đã có câu “vợ cái con cột” Người đàn ông dù cho có mải mê tìm thú vui bên ngoài gia đình đến đâu thì họ cũng không thể bỏ gia đình và con cái của mình được Vì vậy, cũng không phải ngẫu nhiên mà tỷ lệ ly hôn do không có con ở các cặp vợ chồng cũng tương đối cao
1.2) Quan niệm về việc sinh con trai, con gái:
Khi đề cập tới quan niệm về con cái, có một quan điểm nảy sinh, đó chính là vấn đề sinh con trai hay con gái Nguồn gốc quan niệm này xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của ý thức hệ phong kiến đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân từ bao đời nay Dưới thời phong kiến, người phụ nữ bị gạt ra ngoài lề xã hội Trong làng xóm, người ta chỉ tính làng ấy
có bao nhiêu „suất đinh‟ (tức là nam giới), còn bao nhiêu đàn bà, con gái không tính Trong gia đình, người phụ nữ bị coi không phải là một người con Dẫu có sinh đến mười con gái cũng coi như không có con (nhất Nam viết hữu, thập Nữ viết vô) Đi lấy chồng, họ phải theo về làm dâu, con nhà chồng, đến nỗi mất cả tên và được gọi theo tên của chồng Đẻ con ra, con
Trang 34cỏi cũng lấy họ của chồng Thời đú tồn tại quan niệm khỏ phổ biến, con trai
là con nhà mỡnh, cũn con gỏi là con nhà người Vỡ thế, đối với con cỏi, họ hàng nhà bố là bờn nội (bờn trong), họ hàng nhà mẹ là bờn ngoại (bờn ngoài) Khi người con lớn lờn, cú nghĩa vụ chăm nom bố mẹ, ụng bà bờn nội khi cũn sống và thờ cỳng khi qua đời Cũn bờn ngoại, đó gả bỏn con gỏi
đi làm dõu con nhà người là khụng tớnh đến nữa, khụng trong mong gỡ việc nuụi dưỡng khi sống cũng như thờ cỳng khi chết nữa Chớnh vỡ thế, nếu đẻ toàn con gỏi thỡ dẫu cú con vẫn là “tuyệt tự”, nghĩa là dũng họ ấy sẽ khụng
cú người nối dừi Vỡ vậy, nếu người đàn ụng khụng cú con trai là mắc vào một trong ba tội “đại bất hiếu” Cho nờn, chế độ phong kiến cho phộp người đàn ụng lấy bao nhiờu vợ cũng được, miễn sao phải sinh được con trai để nối dừi tụng đường Cũn người phụ nữ trong xó hội ấy đó phải gỏnh chịu bao nỗi bất cụng, đau đớn Cỏch mạng thỏng 8 lật đổ chế độ phong kiến, cũng chớnh là giải phúng người phụ nữ khỏi những quan niệm lỗi thời, lạc hậu đú
Tuy nhiờn, ý thức hệ phong kiến đó cắm rễ sõu vào những tư tưởng thõm căn cố đế hàng bao đời nay, khụng dễ gỡ mấy chục năm, một vài thế hệ đó thay đổi hoàn toàn được Quan niệm con dõu, con rể, con gỏi, con trai và cỏch phõn biệt đối xử khỏc nhau vẫn cũn phổ biến Điều đú tất yếu dẫn đến những quan niệm trỏi ngược nhau giữa cỏc cặp vợ chồng trẻ về việc sinh con trai hay con gỏi
Biểu 3: Hỡnh thức xung đột và quan niệm sinh con trai, con gỏi
Con trai, con gái đều quí cả
Trang 35Nhìn biểu đồ trên, ta thấy, có tới 201 người cho rằng “Con trai, con gái đều là con, đều quý cả” chiếm 67%, trong khi đó với quan niệm “Con trai là người nối dõi tông đường, còn con gái là nữ nhi ngoại tộc” chiếm tỷ
lệ thấp hơn: 99 người (33%) Và hình thức xung đột của những người có hai quan niệm trên đối lập rất rõ ràng Những người có quan niệm “Con trai
là người nối dõi tông đường, còn con gái là nữ nhi ngoại tộc” thường xảy ra hình thức xung đột nặng nề hơn những cặp vợ chồng có quan niệm “Con trai, con gái đều là con, đều quý cả” Những cặp vợ chồng coi trọng việc phải có con trai xung đột dưới hình thức: tranh luận (37,1%), mắng chửi (63,6%), chiến tranh lạnh (17,9%), đánh đập (100%), bỏ nhà đi (90%) và doạ ly hôn (66,7%) Trong khi đó, những cặp có quan niệm trái ngược thì hình thức xung đột thường chỉ diễn ra ở hình thức nhẹ nhàng: tranh luận (62,9%), mắng chửi (36,4%), chiến tranh lạnh (82,1%), đánh đập (0%), bỏ nhà đi 10%) và doạ ly hôn (33%)
Sở dĩ có sự khác biệt về quan niệm và hình thức xung đột như trên là do Nam giới lại là những người có quan niệm coi trọng con trai (64,6%), còn
Nữ giới có quan niệm này chỉ có 35,4% Và một điều dễ nhận thấy là khi xét quan niệm này, chúng tôi nhận thấy những người đang sống chung với gia đình chồng chịu áp lực về việc sinh con trai tương đối lớn là 67,1%, trong khi đó, với quan niệm “con trai, con gái đều quý cả” thì tỷ lệ thấp hơn: 32,9% Như vậy, việc các cặp vợ chồng trẻ sống chung với bố mẹ, phải chịu áp lực đã tác động đến quan niệm và hành vi của họ Kết quả của
cuộc phỏng vấn sâu cũng cho ý kiến tương tự Chị H nói: “vì không sinh được cháu trai nên bố mẹ chồng không bằng lòng, tôi cảm thấy mình không được bố mẹ yêu quý như xưa nữa, mặc dù mới sinh nhưng tôi không nhận được sự chăm sóc của gia đình chồng Gần đây, ông bà rất hay chửi mắng tôi vì những lý do không đâu Chồng tôi cũng lấy thế làm bực bội Quan hệ giữa hai vợ chồng tôi không còn được như trước nữa”
Đồng thời, xung đột về quan niệm sinh con thường tiềm ẩn và diễn ra dai dẳng, khó chấm dứt bởi việc sinh con bản thân nó là một vấn đề cũng đòi hỏi có thời gian lâu dài
Cùng quan niệm này nhưng theo kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy những cặp vợ chồng có câu trả lời “hài lòng về người vợ hoặc chồng của mình” ít xảy ra xung đột hơn và hình thức xung đột cũng biểu hiện nhẹ
Trang 36nhàng hơn (tranh luận: 71%; cãi nhau: 12,6%; im lặng, chiến tranh lạnh: 9%; chửi bới, đánh đập: 4,4%; ly thân:3%) Tỷ lệ này cũng tương đương với những cặp vợ chồng có thời gian tìm hiểu nhau lâu trước khi kết hôn (từ 5 năm trở lên)
Tuy nhiên, trong đời sống hiện nay, cũng có một bộ phận gia đình văn hoá, tiến bộ đã không phân biệt con trai, con gái theo nếp nghĩ xưa nữa Bởi không ít những người đàn ông chăm lo bố mẹ vợ như bố mẹ mình và cũng không ít những người phụ nữ đã đi lấy chồng rồi vẫn phụng dưỡng được bố
mẹ đẻ khi sống, thờ cúng khi đã khuất Chính sự thay đổi đó đã làm cho những người “sinh con một bề” không phải băn khoăn, khổ sở vì nỗi chưa sinh được “thằng cu” để nối dõi hay để nương tựa lúc tuổi già Vì thế khi trả lời phỏng vấn, có một số cặp vợ chồng có quan điểm “Con trai, con gái đều là con, đều quý cả” Quan điểm này tập trung ở những cặp vợ chồng có
độ tuổi cao trong độ tuổi của đối tượng nghiên cứu (26 – 30 tuổi): 66,7%, ở những cặp vợ chồng có trình độ học vấn cao (Đại học và Sau Đại học): 48,9% và ở những cặp vợ chồng là cán bộ nhà nước: 59,4%
Các cặp vợ chồng có quan điểm này ít xảy ra xung đột, nhất là khi họ đã có khoảng thời gian gắn bó với nhau tương đối lâu (khoảng 4 - 5 năm chung sống)
Như vậy, có thể thấy rằng những cặp vợ chồng có trình độ học vấn thấp, do
ít hiểu biết về cơ chế sinh con, và nhất là những người chồng cổ hủ, có tính gia trưởng, có quan niệm phân biệt con trai, con gái dễ xảy ra xung đột Cũng có những trường hợp do bị bạn bè khích bác mà xung đột giữa hai vợ chồng xảy ra bất ngờ Còn những cặp vợ chồng sống chung với bố mẹ cũng hay xảy ra xung đột về vấn đề sinh con trai, con gái
Ở những cặp vợ chồng có trình độ học vấn từ Đại học trở lên, tuy cũng có những quan niệm khác nhau về sinh con trai, con gái nhưng do hiểu biết rộng, do yếu tố nghề nghiệp và bản lĩnh kiềm chế tốt nên ít xảy ra xung đột
và hình thức xung đột cũng biểu hiện nhẹ nhàng hơn
1.3) Quan niệm về việc giáo dục con cái:
Trong thời đại ngày nay, các gia đình thường chỉ sinh từ 1 - 2 con nên có điều kiện chăm sóc con cái một cách toàn vẹn hơn Họ quan tâm đặc biệt về mặt giáo dục con Người ta không thể nuôi và dạy con theo kiểu
Trang 37ngày xưa nữa mà kết hợp phương pháp giáo dục truyền thống và hiện đại, kết hợp quyền uy và khoan dung Bất hoà chủ yếu do phương pháp dạy con, chẳng hạn người chồng đang dạy con nhưng người vợ thì không chấp nhận cách thức đó nên dẫn đến mâu thuẫn Vì vậy, việc không thống nhất được về quan điểm giáo dục con cái cũng là một trong những nguyên nhân xung đột của các cặp vợ chồng trẻ
33,7% số người được hỏi trả lời gia đình thường xuyên bất hoà về việc nuôi dạy con cái
Bảng 2: Phân loại xung đột
Những cặp vợ chồng có cùng trình độ văn hoá Phổ thông thì mức độ xung đột về vấn đề này cũng thấp hơn: 31% Hình thức xung đột của họ biểu hiện như sau: 30% tranh luận, 35% mắng chửi, 27% đánh đập, 4% bỏ nhà
đi và 4% đề cập tới ly hôn
Với những cặp vợ chồng có cùng trình độ văn hoá Đại học, sau Đại học thì
tỷ lệ xung đột về vấn đề giáo dục con lại càng thấp: 7% Và mức độ xung
Trang 38đột cũng không nặng nề: 58% tranh luận, 13% cãi nhau, 3% đánh đập, 24% chiến tranh lạnh, 2% ly thân và chưa có trường hợp đề cập đến ly hôn
Biểu 4: Xung đột xét theo mức độ tương đồng về trình độ học vấn
Khi xét tương quan giữa những cặp vợ chồng trẻ sống riêng và những cặp sống chung với bố mẹ, chúng tôi cũng nhận được một kết quả khác biệt về mức độ xung đột giữa các cặp vợ chồng về vấn đề nuôi dạy con Những cặp vợ chồng trẻ sống với bố mẹ hay xảy ra xung đột hơn: 69%, trong khi
đó, những cặp vợ chồng sống riêng ít xảy ra xung đột trong vấn đề này Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng: với những cặp vợ chồng có trình độ văn hoá quá chênh lệch nhau do tầm hiểu biết khác nhau nên quan niệm về việc giáo dục con cái cũng khác nhau Người thì chiều chuộng con quá vì chẳng
có nhiều, chỉ có một mụn con, người thì lại quá nghiêm khắc vì có một đứa con, phải rèn cho nên người, thế là trở thành “kẻ đánh người bênh” Khi chọn môn năng khiếu cho con theo học, vợ thì muốn con học đàn để trở thành nghệ sĩ nhưng chồng lại muốn con học võ để có cơ thể khoẻ mạnh
Họ luôn kỳ vọng ở con cái quá nhiều và không xác định được mục tiêu dạy con nên cả hai thường không tìm thấy niềm vui và không gắn bó với nhau trong việc dạy con Họ thường xuyên bất đồng quan điểm trong việc giáo dục con và thường thể hiện sự bất đồng ngay cả trước mặt đứa trẻ, thậm chí
có cả những hành động chống đối nhau rất thô thiển
Trang 39Những cặp vợ chồng có trình độ học vấn Phổ thông nhưng giữa vợ và chồng có trình độ học vấn tương đương nhau thì họ lại thường có chung quan điểm về việc giáo dục con nên giữa họ ít xảy ra xung đột
Với những cặp vợ chồng có trình độ học vấn Đại học và trên Đại học thì vấn đề giáo dục con cái luôn được họ coi trọng, đưa lên hàng đầu, và họ thường có sự thống nhất về việc giáo dục con cái ngay từ khi bắt đầu chung sống, thế nên, giữa họ cũng ít xảy ra xung đột về việc giáo dục con
2) Xung đột do tính cách trái ngược, thái độ, hứng thú, sở thích khác nhau:
Trong thực tế, không phải cuộc hôn nhân nào cũng diễn ra bằng phẳng, êm ả Ngay cả những cặp vợ chồng hạnh phúc nhất không phải bao giờ cũng thống nhất với nhau được về mọi vấn đề Thậm chí có người còn cho rằng, nếu một cặp vợ chồng chẳng bao giờ xung đột điều gì, chắc đâu
đã hạnh phúc Nhưng vấn đề ở là ở chỗ mức độ và hình thức xung đột xảy
ra như thế nào?
Theo kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột chính giữa các cặp vợ chồng trẻ ở Hà Nội là do trái ngược về tính cách, về nếp sống Trong đó, vấn đề mâu thuẫn về ứng xử giữa vợ và chồng chiếm tỷ lệ cao nhất qua số liệu định lượng Mâu thuẫn
về ứng xử giữa vợ và chồng xuất hiện chủ yếu ở các cặp vợ chồng trẻ mà nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn thì nhiều nhưng dường như sống với nhau
đã lâu nên đôi lúc cách cư xử không còn tôn trọng lẫn nhau, vì vậy có những hành động làm người kia không bằng lòng
Không ít người cho rằng trong đời sống vợ chồng chỉ cần tình yêu chứ không cần tình bạn Nhưng trong thực tế, một trong những lý do dẫn đến xung đột giữa các cặp vợ chồng trẻ chính là cảm thấy vợ (chồng) chưa chia
sẻ cho nhau mọi điều, trong khi họ lại có thể tâm sự những điều đó với bạn
bè Trước hết phải thấy trong xã hội hiện đại, vợ chồng ít khi làm cùng nghề, vì vậy có những phạm vi chuyên môn của người này mà người kia không hiểu Sau nữa, do cá tính, sở thích, họ có những mối quan tâm khác nhau: chồng thích thể thao, vợ lại yêu âm nhạc Vì vậy, mỗi người đều có thể và cần phải có mối quan hệ ngoài chồng, ngoài vợ để chia sẻ những nỗi niềm mà người vợ hay chồng không chia sẻ được Điều đáng nói là ngoài
Trang 40những trường hợp đó ra, đã là vợ chồng, phải trò chuyện được với nhau về mọi điều buồn vui ở đời Cao hơn nữa, muốn thành người tri âm, tri kỷ của nhau, vợ chồng phải tâm đắc trong nhiều lĩnh vực mới có thể tìm thấy hứng thú trong những khi trò chuyện với nhau Trong cuộc sống vợ chồng, từ tình yêu đến tình vợ chồng là cả một khoảng cách lớn Ngay cả sau khi hai
vợ chồng đã cảm thấy hoà hợp rồi cũng chưa chắc đã có hạnh phúc mãi mãi Bởi vì hôn nhân là một quá trình trong đó hai con người luôn phải nỗ
lực để thích ứng với nhau Chị L.A nói: “Bây giờ chồng không coi tôi như người bạn nữa, mặc dù thời yêu nhau, cả hai chúng tôi ngang bằng nhau
về hoàn cảnh kinh tế và trình độ Khi thành gia đình, tôi sinh con rồi bận bịu, lo toan mọi việc để chồng có thì giờ phấn đấu Dần dần, tôi cũng tự nhận thấy mình không còn là người bạn đời của chồng như ngày xưa nữa”
Và trong cơ chế thị trường hiện nay, lại có những người vợ lao ra ngoài xã hội gần như quên cả gia đình Còn người chồng cũng lao vào tìm thú vui riêng của mình Đến một ngày, họ mới chợt nhận ra mình vẫn là vợ chồng trên danh nghĩa, nhưng đúng ra chỉ là hai “kẻ độc thân” sống chung một nhà
Như vậy, chính sự thiếu hụt tình bạn, thiếu hụt sự chia sẻ trong đời sống vợ chồng là một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của hôn nhân Điều này đòi hỏi các cặp vợ chồng trẻ phải có cái nhìn mới hơn, nỗ lực hơn trong việc kiến tạo hạnh phúc gia đình ở một cấp độ cao hơn
Trong quá trình điều tra, có 23% cặp vợ chồng có sự bất hoà về vấn đề ứng
xử giữa vợ và chồng
Các hình thức xung đột xảy ra với các mức độ như sau: tranh luận xảy ra thường xuyên khi hai vợ chồng sống với nhau từ 1 – 2 năm (77,0%), cãi nhau thường xảy ra khi chung sống được 2 – 3 năm (57%), cũng cùng giai đoạn này, hình thức đánh đập, chiến tranh lạnh, bỏ đi đâu đó vài ngày cũng xảy ra ở mức độ cao ở giai đoạn này Các hình thức ly thân và đề cập đến
ly hôn thì thường xảy ra ở các giai đoạn khi hai vợ chồng chung sống được
từ 4 – 5 năm