thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói”, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2001; “Giới, việc làm và đời sống gia đình”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2007;… Một số luận văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÝ ANH PHƯƠNG
SỰ THỂ HIỆN CỦA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐĂNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÝ ANH PHƯƠNG
SỰ THỂ HIỆN CỦA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐĂNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành hết các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lý Anh Phương
Trang 41.1.Những khái niệm cơ bản về hôn nhân và gia đình 7
1.1.1.Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hôn nhân 7
1.2.Các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 11 1.3.Khái niệm và cơ sở pháp lý của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng13
1.3.1.Khái niệm nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng 13
1.4.Sơ lược về địa vị pháp lý của vợ và chồng qua các thời kỳ lịch sử của đất nước 24
1.4.1.Địa vị pháp lý của vợ và chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến 24 1.4.2.Địa vị pháp của của vợ và chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc 27 1.4.3 Địa vị pháp lý của vợ và chồng trong pháp luật từ sau Cách mạng tháng 8 đến nay .28
1.5.Nội dung cơ bản của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 32
1.5.1 Vợ chồng bình đẳng trong quan hệ nhân thân 32 1.5.2.Vợ chồng bình đẳng trong quan hệ tài sản 39
Trang 51.5.2.4 Bình đẳng trong quan hệ cấp dưỡng 52
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 –
2.1 Thực trạng áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong các quy
2.1.1.Áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 trong thực tiễn xã hội ở nước ta hiện nay 55 2.1.2.Áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 trong thực tiễn pháp lý ở nước ta hiện nay 61
2.2.Một số giải pháp về đảm bảo áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồn 76
2.2.1.Hoàn thiện các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 liên quan đến nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng 76 2.2.2 Đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình 78 2.2.4 Thực hiện giám sát, kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa vợ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân và gia đình đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển ổn định của một quốc gia Nhà nước và xã hội luôn dành một sự quan tâm cũng như tìm cách xây dựng các biện pháp nhằm củng cố quan hệ hôn nhân, làm cho mối quan
hệ này luôn bền vững, ổn định Hôn nhân có bền vững thì gia đình mới ấm no, hạnh phúc, từ đó góp phần cho xã hội ổn định, trật tự, văn minh và phát triển Bình đẳng giới là một trong những chuẩn mực hết sức quan trọng mà các Quốc gia trên thế giới hiện nay luôn hướng đến nhằm mục đích duy trì sự hòa bình, ổn định và làm cho xã hội ngày càng trở nên tiến bộ hơn Vấn đề này cũng
đã được ghi nhận ở rất nhiều các văn bản, điều ước quốc tế về quyền con người Đất nước Việt Nam ta đang trên đà chuyển đổi và phát triển với tốc độ nhanh chóng trên toàn bộ các lĩnh vực nên vấn đề bình đẳng giới cũng luôn luôn được Nhà nước quan tâm và coi đó là một trong những vấn đề quan trọng, mang tính thời sự nhằm mục tiêu đảm bảo quyền con người cũng như các quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt ở đây là quyền bình đẳng giữa người
vợ và người chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng: “Chúng ta làm Cách mạng để giành
lấy tự do, dân chủ, bình đẳng, trai gái đều ngang quyền nhau, không thể để phụ
nữ bị áp bức cũng như coi thường phụ nữ” [16] Và để tiếp thu các quan điểm, tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhất quán các đường lối, quan điểm về giải phóng phụ nữ,
Trang 7thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong mọi lĩnh vực, trong đó có hôn nhân và gia đình
Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đã được đề cập khá cụ thể và chi tiết, đồng thời có xu hướng hoàn thiện hơn
so với Luật Hôn nhân và Gia đình của những năm về trước Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước và của toàn xã hội đến vấn đề này, từ đó hướng đến mục tiêu bình đẳng giới trên toàn thế giới
Tuy nhiên, trên thực tế thì Việt Nam ta là một quốc gia thuộc Châu Á, từ bao
đời nay chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo và Khổng tử, nên vấn đề “trọng
nam khinh nữ” đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tiềm thức của biết bao thế hệ nhân
dân Bên cạnh đó, do tốc độ phát triển về kinh tế cũng như văn hóa là không đồng đều giữa các vùng miền trên cả nước, nhận thức của người dân ở một số nơi còn lạc hậu dẫn đến việc bảo đảm bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực Hôn nhân và Gia đình
Từ đó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, phân tích pháp luật trong nước, cũng như có sự so sánh giữa pháp luật trong nước và quốc tế về quyền bình đẳng giữa
vợ và chồng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình để qua đó xây dựng được những quan điểm, đưa ra giải pháp khắc phục những bất cập, khó khăn còn tồn tại nhằm đảm bảo được quyền bình đẳng này giữa vợ và chồng Do vậy, tác giả xin phép
được lựa chọn làm đề tài: “Sự thể hiện của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn thi hành”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Một số công trình, đề tài nghiên cứu được các chuyên gia thực hiện dưới các
góc độ và trong phạm vi khác nhau, tiêu biểu là: “Đưa vấn đề giới vào phát triển:
Trang 8thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói”, Nxb Văn hóa -
Thông tin, năm 2001; “Giới, việc làm và đời sống gia đình”, Nxb Khoa học xã
hội, năm 2007;… Một số luận văn và luận án về nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng hiện có: Luận văn Tiến sĩ của tác giả Ngyễn Văn Cừ bảo vệ năm 2005:
“Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam”; tác giả
Chu Thị Thoa: “Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng
hiện nay”, chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa học, năm 2002; tác giả Đặng
Thị Ánh Tuyết: “Bình đẳng giới ở nông thôn miền núi phía Bắc hiện nay”, Chuyên ngành Xã hội học;…
Ngoài ra, vấn đề bình đẳng giữa vợ và chồng còn được đề cập trong nhiều tạp chí pháp luật, tạp chí phụ nữ, tạp chí nhân quyền và các hội thảo khoa học trên toàn quốc Mặc dù đã có nhiều công trình về bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giữa vợ và chồng nói riêng, nhưng nhìn chung những công trình nêu trên chỉ mới đề cập một số khía cạnh về vấn đề này Mặt khác, các công trình này đã được nghiên cứu, thực hiện cách đây nhiều năm, cho đến nay pháp luật và thực tiễn về quyền bình đẳng của vợ và chồng đã có nhiều thay đổi Vì vậy, qua việc thực hiện công trình mới này tác giả đã nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về nguyên tắc bình đẳng của vợ và chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, cũng như
đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích, so sánh giữa pháp luật Việt Nam qua các thời kì lịch sử về nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong lĩnh vực hôn nhân gia đình và thực tiễn Từ đó, đưa ra các giải pháp và phương hướng bảo đảm cho nguyên tắc này được thực hiện triệt để ở Việt Nam
Trang 93.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu sự thể hiện của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ
và chồng trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn thi hành
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về sự thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014 và thực tiễn thi hành
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu ở một số địa phương trên cả nước
Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2018
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luận văn
phải giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hôn nhân và gia đình,
đặc biệt là nguyên tắc bình đẳng của vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014
Thứ hai, nêu và phân tích thực trạng về việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng
của vợ chồng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam
Trang 10Thứ ba, đề xuất kiến nghị và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của
việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới; cùng với những chủ trương, chính sách, quan điểm của Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới, từ đó nghiên cứu thực trạng của việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam
Luận văn kết hợp sử dụng phương pháp luận cùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp tổng hợp, chứng minh, phân tích, so sánh, điều tra xã hội học,…
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ, bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng theo Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014, tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục hoàn thiện, nâng cao vấn đề bình đẳng giới trong quan hệ hôn nhân gia đình tại Việt Nam
Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
pháp luật trong lĩnh vực tương ứng Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ với đội ngũ giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật trong lĩnh
Trang 11vực hôn nhân và gia đình nói chung, cũng như trong vấn đề bình đẳng giữa người
vợ và người chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 2 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ
và chồng trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Chương 2: Áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 – Thực trạng và những giải pháp cơ bản
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
1.1 Những khái niệm cơ bản về hôn nhân và gia đình
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hôn nhân
Con người ngay từ khi được sinh ra đời đã hình thành những tình cảm, tình yêu thương như: tình mẫu tử, tình phụ tử,… Khi phát triển lớn lên trong mỗi chúng
ta sẽ dần dần xuất hiện thêm nhiều thứ tình cảm khác, như là: tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình (tình yêu con cái đối với cha mẹ, tình yêu của anh chị đối với các em,…) Đặc biệt có một thứ tình cảm rất đặc trưng cần phải nói đến là tình yêu đôi lứa – tình yêu nam nữ Tình yêu nam
nữ chính là tiền đề cho quan hệ hôn nhân và gia đình sau này
“Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng”, hiểu theo nghĩa thông thường thì hôn
nhân chính là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ nhằm tạo lập cuộc sống chung với nhau
Theo Từ điền Tiếng Việt: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm
vợ chồng”.[17]
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại khoản 1 Điều 3 như sau:
“Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”
Như vậy, theo pháp luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện và
Trang 13bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật nhằm tạo lập cuộc sống chung với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc
Từ khái niệm trên có thể thấy hôn nhân có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà:
Hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là hôn nhân dựa trên sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà, đó là hôn nhân một vợ một chồng được quy định tại các Điều 2, 4 và 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Thứ hai, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện:
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, việc kết hôn của nam và nữ là hoàn toàn do
họ tự nguyện quyết định, không bị chi phối bới ý chí của bất kỳ ai và không ai có quyền thực hiện các hành vi gây cản trở cho việc kết hôn đó Việc kết hôn cũng không bị chi phối bởi vấn đề kinh tế, mà nó được xây dựng dựa trên cơ sở là tình cảm, tình yêu chân chính của nam và nữ
Thứ ba, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa vợ và chồng:
Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật” Kế thừa quy định trên của Hiến pháp, Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014 cũng đã có quy định về quyền bình đẳng giữa vợ và chồng tại Điều 17
như sau: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi
Trang 14mặt trong gia đình, trong vi các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”
Thứ tư, hôn nhân là sự liên kết của vợ chồng nhằm sống chung suốt đời với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình tiến bộ, ấm no, hạnh phúc:
Tính chất “bền vững suốt đời” là đặc trưng của hôn nhân thời kỳ xã hội chủ
nghĩa Khi yêu nhau, vợ chồng đều hướng tới mục tiêu sống chung suốt đời, gắn
bó, hòa thuận với nhau
Thứ năm, hôn nhân là sự liên kết của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình:
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định một cách đầy đủ, chi tiết về điều kiện kết hôn Nam, nữ có quyền tự do kết hôn, tuy nhiên khi thực hiện quyền này thì phải nằm trong khuôn khổ các điều kiện về kết hôn mà pháp luật đề ra
1.1.2 Khái niệm và các chức năng cơ bản của gia đình
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp người sống chung thành đơn
vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường bao gồm: vợ chồng, cha mẹ và con cái”.[17]
Theo Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản Khoa học: “Gia đình là một hình thái
cộng đồng những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ máu mủ”.[18]
Trang 15Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về gia đình tại khoản 2 Điều 3
như sau: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan
hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”
Như vậy, có thể thấy khái niệm gia đình được hiểu dưới những góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ xã hội: Gia đình chính là tế bào nhỏ nhất hình thành nên xã
hội, là một bộ phận không thể tách rời của xã hội;
- Dưới góc độ pháp lý: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do
quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay là quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Gia đình được hình thành khi một trong các sự kiện sau đây xảy ra: sự kiện kết hôn, sự kiện sinh con hay sự kiện nhận nuôi con nuôi,…
Với vai trò là một tế bào cấu thành nên xã hội nên gia đình sẽ thực hiện các chức năng xã hội của mình: chức năng sinh đẻ, chức năng kinh tế và chức năng giáo dục
Thứ nhất, gia đình có chức năng sinh đẻ:
Đây là một chức năng rất quan trọng của gia đình, giúp tái sản xuất ra con người, quyết định đến sự tồn tại cũng như phát triển của toàn xã hội Chức năng này của gia đình sẽ đảm bảo duy trì và phát triển nòi giống, đồng thời đầu tư sức lao động để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội
Thứ hai, gia đình có chức năng kinh tế:
Đất nước ta với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế gia đình chiếm một tỷ trọng đáng kể và có vai trò quan trọng
Trang 16trong việc duy trì và phát triển gia đình Do đó, chức năng kinh tế là một trong những chức năng quan trọng và chủ yếu của gia đình
Thứ ba, gia đình có chức năng giáo dục:
Đây là một chức năng quan trọng, có vai trò quyết định trong việc hình thành
và phát triển nhân cách của mỗi con người Gia đình chính là cái nôi, là trường học đầu tiên giáo dục mỗi con người chúng ta Gia đình là nơi đào tạo cho con người chúng ta biết yêu thương, biết cư xử, biết lao động và rèn luyện nhân cách, đạo đức
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015 với
9 chương, 133 điều đã thể hiện được những điểm tiến bộ rõ nét và tính nhân văn sâu sắc so với các văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình những năm về trước, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới nhằm nâng cao chất lượng, sự bền vững của hôn nhân và gia đình, các quy định mới thể hiện sự tiến bộ rõ nét của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 gồm: Tăng cường bảo vệ quyền con người, Áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình, Nâng độ tuổi kết hôn của nam và nữ, Không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, Quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, Quy định thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn, Quy định bạo lực gia đình là căn cứ để ly hôn, Vấn đề chia tài sản phải xét yếu tố lỗi, Hạ độ tuổi hỏi ý kiến của con khi bố mẹ ly hôn, Cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo,…
Bất kì một ngành luật nào cũng đều có một hệ thống những nguyên tắc cơ bản ứng với mỗi ngành luật đó, nó đóng vai trò là một khung pháp lý chung được
Trang 17pháp luật ghi nhận, có tác dụng nhằm định hướng, chỉ đạo cho toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật của ngành luật đó
Nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình
Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đó là những nguyên tắc sau:
1 Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
2 Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ
3 Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con
4 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình
5 Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình
Trang 181.3 Khái niệm và cơ sở pháp lý của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng
1.3.1 Khái niệm nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng
Hôn nhân và gia đình là một lĩnh vực rộng lớn, trong đó tồn tại các quan hệ nhân thân cũng như các quan hệ tài sản, nó phát sinh dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng,…
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, do quan niệm xã hội, nam giới thường
được coi là “trụ cột”, có toàn quyền quyết định, làm chủ các vấn đề có liên quan
đến gia đình, còn người phụ nữ lại bị coi thường, không được xem trọng,… Như vậy, để có một xã hội hiện đại và tiến bộ thì yêu cầu cấp thiết là làm sao để đảm bảo được sự bình đẳng giữa người nam và người nữ trong gia đình, cụ thể ở đây chính là sự bình đẳng giữa vợ và chồng
Bình đẳng giữa vợ và chồng là việc người vợ có quyền bình đẳng, ngang hàng với người chồng, mọi công việc có liên quan trong gia đình đều được vợ, chồng cùng nhau gánh vác, chia sẻ và cùng nhau hưởng thụ thành quả từ những công việc đó
Nguyên tắc bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình Đó là nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo, quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình
Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định: “Bình đẳng giới là việc
nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”
Khi nam nữ kết hôn, hình thành nên quan hệ hôn nhân và gia đình thì khái niệm bình đẳng giới sẽ được xem xét, nhìn nhận dưới góc độ bình đẳng giữa vợ
Trang 19và chồng Do đó khái niệm bình đẳng vợ chồng sẽ thuộc trong phạm vi khái niệm bình đẳng giới
Trong pháp luật Việt Nam nhà làm luật không đưa ra khái niệm thế nào là quyền bình đẳng mà chỉ nêu ra các quy định về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng nhằm đảm bảo sự bình đẳng của vợ chồng
Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình
đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”
Như vậy, từ quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ta có các điểm cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình:
Mọi mặt trong gia đình ở đây có thể hiểu là mọi vấn đề liên quan đến nhân thân và quan hệ tài sản của vợ và chồng trong phạm vi gia đình, vợ chồng bình đẳng trong việc bàn bạc, thỏa thuận các vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản của vợ chồng, của con cái hoặc các thành viên trong gia đình, liên quan đến cuộc sống chung của gia đình, các mục tiêu và các tiêu chí mà gia đình mình hướng tới
Thứ hai, vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân:
Sau khi nam nữ kết hôn hình thành quan hệ vợ chồng thì sẽ có quyền và nghĩa
vụ ngang nhau trong mọi vấn đề liên quan đến gia đình mình, từ việc quyết định các công việc của gia đình, hay việc chăm sóc, giáo dục con cái, hay trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật Đây chính là một điểm mới đáng chú ý của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với
Trang 20Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, khẳng định quan điểm của Nhà nước về
sự bình đẳng giữa vợ và chồng không chỉ gói gọn trong quan hệ gia đình mà còn trong các quan hệ khác của đời sống xã hội được thể hiện qua những quyền công dân được Hiến pháp quy định
1.3.2 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 có quy
định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Như vậy, Hiến
pháp năm 1946 đã ghi nhận nguyên tắc bình đẳng của nam nữ Kể từ đó, nguyên tắc này đã được các bản Hiến pháp sau này của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế thừa và ghi nhận
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi
nhận quyền bình đẳng của công dân tại Khoản 1 Điều 16: “Mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật” và được cụ thể hóa tại Điều 26 như sau:
- Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới
- Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội
- Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới
Trong mối quan hệ hôn nhân thì nguyên tắc bình đẳng nam nữ sẽ được xem xét và ghi nhận dưới góc độ bình đẳng giữa vợ và chồng Chính vì lẽ đó, Khoản 1
Điều 36 Hiến pháp 2013 cũng đã có quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn
Trang 21Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”
Nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình không chỉ được Hiến pháp quy định và bảo vệ mà còn được điều chỉnh trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: pháp luật dân sự, pháp luật hôn nhân và gia đình, Văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên đề cập đến vấn đề bình đẳng giữa vợ và chồng là Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948 Ngay tại lời nói đầu của Tuyên ngôn đã tuyên bố rằng:
Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội, trên cơ sở luôn ghi nhớ Bản tuyên ngôn này, sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục, cũng như sẽ phấn đấu đảm bảo cho mọi người dân, ở chính các nước thành viên của Liên Hợp Quốc và ở các lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình, công nhận và thực hiện những quyền và tự do đó một cách có hiệu quả thông qua những biện pháp tích cực, trong phạm
vi quốc gia hay quốc tế [12]
Khoản 1 Điều 16 Bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền quy định: “Đến
tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn”
Quy định nêu trên là một trong những quyền tự do cơ bản của con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Các Quốc Gia Hội Viên cam
Trang 22kết, bằng những hành động riêng rẽ hay phối hợp, sẽ cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc thực hiện những mục tiêu mà Bản tuyên ngôn đề ra (Điều 56)
Một văn bản pháp lý quốc tế tiếp theo phải kể đến là Công ước Cedaw về xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 Công ước này đã thừa nhận một cách rõ ràng:
Sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ vẫn đang tồn tại ở nhiều nơi và nhấn mạnh rằng: “Sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ vi phạm các nguyên tắc bình đẳng về các quyền và tôn trọng nhân phẩm, là một trở ngại với sự tham gia của phụ nữ, trên cơ sở bình đẳng với đàn ông, vào đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội và chính trị của quốc gia họ, làm ảnh hưởng tới sự thịnh vượng của xã hội và gia đình, và gây nhiều khó khăn cho sự phát triển đầy đủ các khả năng tiềm tàng của phụ nữ trong việc phục vụ đất nước và loài người [13]
Điều 1 Công ước đã nêu ra định nghĩa về sự phân biệt đối xử như sau:
Vì những mục đích của Công ước này, thuật ngữ “phân biệt đối
xử với phụ nữ" sẽ có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào được đề ra dựa trên cơ sở giới tính, mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào, được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền con người và tự do cơ bản trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự hay bất kể lĩnh vực nào khác, trên cơ sở bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ [13]
Bản Công ước khẳng định tại Điều 2 và Điều 3 rằng Các quốc gia thành viên Công ước lên án sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ thể hiện dưới mọi hình thức,
Trang 23đồng ý áp dụng tất cả những biện pháp thích hợp và không chậm trễ để thực hiện một chính sách xoá bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, và nhằm mục đích đó, cam kết:
- Thể hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào hiến pháp nước mình, hoặc vào các văn bản pháp luật thích hợp khác, nếu như việc này chưa được thực hiện, và bảo đảm, thông qua pháp luật và các biện pháp khác, việc thực hiện các nguyên tắc này trên thực tế;
- Thông qua các biện pháp pháp lý và các biện pháp thích hợp khác, kể cả việc trừng phạt trong những trường hợp cần thiết, nhằm ngăn cấm tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ;
- Thiết lập sự bảo vệ về mặt luật pháp các quyền của phụ nữ trên
cơ sở bình đẳng với nam giới và đảm bảo bảo vệ phụ nữ một cách có hiệu quả chống lại bất kỳ hành động phân biệt đối xử nào thông qua các Tòa án quốc gia có thẩm quyền và các thiết chế công cộng khác;
- Kiềm chế tham gia bất kỳ hành động hoặc hoạt động nào có tính chất phân biệt đối xử chống lại phụ nữ và bảo đảm rằng các giới chức và cơ quan chính quyền sẽ hành động phù hợp với nghĩa vụ này;
- Thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ do bất kỳ cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nào tiến hành;
Trang 24- Thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp, kể cả về mặt pháp lý, nhằm sửa đổi hoặc xoá bỏ các luật và văn bản pháp luật hiện hành, các tập quán và phong tục tạo nên sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ;
- Hủy bỏ tất cả quy định hình sự quốc gia mà tạo nên sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành mọi biện pháp thích hợp,
kể cả về mặt lập pháp, trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về chính trị, xã hội, kinh
tế và văn hóa, để đảm bảo sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ, với mục đích đảm bảo cho họ thực hiện và được hưởng các quyền của con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới
Về sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình thì ngay tại khoản 1 Điều 16 của Công ước đã có quy định như sau:
Các quốc gia thành viên phải áp dụng tất cả các biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong tất cả các vấn
đề liên quan đến hôn nhân và quan hệ gia đình, cụ thể phải bảo đảm những quyền dưới đây, trên cơ sở bình đẳng nam nữ:
a) Quyền kết hôn như nhau;
b) Quyền như nhau trong việc tự do lựa chọn người để kết hôn
và chỉ kết hôn khi mình được tự do quyết định và hoàn toàn tự nguyện;
c) Quyền và trách nhiệm như nhau giữa vợ chồng trong thời gian hôn nhân cũng như khi hôn nhân bị hủy bỏ;
Trang 25d) Quyền và trách nhiệm như nhau trong vai trò làm cha mẹ, bất
kể tình trạng hôn nhân như thế nào, về các vấn đề liên quan đến con cái họ Trong tất cả các trường hợp, lợi ích của con cái phải được coi
là điều quan trọng nhất;
e) Quyền như nhau trong việc quyết định một cách tự do và có trách nhiệm về số con và khoảng cách giữa các lần sinh, quyền được tiếp cận với những thông tin, giáo dục và các phương tiện cho phép họ thực hiện các quyền này;
f) Quyền và trách nhiệm như nhau đối trong các vấn đề về nuôi dưỡng, giám hộ, bảo trợ, ủy thác và cho nhận con nuôi, hoặc trong những vấn đề tương tự ở những nơi mà các khái niệm này có trong pháp luật quốc gia Trong tất cả các trường hợp, lợi ích của con cái phải được coi là điều quan trọng nhất;
g) Các quyền cá nhân như nhau giữa vợ và chồng, bao gồm quyền được lựa chọn tên họ, nghề nghiệp, việc làm của bản thân mình;
h) Các quyền như nhau của cả vợ và chồng đối với việc sở hữu, tiếp nhận, kiểm soát, quản lý, hưởng thụ và sử dụng tài sản, dù đó là tài sản không phải trả tiền, hay đó là tài sản có giá trị lớn
Như vậy, có thể thấy nghĩa vụ của các Quốc gia khi tham gia vào Công ước Cedaw sẽ mang tính chất toàn diện, từ nghĩa vụ đảm bảo quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời kỳ hôn nhân, trong quan hệ giữa cha, mẹ đối với con cái, trong việc chiếm hữu sử dụng định đoạt tài sản, hay khi hhoon nhân kết thúc, và
Trang 26để thực hiện được các nghĩa vụ nói trên thì Công ước Cedaw đưa ra các biện pháp
cụ thể tại Điều 2 để các Quốc gia áp dụng như sau:
- Đưa nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào Hiến pháp quốc gia hoặc các văn bản pháp luật thích hợp khác nếu vấn đề này chưa được
đề cập tới và bảo đảm việc thực thi nguyên tắc này trong thực tế bằng pháp luật và các biện pháp thích hợp khác;
- Xây dựng các điều khoản pháp luật và thông qua các biện pháp thích hợp khác, kể cả việc trừng phạt trong những trường hợp cần thiết, nhằm ngăn cấm mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ;
- Thiết lập cơ chế bảo vệ mang tính pháp lý các quyền của phụ
nữ trên cơ sở bình đẳng với nam giới và thông qua các toà án quốc gia
có thẩm quyền và các cơ quan nhà nước khác để bảo vệ phụ nữ một cách có hiệu quả chống lại mọi hành động phân biệt đối xử;
- Không tiến hành bất kỳ hành động hoặc hoạt động nào có tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ và bảo đảm rằng các cấp chính quyền
và cơ quan nhà nước sẽ hành động phù hợp với nghĩa vụ này;
- Áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ do bất kỳ cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp nào tiến hành;
- Áp dụng mọi biện pháp thích hợp, kể cả những biện pháp pháp luật, nhằm sửa đổi hoặc xóa bỏ mọi điều khoản, quy định, tập quán và thực tiễn hiện đang tồn tại mang tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ;
Trang 27- Huỷ bỏ mọi điều khoản hình sự có phân biệt đối xử với phụ nữ
Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp, kể cả biện pháp pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá để đảm bảo sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ, nhằm mục đích bảo đảm cho họ được thực hiện cũng như thụ hưởng các quyền con người và tự
do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới (Điều 3)
Để kế thừa các quy định về sự bình đẳng từ các văn bản pháp luật Quốc tế cũng như quy định tại Hiến pháp của Việt Nam, pháp luật hôn nhân và gia đình đã công nhận quyền bình đẳng của vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân gia đình
Pháp luật Hôn nhân và Gia đình là một hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đây là công cụ
có vai trò quan trọng mà thông qua đó, trật tự xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được thiết lập và bảo vệ
Kể từ sau Cách mạng Tháng tám năm 1945, Việt Nam ta đã xây dựng được
4 đạo luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đó là: Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện đang có hiệu lực thi hành Điểm chung của cả 4 đạo Luật này là Nhà nước Việt Nam đều công nhận chế độ hôn nhân tự do, tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng
Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1959 chính là nguyên tắc vợ chồng bình đẳng Luật hôn nhân và Gia đình năm
1959 quy định về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng tại Điều 3, và được cụ thể hóa
Trang 28tại các Điều 12, 14, 15 và 16 như sau: Trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng về mọi mặt, vợ chồng đều có quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội; vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với các tài sản có trước và sau khi cưới; vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau khi một bên chết
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 và năm 2000 tiếp tục ghi nhận nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, trong phạm vi gia đình, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt Đồng thời cũng đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc lựa chọn chỗ ở, việc làm, trong việc tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, thừa nhận vợ chồng có quyền ngang nhau đối với tài sản chung,
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa các đạo luật Hôn nhân và Gia đình những năm về trước, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn
đề bình đẳng giữa vợ và chồng, đồng thời là Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn kịp thời bổ sung các quy định mới, sửa đổi, loại bỏ các quy định cũ đã lạc hậu, không theo kịp xu hướng phát triển của xã hội nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn ở lĩnh vực Hôn nhân và Gia đình Đặc biệt, việc ghi nhận nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng một cách toàn diện mà không chỉ trong phạm
vi gia đình trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là một cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa vợ và chồng không chỉ trong quan hệ gia đình mà còn là sự bình đẳng trong thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật khác quy định
Trang 291.4 Sơ lược về địa vị pháp lý của vợ và chồng qua các thời kỳ lịch sử của đất nước
1.4.1 Địa vị pháp lý của vợ và chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến
Xã hội thời kỳ phong kiến ở Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, địa vị của người phụ nữ trong xã hội nói chung và trong gia đình nói riêng rất thấp kém, hoàn toàn phụ thuộc vào người đàn ông
Sớm nhận thức được sự bất bình đẳng giữa người đàn ông và người đàn bà trong xã hội nên vấn đề bình đẳng giới đã được nhà nước phong kiến Việt Nam quan tâm, thể hiện qua tư duy pháp lý mà đỉnh cao là những quy định tại Bộ luật
Hồng Đức Bộ luật này gồm 13 chương và 722 điều ban hành vào thời vua Lê
Thánh Tông (1470 - 1497) Trong Bộ luật này, bên cạnh những quy định thể hiện
sự phân biệt đối xử khá rõ ràng về sự bình đẳng giữa vợ và chồng, như quy định
tại Điều 481 người vợ phải “phục tùng chồng và chịu sự dạy dỗ của người chồng”
thì Bộ luật cũng có hẳn một nội dung lớn bênh vực và bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ, thể hiện quan điểm bình đẳng giới mà đến nay vẫn mang tính thời sự và cần kế thừa, học tập Cụ thể là các quy định sau:
Thứ nhất, quyền được Nhà nước bảo vệ hôn nhân:
Quyền này được thể hiện ở các quy định như sau:
- Điều 338: "Những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái kẻ lương dân,
thì xử tội phạt, biếm hay đồ”,
- Điều 315 quy định việc trừng trị tất cả những ai đã gả con gái rồi mà lại thôi
không gả nữa thì bị phạt “80 trượng” và đem gả cho người khác mà đã thành hôn
Trang 30rồi thì bị xử tội “đồ”, người sau biết thế mà cứ lấy thì cũng bị xử tội “đồ”, người
con gái đó phải gả cho người hỏi trước, nếu người đó không lấy nữa thì nhà người con gái phải bồi thường đồ sính lễ gấp đôi cho người đó;
- Điều 321 quy định vợ cả và vợ lẽ nếu tự tiện bỏ nhà chồng cũng như đi lấy
chồng khác đều bị xử tội “đồ” và họ cùng gia sản phải trả về cho nhà chồng cũ;
- Điều 333 ghi rõ: Đã gả con gái rồi mà về sau vì thấy người chồng nghèo
khổ, lại bắt con gái về thì bị xử phạt “60 trượng”, biếm hai tư, người con gái đó
phải bắt trở về nhà chồng
Tất cả những người đàn ông nào biết mà vẫn lấy họ làm vợ đều bị xử tội “đồ”
- Điều 308, 309,… yêu cầu người chồng phải luôn thương yêu người vợ, phải chăm lo hạnh phúc cho gia đình
Thứ hai, quyền ly hôn của phụ nữ được thể hiện ở các quy định:
- Điều 308 quy định: Phàm chồng bỏ lững vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình quan sở tại, quan xã làm chứng) thì chồng đó mất vợ Nếu đã có con thì gia
hạn 1 năm Nếu đã thôi vợ mà cản trở người khác cưới vợ cũ thì xử “biếm”;
- Điều 309 quy định: Người nào mà quá say đắm với nàng hầu mà thờ ơ với
vợ thì bị xử tội “biếm” Bên cạnh đó, tất cả những hành vi gian dâm đều bị nghiêm
trị với khung hình phạt rất nặng
Trang 31Thứ ba, bình đẳng trong sở hữu tài sản:
Điều 374, 375 và 376 tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng (phu điền sản); tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ (thê điền sản) và tài sản do hai vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân (tần tảo điền sản) Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung Khi ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do cha mẹ dành cho được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc tế lễ Một phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời
Bên cạnh đó, Bộ Luật Hồng Đức cũng có quy định bảo vệ phụ nữ như xử nặng đối với trường hợp xâm phạm thân thể của người vợ Điều 404 quy định nếu người chồng đánh vợ bị thương thì xử như tội đánh người bị thương nhưng nhẹ hơn 3 bậc hay trong Điều 309 buộc người chồng phải tôn trọng thứ bậc của người
vợ trong gia đình: “Ai lấy nàng hầu lên làm vợ thì xử tội phạt, vì quá say đắm
nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì xử tội biếm” [2]
Bộ luật Gia Long được ban hành dưới Triều Nguyễn vào năm 1812, dù được ban hành sau Bộ Luật Hồng Đức tới hơn 300 năm nhưng Bộ luật này lại không kế thừa được tư tưởng tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức trong việc công nhận nguyên tắc bình đẳng giới cũng như bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Bộ Luật phủ nhận hoàn toàn vai trò của người phụ nữ và số phận của người
vợ phụ thuộc tuyệt đối vào người chồng của mình
Trang 321.4.2 Địa vị pháp của của vợ và chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc
Thực dân Pháp đã đô hộ đất nước ta gần 80 năm, chúng đã thực hiện chính sách chia để trị đối với Việt Nam nhằm biến nước ta thành thuộc địa của chúng,
cụ thể chúng chia đất nước ta làm 3 miền và mỗi miền lại có một chế độ pháp luật riêng biệt, đó là: Bộ luật dân sự Bắc kì năm 1931, Bộ luật Dân sự Trung kì năm
1936, Bộ luật Dân sự Nam kì giản yếu năm 1883
Quan hệ vợ chồng khi được ba Bộ luật trên điều chỉnh đều thể hiện sự bất bình đẳng sâu sắc giữa người vợ và người chồng Tuy nhiên, bên cạnh các quy định thể hiện sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử với phụ nữ, pháp luật thời kì này cũng có những quy định thể hiện sự tiến bộ, đáng ghi nhận Cụ thể:
- Điều 76 Bộ luật Dân sự Bắc kì năm 1931 quy định việc kết hôn phải do hai bên nam nữ tự nguyện và bằng lòng;
- Điều 118 Bộ luật Trung Kì 1936 quy định cho phép người vợ có thể xin ly hôn trong những trường hợp sau đây:
+ Chồng không làm những nghĩa vụ đã cam kết khi kết hôn là phải nuôi dưỡng con tùy theo kế sinh nhai;
+ Chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có lý do chính đáng và không lo liệu việc nuôi nấng con cái;
+ Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ con ra khỏi nhà
Trang 33- Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Bắc kì và Bộ luật Dân sự Trung kì đã thừa nhận quyền sở hữu của người vợ trong khối tài sản chung là ngang bằng với người chồng,
1.4.3 Địa vị pháp lý của vợ và chồng trong pháp luật từ sau Cách mạng tháng 8 đến nay
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công vang dội, xóa bỏ được ách thống trị suốt hàng ngàn năm của chế độ phong kiến lạc hậu, cổ hủ, mà ở đó có sự bất bình đẳng năm nữ, sự phân biệt đối xử một cách nặng nề đối với người phụ nữ
Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về
mọi phương diện” Như vậy, nguyên tắc bình đẳng nam nữ đã được Nhà nước
thừa nhận và coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng pháp luật Bằng việc quy định quyền bình đẳng nam nữ, Hiến pháp năm 1946 đã tạo lập cơ
sở pháp lý để đấu tranh nhằm xóa bỏ dần sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Quyền bình đẳng giữa nam và nữ cũng như sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với quyền lợi của người phụ nữ tiếp tục được thể hiện ở các bản Hiến pháp về sau của nước ta như Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 [22]
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền Nam – Bắc Miền Bắc được giải phóng, bước vào xây dựng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Miền Nam tiếp tục cuộc Cách mạng đấu tranh, thống nhất đất nước
Ở miền Bắc, Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ghi nhận quyền bình đẳng của vợ chồng trên mọi phương diện Ngay trong năm
Trang 34đó cũng ra đời văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình của Nhà nước ra ta, đó là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 mà một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật này chính là nguyên tắc vợ chồng bình đẳng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 quy định về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng tại Điều 3, và được cụ thể hóa tại các Điều 12, 14, 15 và 16
Ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã nhảy vào thế chân Thực dân Pháp xâm lược nước ta và có ba văn bản pháp luật được ban hành và áp dụng là: Luật Gia đình ngày 02 tháng 01 năm 1959 của chính quyền Ngô Đình Diệm; Sắc luật số 15/64 ngày 23 tháng 7 năm 1964 của chính quyền Nguyễn Khánh; Bộ Dân luật Sài Gòn ngày 20 tháng 12 năm 1972 của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Theo quy định của 3 văn bản pháp luật này thì phụ nữ phần nào đã có thêm những quyền lợi tương đương với người chồng: quyền có tài sản riêng, vợ chồng thỏa thuận vấn đề tài sản chung, quyền tự do lập hôn ước,
- Luật Gia đình năm 1959 đánh dấu mốc đầu tiên trong nền pháp chế Việt
Nam bãi bỏ chế độ một chồng nhiều vợ bằng quy định: “Chế độ đa thê từ nay bị
bãi bỏ hẳn” Quy định này thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong việc đảm bảo chế độ
hôn nhân một vợ một chồng Bên cạnh đó, Luật còn quy định về ly thân tại Điều
55: “Cấm ly hôn, chỉ được phép ly thân”, quy định xử phạt đối với hành vi ruồng
bỏ vợ hay chồng là có thể bị phạt tiền hay phạt giam tới 1 năm,
- Sắc luật số 15/64 năm 1964 quy định vợ hoặc chồng có thể yêu cầu ly hôn khi có một trong các căn cứ sau đây: Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu; Vì sự phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội; Sự ngược đãi, bạo hành hay ngục
mạ, có tính chất thâm từ và thường xuyên làm cho vợ chồng không thể chung sống
Trang 35với nhau được nữa; Vì có án văn xác định sự biệt tích của người phối ngẫu đã thất tung; Vì người phối ngẫu bỏ phế gia đình, sau khi có án văn nhất định xử phạt người phạm tội (Điều 63, Sắc luật số 15/64)
- Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 quy định tại Điều 136: “Vợ chồng có nghĩa
vụ thủy chung với nhau và giúp đỡ nhau cùng chung lo xây dựng hạnh phúc gia đình và dưỡng dục con cái”; Điều 143: “Dưới mọi chế độ, vợ có quyền thay mặt chồng về những nhu cầu gia vụ và dùng tiền bạc của chồng vào những nhu cầu
ấy Mọi hành vi của vợ trong phạm vi này đều có hiệu lực ràng buộc chồng, trừ phi người chồng đã tước quyền vợ và người đệ tam kết ước với người vợ đã biết
có sự tước quyền”,
Về quyền được ly thân hoặc ly hôn, Điều 170 quy định về các trường hợp vợ hay chồng có thể xin ly hôn hoặc ly thân:
+ Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu;
+ Vì người phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội;
+ Vì sự ngược đãi, bạo hành hay nhục mạ, có tính chất thậm từ và tái diễn khiến vợ chồng không thể ăn ở với nhau nữa
Tuy nhiên, cả ba văn bản này vẫn đề cao quyền gia trưởng trong gia đình của người chồng, quyền lợi của người vợ không được đảm bảo, do đó sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa vợ chồng vẫn còn tồn tại trong xã hội niềm Nam thời kì bấy giờ
Trang 36Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu mốc lịch sử thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, đất nước thống nhất, cả nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Hiến pháp 1980 ghi nhận nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân gia đình Năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình mới ra đời thay thế cho Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đã không còn phù hợp với xu thế phát triển đất nước Nhìn chung, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã kế thừa những điểm tích cực trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1959 trong việc đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong mối quan hệ hôn nhân gia đình
Sau đó, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giữa vợ và chồng, tiếp tục ghi nhận nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, trong phạm
vi gia đình, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt Đồng thời cũng đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc lựa chọn chỗ ở, việc làm, trong việc tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, thừa nhận vợ chồng
có quyền ngang nhau đối với tài sản chung, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn kịp thời bổ sung các quy định mới, sửa đổi, loại bỏ các quy định cũ đã lạc hậu, không theo kịp xu hướng phát triển của xã hội nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh tron thực tiễn ở lĩnh vực Hôn nhân và Gia đình
Trang 371.5 Nội dung cơ bản của nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
1.5.1 Vợ chồng bình đẳng trong quan hệ nhân thân
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện chưa có quy định thế nào là quyền nhân thân, tuy nhiên Luật hôn nhân và gia đình với tư cách là một ngành luật chuyên ngành thuộc lĩnh vực dân sự nên có thể chiếu theo quy định của Bộ luật
dân sự 2015 về quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân được quy định trong
Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” (khoản 1 Điều
25)
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định khái quát nhất về quyền và
nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng tại Điều 17 như sau: “Vợ, chồng bình đẳng với
nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này
và các luật khác có liên quan”
Như vậy, sau khi nam nữ kết hôn hình thành quan hệ vợ chồng thì sẽ có quyền
và nghĩa vụ ngang nhau trong mọi vấn đề liên quan đến gia đình mình, từ việc quyết định các công việc của gia đình, việc chăm sóc, giáo dục con cái, hay trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật Đây chính là một điểm mới đáng chú ý của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, khẳng định quan điểm của Nhà nước về sự bình đẳng giữa vợ và chồng không chỉ gói gọn trong quan hệ gia đình mà còn trong các
Trang 38quan hệ khác của đời sống xã hội được thể hiện qua những quyền công dân được Hiến pháp quy định
1.5.1.1 Bình đẳng qua nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau
Khoản 1 điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng
có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”
Theo Từ điển Tiếng Việt, “chung thủy” trong mối quan hệ vợ chồng là “tình
cảm trước sau như một, không thay đổi” [17]
Trong thời kì phong kiến Việt Nam trước kia đã xuất hiện bài ca dao “trai
năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” Sở dĩ có câu ca dao đó là xã hội
Việt Nam thời phong kiến chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, vì vậy nghĩa vụ chung thủy trong quan hệ vợ chồng chỉ đước đặt ra đối với người phụ
nữ, còn người đàn ông thì có quyền đa thê Điều này thể hiện sự phân biệt đối xử đối với người phụ nữ cũng như thể hiện sự bất bình đẳng sâu sắc giữa người vợ và người chồng trong quan hệ hôn nhân gia đình
Trong xã hội hiện đại, tình yêu là nền tảng xây dựng nên quan hệ hôn nhân,
là sợi dây vô hình gắn kết người vợ và người chồng, và chung thủy, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau là những biểu hiện của tình yêu
đó Điều đó có nghĩa là vợ chồng cần yêu thương, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhau; đồng thời giữ gìn danh dự, uy tín, nhân phẩm; quan tâm, động viên lẫn nhau
và tạo điều kiện cho đối phương phát huy những điểm mạnh của bản thân Có như
Trang 39vậy thì mới tạo ra một gia đình bền vững, hạnh phúc, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại
Chính vì vậy pháp luật Hôn nhân và Gia đình đặt ra nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau là nghĩa vụ bình đẳng của cả vợ và chồng, đòi hỏi người vợ và người chồng cần cố gắng thực hiện để bảo vệ hạnh phúc gia đình
1.5.1.2 Bình đẳng trong việc lựa chọn nơi cư trú
Điều 20 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc lựa chọn nơi
cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính”
Vấn đề phát sinh đầu tiên sau khi quan hệ vợ chồng được hình thành có lẽ là việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng, do đó pháp luật Hôn nhân Gia đình thừa nhận vợ chồng bình đằng với nhau trong việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng bằng cách quy định nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận để lựa chọn,
sự lựa chọn này không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán của địa phương, vào địa giới hành chính Vì vậy, vợ chồng cần thỏa thuận và lựa chọn thế nào để phù hợp với điều kiện sinh sống và làm việc của gia đình mình
1.5.1.3 Bình đẳng trong quyền lựa chọn tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân như sau:
- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật;
Trang 40- Nhà nước tôn trọng và bảo hộquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
- Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật
Để kế thừa quy định của Hiến pháp 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định tại Điều 22 về tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo trong quan hệ vợ chồng Quy định này
như sau: “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
nhau”
Trong thời kỳ hôn nhân, có thể sẽ phát sinh vấn đề người vợ hoặc người chồng muốn thay đổi tín ngưỡng, tôn giáo của chính bản thân mình Khi đó, bên còn lại cần tôn trọng ý muốn của người vợ hoặc người chồng của mình trong việc lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo mà không có quyền gây cản trở, áp đặt ý chí của mình cho người vợ hoặc chồng mình
1.5.1.4 Bình đẳng trong vấn đề học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, phụ nữ cũng như nam giới cần phải được học tập và nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đảm bảo cho cuộc sống của bản thân mình, của gia đình mình cũng như đóng góp công sức của mình cho sự phát triển của toàn xã hội