1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định Hướng Giá Trị Gia Đình Của Thanh Niên

227 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 5,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ cá nhân - gia đình ở Việt Nam đang có những biến đổi sâu sắc thể hiện ở sự thay đổi mô hình gia đình truyền thống, sự thay đổi trong các mối quan hệ truyền thống giữa các thà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN ĐỖ HỒNG NHUNG

ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH

CỦA THANH NIÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Văn Hảo

Kết quả nghiên cứu và dữ liệu trong luận án là trung thực và chưa từng công

bố trong bất kỳ luận án nào Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận án

Nguyễn Đỗ Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS Lê Văn Hảo đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận án Nhờ có sự chỉ bảo tận tình của thầy mà tôi đã hoàn thành luận án tiến

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án tiến sĩ này

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nam nữ thanh niên đang sinh sống và làm việc ở Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình triển khai khảo sát

đề tài

Những lời tri ân sâu sắc tôi muốn gửi tới gia đình, bạn bè, người thân - những người đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập

Xin trân trọng cảm ơn!

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Đỗ Hồng Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HỘP Ý KIẾN 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Câu hỏi nghiên cứu 9

6 Giả thuyết nghiên cứu 9

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

8 Đóng góp mới của luận án 11

9 Cấu trúc của luận án 12

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH CỦA THANH NIÊN 13

1.1 Một số nghiên cứu về giá trị gia đình 13

1.2 Một số nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình của thanh niên 28

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH CỦA THANH NIÊN 36

2.1 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình 36

2.2 Các khái niệm cơ bản 46

2.3 Một số đặc điểm tâm lý của thanh niên 64

2.4 Các mặt biểu hiện định hướng giá trị gia đình của thanh niên 69

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị gia đình của thanh niên 73

Tiểu kết chương 2 74

Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 76

3.1 Tổ chức nghiên cứu 76

Trang 6

3.2 Phương pháp nghiên cứu 80

Tiểu kết chương 3 91

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH CỦA THANH NIÊN 92

4.1 Thực trạng định hướng giá trị gia đình của thanh niên 92

4.2 So sánh sự khác biệt định hướng giá trị gia đình trong các mặt biểu hiện ở từng nhóm biến nhân khẩu xã hội 132

4.3 Phân tích chân dung tâm lý 136

4.4 Ứng dụng một số biện pháp định hướng giá trị gia đình cho thanh niên 143

Tiểu kết chương 4 151

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 153

1 Kết luận 153

2 Kiến nghị 157

3 Triển vọng nghiên cứu 159

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 160

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

PHỤ LỤC 174

Trang 7

DANH MỤC C ÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ĐLC/ Độ lệch chuẩn

SPSS Statistical Package for the Social Sciences (Chương

trình thống kê trong khoa học xã hội)

WVS The World Values Survey (Khảo sát giá trị thế giới)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các giai đoạn của quá trình định hướng giá trị 52

Bảng 4.1 Định hướng của thanh niên về tầm quan trọng của gia đình 93 Bảng 4.2 Tầm quan trọng của giá trị gia đình trong hệ thống các giá trị

Bảng 4.3 Sự khác biệt theo các nhóm nhân khẩu với định hướng về tầm

Bảng 4.4 Định hướng giá trị gia đình biểu hiện qua hôn nhân 101 Bảng 4.5 Định hướng giá trị gia đình của thanh niên về hôn nhân qua tục ngữ 108 Bảng 4.6 Định hướng giá trị hôn nhân của thanh niên biểu hiện trong các

Bảng 4.10 Định hướng giá trị gia đình biểu hiện qua mối quan hệ cha

Bảng 4.17 Định hướng giá trị trách nhiệm trong gia đình qua tục ngữ 129 Bảng 4.18 Định hướng giá trị trách nhiệm trong gia đình biểu hiện

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HỘP Ý KIẾN

Biểu đồ 2.1 Giá trị văn hóa Việt Nam thông qua mô hình 6-D của

Biểu đồ 4.1 Sự phân bố điểm định hướng giá trị gia đình của thanh niên 98 Biểu đồ 4.2 Định hướng giá trị gia đình tổng thế của thanh niên 100 Hộp 4.1 Định hướng về tầm quan trọng của gia đình của thanh niên 94

Hộp 4.3 Quan niệm của thanh niên về trách nhiệm của cha mẹ và con

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị trong quá trình biến đổi tâm lý, hành vi của cá nhân và của nhóm là chủ đề thu hút được rất nhiều các nhà khoa học trong các lĩnh vực quan tâm Đối với mỗi một dân tộc, những giá trị hay chuẩn mực

về cuộc sống đóng vai trò quan trọng và có thể định hướng xã hội theo những mục tiêu được coi là có ý nghĩa cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Vai trò của các thang giá trị về cuộc sống phù hợp sẽ góp phần duy trì, thúc đẩy xã hội phát triển và

sự lựa chọn giá trị sẽ tạo thành quan điểm sống của từng cá nhân [16,18,48]

Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành

và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt” [58] Trong bối cảnh xã hội phát triển và hội nhập, gia đình Việt Nam đang có những biến đổi mạnh mẽ về cấu trúc, hình thái, quy mô cũng như các mối quan hệ trong gia đình (quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng) Mối quan hệ cá nhân - gia đình ở Việt Nam đang có những biến đổi sâu sắc thể hiện ở sự thay đổi mô hình gia đình truyền thống, sự thay đổi trong các mối quan hệ truyền thống giữa các thành viên của gia đình cũng như sự xuất hiện những vấn đề gia đình và xã hội khác [78].Những giá trị, chuẩn mực truyền thống đã và đang bị tác động, thay đổi, xen lẫn với những chuẩn mực, hành vi của xã hội mới [213]

Cùng với quá trình đổi mới, mở cửa của đất nước và tác động của nền kinh tế thị trường, nhiều chuẩn mực truyền thống hay giá trị văn hóa đã từng đóng vai trò chi phối, định hướng về giá trị của từng cá nhân cũng đang có những biến chuyển, đặc biệt là trong giới trẻ [48] Thanh niên Việt Nam (từ 16-30 tuổi) lớp người chịu nhiều ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực từ những biến đổi của đất nước và thế giới do sinh ra và lớn lên trong môi trường thông tin đa chiều và xu thế hội nhập quốc tế Ở lứa tuổi này đang có sự biến đổi về tâm sinh lý mạnh mẽ, do vậy bất cứ

sự thay đổi nào trong đời sống xã hội cũng có tác động không nhỏ đến nhóm tuổi này Định hướng giá trị là một trong những lĩnh vực cơ bản, quan trọng trong đời sống tâm lý của thanh niên; nó có quan hệ mật thiết với xu hướng nhân cách và kế

Trang 11

hoạch đường đời của họ Sự hình thành những chuẩn mực và định hướng giá trị tốt đẹp của gia đình sẽ củng cố các mối quan hệ gia đình, kiến tạo một môi trường thuận lợi cho mỗi cá nhân được phát triển hài hòa và toàn diện [45] Có thể thấy, trong nhiệm vụ phải lựa chọn cho mình một hệ giá trị phù hợp với bản thân thì định hướng giá trị của thanh niên nói chung và định hướng các giá trị liên quan đến gia đình nói riêng đang đứng trước một sự đan xen khá phức tạp của các giá trị mới -

cũ Câu hỏi đặt ra là trong sự tồn tại đan xen giữa các giá trị cũ - mới, giá trị truyền thống - giá trị hiện đại, thanh niên Việt Nam đang ưu tiên lựa chọn những giá trị gia đình nào?

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng, thế giới của chúng ta đang đứng trước hai khuynh hướng: một là công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng theo các giá trị mới, và hai là hậu hiện đại hóa, với xu hướng tìm lại những giá trị truyền thống [157] Hai khuynh hướng vận hành cơ bản này không chỉ thể hiện ở cấp quốc gia – dân tộc hay các vùng lãnh thổ,

mà nó còn thể hiện cả ở cấp độ gia đình Như vậy, việc tìm hiểu sự biến đổi của hệ giá trị gia đình và định hướng giá trị gia đình là điều cần thiết Những hiểu biết về định hướng giá trị gia đình của thanh niên sẽ giúp gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội nhìn nhận đầy đủ hơn về nhóm xã hội này; giáo dục thanh niên gìn giữ được những giá trị tốt đẹp, quý báu của gia đình truyền thống và phát huy những mặt tích cực của gia đình hiện đại, tạo ra một khuôn mẫu gia đình Việt Nam tiến bộ; góp phần phát triển toàn diện nhân cách thanh niên

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Định hướng giá trị gia đình

của thanh niên” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng định hướng giá trị gia đình, phân tích sự khác biệt định hướng giá trị gia đình trong các mặt biểu hiện ở từng nhóm biến nhân khẩu xã hội Từ đó, đưa ra một số biện pháp kiến nghị nhằm hỗ trợ thanh niên có định hướng giá trị gia đình hợp lý, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho bản thân

và gia đình

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là biểu hiện định

hướng giá trị gia đình của thanh niên và mức độ lựa chọn các giá trị gia đình của

thanh niên

Trang 12

3.2 Khách thể nghiên cứu: Luận án tiến hành khảo sát trên 416 khách thể là thanh

niên trong độ tuổi từ 16-30 Trong đó, lựa chọn phỏng vấn sâu 15 thanh niên và phân

tích chân dung tâm lý của 03 thanh niên

3.3 Phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Phạm vi khách thể

Mẫu điều tra của luận án là 416 thanh niên trong độ tuổi từ 16-30 đang sinh sống và làm việc tại Thái Nguyên Lý do vì đây là lứa tuổi phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài và thuận tiện cho việc khai thác thông tin Ngoài tiêu chí độ tuổi, nhóm xã hội - dân cư “thanh niên” còn có thể được chia thành các tiểu nhóm khác nhau, như thanh niên thành thị, thanh niên nông thôn (nếu lấy địa bàn cư trú làm tiêu chí phân biệt), hay thanh niên công nhân, thanh niên hoạt động dịch vụ hoặc thanh niên

là học sinh, sinh viên (nếu lấy tiêu chí nghề nghiệp phân biệt) Ngoài ra, các yếu tố khác như tộc người, tôn giáo, giới tính, tình trạng kinh tế cũng có thể được coi là tiêu chí để phân biệt các tiểu nhóm trong nhóm lớn “thanh niên”

3.3.2 Phạm vi nội dung:

Nghiên cứu định hướng giá trị gia đình của thanh niên được giới hạn bởi: + Các kết quả phân tích đều dựa trên nghiên cứu cắt ngang Do đó, “định hướng giá trị gia đình” được giới hạn theo nghĩa là sự lựa chọn giá trị gia đình của

thanh niên tại thời điểm nghiên cứu

+ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình định hướng giá trị gia đình của thanh niên nhưng do nghiên cứu cắt ngang nên trong khuôn khổ luận án này chỉ tập trung đánh giá mức độ ảnh hưởng của những yếu tố khách quan, đại diện là các biến nhân khẩu xã hội

3.3.3 Phạm vi không gian: Luận án được tiến hành trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

3.3.4 Phạm vi thời gian: Luận án được tiến hành từ 8/2016 đến tháng 12/2019

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

- Tổng quan về các cách tiếp cận, xu hướng nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu liên quan đến định hướng giá trị gia đình

- Xây dựng khung lý luận của đề tài: Hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm của đề tài, từ đó xây dựng khái niệm công cụ của đề tài; Xác định các biểu hiện của định hướng giá trị gia đình của thanh niên cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị gia đình của thanh niên

Trang 13

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng định hướng giá trị gia đình của thanh niên và sự khác biệt về định hướng giá trị gia đình ở các nhóm khách thể (nhân khẩu) khác nhau

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ thanh niên có định hướng giá trị gia đình hợp lý, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho bản thân và gia đình

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Định hướng giá trị gia đình của thanh niên hiện nay như thế nào?

- Đã có những biến đổi như thế nào về định hướng giá trị gia đình của thanh niên trong bối cảnh xã hội hiện nay?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Có sự thống nhất giữa nhận thức và hành vi trong các mặt biểu hiện định hướng giá trị gia đình của thanh niên

- Có sự khác biệt về định hướng giá trị gia đình giữa các nhóm có đặc điểm nhân khẩu khác nhau

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7 1 Phương pháp luận nghiên cứu

Phương pháp luận nghiên cứu được hiểu là lý thuyết về các nguyên tắc để tiến hành các phương pháp nghiên cứu khoa học, là hệ thống các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động của người nghiên cứu Việc thiết kế nghiên cứu định hướng giá trị gia đình của thanh niên không chỉ dựa vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu mà cần dựa vào các nguyên tắc tiếp cận khoa học Cụ thể gồm các nguyên tắc sau:

7.1.1 Nguyên tắc tiếp cận duy vật biện chứng

Theo quan điểm duy vật biện chứng, mọi hiện tượng tâm lý con người đều phụ thuộc một cách tất yếu và có tính quy luật vào các tác động bên ngoài (các điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể) tác động vào con người thông qua các điều kiện bên trong Như vậy, các tác động bên ngoài tác động đến định hướng giá trị gia đình của thanh niên đó là tất cả những điều kiện, đặc điểm của hoàn cảnh xã hội – lịch sử cụ thể; đặc điểm của nền kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của nhân loại nói chung và mỗi quốc gia nói riêng; đặc điểm môi trường xã hội với tất cả các mối quan hệ xã hội mà thanh niên tham gia vào; các điều kiện sống và làm việc của cá nhân và gia đình… Các tác động từ bên ngoài cũng chính là các đặc điểm tâm, sinh lý, nhu cầu, mong muốn của gia đình… trong những điều kiện lịch sử cụ thể Các điều kiện bên

Trang 14

trọng chính là những đặc điểm tâm sinh lý của thanh niên; các đặc điểm nhân cách biểu hiện trình độ hiểu biết, các đặc điểm về xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực, hoạt động… Do đó, các điều kiện bên ngoài là nguyên nhân quyết định việc hình thành các giá trị ở thanh niên Đồng thời, để các giá trị được hình thành đó phát triển phải được thông qua các điều kiện bên trong của thanh niên Đây chính là quan điểm chủ đạo khi nghiên cứu các hiện tượng tâm lý nói chung và nghiên cứu định hướng giá trị gia đình của thanh niên nói riêng

7.1.2 Nguyên tắc tiếp cận hoạt động - giao tiếp - nhân cách

Theo quan điểm của tâm lý học hoạt động: Tâm lý, ý thức con người được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động Tâm lý con người là thành phần tất yếu của hoạt động, đóng vai trò định hướng và điều khiển hoạt động Hoạt động của cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở, là nhân tố quyết định trực tiếp

sự phát triển nhân cách Do vậy, để nhân cách phát triển, ở mỗi giai đoạn lứa tuổi, con người cần phải thực hiện các hoạt động chủ đạo để phát triển lên những giai đoạn tiếp theo Do đó, thông qua hoạt động, thanh niên tiếp thu các giá trị từ nền văn hóa xã hội của loài người và biến nó thành của riêng mình, làm cho nhân cách ngày càng phát triển Mỗi con người cụ thể là sản phẩm của điều kiện xã hội – lịch

sử, là sản phẩm của giáo dục, rèn luyện và tự rèn luyện Bởi mỗi người đều có các thuộc tính tâm lý, các phẩm chất tâm lý đặc trưng với cả mặt mạnh, ưu điểm lẫn mặt yếu – nhược điểm Do vậy, định hướng giá trị gia đình của thanh niên còn phù thuộc vào tính tích cực hoạt động của họ

7.1.3 Nguyên tắc tiếp cận liên ngành

Tiếp cận liên ngành trong khoa học là cách thức tổ chức, tiến hành nghiên cứu có sử dụng quan điểm, tri thức và phương pháp nghiên cứu của các chuyên gia thuộc các chuyên ngành khác nhau để giải quyết vấn đề một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá mạnh mẽ hiện nay, mỗi một biến động của xã hội hay một sáng tạo khoa học mới đều có ảnh hưởng nhất định đến đời sống xã hội, nhịp độ phát triển và an ninh của loài người Mỗi một phát minh trong lĩnh vực khoa học này sẽ kéo theo những thay đổi và ảnh hưởng nhất định đến các ngành khoa học khác Định hướng giá trị gia đình đã được nhiều ngành khoa học nghiên cứu như: tâm lý học, xã hội học, văn hóa học, giáo dục học, triết học… Vì vậy, khi nghiên cứu định hướng giá trị gia đình của thanh

Trang 15

niên cần phải tiếp cận liên ngành khoa học để có cách nhìn toàn diện, hệ thống và đầy đủ

Tóm lại, nghiên cứu định hướng giá trị gia đình của thanh niên dựa trên việc tổng hợp nhiều quan điểm phương pháp luận khoa học khác nhau Bởi sự hình thành giá trị ở thanh niên phải trải qua một quá trình lâu dài, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Bởi lẽ mỗi cá nhân là một thực thể sinh học – xã hội với các đặc điểm tâm, sinh lý tổng thể và toàn vẹn, với tính tích cực hoạt động khác nhau Đồng thời, có nhiều hệ thống tác động vào sự hình thành và phát triển giá trị nhân cách ở mỗi cá nhân, nên rất khó để xác định hệ thống nào tác động nhiều hay ít Do vậy, nghiên cứu định hướng giá trị gia đình của thanh niên chỉ nghiên cứu thanh niên trong độ tuổi từ 16-30 tại thời điểm thực hiện nghiên cứu và tập trung vào các nội dung cơ bản là: hôn nhân trong gia đình; mối quan hệ cha mẹ - con cái; vai trò giới trong gia đình; trách nhiệm và việc sinh con - nuôi dưỡng con cái trong gia đình trên cơ sở thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình

7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp thảo luận nhóm

- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

8 Đóng góp mới của luận án

8.1 Về lý luận:

- Tổng quan tài liệu điểm luận các xu hướng nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình đã có trên thế giới và Việt Nam, chỉ ra khoảng trống của chủ đề này khi nghiên cứu tại Việt Nam

- Luận án hệ thống hóa các lý thuyết tiếp cận trên thế giới, bổ sung thêm vào

hệ thống lý luận các khái niệm: giá trị gia đình, định hướng giá trị gia đình và định hướng giá trị gia đình của thanh niên

Trang 16

8.2 Về thực tiễn:

- Bước đầu xây dựng được bộ công cụ đánh giá định hướng giá trị gia đình đối với những người quan tâm nghiên cứu về chủ đề giá trị gia đình và định hướng giá trị gia đình

- Phát hiện một số điểm khác nhau giữa định hướng của thanh niên về các nhóm giá trị gia đình theo các biến nhân khẩu xã hội

- Từ các số liệu thu được, đề xuất các kiến nghị nhằm hỗ trợ thanh niên có

định hướng giá trị gia đình hợp lý

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình khoa học

đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình của thanh niên

Chương 2: Cơ sở lý luận về định hướng giá trị gia đình của thanh niên

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về định hướng giá trị gia đình của thanh niên

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

GIA ĐÌNH CỦA THANH NIÊN

Từ những năm 50, 60 của thế kỷ trước, khi nền công nghiệp phát triển mạnh

mẽ ở các nước phương Tây, khái niệm giá trị gia đình bắt đầu được các nhà khoa học ở các lĩnh vực quan tâm Tuy nhiên, phải đến những năm 90 của thế kỷ XX trở

đi, các vấn đề về gia đình và sự biến đổi của nó mới được kiểm chứng dựa trên các nghiên cứu thực chứng Các nghiên cứu về chủ đề này thường tập trung vào các

khía cạnh của đời sống gia đình và cấu trúc gia đình như: quan hệ hôn nhân, quan

hệ trong gia đình, các kiểu loại gia đình, vấn đề sinh con, vấn đề ly hôn

Chương này sẽ hệ thống hóa và điểm luận các nghiên cứu về giá trị gia đình

và định hướng giá trị gia đình cũng như sự biến đổi giá trị gia đình, qua đó bàn luận

về những khoảng trống và những gợi ý cho nghiên cứu

1.1 Một số nghiên cứu về giá trị gia đình

Các nghiên cứu về giá trị gia đình của các tác giả trên thế giới và Việt Nam hiện nay có thể được nhóm thành các hướng nghiên cứu như sau:

- Hướng nghiên cứu giá trị gia đình là một thành tố của hệ giá trị con người

Rokeach (1973) nêu bật sự khác biệt giữa các giá trị và các khái niệm khác như nhu cầu, đặc điểm tính cách, sở thích, chuẩn mực xã hội và thái độ Ông đã phát triển mô hình Khảo sát giá trị Rokeach (Rokeach Value Survey - RVS) để đánh giá hệ thống giá trị cá nhân Ông cho rằng, con người có hai hệ thống giá trị là giá trị đích và giá trị công cụ (đầu tiên là 12 giá trị đích, 12 giá trị công cụ; sau khi chuẩn hóa và chỉnh sửa là 18 giá trị đích và 18 giá trị công cụ) Những giá trị này tương đối phổ quát và có trong tất cả các nền văn hóa Tuy nhiên, mỗi cá nhân và mỗi nền văn hóa có sự lựa chọn những giá trị ưu tiên theo những thứ bậc khác nhau) Lý thuyết của Rokeach đã mở đường cho hoạt động nghiên cứu đo lường những biến đổi giá trị trong xã hội thông qua việc tìm hiểu quan điểm và ý kiến đánh giá của người dân ở các nền văn hóa khác nhau Trong đó, Rokeach đã xây dựng được các giá trị liên quan đến quan điểm về vị trí của nam giới, nữ giới hay cuộc sống gia đình hạnh phúc cũng được xem xét một thành tố trong hệ thống giá trị cá nhân [146,183]

Inglehart và cộng sự là những người đã nỗ lực nghiên cứu những giá trị văn hóa ở nhiều xã hội khác nhau Từ cuối thập niên 1980 đến nay, họ đã tiến hành năm cuộc Điều tra giá trị thế giới Dự án này bao phủ gần 100 quốc gia trên 6 châu lục,

Trang 18

nhắm đến phần đông dân số thế giới Trong Khảo sát giá trị thế giới, các giá trị gia đình được xem như một thành tố của hệ giá trị con người như: tình dục, tình trạng hôn nhân, số con cái của mỗi cặp vợ - chồng, thành phần gia đình, trình độ học vấn, nhà ở (sống với bố mẹ hay không), nghề nghiệp (tình trạng, người tạo thu nhập chính ở gia đình, ông chủ hay người làm công ăn lương), tình trạng tài chính dự phòng (tiết kiệm gia đình trong năm trước, tầng lớp xã hội, mức thu nhập), nơi cư trú (thuộc vùng miền nào, quy mô nơi cư trú: thị xã, thành phố, nông thôn), nhóm sắc tộc [157]

Nghiên cứu của Chang (2010) về giá trị của giới trẻ và cha mẹ ở Singapore được thiết kế như một trường hợp thách thức cách giải thích của Inglehart về những

ưu tiên giá trị hàng đầu rút ra từ các cuộc Điều tra giá trị thế giới Tác giả đã thiết lập một hệ thống giá trị trong đó có các giá trị liên quan đến gia đình có thể kể đến như: Đối với con cái thì học cách vâng lời và đức tin tôn giáo quan trọng hơn học tính độc lập và quyết đoán; Phá thai là bất hợp pháp; Tình dục đồng giới là không hợp pháp được xác định nằm ở cả hai trục Giá trị truyền thống và giá trị hợp lí-lâu dài - Giá trị tồn tại và giá trị tự thể hiện Như vậy, sự lựa chọn giá trị của các cá nhân đã bước đầu nhìn nhận những sự thay đổi trong bối cảnh xã hội đang thay đổi hiện nay [127]

Trong nghiên cứu của Samonte (2003) về những giá trị mà người Philippin coi

là quan trọng và mong muốn trong thế kỷ XXI đã thu thập ý kiến của 2400 người ở bốn khu vực (thủ đô và 3 địa điểm khác) năm 1997, bao gồm cả nông thôn và thành thị Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 10 giá trị được đa số người trả lời cho là “rất quan trọng” trong cuộc sống của họ thì có tới 7 giá trị thuộc về gia đình, đó là: có vợ chồng, có tình yêu, có con cái, quan hệ hôn nhân tốt, có được tình yêu từ con cái, luôn được gần gũi các con, trường thọ (3 giá trị khác là: có niềm tin vào chúa trời, cầu nguyện và thiền định, làm việc cho nhà thờ) Cũng theo tác giả, ở Philippin gia đình vẫn đóng vai trò trung tâm và then chốt, gia đình là một nguồn cổ vũ động viên rất lớn

và cũng là nơi che chở cho các cá nhân Các giá trị gia đình góp phần làm nên điều này: kính trọng và thương yêu cha mẹ, trách nhiệm chăm sóc con cái, hy sinh cho gia đình, tin tưởng và hôn nhân như một thiết chế, và sự không tán thành phụ nữ không chồng

mà có con Đối với hiện tại và trong thiên niên kỷ mới, tác giả đã nhận thấy rằng người Philippin có vẻ như thiên về chọn những giá trị gắn với truyền thống, mặc dù vậy họ vẫn mở cửa đối với những gì gắn với công nghiệp hóa và hiện đại hóa [187]

Trang 19

Ở Việt Nam, vai trò của gia đình, khía cạnh giá trị của gia đình trong sự phát triển nhân cách của con người đã và đang trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và các tổ chức xã hội Phạm Minh Hạc (1995b, 2010) cho rằng “Giá trị gia đình là vốn tinh thần của loài người , là giá trị nhân loại ở tất cả các thời đại, các châu lục đều mang tính nhân văn, nhân ái, nhân đạo” [22,25]

- Hướng nghiên cứu về biểu hiện của giá trị gia đình

Những ví dụ ở phần trên cho thấy giá trị gia đình được các tác giả xem xét như một loại giá trị trong hệ thống giá trị của toàn xã hội Theo Lê Ngọc Văn (2014), dẫu chỉ là một bộ phận, một hợp phần trong hệ thống giá trị xã hội nhưng giá trị gia đình không chỉ đơn thuần là một danh xưng, nó còn là một khái niệm mang đầy đủ ý nghĩa nội hàm và ngoại diên Cũng theo tác giả, việc khu biệt tiểu hệ giá trị gia đình trong hệ thống các giá trị xã hội có ý nghĩa lý luận và phương pháp luận rất quan trọng Bởi vì, nếu không có sự khu biệt ấy, trong nghiên cứu về giá trị gia đình chúng ta rất dễ đi lạc sang các vùng giá trị xã hội khác [106] Theo Jagger

và Wright (2003) khi nghiên cứu về giá trị gia đình có bốn nhóm giá trị được quan tâm bao gồm: i) giá trị gia đình truyền thống; ii) giá trị gia đình được thể chế hóa trong hệ thống luật pháp thường được nghiên cứu trong bối cảnh thay đổi luật pháp

về gia đình với những biến đổi giá trị gia đình truyền thống; iii) khái niệm gia đình trong mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước; iv) gia đình trong chuyển đổi từ hiện đại đến hậu hiện đại Đối với mỗi nhóm giá trị này lại có những khía cạnh giá trị gia đình khác nhau Chẳng hạn với gia đình truyền thống, người ta quan tâm đến những khía cạnh mà con người hằng mong ước trong quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha

mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau Đối với mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước, vấn đề trách nhiệm của nhà nước hay gia đình trong việc chăm sóc người già

và trẻ em được đặt ra Một số giá trị gia đình có thể cùng xuất hiện ở nhiều thời kỳ khác nhau như tình yêu, quan tâm chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, trách nhiệm và sự cam kết thực hiện nghĩa vụ về lòng hiếu thảo, và sự giao tiếp, sự chung thủy [158]

+ Giá trị gia đình biểu hiện trong hôn nhân

Theo Sobotka và Toulemon (2008), các nghiên cứu ở Mỹ đã cho thấy hôn nhân đã trở nên không có vai trò quan trọng trong sản xuất kinh tế, tiêu dùng và chuyển giao tài sản từ thế hệ này sang thế hệ khác Hôn nhân không còn vai trò ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nam và nữ, sự chuyển đổi sang giai đoạn trưởng thành của nam và nữ Hôn nhân cũng không còn ý nghĩa so sánh khi bàn về trải nghiệm

Trang 20

tình dục, sắp xếp cuộc sống, sinh con và nuôi con Hôn nhân ngày nay không còn ý nghĩa thiêng liêng như trước mà nó ngày càng được nhìn nhận về tính thực tiễn hơn

là một thiết chế mang tính tôn giáo [195]

Trong nghiên cứu The most Important Person in the World: A look at Contemporary Family value (Người quan trọng nhất trên thế giới: Nhìn vào giá trị gia đình hiện đại) của Vandenheuvel (1991) cũng cho thấy, việc kết hôn để sinh con

và được an tâm hơn về mặt tài chính không còn được coi là lý do quan trọng nữa Hôn nhân không còn là điểm bắt đầu của việc chung sống và bắt đầu có quan hệ tình dục giữa nam và nữ [200] Theo Manning và cộng sự (2007), hiện nay việc tìm hiểu và kết hôn của thanh niên nam nữ đã có sự chuyển đổi Thay vì từ làm quen, tìm hiểu rồi đến kết hôn, họ chuyển từ tìm hiểu sang chung sống và sau đó có thể kết hôn hoặc không Phần nhiều những cặp nam nữ ngày nay coi sống thử và kết hôn là hai sự việc không loại trừ nhau mà sống thử trở thành một giai đoạn diễn ra trước khi tiến tới hôn nhân Mô hình hôn nhân truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng chung sống không kết hôn đã được chấp nhận rộng rãi [172]

Đối với châu Á, hôn nhân vẫn là một giá trị quan trọng trong quan niệm của

đa số người dân Việc sống không kết hôn hay kết hôn quá muộn ở châu Á vẫn chưa trở thành phổ biến Cuộc khảo sát về giá trị gia đình được thực hiện lặp lại năm 1993

và năm 2010 ở Singapore cho thấy, trong 10 người được hỏi thì có tới 8 người tin rằng hôn nhân là quan trọng [210] Tuy nhiên tuổi kết hôn của thanh niên ở khu vực này cũng ngày càng cao hơn Các cặp vợ chồng sau khi kết hôn thường thích sống riêng, và người vợ ngày càng tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động bên ngoài Trong bài viết Late marriage and low fertility in Singapore: the limits of policy (Hôn nhân muộn và mức sinh ở Singapore: giới hạn về chính sách) Jones (2012) đã chỉ ra rằng, tuổi kết hôn đã tăng lên và một số người còn lưỡng lự trong việc kết hôn bởi các vấn đề như: áp lực sinh con sau khi kết hôn, tỷ lệ ly hôn gia tăng, và đặc biệt sự độc lập về kinh tế của người phụ nữ khi các cơ hội về học tập và việc làm của họ ngày càng mở rộng [161]

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về chủ đề hôn nhân trong gia đình cũng được rất nhiều nhà khoa học quan tâm

Nghiên cứu của Barbieri và Vũ Tuấn Huy (1995) ở Thái Bình chỉ ra xu hướng chuyển biến mạnh mẽ từ các cuộc hôn nhân do gia đình sắp xếp sang hôn nhân dựa trên cơ sở tự do lựa chọn bạn đời của các cá nhân, và xác nhận rằng phần lớn những

Trang 21

người mới kết hôn có quyền tự chủ trong hôn nhân Tuy nhiên, tác động của các yếu

tố kinh tế xã hội đến xu hướng biến đổi trong sự sắp xếp hôn nhân chưa được đi sâu phân tích trong nghiên cứu này [116]

Belanger và Khuất Thu Hồng (1995) với nghiên cứu “Một số biến đổi trong hôn nhân và gia đình ở Hà Nội trong những năm 1965 – 1992” đã chỉ ra rằng, dù

có những thay đổi đáng kể giữa các thế hệ kết hôn, gia đình vẫn là trung tâm của quá trình tiến tới hôn nhân Trước hết, là sự mở rộng và đa dạng hóa cơ hội và cách gặp gỡ người bạn đời tương lai Con cái hầu hết được tự lựa chọn bạn đời tương lai

và cha mẹ giữ vai trò ra quyết định cuối cùng Đối với thế hệ trẻ, sự tương xứng giữa hai gia đình chỉ còn giới hạn trong các giá trị, truyền thống chứ không phụ thuộc vào khía cạnh chính trị Cũng giống thế hệ trước, hôn nhân có thể được tiến hành khi đã có sự độc lập về kinh tế nhưng tiêu chuẩn làm nhà nước đã không còn

là điều kiện bắt buộc cũng như không nhất thiết cả hai vợ chồng đều phải có công việc ổn định trước khi kết hôn Cuối cùng, nghiên cứu khẳng định trong quan niệm

về hôn nhân sau đổi mới đang trong giai đoạn quá độ hôn nhân - giao điểm của các

mô hình hôn nhân truyền thống, bao cấp và hiện đại Sự xuất hiện của bạn bè trong

sự quyết định kết hôn của thanh niên cũng đánh dấu sự phát triển các mối quan hệ ngoài gia đình của thế hệ trẻ [4]

Nguyễn Hữu Minh (1999) với “Quyền tự do chọn bạn đời ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng đã nhận định rằng “truyền thống và biến đổi” chỉ ra sự thay đổi một cách cơ bản trong bản chất của việc lựa chọn bạn đời Quyền lực của cha mẹ trong việc sắp xếp vợ chồng cho con cái ngày càng giảm đi trong khi những người trẻ tuổi ngày càng độc lập hơn trong việc quyết định cuộc đời của mình Sự tác động mạnh

mẽ của học vấn và nghề nghiệp lên quyền tự do lựa chọn bạn đời đã xác nhận giả thuyết về vai trò quan trọng của các yếu tố hiện đại hóa Bên cạnh đó, việc duy trì sự tham gia của cha mẹ vào việc lựa chọn bạn đời tương lai cho con cái không chỉ phản ánh áp lực duy trì truyền thống của xã hội mà nó cũng thể hiện sự duy lý trong quyết định của các cá nhân có tính đến tầm quan trọng của hôn nhân ở Việt Nam [63]

Tác giả Phạm Việt Tùng (2011) dưới góc nhìn xã hội học đã khẳng định rằng

sự biến đổi quy mô gia đình Việt Nam là một tất yếu không thể tránh khỏi do tác động của toàn cầu hóa Quy mô gia đình Việt Nam ngày càng thu nhỏ để đáp ứng những nhu cầu và điều kiện của thời đại mới đặt ra Bên cạnh đó, nó cũng thay đổi chính xã hội hay những giá trị của xã hội, làm cho sự bình đẳng nam nữ được đề

Trang 22

cao hơn, cuộc sống riêng tư của con người được tôn trọng hơn, tránh được những mâu thuẫn trong đời sống của gia đình truyền thống Sự biến đổi của gia đình cho thấy chính nó đang làm chức năng tích cực, thay đổi chính bản thân gia đình và cũng là thay đổi hệ thống xã hội, làm cho xã hội trở nên thích nghi và phù hợp hơn với tình hình mới, thời đại mới [103]

Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 cũng đưa ra con số gần 30% nhóm dân số đang có vợ chồng từ 15 tuổi trở lên chưa đăng ký kết hôn Tức là, hiện nay, đối với một bộ phận người dân, việc được công nhận quan hệ vợ chồng về mặt pháp

lý dường như chưa được coi trọng và tập trung ở nhóm người dân thuộc các dân tộc

ít người, người dân nghèo, người dân nông thôn hay có học vấn thấp ít quan tâm nhất đến việc đăng ký kết hôn [7] Mặt khác, tỷ lệ không đăng ký kết hôn hay chấp nhận việc chung sống không kết hôn có xu hướng tăng lên Theo số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy, trong số những người kết hôn từ năm 2001,

tỷ lệ chưa đăng ký kết hôn là 31,9% Tỷ lệ này ở nhóm kết hôn trước năm 2001 là 30,4% So sánh kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 và Điều tra thanh niên và

vị thành niên Việt Nam 2009 (SAVY 2) với nhóm thanh niên và vị thành niên

14-25 tuổi cho thấy tỷ lệ thanh niên được điều tra năm 2009 chấp nhận việc sống chung không hôn thú cao gấp khoảng 4 lần so với năm 2006 [68]

+ Giá trị gia đình biểu hiện trong mối quan hệ cha mẹ - con cái

Gia đình và mối quan hệ gần gũi với cha mẹ là yếu tố bảo vệ quan trọng đối với thanh, thiếu niên Trong xã hội, cha mẹ là người chịu trách nhiệm chính chăm sóc trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành, đặc biệt ở tuổi trước khi đi học, nơi trẻ có thể tiếp thu nhiều tri thức mới mẻ khác Các quan niệm, kì vọng, cách thức giáo dục, ứng xử khác nhau của cha mẹ và điều kiện chăm sóc ở các gia đình ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ [65, tr.93] Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò và vị thế của con cái trong gia đình đã dần tăng lên Tuy nhiên, mối quan hệ cha mẹ - con cái về cơ bản vẫn tuân thủ tôn ti trật tự truyền thống, pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em năm 1979, tại điều 11 nêu: trẻ em phải vâng lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ, anh chị Trẻ em phải thương yêu mọi người trong gia đình và biết giúp đỡ cha mẹ tùy theo sức của mình [83] Cha

mẹ vẫn là người quyết định mọi công việc có liên quan đến con cái Con cái phải luôn phục tùng sự chỉ bảo của người lớn tuổi trong gia đình [65, tr.94]

Trang 23

+ Về sinh con và nuôi dưỡng con cái

Các tác giả như VandenHeuvel (1991); Kim và Hoppe-Graff (2001) cũng đã

đi sâu nghiên cứu về sự biến đổi của giá trị con cái trong gia đình ở các nước châu

Á, về vai trò của người mẹ trong truyền thống và gia đình Hàn Quốc hiện đại , trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến giá trị tinh thần của đứa con, xem đó như là một nhân tố làm cho cuộc sống gia đình trở nên phong phú hơn Con cái ngày càng có ý nghĩa về mặt tình cảm hơn là sự đầu tư về kinh tế [164,200]

Vấn đề giá trị con cái, ứng xử giữa cha mẹ và con cái cũng được các nhà nghiên cứu Việt Nam đề cập đến như: Giá trị con cái trong gia đình Việt Nam - những vấn đề đặt ra [112]; Quan hệ cha mẹ - con cái vị thành niên: cơ sở lý luận và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam hiện nay [81]…, các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những biến đổi căn bản trong ứng xử giữa cha mẹ - con cái và việc đón nhận các giá trị mới của gia đình Một số chuyên luận gần đây về đời sống văn hóa và quan hệ giữa người cao tuổi với con cháu trong xã hội Việt Nam hiện nay của Lê Ngọc Lân

và cộng sự (2011) đều đi sâu phân tích vai trò, vị thế của người già và mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình hiện nay Giá trị của con cái là một trong những giá trị cơ bản của gia đình Các nghiên cứu cho thấy việc có con trai vẫn là một mục tiêu hướng đến của nhiều gia đình từ các góc độ khác nhau: nối dõi, nguồn nhân lực, trợ giúp khi tuổi già [52] Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 khẳng định rằng, đối với người dân, giá trị của con trai đã thay đổi, tuy nhiên, vẫn còn đến 36,7% người trả lời độ tuổi 18-60 bày tỏ quan điểm ủng hộ trong gia đình nhất thiết phải có con trai Động cơ có con trai để có người nối dõi tông đường là lý

do chính trong số những người cần có con trai [7] Đáng chú ý, ở nhóm thanh niên tuổi 14- 25 quan niệm này vẫn còn tồn tại Kết quả Điều tra thanh niên và vị thành niên Việt Nam 2009 công bố có đến 12,6% thanh niên coi trọng việc phải có con trai nối dõi Bên cạnh đó, xét theo các biến nhân khẩu xã hội, ở nông thôn thì tư tưởng trọng con trai phổ biến thành thị, tỷ lệ này cũng cao hơn ở nhóm dân tộc ít người so hơn nhóm người Kinh [68]

Nguyễn Lan Phương (1995) thông qua nghiên cứu xã hội học đã thu thập thông tin từ 201 người nhằm so sánh sự biến đổi tâm lý và xã hội về chuẩn mực và giá trị con cái trong gia đình ở Thái Bình Kết quả thu được cho thấy trong thời kỳ

1984 và 1994, mục đích việc có con do mong muốn, nguyện vọng của bản thân

Trang 24

ngày càng được coi trọng ở hai phía người vợ và người chồng, họ có xu hướng độc lập hơn trong quyết định số con sinh ra do sự chuyển đổi từ kinh tế tập trung sang kinh tế hộ gia đình và sự nâng cao địa vị của người phụ nữ Mục đích có con để nối dõi tông đường vẫn chiếm vị trí quan trọng hàng đầu bởi nhu cầu về lao động gia tăng và tập trung ở người nghèo có mức sống thiếu thốn Đối với nhóm này, lý do được đưa ra là việc có con và có con trai nối dõi như một hình thức “bảo hiểm lúc tuổi già” Nghiên cứu cũng chỉ ra khuynh hướng thay đổi giá trị và chuẩn mực về giá trị con cái là không bền vững mà diễn ra tuy cùng lúc nhưng theo hai hướng đối lập nhau Một mặt, sự gia tăng giá trị nối dõi, duy trì quy mô gia đình lớn Mặt khác, họ lại cân nhắc về quyết định sinh ít con vì các chi phí nuôi dưỡng con cái ngày một gia tăng [76]

Nghiên cứu của Cliquet (2003) về “Những xu hướng chính ảnh hưởng đến gia đình trong thiên niên kỷ mới ở Tây Âu và Bắc Mỹ” cũng chỉ ra những thay đổi

về hành vi sinh sản trong gia đình Đa số các gia đình ở Tây Âu và Bắc Mỹ đều mong muốn và có con, nhưng với số lượng ít Hầu hết các nước Châu Âu có mức sinh thực tế thấp hơn dự kiến, thậm chí ở một số nước là rất thấp và đi liền với việc gia tăng số lượng các cặp vợ chồng không con Việc trì hoãn sinh con cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ sinh giảm Tỷ lệ sinh con không hôn nhân tăng cao ở nhiều quốc gia được khẳng định là do sự gia tăng các hình thức chung sống khác nhau cũng như làm mẹ đơn thân Ở nước Mỹ, trẻ sinh của phụ nữ không kết hôn chiếm đến một phần ba tổng số trẻ sinh vào năm 2001 Ở Bắc Mỹ và Tây

Âu cũng có những thay đổi không nhỏ trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại (triệt sản, sử dụng hormon, đặt vòng) hơn là các phương pháp truyền thống

và cơ học trong giai đoạn từ giữa những năm 60 đến những năm 80 [131]

Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới năm 2018 khảo sát 1.759

cá nhân 16-70 tuổi tại 6 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền trên cả nước Kết quả cho thấy, con cái tiếp tục là một giá trị quan trọng trong hôn nhân nhưng người Việt Nam hiện nay không mong muốn có nhiều con, nhất là nhóm mang nhiều đặc điểm hiện đại Giới tính của con cái khá cân bằng, sự ưa thích con trai giảm dần Các giá trị của con cái đang chuyển dần từ giá trị xã hội (ưa thích con trai), giá trị an sinh (có người chăm sóc khi về già), giá trị kinh tế (có nguồn lao động) sang giá trị tâm lý - tình cảm (gắn kết hôn nhân, hoàn thiện bản thân) Nhóm

Trang 25

xã hội mong muốn có nhiều con đa số thuộc dân tộc ít người, nông thôn, học vấn thấp, mức sống dưới trung bình, và ngược lại, nhóm mong muốn và thực tế sinh ít con đa số là nhóm mang nhiều đặc điểm hiện đại [93]

+ Về vai trò giới và trách nhiệm trong gia đình

Nghiên cứu của Kaufman (2000) và Rhoden (2003) đã đề cập đến những thay đổi vai trò của nam giới và phụ nữ ở nhà và nơi làm việc đã có tác động đến đời sống gia đình nói chung và các giá trị trong quan hệ vợ chồng nói riêng Đặc biệt các tác giả đã đi sâu phân tích về sự độc lập về kinh tế của người phụ nữ dẫn đến những biến đổi vai trò của họ trong gia đình như: có nhiều lựa chọn cho cuộc sống cá nhân hơn, người phụ nữ cũng không phải cố gắng để cân bằng giữa đời sống gia đình

và công việc - điều hoàn toàn khác với mô hình hôn nhân truyền thống [163,185]

Nhà nghiên cứu Robert (2011) trong nghiên cứu tìm hiểu về sự phân công lao động gia đình ở một số xã hội nguyên thủy đã chỉ ra sự phân công lao động xuất phát nhiều từ sự khác biệt văn hóa hơn là sự khác biệt về đặc điểm sinh lý hai giới Mỗi dân tộc có những quan niệm khác nhau về bổn phận của nam giới và nữ giới Chẳng hạn, phần lớn người bản xứ ở Bắc Mỹ, việc thuộc da là của phụ nữ nhưng ở vùng Tây Nam lại là công việc của đàn ông Đối với người Hopi ở miền Bắc Arixona thì nam giới se sợi và dệt vải, trong khi người Navaho láng giềng lại coi đó

là công việc của đàn bà [77]

Inglehart (2008) cũng đã chỉ ra: “Các vai trò về giới đối lập nhau một cách rõ rệt vốn là đặc tính của mọi xã hội tiền công nghiệp hầu như không thể tránh khỏi phải được thay thế bởi các vai trò về giới ngày càng giống nhau ở xã hội công nghiệp tiên tiến [41, tr.29] Các tác giả Beck và Beck-Gernsheim (2002) nhận thấy rằng việc làm thỏa mãn những nhu cầu cá nhân là điều quan trọng nhất trong xã hội công nghiệp hiện đại Các cá nhân luôn mong muốn làm chủ cuộc đời mình [117] Roseneil & Budgeon (2004) thì chỉ ra rằng, những cặp vợ chồng nam nữ cùng sống với con cái không còn là nền tảng ở các xã hội phương Tây và không còn được đương nhiên xem là một đơn vị cơ bản trong xã hội Đó là do kết quả của tỷ lệ ly hôn gia tăng mạnh mẽ trong 30 năm qua và tỷ lệ trẻ em sinh ra ngoài quan hệ hôn nhân, bao gồm cả những trường hợp tự nguyện trở thành bà mẹ đơn thân, sự gia tăng trẻ em được nuôi dưỡng bởi chỉ người cha hoặc người mẹ, sự gia tăng tỷ lệ hộ gia đình đơn thân và tỷ lệ phụ nữ không sinh con Năm 2000, ở Anh chỉ có 23% hộ

Trang 26

gia đình có cặp vợ chồng kết hôn sống chung với con cái và tỷ lệ tương tự được báo cáo ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Australia [186]

Nghiên cứu về các chuẩn mực giới, hành vi nam tính và thái độ đối với sự ưa thích con trai ở Nepal và Việt Nam được thực hiện trên 2424 nam giới năm 2011 do Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu về Phụ nữ (ICRW) cùng phối hợp thực hiện với Trung tâm Nghiên cứu Môi trường, Gia đình và Dân số(CREHPA) ở Nepal và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) của Việt Nam Nghiên cứu cho thấy ở cả hai quốc gia, đa số nam giới đều có thái độ bình đẳng giới ở mức trung bình (không cao hay thấp) nhưng họ thiên về các vai trò giới truyền thống của phụ nữ Gần một nửa

số nam giới ở Nepal và hơn ba phần tư nam giới ở Việt Nam nhất trí rằng vai trò chủ yếu của phụ nữ là chăm sóc và nấu ăn trong gia đình Điều thú vị là ở cả hai quốc gia nhận định vai trò chủ yếu của phụ nữ là để sinh con trai cho gia đình nhà chồng không được nhiều người nhất trí Dữ liệu cho thấy ở cả hai quốc gia, nam giới đều có tư tưởng ưa thích con trai Hầu hết nam giới ở cả hai quốc gia đều ủng

hộ các mệnh đề về ưa thích con trai, cụ thể là các mệnh đề liên quan tới giá trị trực tiếp của việc có con trai Cả hai quốc gia đều có tỷ lệ cao những nam giới nhất trí với mệnh đề rằng con trai đóng vai trò quan trọng trong việc nối dõi tông đường và

để hỗ trợ chăm sóc khi họ về già Điều ngạc nhiên là rất ít nam giới tán thành với việc phá thai nếu mang thai bé gái, hay cho con gái đi làm con nuôi, hoặc từ bỏ vợ khi vợ họ không sinh được con trai Ở cả hai quốc gia, trình độ học vấn và loại hình nghề nghiệp của nam giới có liên quan mật thiết tới thái độ ưa thích con trai Ngoài

ra, có mối liên hệ rõ rệt giữa sự ưa thích con trai của nam giới và thái độ bình đẳng giới của họ (Thang đo thái độ của nam giới đối với bình đẳng giới - GEM scale) và

sự kiểm soát của nam giới đối với vợ của mình (chỉ số kiểm soát mối quan hệ) [108]

Trong nghiên cứu Gia đình Việt Nam và một số vấn đề đang đặt ra hiện nay,

đã chỉ ra một số vấn đề quan trọng của gia đình hiện nay trong quan hệ gia đình như

sự biến đổi quan hệ giới và các mối quan hệ khác [66]

Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đi sâu phân tích sự biến đổi gia đình thể hiện trong quyền ra quyết định, quyền sở hữu tài sản trong gia đình trên cơ sở số liệu Điều tra cơ bản về gia đình 2000 [105] Thang giá trị về gia đình trong thời kỳ đổi mới đề cao quan niệm bình đẳng giới là tiêu chí đầu tiên và cơ bản nhất để đảm bảo hạnh phúc gia đình, kể cả khu vực nông thôn và thành thị Sự hòa thuận, tôn trọng

Trang 27

giữa các thành viên, đặc biệt là bình đẳng giữa vợ và chồng là yếu tố tiên quyết, đặt nền móng cho việc xây dựng một gia đình văn minh hạnh phúc [3]

- Hướng nghiên cứu về sự biến đổi của giá trị gia đình

Trong quá trình chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, sự biến đổi những giá trị của gia đình truyền thống và sự hình thành những hình thái mới là một tất yếu

Inglehart (1977, dẫn theo Trương Thị Khánh Hà, 2016) đã đưa ra “Lý thuyết biến đổi giá trị giữa các thế hệ” với nội dung cốt lõi của lý thuyết biến đổi giá trị giữa các thế hệ cho rằng: có sự chuyển đổi về giá trị giữa các thế hệ từ giá trị duy vật (hiện đại) sang hậu duy vật (hậu hiện đại) Tác giả nhấn mạnh thứ bậc ưu tiên các giá trị chứ không phải về mức độ mạnh hay yếu của chúng và phân tích xu hướng biến đổi giá trị giữa các thế hệ, thực chất là xu hướng biến đổi giá trị từ xã hội truyền thống, đến xã hội hiện đại và cuối cùng là xã hội hậu hiện đại Luận điểm trên của Inglehart đã bị phản kháng mạnh mẽ bởi dư luận của các nhà nghiên cứu thời bấy giờ cứ khăng khăng cho rằng không hề có sự biến đổi xã hội nào diễn ra

cả, sự thay đổi chẳng qua chỉ là sự khác biệt về vòng đời và sự khác biệt về vòng đời này sẽ mất đi khi những thế hệ trẻ hơn già đi [19, tr.50-51]

Tuy nhiên, đến thập kỷ 90 thì những người chống lại quan điểm của Inglehart cũng bắt đầu phải đi đến chỗ công nhận rằng ở các nước phương Tây, định hướng giá trị đang chuyển dịch khi kết quả của hai cuộc nghiên cứu đồ sộ về giá trị là Nghiên cứu các giá trị châu Âu (The European Values Study - EVS) và Khảo sát giá trị thế giới (The World Values Survey - WVS) được thực hiện từ năm

1981 đã tiến hành điều tra hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới Kết quả cho thấy, có những thay đổi về văn hoá và xã hội phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế và lịch sử của mỗi quốc gia Trong sự chuyển dịch giá trị hiện đại sang các giá trị hậu hiện đại, Inglehart chỉ ra một số nội dung liên quan đến con người như: bớt tôn trọng quyền lực và đề cao việc tham gia tự thể hiện; đề cao hơn nữa sự quan tâm đến hạnh phúc chủ quan và chất lượng cuộc sống hơn là tăng trưởng kinh kế; hành vi tình dục, sinh sản và gia đình có khuynh hướng thoát ra khỏi những chuẩn mực cứng nhắc; giảm sút lòng tin vào các nhà thờ và ít đề cao tôn giáo có tổ chức hơn Bên cạnh đó, xu hướng nhấn mạnh tầm quan trọng của chức năng tâm lý của gia đình trong việc nuôi nấng con cái - gia đình đem lại tình yêu, sự tự trọng và xã hội hóa

Trang 28

cho trẻ so với sự xói mòn các chức năng kinh tế và xã hội của gia đình Các cuộc điều tra giá trị này cũng cho thấy có một loạt giá trị và thái độ có liên quan đến chính trị, lao động, nghề nghiệp, tôn giáo và chuẩn mực giới tính và nuôi dạy con cái đều có sự chuyển đổi từ chỗ mang tính duy vật và hiện đại sang hậu duy vật và hậu hiện đại Sự biến đổi qua các thế hệ biểu hiện ở chỗ những ưu tiên giá trị của người già và người trẻ khác nhau, người già có thái độ tương tự như những người duy vật và người trẻ có thái độ tương tự như người hậu duy vật Tuy nhiên, không phải tất cả các nước tiến hành điều tra giá trị thế giới đều cho thấy những biểu hiện thay đổi giá trị theo chiều hướng giống nhau mà có sự khác nhau tùy theo từng nước [19, tr.57-58]

Những xã hội chịu ảnh hưởng mạnh của các giá trị truyền thống thường cho thấy mức độ chấp nhận thấp với một số hiện tượng như nạo hút thai, li hôn, tình dục đồng giới, không chăm sóc cha mẹ, không quan tâm đến con cái Vai trò truyền thống khuyến khích mọi người kết hôn Các cặp vợ chồng có quan điểm truyền thống luôn có kế hoạch có con sớm sau khi kết hôn, Trong truyền thống, tính tập thể, tính cộng đồng là khá rõ nét Mục tiêu chính của xã hội truyền thống là làm cha

mẹ tự hào về bản thân - cá nhân phải luôn yêu thương, tôn trọng cha mẹ, bất kể họ

cư xử như thế nào Ngược lại, cha mẹ phải có trách nhiệm làm hết sức vì con cái dù

có phải vất vả thế nào Con người trong các xã hội truyền thống thích gia đình quy

mô lớn [157, 194] Nhìn chung, có thể nói rằng, xã hội này có xu hướng ưa chuộng các hình thức quản trị mang tính quyền lực, thứ bậc và rất chú trọng và quan tâm tới đời sống tâm linh, tôn giáo [194] Trong xã hội hiện đại, sự biến đổi giá trị diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau Ví dụ, vai trò của người cao tuổi đã giảm sút, ngay cả ở những quốc gia có nền tảng Nho giáo coi trọng đạo hiếu như Hàn Quốc [156]

Hình thức hiện đại của gia đình đặc trưng bởi mức sinh thấp, ly hôn, sống chung trước hôn nhân, và sinh con ngoài giá thú, kết hôn muộn, gia đình hạt nhân, phân chia theo giới, bình đẳng giới trong lao động, là mong muốn và thậm chí không thể tránh khỏi khi xã hội phát triển Sự chấp nhận mô hình phát triển này có thể nhìn thấy ngay cả trong các xã hội Đông Á mặc dù nhiều đặc điểm của gia đình Đông Á truyền thống vẫn còn nguyên vẹn [154]

Nhóm tác giả Letablier và Pennec (2003) trong một nghiên cứu thực hiện vào những năm 2000 trên 11 quốc gia Châu Âu về Sự thay đổi cấu trúc gia đình ở Châu

Trang 29

Âu đã chỉ ra sự thay đổi cấu trúc gia đình là kết quả của sự già đi của dân số, sự suy giảm khả năng sinh sản và sự gia tăng tỷ lệ sinh sau khi nghỉ hưu (do sự trì hoãn kết hôn) Hình thái gia đình cũng thay đổi theo xu hướng gia đình hạt nhân và sự xuất hiện các gia đình đơn thân Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ việc làm của phụ nữ đã tăng lên kéo theo sự gia tăng về năng lực tài chính của người phụ nữ [168]

Trong khi các gia đình phương Tây nghiêng về lựa chọn các giá trị hiện đại thì gia đình châu Á tỏ ra dè dặt hơn trước tác động của toàn cầu hóa đến việc thay đổi các giá trị gia đình Nghiên cứu về Hệ thống gia đình Nhật Bản thế kỷ XX của Kato (2013) đã chỉ ra hệ thống gia đình Nhật Bản đã bắt đầu thay đổi từ mô hình gia đình truyền thống sang mô hình gia đình hạt nhân Sự tác động của công nghiệp hóa

và đô thị hóa là những nguyên nhân chính gây giảm sự liên kết giữa các thế hệ trong hôn nhân [162]

Popenoe (1988) đưa ra giả thuyết về mô hình gia đình truyền thống những năm 1950, bao gồm cha mẹ và con cái của họ và hiện tượng mô hình này tan rã do

tỷ lệ ly dị gia tăng vào cuối thế kỷ XX đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong xã hội Mỹ [181] Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra những tác động bất lợi của sự tan

rã của mô hình gia đình truyền thống đối với sự phát triển của trẻ em [173,201]

Nghiên cứu của Murphy (1999) về giá trị gia đình của trẻ em ở Mỹ trong các gia đình có cha mẹ đã kết hôn và cha mẹ không kết hôn cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về giá trị gia đình của trẻ Nói cách khác, trẻ sinh ra bởi cha mẹ không hôn thú vẫn có nền tảng giá trị gia đình tích cực như trẻ sinh ra trong gia đình

có bố mẹ kết hôn với nhau Điều này được lý giải thông qua mô hình thông tin bất đối xứng của hôn nhân của tác giả [179]

Nhóm tác giả Ester, Braun và Mohler (2006) đề cập đến một số chủ đề so sánh thú vị: liệu sự hội tụ giá trị hay sự chia rẽ giá trị có xảy ra; liệu các giá trị truyền thống có thực sự giảm sút hay không theo các lý thuyết hiện đại hóa? và liệu các thế hệ trẻ có đóng vai trò tiên phong trong việc thay đổi văn hóa hay không [140] Scott và Braun (2006) đã chỉ ra sự thay đổi giá trị gia đình theo hướng cá nhân hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa ở châu Âu Các tác giả tìm hiểu cách các giá trị đã thay đổi theo thời gian và giữa các quốc gia Hai khía cạnh của giá trị gia đình được xem xét: (1) nhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ gia đình cốt lõi liên quan đến hôn nhân và làm mẹ, và (2) niềm tin về các quyền đúng và sai của các

Trang 30

hành vi cụ thể liên quan đến gia đình hoặc tình dục Phân tích của nhóm tác giả khẳng định rằng giá trị gia đình ngày càng được tương đối hóa hoặc cá nhân hoá Trên cơ sở các tài liệu lý thuyết và thực nghiệm cho đến nay, Scott và Braun (2006) giả thuyết rằng ranh giới của gia đình chấp nhận được và hành vi tình dục đã thay đổi và đa dạng Tuy nhiên, tác giả cũng mong muốn tìm thấy sự liên tục và nhất trí liên quan đến tầm quan trọng của các mối quan hệ gia đình cốt lõi Nhóm nghiên cứu cũng tập trung đặc biệt vào sự khác biệt giữa các quốc gia đã thay đổi theo thời gian và sự thay đổi có liên quan đến những khác biệt giữa các thế hệ về giá trị gia đình như thế nào Hai xu hướng xã hội chủ yếu liên quan đến sự phân chia giai cấp Thứ nhất, việc chuyển đổi vai trò giới, gắn liền với sự tham gia ngày càng tăng của phụ nữ vào lực lượng lao động, có nghĩa là các hệ tư tưởng truyền thống về hôn nhân và làm mẹ có thể ngày càng bị các thế hệ gần đây loại bỏ Thứ hai, quá trình thế tục, đã tập hợp được nhiều tiến bộ cho các thế hệ gần đây, có thể đã làm xói mòn nền tảng của nhiều hoàn cảnh tinh thần liên quan đến các vấn đề và hành vi gia đình bao gồm ly dị, ngoại tình, đồng tính luyến ái và phá thai [192]

Nghiên cứu của Center (2002) còn đề cập đến sự suy giảm giá trị bền vững của gia đình, thể hiện trong quan niệm của mọi người về ý nghĩa của gia đình, về tỉ

lệ ly hôn và sự hài lòng về đời sống gia đình trong các xã hội hiện đại ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản [124]

Nghiên cứu của Phạm Minh Hạc (1995a) chỉ ra rằng: Việt Nam đến thời đổi mới (từ 1986) phần lớn là gia đình hạt nhân, gia đình nhiều thế hệ ít hơn, đại đa số kết hôn ở tuổi muộn hơn Trong xu thế đó, giá trị gia đình cũng đứng trước những thách

đố mới: li hôn nhiều hơn, bạo lực gia đình, lao vào làm ăn kinh tế ít quan tâm đến giáo dục con cái, cảnh gia đình tan vỡ Giá trị gia đình tiếp tục biến động theo lẽ tự nhiên trong quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa cái hay và cái dở, cái cũ và cái mới, truyền thống và hiện đại, giữa thế hệ trước và thế hệ sau [21]

Theo kết quả khảo sát trên 1.500 người do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế

và Môi trường (iSEE) tiến hành trong tháng 5 và 6/2015 công bố tại Tọa đàm “Các giá trị cốt lõi và thách thức của các loại hình gia đình đương đại Việt Nam” ngày 25/6/2016, gia đình Việt đang đối mặt với một số vấn đề như: xung đột, bất hòa giữa các thành viên trong gia đình (27,5%), ngoại tình (16%), nợ quá khả năng chi trả (9,9%) và các vấn đề khác Trong khi đó, khuôn mẫu giới “đàn ông là trụ cột gia

Trang 31

đình” hay “con không cha như nhà không có nóc” vẫn phổ biến, một mặt dẫn đến định kiến với các gia đình đơn thân; mặt khác dẫn đến những áp lực đối với nam giới về kiếm tiền nuôi gia đình (54,2%), cân bằng giữa công việc và gia đình (37,9%) hay quan hệ với họ hàng (16%) Người đồng tính, song tính và chuyển giới gặp áp lực cao trong các khía cạnh liên quan đến hôn nhân với người khác giới như kết hôn (27,5%), sinh con (25%) và kéo theo đó là những áp lực trong quan hệ với

họ hàng (20%) Những thay đổi trong quan điểm về loại hình và giá trị gia đình thể hiện qua một tỷ lệ không nhỏ ủng hộ gia đình có vợ hoặc chồng là người nước ngoài (49%) và gia đình đồng tính (19%) Tỷ lệ khá cao người được hỏi có quan điểm trung lập với loại hình gia đình đơn thân do ly hôn (35,5%), đơn thân do không kết hôn (33,7%), sống chung không kết hôn (26,4%) hoặc gia đình không có con (32,1%) cho thấy độ cởi mở nhất định với những loại hình gia đình này Xu hướng người dân thành thị ủng hộ các loại hình gia đình phi truyền thống cao hơn

so với nông thôn [214]

Tác giả Đào Thị Mai Ngọc (2014) đã khẳng định rằng trong các gia đình đang có nhiều thay đổi trong quan hệ vợ chồng, từ cách ứng xử, sự phân công lao động đến giải quyết công việc gia đình: bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau chia sẻ trách nhiệm với gia đình, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển Nghiên cứu cũng chỉ ra một thực tế rằng, sự gắn kết của các thành viên trong gia đình ngày nay lỏng lẻo, thiếu tính bền vững hơn trước [71]

Có thể nói, các nghiên cứu quốc tế về biến đổi giá trị gia đình cho thấy, đang

có sự giao thoa mạnh mẽ giữa truyền thống và hiện đại ở các nước trên thế giới như châu Âu, Mỹ nói chung và các nước công nghiệp mới ở châu Á nói riêng, thể hiện trong sự biến đổi về hôn nhân và gia đình, sinh con-nuôi dưỡng con cái, mối quan

hệ cha mẹ - con cái, vai trò giới và trách nhiệm trong gia đình Các nghiên cứu nói trên đã giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn so sánh trong nghiên cứu về giá trị gia đình giữa các khu vực trên thế giới, tiếp nhận các lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu hiện đại để phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Tóm lại, trong các công trình trên đã chứa đựng những phân tích đáng chú ý

về hệ giá trị gia đình trên các phương diện Các nghiên cứu này đã gợi mở cho nghiên cứu sinh trong các cách tiếp cận khác nhau về nghiên cứu giá trị gia đình và

có được cái nhìn tổng thể về bức tranh chuyển đổi giá trị gia đình trên thế giới và ở

Trang 32

Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, thông qua việc điểm qua các công trình nghiên cứu của Việt Nam cũng cho thấy, vấn đề giá trị gia đình từ trước đến nay hầu hết mới chỉ được đề cập một cách gián tiếp trong các công trình nghiên cứu về gia đình Việc nghiên cứu hệ giá trị gia đình một cách hệ thống với cơ sở lý luận và khung phân tích cụ thể mới lần đầu tiên được tiến hành năm 2015 mang tên Hệ giá trị gia đình Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học của nhóm tác giả Lê Ngọc Văn và cộng sự

Ở đây, các tác giả đã đặt hệ giá trị gia đình trong khung lý thuyết hiện đại hóa và lý thuyết nhóm để giải thích sự vận động và biến đổi của nó trên ba chiều cạnh là sự biến đổi giá trị gia đình trong đời sống vật chất, trong đời sống tinh thần - tâm linh

và trong ứng xử gia đình [107]

Như vậy có thể thấy, cho đến nay vấn đề hệ giá trị gia đình Việt Nam căn bản vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách độc lập, mặc dù so với trước, các chiều cạnh của hệ giá trị gia đình đã được gián tiếp đề cập một cách phong phú, đa dạng hơn Hơn nữa, các công trình hầu hết được xem xét dưới góc độ xã hội học nhằm chỉ ra quy luật xã hội của gia đình Vì thế, những công trình tâm lý học về giá trị gia đình tập trung vào cá nhân, hành vi xã hội và hoạt động tâm lý của con người đang là mảnh đất rộng mở và đầy thử thách cho các nhà nghiên cứu hiện nay

1.2 Một số nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình của thanh niên

Cùng với các đề tài tìm hiểu về giá trị gia đình, các nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình cũng như định hướng giá trị gia đình của thanh niên cũng được các nhà khoa học quan tâm Các nội dung mà các nghiên cứu này hướng đến cũng tập trung vào xem xét cách đánh giá và lựa chọn của cá nhân đối với các biểu hiện của giá trị gia đình

- Hướng nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình là bộ phận của định hướng giá trị chung

Đầu tiên, có thể kể đến các công trình nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình như một phần của định hướng giá trị

Đề tài “Các định hướng giá trị -chuẩn mực của học sinh trung học phổ thông” của Xovkin tiến hành năm 1982 đã phân tích và so sánh các đặc điểm về định hướng giá trị của giới trẻ Nga và Do Thái, trong đó tác giả đặc biệt chú ý sự đánh giá của khách thể về tầm quan trọng của các giá trị gia đình Ông đã phát hiện một đặc trưng quan trọng là tuổi vị thành niên Do Thái tuân thủ truyền thống dân

Trang 33

tộc một cách tự nguyện hơn so với đồng trang lứa ở Nga Ngược lại, tuổi vị thành niên Nga thì định hướng sâu sắc về các giá trị vật chất hơn các giá trị tinh thần so với lứa tuổi này ở Do Thái…[51]

Nghiên cứu The Values of Youth in Canada (Giá trị của thanh niên Canada) cũng tổng hợp rằng các nghiên cứu định tính về giá trị và giá trị gia đình của thanh niên đều có cùng một hướng đó là gia đình giữ một vị trí quan trọng trong hệ giá trị của thanh niên, mặc dù đã xuất hiện những căng thẳng không thể tránh khỏi [207,208] Một số lượng lớn thanh niên vẫn sống với cha mẹ của họ cho đến khi họ đến giữa hoặc cuối những năm 20 tuổi, hoặc họ sống gần đó khi họ bắt đầu kết hôn

Đa số người trẻ trong nghiên cứu mong muốn một mô hình gia đình lý tưởng là gia đình có nền kinh tế tốt và ít con để có một chất lượng cuộc sống tốt hơn [174,209]

Nghiên cứu về xu hướng truyền thống và hiện đại trong định hướng giá trị gia đình của thanh niên cũng được rất nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Nghiên cứu

về định hướng giá trị của trẻ theo lứa tuổi và mối quan hệ của nó với tính cách cá nhân do Iakimovich thực hiện năm 1990 là một nghiên cứu tìm hiểu xu hướng truyền thống hay hiện đại trong định hướng giá trị của nhóm trẻ vị thành niên từ 12 đến 17 tuổi, tác giả đã chỉ ra rằng trẻ bình thường có xu thế hướng tới các giá trị truyền thống, đặc biệt là các giá trị cơ bản của cuộc sống gia đình hạnh phúc, bạn bè, công việc thú vị, tình yêu, sức khỏe [16]

Nghiên cứu của Mitev và Kovačeva (2014) chỉ ra giới trẻ Bulgaria đã có những xu hướng thay đổi hệ giá trị theo hướng cá nhân hóa Đối với giá trị gia đình,

sự thay đổi chính của thế hệ trẻ là hướng tới sự độc lập, họ có lối sống cũng như lập trường riêng ngay cả khi sống cùng nhà với bố mẹ, cũng như quyền tự quyết trong lựa chọn bạn đời và kết hôn Họ xem sự hình thành gia đình theo cách có trách nhiệm và có khuynh hướng trì hoãn nó cho đến khi họ cảm thấy họ đã sẵn sàng Họ ủng hộ mô hình gia đình hạt nhân và tầm quan trọng của tình yêu khi quyết định kết hôn Cùng với đó, họ cũng tán thành xu hướng sống chung không cần kết hôn [177]

Tác giả Mukhtar (2015) khi nghiên cứu về sự thay đổi giá trị ở Kazakhstan cho thấy người trẻ quan tâm đến khả năng cạnh tranh cá nhân, sự nghiệp, thành công, tinh thần kinh doanh, chủ nghĩa duy lý và tự do tín ngưỡng (dưới điều kiện cải cách

xã hội, sự xuất hiện của các cơ hội mới, tăng tính cạnh tranh và đòi hỏi tính chuyên nghiệp) so với thế hệ trước [175]

Trang 34

Ở Việt Nam, nghiên cứu về “Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập” do Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên chủ trì được xem như

là một công trình quy mô đầu tiên nghiên cứu về định hướng giá trị, trong đó có định hướng giá trị gia đình Đề tài này là kết quả tìm hiểu nhiều năm của các tác giả

về vấn đề định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập trong khuôn khổ các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX.07 (1991-1995), KHXH.04 (1996-2000), KX.05 (2001-2005) và là kết quả của sự hợp tác quốc tế về “Điều tra định hướng giá trị thế giới” do Viện Nghiên cứu xã hội Đại học Michigan (Mỹ) tiến hành tại Việt Nam (2001) Trong đó, các tác giả đã điều tra, khảo sát định hướng giá trị con người Việt Nam mà phần đông khách thể là học sinh, sinh viên trong thời kì đổi mới và hội nhập Những khảo sát về định hướng giá trị trong tình yêu, hôn nhân, gia đình cho thấy sự lành mạnh trong tình cảm đôi lứa, trong tiêu chuẩn chọn người yêu, bạn đời của giới trẻ ngày nay Và các giá trị được thanh niên, sinh viên đề cao để có gia đình hạnh phúc là vợ chồng bình đẳng, vợ chồng cùng có trách nhiệm chăm sóc con cái, tài sản gia đình là của chung, vợ chồng phải chân thành giúp đỡ nhau, vợ chồng phải biết điều… [28,29]

Công trình nghiên cứu của Đỗ Ngọc Hà (2002) khái quát và hệ thống hóa cơ

sở lý luận tâm lý học về giá trị và định hướng giá trị của thanh niên sinh viên Tác giả tập trung vào ba nội dung cơ bản là định hướng về mục đích sống, về hoạt động lao động và về mối quan hệ con người Trong biểu hiện định hướng giá trị về mối quan

hệ giữa con người với con người, các tiêu chí về tôn trọng người cao tuổi, đề cao ý nghĩa của tình yêu và sự độc lập trong cuộc sống gia đình được tác giả xác định là những quan niệm được thanh niên sinh viên chấp nhận và có tính phổ biến [17]

Vũ Hào Quang (2001) trong công trình nghiên cứu về “Định hướng giá trị của sinh viên là con em cán bộ khoa học” đã sử dụng những phương pháp và cách tiếp cận xã hội học để lý giải một hiện tượng xã hội đó là định hướng giá trị của sinh viên hiện nay Tác giả tập trung phân tích mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình,

xã hội với sự nhấn mạnh yếu tố xã hội quyết định sự lựa chọn các giá trị hiện tại trên cơ sở chi phối rất mạnh mẽ của các giá trị hạt nhân đó là giá trị huyết thống và tình cảm Sinh viên mong muốn và đòi hỏi ở người mình yêu một tình yêu chân thành, họ thiên về những giá trị tri thức hiểu biết hơn giá trị vất chất, tiền bạc Mô hình gia đình lý tưởng là loại gia đình hạt nhân, dân chủ trong quan hệ nam nữ, vợ

Trang 35

chồng tuy nhiên vẫn còn tiềm ẩn tính chất gia trường trong mong muốn duy trì chế

độ phụ quyền của một bộ phần nam giới Đa số sinh viên mong muốn có hai con trong đó không có nhiều sự khác biệt trong mong muốn có con trai hay con gái [84]

- Hướng nghiên cứu về từng nội dung biểu hiện của định hướng giá trị gia

đình của thanh niên

Cùng với chủ đề thanh niên là hướng nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị của nhóm thanh niên Sự biến đổi lối sống của thanh niên đang diễn ra mạnh mẽ

là kết quả của quá trình đổi mới và phát triển của đất nước Bên cạnh những yếu tố tích cực như tính năng động sáng tạo, dám chịu trách nhiệm cá nhân… lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay cũng đang đặt ra nhiều câu hỏi băn khoăn cho các thế

hệ đi trước, chẳng hạn như sự ích kỷ vụ lợi, hành động theo sở thích, ít quan tâm đến những người xung quanh mình Lứa tuổi thanh niên có đặc điểm là: hình thành biểu tượng “cái tôi” có tính hệ thống; hình thành thế giới quan; nảy sinh cảm nhận

về “tính chất người lớn” của bản thân [3] Tính thiết thực trong định hướng giá trị của thế hệ trẻ ngày nay không chỉ giới hạn ở những đảm bảo về vật chất mà cả những tiến bộ về tinh thần, học vấn và tay nghề [53] Thế hệ trẻ cũng có xu hướng độc lập với gia đình sớm hơn trước đây Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế được xây dựng trên nguyên tắc tiếp cận về văn hóa, lối sống của thanh niên Việt Nam, góp phần nhận diện xu hướng biến đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay [97] Việc định hướng giá trị của thanh niên sinh viên hiện nay và cơ sở cách tiếp cận tâm lý

xã hội trong nét tâm lý đặc trưng về định hướng giá trị của thanh niên hiện nay đã phân chia định hướng giá trị của thanh niên theo cấu trúc: giá trị xã hội và giá trị đối với cuộc sống hàng ngày [15,16] Với cách phân chia như vậy đã chỉ ra được nhiều giá trị đã có sự thay đổi so với truyền thống như việc coi trọng yếu tố học vấn, nghề nghiệp, coi trọng tự do cá nhân, ít lệ thuộc vào giáo dục gia đình Những nghiên cứu trên cho thấy vai trò và tác động của các giá trị bao gồm cả các giá trị truyền thống

và hiện đại dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay Các nghiên cứu này tập trung làm rõ những mặt chung nhất quy định sự tồn tại của nhân cách và hoạt động sống của thanh niên Đặc biệt các kết quả nghiên cứu trên

đã đưa ra mô hình lý thuyết nghiên cứu đặc trưng định hướng giá trị của thanh niên Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu quan tâm tới hệ thống giá trị

Trang 36

đang được hình thành trong thanh niên chứ chưa quan tâm nhiều đến các tác động

và biểu hiện của các giá trị truyền thống trong thanh niên hiện nay Có thể nói nhìn vào dáng vẻ của thanh niên trong một xã hội là có thể biết được hiện trạng của xã hội đó [45] Thanh niên bao giờ cũng là lực lượng đột phá trong một xã hội trì trệ, là những gì biến động nhiều nhất trong một xã hội đang biến động Sự phát triển của một xã hội được đo bằng cường độ hoạt động vốn được tập trung vào các nguồn lực thanh niên của xã hội đó, vào việc phát huy sức sáng tạo của thanh niên và vai trò của gia đình đối với việc giáo dục giá trị truyền thống [42] Những nghiên cứu không chỉ khẳng định vai trò to lớn trong việc bảo lưu, giáo dục giá trị truyền thống cho thanh niên mà còn đưa ra một số giải pháp tăng cường vai trò của gia đình đối với việc giáo dục giá trị truyền thống cho thanh niên trong điều kiện hiện nay

Phần lớn các nghiên cứu hiện nay không trình bày khái quát về định hướng giá trị gia đình mà tập trung tìm hiểu theo từng mặt biểu hiện, từng khía cạnh hay từng nội dung của định hướng giá trị gia đình

Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng (2011) phân tích thái độ và sự biến đổi thái

độ của thanh thiếu niên Việt Nam về một số vấn đề hôn nhân và gia đình Kết quả phân tích cho thấy tình trạng nam nữ chung sống không kết hôn được một bộ phận thanh thiếu niên chấp nhận và tỷ lệ chấp nhận có xu hướng tăng lên sau 3 năm Nhóm nam thanh thiếu niên sinh sống ở thành thị, có sử dụng Internet chấp nhận hiện tượng

xã hội này cao hơn so với nhóm nữ giới, nhóm sống ở nông thôn và nhóm không sử dụng Internet Tỷ lệ chấp nhận việc “phụ nữ không chồng mà có con” cũng tăng đáng

kể sau 3 năm Một bộ phận thanh thiếu niên có xu hướng chấp nhận sống độc thân như là một lối sống Và vẫn còn một số lượng đáng kể thanh thiếu niên coi trọng việc phải có con trai Ngoài ra, bài viết cũng đưa ra một số gợi ý về chính sách nhằm định hướng thái độ tích cực của thanh thiếu niên về quan hệ hôn nhân và gia đình [68]

Nguyễn Thị Bích Điểm (2005) trong nghiên cứu về Định hướng giá trị cuộc sống gia đình của các vợ chồng trẻ ở nông thôn đã chỉ ra “Định hướng giá trị cuộc sống gia đình chính là quá trình các gia đình trẻ xác định những giá trị của cuộc sống gia đình, trên cơ sở đó hình thành nên lối sống, phong cách giao tiếp và toàn

bộ hành vi của các thành viên trong gia đình” Trong 29 yếu tố giá trị theo nhóm những yếu tố giá trị về đạo đức, kinh tế, văn hóa , hầu hết các vợ chồng trẻ đánh giá cao những yếu tố thuộc nhóm những giá trị về đạo đức, tâm lý tình cảm, trong

Trang 37

đó, những giá trị về hòa thuận trong gia đình, giá trị chung thủy vợ chồng được các

vợ chồng trẻ đánh giá cao nhất Hòa thuận, yêu thương và tôn trọng nhau là những giá trị rất quan trọng của cuộc sống gia đình, là “chất keo” gắn kết họ với nhau và là điều quan trọng để gia đình bền vững và phát triển Nghiên cứu cũng chỉ ra giá trị con cái được đánh giá cao, xếp thứ hai sau giá trị đạo đức và tâm lý tình cảm Con cái là trung tâm của gia đình, là sợi dây kết nối bền chặt giữa vợ và chồng và giá trị con cái không phải là đông con, đông của mà là chất lượng của những đứa con (con ngoan, hiếu thảo và được học hành) Ngoài ra, giá trị kinh tế chiếm giữ một ví trị khá quan trọng trong gia đình và là một trong những giá trị cơ bản để tạo nên hạnh phúc gia đình Xu hướng muốn tách ra sống riêng cũng được đề cập đến khá rõ nét Với thanh niên khi kết hôn thì gia đình trẻ với tư cách là giai đoạn đầu tiên, cực kỳ quan trọng trong suốt chặng đường phát triển của cuộc sống gia đình Những sự kiện diễn ra trong giai đoạn đầu của cuộc sống gia đình sẽ để lại “dấu ấn” sâu sắc trong những giai đoạn phát triển tiếp theo của cuộc sống gia đình, cũng như nhân cách con người phụ thuộc vào những ấn tượng đầu tiên từ thời thơ ấu Cho nên, việc xác định đúng đắn các giá trị của cuộc sống gia đình sẽ có một ý nghĩa lớn, giúp cho các gia đình trẻ có sự phát triển đúng hướng, tạo cơ sở vững chắc cho những giai đoạn phát triển tiếp sau của gia đình [12]

Trần Thị Phụng Hà và Nguyễn Ngọc Lẹ (2014) với đề tài “Định hướng giá trị trong tình yêu - hôn nhân và gia đình của sinh viên Đại học Cần Thơ” nhận thấy rằng: Trong các yếu tố cần thiết để có được gia đình hạnh phúc thì yếu tố vợ chồng chung thủy là quan trọng nhất rồi đến tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, gia đình phải có bầu không khí vui vẻ, không có bạo lực tinh thần và thể xác, các thành viên trong gia đình yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau… Bên cạnh đó, việc có đăng ký kết hôn cũng như có nghề nghiệp ổn định là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên hạnh phúc gia đình Có đến 85,9% sinh viên cho rằng chính bản thân họ sẽ là người quyết định hôn nhân Trong 18 yếu tố (phẩm chất, đức tính và tính cách) mà họ mong muốn có được ở người bạn đời, hầu hết có cùng quan niệm là tính chung thủy, chân thành, trung thực là quan trọng nhất; trong khi đó các yếu tố như cùng trình độ học vấn, ngoại hình đẹp, con nhà giàu luôn luôn xếp ở thứ hạng thấp nhất Điều đó càng chứng minh nhóm sinh viên được nghiên cứu đánh giá cao các giá trị tinh thần hơn các giá trị vật chất [20]

Trang 38

Nghiên cứu về Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên của Nguyễn Đỗ Hồng Nhung và Nguyễn Văn Lượt (2010) đã đề cập đến quan niệm

về hôn nhân dựa trên các phương diện: quan niệm của sinh viên về bản chất hôn nhân, thời điểm kết hôn, người quyết định chính trong cuộc hôn nhân Nghiên cứu cho thấy rằng, những quan niệm về hôn nhân của sinh viên vẫn đề cao những giá trị truyền thống với đa số sinh viên cho rằng: “Hôn nhân là sự kết hợp giữa người nam

và nữ thanh niên dựa trên cơ sở tình nguyện và được pháp luật công nhận” (chiếm 76.6%) và “Hôn nhân là kết quả của tình yêu” (chiếm 75.2%) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 85.7% sinh viên có dự định kết hôn sau khi có nghề nghiệp ổn định

và 92% sinh viên cho rằng họ sẽ là người quyết định chính trong hôn nhân của mình Phần lớn sinh viên đã có định hướng người bạn đời của mình phải có trình độ học vấn bằng hoặc cao hơn mình, có nghề nghiệp ổn định, lương cao, coi trọng phẩm chất “chung thủy, chân thành, vị tha và rộng lượng” Mặt khác, sinh viên cũng có cái nhìn thoáng hơn, cởi mở hơn về sự trinh tiết của người bạn đời trong tương lai Có thể thấy, quan niệm về hôn nhân trong gia đình của sinh viên đã thay đổi theo hướng tích cực và tự chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình [72]

Nghiên cứu của Teerawichitchainan và cộng sự (2010) đã chỉ ra rằng, nam giới Việt Nam tham gia nhiều hơn vào việc chăm sóc và nuôi dạy con cái so với làm việc nhà Tuy nhiên, mức độ tham gia của họ ở các độ tuổi và cấp học của con

là khác nhau Ví dụ: khi trẻ còn nhỏ, phụ nữ đóng vai trò chính và quan trọng (“phúc đức tại mẫu”) trong việc chăm sóc và nuôi dạy con cái Nhưng khi trẻ bắt đầu đi học, nam giới là lựa chọn thích hợp trong việc kèm cặp con cái học hành để đạt được kết quả học tập cao hơn [196]

- Hướng nghiên cứu về phương pháp giáo dục định hướng giá trị gia đình

cho thanh niên

Ngoài ra, cũng có rất nhiều nghiên cứu về định hướng giáo dục giá trị gia đình, đặc biệt ở Nga, đã tổng hợp các nghiên cứu trước đó để khẳng định giáo dục của gia đình có những tác động tích cực và tiêu cực làm cho quá trình xã hội hoá thiếu niên gặp những khó khăn và trở ngại riêng [120] Sự hình thành giá trị gia đình và giá trị gia đình của trẻ em và thanh thiếu niên được trình bày trong tác phẩm của Hornby (2011) nhấn mạnh giá trị gia đình là rất quan trọng đối với sự phát triển

Trang 39

của trẻ và giáo dục giá trị gia đình phải được hình thành thông qua môi trường gia đình, trường học, bạn bè, xã hội [152]

Như vậy, bằng việc tổng quan các tài liệu về giá trị gia đình và định hướng giá trị gia đình của thanh niên, chúng tôi xác định nội dung cơ bản của định hướng giá trị gia đình của thanh niên bao gồm: định hướng giá trị gia đình trong hôn nhân; mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái; sinh con và nuôi dưỡng con cái; vai trò giới và trách nhiệm trong gia đình

Tiểu kết chương 1

Từ việc điểm luận các công trình nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước, có thể thấy vấn đề giá trị gia đình và định hướng của thanh niên về các giá trị liên quan đến gia đình đang là một chủ đề thu hút sự quan tâm của rất nhiều học giả các lĩnh vực trên thế giới Các nghiên cứu đều cho rằng định hướng giá trị gia đình đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ

Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và xu thế toàn cầu hóa, gia đình cũng có những biến đổi cả về hình thái, các chức năng, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, vai trò giới trong gia đình, trách nhiệm trong gia đình, việc kết hôn, ly hôn hay nuôi dạy con cái… Thông qua tìm hiểu biểu hiện của giá trị gia đình trong các nghiên cứu thì quá trình định hướng giá trị gia đình cũng được xem xét trên các mặt biểu hiện: hôn nhân; mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái; sinh con

và nuôi dưỡng con cái; giới, phân công lao động và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình

Các công trình nghiên cứu về sự giá trị gia đình hay định hướng các giá trị liên quan đến gia đình hiện này đều tập trung ở các chuyên ngành xã hội học, văn hóa học, dân tộc học, triết học, nhân học Số lượng các nghiên cứu tâm lý học chuyên sâu về chủ đề này còn ít và thường tập trung vào từng khía cạnh biểu hiện của giá trị gia đình Do đó, kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả trong

và ngoài nước, đề tài “Định hướng giá trị gia đình của thanh niên” được tôi chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án

Trang 40

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH

CỦA THANH NIÊN

Chương này sẽ giới thiệu các lý thuyết được sử dụng như cơ sở nghiên cứu

về định hướng giá trị gia đình; các khái niệm công cụ của luận án, bao gồm: giá trị, định hướng giá trị, gia đình và giá trị gia đình, định hướng giá trị gia đình; định hướng giá trị gia đình của thanh niên, lý luận về đặc điểm tâm lý của thanh niên; các mặt biểu hiện của định hướng giá trị gia đình và một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị gia đình của thanh niên

2.1 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu về định hướng giá trị gia đình

Trong quá trình thiết kế nghiên cứu định hướng giá trị gia đình, nghiên cứu sinh dựa trên một số lý thuyết sau:

2.1.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng gia đình

Từ những năm 1950, nhiều học giả nghiên cứu về gia đình đã bắt đầu phát triển lý thuyết một cách có hệ thống hơn để kết nối gia đình đến với những thể chế

xã hội khác như Parsons T., Bales, R F., Trong tác phẩm Family Socialization and the Interaction Process (Xã hội hóa gia đình và quá trình tương tác), Bales và Parsons (2014) đã giải thích rằng thiết chế của gia đình đã thay đổi để phù hợp với những nhu cầu thay đổi của xã hội [115]

Đây là một trong những lý thuyết chủ đạo được dùng để lý giải gia đình hoạt động như thế nào, gia đình liên quan với xã hội bên ngoài và với các thành viên ra sao Hay nói cách khác, lý thuyết này xem xét mối quan hệ chức năng trong gia đình, trong đó, mỗi thành viên có một vị thế xác định và đóng góp vai trò nhất định đảm bảo cho sự tồn tại có trật tư, có nền nếp gia đình Theo lý thuyết cấu trúc chức năng, xã hội được coi như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm các bộ phận có quan

hệ qua lại với nhau Mỗi bộ phận thực hiện một số chức năng đối với toàn bộ hệ thống [67]

Khi nghiên cứu gia đình như một hiện tượng xã hội và theo cách tiếp cận cấu trúc chức năng, chúng ta sẽ có hai bình diện nghiên cứu: 1) Quan hệ giữa gia đình với xã hội; 2) Các mối quan hệ bên trong gia đình Gia đình có rất nhiều cơ cấu khác nhau và quan hệ giữa các thành viên trong mỗi cơ cấu cũng rất khác nhau

Dựa vào quan điểm lý thuyết này, bảng hỏi và các câu hỏi phỏng vấn sâu của luận án sẽ được thiết kế để tìm hiểu quan niệm và sự lựa chọn của khách thể nghiên

Ngày đăng: 20/12/2020, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w