Trong buổi họp tổng kết công tác thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ rõ: Dự án Luật phải thể hiện được 2 quan điểm rất quan trọng, đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG ĐỖ KHÁNH LINH
NGUY£N T¾C B¶O VÖ Bµ MÑ Vµ TRÎ EM TRONG LUËT H¤N NH¢N Vµ GIA §×NH VIÖT NAM N¡M 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG ĐỖ KHÁNH LINH
NGUY£N T¾C B¶O VÖ Bµ MÑ Vµ TRÎ EM TRONG LUËT H¤N NH¢N Vµ GIA §×NH VIÖT NAM N¡M 2014
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ HUY CƯƠNG
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Đỗ Khánh Linh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ EM TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 8
1.1 Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 8
1.2 Khái niệm và cơ sở pháp lý của nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em 10
1.2.1 Khái niệm bà mẹ và trẻ em 10
1.2.2 Khái niệm nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em 12
1.2.3 Tính cần thiết tất yếu của việc ghi nhận nguyên tắc 13
1.2.4 Sự phát triển của việc ghi nhận nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em qua các thời kì pháp luật 19
1.3 Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được ghi nhận trong những văn bản Pháp luật Quốc tế 22
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ EM ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 28
2.1 Nội dung Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 28
2.1.1 Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi 28
2.1.2 Quyền sinh con và nuôi con 30
Trang 52.1.3 Bảo vệ người mẹ trong mối quan hệ gia đình 32
2.1.4 Các quy định khác liên quan đến ly hôn 33
2.2 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em 36
2.2.1 Bảo vệ quyền trẻ em dưới góc độ quyền con người 36
2.2.2 Bảo vệ các quyền lợi liên quan đến tài sản của con 42
2.2.3 Bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong một số trường hợp đặc biệt 46
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA BÀ MẸ VÀ TRẺ EM TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 55
3.1 Nhận xét chung về thực tiễn thực hiện những quy định về bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em trong pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành 55
3.1.1 Ưu điểm 55
3.1.2 Hạn chế còn tồn tại 59
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân gia đình 68
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu
Hôn nhân và gia đình có vai trò quan trọng trong sự phát triển ổn định của xã hội Không chỉ vợ chồng, các con mà cả Nhà nước, xã hội đều quan tâm đến việc xây dựng và củng cố quan hệ hôn nhân Sự bền vững của hôn nhân là sự bền vững của từng gia đình, tạo nền tảng vững chắc cho sự bền vững của toàn xã hội Gia đình có đầm ấm, hạnh phúc thì các thành viên mới phấn khởi lao động, hăng say sản xuất, xóa đói giảm nghèo Nói đến bảo vệ
sự bền vững của hôn nhân, chúng ta không thể không nhắc đến việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ em – đối tượng đặc biệt của quan hệ hôn nhân gia đình
Với đặc trưng riêng về giới tính, người mẹ - người phụ nữ là một nhóm người dễ bị tổn thương, cần được quan tâm và bảo vệ một cách đặc biệt Trong gia đình, người mẹ với tư cách là người vợ, người con dâu, tần tảo, hi sinh chịu thương chịu khó Ngoài xã hội, họ là thành phần lao động chính trong các ngành công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, góp phần xây dựng kinh tế
Mục đích của hôn nhân là để duy trì nòi giống, vì vậy bên cạnh người
mẹ không thể không nhắc đến trẻ em Con trẻ là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Người xưa có câu: “Trẻ em như một tờ giấy trắng” Nếu trẻ em không
được sự quan tâm của xã hội, sự bảo vệ của pháp luật thì những mầm non của hôm nay không thể trở thành những công dân có ích cho xã hội mai sau
Bảo vệ quyền trẻ em thường gắn với việc bảo vệ quyền người mẹ và các quan hệ gia đình Hiến pháp đã gắn nhu cầu chăm sóc trẻ em bên cạnh nhu cầu chăm sóc người mẹ Vì vậy, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ bà mẹ và trẻ em là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân Và việc thể chế hóa
Trang 72
mối quan tâm này một cách cụ thể toàn diện, phù hợp với sự phát triển kinh tế
- xã hội là đòi hỏi mang tính cấp thiết và luôn được các ban ngành trong cả nước chú trọng
Ở nước ta, vị trí vai trò của người mẹ trong các lĩnh vực đời sống, xã hội và gia đình ngày càng được đề cao Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến bảo vệ các quyền của bà mẹ và trẻ em Từ các bản Hiến pháp, các
Bộ luật; Luật đến các văn bản dưới luật đã tạo thành một hệ thống pháp luật bảo vệ bà mẹ và trẻ em phù hợp với các công ước quốc tế và truyền thống văn hoá của dân tộc Đặc biệt phải kể đến Luật hôn nhân và gia đình, nơi phụ nữ
và trẻ em là thành viên của gia đình lại có cách điều chỉnh đặc thù được thể hiện ở địa vị pháp lý - các quyền và nghĩa vụ - bổn phận của trẻ em cùng với các quyền và nghĩa vụ - bổn phận pháp luật - đạo đức của các thành viên khác trong đại gia đình Bởi vì, sự bình yên của mỗi gia đình là tiền đề quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách, là nền tảng để mỗi cá nhân vươn tới hoàn thiện, góp sức mình vào việc xây dựng xã hội phồn vinh tiến bộ Đặc biệt là sự hòa thuận yên ấm của cha mẹ ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của những đứa trẻ - mầm non tương lai của đất nước và cũng là những
cá thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội sau này
Trong buổi họp tổng kết công tác thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ rõ:
Dự án Luật phải thể hiện được 2 quan điểm rất quan trọng, đó là tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người, bình đẳng giới, bảo
vệ bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi và những người yếu thế khác trong quan hệ hôn nhân và gia đình; thể hiện được các giá trị truyền thống tiến bộ, văn minh của gia đình Việt Nam vừa phù hợp với pháp luật
và các giá trị chung về hôn nhân và gia đình của các nước trên thế giới, góp phần thúc đẩy hội nhập quốc tế
Trang 83
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời mang một giá trị nhân văn
cao đẹp trong việc thể hiện qua nguyên tắc “bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng
của bà mẹ và trẻ em”, hướng tới việc xây dựng một xã hội bình đẳng, dân
chủ, tiến bộ - thực hiện mục tiêu cao đẹp được Đảng và Nhà nước cũng như toàn dân hướng tới
Thế nhưng trong khi nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI thì khắp mọi nơi trên trái đất phụ nữ vẫn phải chịu những bất công, bị ngược đãi, bị đánh đập vẫn tồn tại và phổ biến Khi vợ chồng ly hôn, ngoài việc tình nghĩa mặn nồng vợ chồng bao năm vun đắp không còn thì ngay cả vấn đề tài sản, sự thiệt thòi vẫn nghiêng về người phụ nữ Có rất nhiều lý do dẫn đến sự thiệt thòi đó như quá tin tưởng chồng, hạn chế về hiểu biết pháp luật, trình độ văn hóa thấp… Bên cạnh đó, theo các báo cáo hàng năm "Tình trạng trẻ em trên thế giới", trẻ em thường phải mang những gánh nặng và chịu sự đối xử không bình đẳng
Việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em là hết sức quan trọng, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Do vậy, đề tài
“Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014” được lựa chọn để tìm hiểu và nghiên cứu nhằm góp phần bảo vệ quyền
lợi, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ và trẻ em trong
quan hệ hôn nhân và gia đình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thực tế, nghiên cứu pháp luật về bảo vệ bà mẹ và trẻ em là một mảng đề tài lớn được khá nhiều nhà khoa học, thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm Trong khoa học luật nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng, bảo
vệ phụ nữ và trẻ em được nghiên cứu như một cơ sở pháp lý quan trọng tạo khung sườn cho việc ban hành các quy phạm pháp luật nhằm thực hiện tốt
Trang 94
chính sách được nhà nước đề ra Đã có một số công trình nghiên cứu, giáo trình chuyên sâu, bài báo cũng như luận văn, luận án đề cập đến vấn đề này
trực tiếp hoặc lồng ghép vào những nội dung liên quan như:
Nhóm giáo trình, sách chuyên sâu: Nguyễn Ngọc Điện, Bình luật
khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập I, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002; Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật Dân
sự Việt Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002; Tưởng Duy Lượng, Bình luận một số án dân sự và hôn nhân gia đình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Đinh Thị Mai Phương, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Trường Đại học Luật
Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2009 Ngoài ra còn một số giáo trình và bình luận khoa học Luật
Hôn nhân và gia đình
Nhóm luận văn, luận án: Nguyễn Thị Phương Thảo (2007), Nguyên
tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Luật – ĐH Quốc
gia Hà Nội; Lê Thị Nhung (2010), Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em trong
hệ thống pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp,
Trường ĐH Luật Hà Nội; Lường Ánh Nhàn (2016), “Bảo vệ quyền của người
phụ nữ trong quan hệ hôn nhân gia đình”, Luận văn Thạc sĩ Luật học,Trường
ĐH Luật Hà Nội…
Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn khá khiêm tốn, các công trình này dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định của pháp luật hôn nhân
và gia đình về quan hệ tài sản nói chung giữa vợ, chồng, chưa đề cập hoặc ít
đề cập đến thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về vấn đề trên và chưa thể hiện được rõ ràng nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được quy định như thế nào trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Trang 105
Nhận thức được điều đó và mong muốn làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu về quyền lợi hợp pháp của phụ nữ và trẻ em, khai thác rõ ràng, cụ thể những quy định pháp luật rồi từ đó đưa ra những giải pháp, đề xuất thực tế
để khắc phục hoàn thiện, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài "Nguyên tắc bảo vệ bà
mẹ và trẻ em trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" làm công trình
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luận
văn phải giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, đề cập khái quát về các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, việc ghi nhận, tính thiết yếu của nguyên tắc bảo
vệ bà mẹ và trẻ em thể hiện trong quy định của Luật
Thứ hai, nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được thể chế hóa qua các chế định hôn nhân gia đình trong các văn bản pháp luật từ trước đến nay và
được phát triển ở Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành như thế nào
Thứ ba, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật thể hiện nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm thực hiện được tối ưu nhất nguyên tắc này vào thực tế cuộc sống
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em là một trong những nội dung quan trọng, là mục tiêu hướng tới của nhiều ngành luật khác nhau Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu luận văn thạc sĩ được giới hạn trong các văn bản pháp luật: Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014…và một số văn bản có liên quan như: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm
Trang 11Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi được đề ra ở trên, tác giả mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Đây không chỉ đơn thuần là sự tổng hợp các quy định của pháp luật về quyền phụ nữ và trẻ em mà còn nhằm để xem xét diễn biến của quá trình giải phóng phụ nữ và chăm sóc, bảo vệ trẻ em qua từng giai đoạn lịch sử nước ta, qua đó thấy được sự phát triển của xã hội về vấn đề này Đồng thời,
đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những vướng mắc thực tiễn khi áp dụng các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành vào
việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ em
5 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ vấn đề lý luận về việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình; quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ; nêu và phân tích các hạn chế của pháp luật; nghiên cứu thực tiễn các vấn đề liên quan đến nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em Từ đó, tác giả nêu lên những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ em
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Trang 127
Về phương pháp luận: Luận văn sử dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu đề tài
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp… Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn đã phù hợp hay chưa, xem xét nội dung quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ em trong mối quan hệ gia đình
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ việc thể hiện nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được cụ thể hóa trong Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành Từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ
sở quan trọng để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu
ích không chỉ với đội ngũ giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật về
hôn nhân và gia đình ở Việt Nam
8 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về sự thể hiện nguyên tắc bảo
vệ bà mẹ và trẻ em theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Chương 2: Nội dung của nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được quy
định trong Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ
em trong quan hệ hôn nhân và gia đình
Trang 13Có thể hiểu Luật Hôn nhân và gia đình với các ý nghĩa khác nhau: là một môn học, là một văn bản pháp luật cụ thể hay là một ngành luật riêng
Với ý nghĩa là một môn học: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam được hiểu là hệ thống những khái niệm, quan điểm, nhận thức, đánh giá mang tính lý luận về pháp luật hôn nhân và gia đình và thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình
Với ý nghĩa là một văn bản pháp luật cụ thể, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là đạo luật trong đó chứa đựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình
Với ý nghĩa là một ngành luật trong hệ thống pháp luật: Khác với các quốc gia theo hệ thống pháp luật chung (Common Law), các nước theo hệ thống pháp luật lục địa trong đó có Việt Nam phân chia hệ thống pháp luật
Trang 149
quốc gia thành những ngành luật khác nhau dựa vào nhóm quan hệ xã hội mà
nó điều chỉnh và phương thức mà nó tác động lên quan hệ xã hội đó Sự phân chia như vậy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm điều chỉnh pháp luật tốt hơn
Như vậy, có thể hiểu toàn diện là: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tất cả các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản phát sinh trong đời sống hôn nhân gia đình
Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình:
Có 5 nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 là:
1 Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
2 Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ
3 Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con
4 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ
em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình
5 Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình [22, Điều 2]
Trang 15- Dưới góc độ giới tính học: phụ nữ là khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang đặc điểm giới tính được xã hội về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ được hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường
- Dưới góc độ pháp lý: Phụ nữ hay nữ giới được xác định là những chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định mà không phải là nam giới
Từ khái niệm người phụ nữ, có thể đưa ra kết luận về khái niệm “bà
mẹ” Bà mẹ được hiểu là người phụ nữ mang thai, sinh con và nuôi con khôn
lớn, thực hiện chức năng cao cả của người phụ nữ mà không ai có thể thay thế được Như vậy, khái niệm bà mẹ nằm trong khái niệm về phụ nữ, phụ nữ
được hiểu rộng hơn còn bà mẹ là những người phụ nữ đã mang thai và sinh con, nuôi con – một tập hợp nhóm người phụ nữ có đặc điểm riêng biệt
Hiện nay, với những tiến bộ trong y học, chức năng làm mẹ sinh học được chia ra thành nhiều nhóm: làm mẹ do di truyền sinh học (người phụ nữ cung cấp trứng), người mẹ mang thai (người phụ nữ có thai, người phụ nữ mang thai hộ), người mẹ xã hội (người mẹ nuôi dưỡng đứa trẻ)
Trang 1611
1.2.1.2 Khái niệm về trẻ em
Trẻ em là một thuật ngữ được nhắc đến thường xuyên và được đề cập
trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959, tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968…
Hiểu theo các thông thường thì trẻ em bao gồm bé trai, bé gái còn nhỏ tuổi, thường là lớp thiếu niên, nhi đồng hay còn được gọi là thế hệ măng non của xã hội, là nguồn hạnh phúc trong gia đình
Theo định nghĩa sinh học, trẻ em là người trong giai đoạn phát triển, từ khi còn trong trứng nước đến tuổi trưởng thành Tâm lý học cho rằng trẻ em
là giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nghiên cứu con người
Nhìn từ góc độ xã hội học, trẻ em là giai đoạn xã hội hóa mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách mỗi con người
Dưới góc độ luật học, việc xác định trẻ em căn cứ vào việc phân định
độ tuổi Tuổi là một trong những căn cứ để đánh giá giai đoạn phát triển thể chất, nhận thức cũng như tâm – sinh lý của con người
Theo công ước về quyền trẻ em: “trẻ em là những người dưới 18 tuổi,
trừ những trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em có quy định tuổi thành niên thấp hơn” (Điều 1)
Tại một số quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào cách đánh giá về sự phát triển cũng như dựa vào các điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội để xác định và quy định về nhóm người là trẻ em Tại một số quốc gia Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch,… chú ý nhiều đến vấn đề an sinh xã hội thì có quy định lớn hơn về mức tuổi của trẻ em, cụ thể quy định trẻ em là người dưới hai mươi tuổi
Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em thì trẻ em được định
nghĩa là người dưới 16 tuổi
Như vậy, có thể hiểu trẻ em là một nhóm người ở một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, có những đặc điểm về sức
Trang 1712
khỏe, tâm sinh lý khác với các nhóm khác trong xã hội và được hưởng những quy chế pháp lý đặc thù
1.2.2 Khái niệm nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em
Theo từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là: “Điều cơ bản đã
được định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”
Dưới góc độ khoa học pháp lý, nguyên tắc của một ngành luật được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo nhất định Những tư tưởng này đòi hỏi phải được tuân thủ, chấp hành một cách tuyệt đối trong quá trình lập pháp cũng như áp dụng pháp luật
Với ý nghĩa là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình cũng có những nguyên tắc cơ bản riêng Đó
là những “nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy
phạm pháp Luật Hôn nhân và gia đình” [25, tr.33] Nội dung của các nguyên
tắc thể hiện quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, của các cá nhân và thành viên trong gia đình trong việc thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình Các quy phạm pháp Luật Hôn nhân và gia đình phải thể hiện đúng nội dung các nguyên tắc cơ bản
Hệ thống các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình từ khi được ban hành lần đầu tiên cho đến nay đã không ngừng được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Ngay từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, bà mẹ và trẻ em đã là đối tượng được nhà nước dành sự quan tâm và bảo vệ đặc biệt Tuy nhiên phải đến Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1986 thì nguyên tắc này mới được ghi nhận thành một nguyên tắc riêng Và nguyên tắc này được cụ thể hóa tại Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 như sau: “4 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm
bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về
Trang 18Đối với trẻ em, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ, pháp luật cần trao cho trẻ em những quyền nhất định và mọi người không những phải tôn trọng những quyền đó mà còn phải thực hiện những hành vi phù hợp pháp luật để trẻ em thực hiện quyền lợi của mình
Bảo vệ bà mẹ luôn gắn liền với bảo vệ con của họ Bảo vệ bà mẹ là bảo
vệ quyền làm được làm mẹ, quyền nuôi con, … của họ và bảo vệ con của họ Bảo vệ trẻ em cũng vậy, mục đích của bảo vệ chính là để chăm sóc, nuôi dưỡng đặc biệt, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em trở thành nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ nội dung của Luật Hôn nhân và gia đình, trở thành tư tưởng chủ đạo của các điều luật, thể hiện sự nhất quán trong quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
1.2.3 Tính cần thiết tất yếu của việc ghi nhận nguyên tắc
Người mẹ không chỉ có vai trò làm mẹ mà đối với gia đình, họ còn là người vợ, người con trong gia đình, đối với xã hội, họ là người xây dựng
kinh tế Người Việt Nam xưa đã có câu “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ
ấm”, nhằm đề cao vai trò của người phụ nữ trong việc xây dựng một gia
đình bền vững
Trang 1914
Ở nước ta, Nghị quyết số 11-NQ/TW của bộ Chính trị về Công tác phụ
nữ thời kỳ đầy mạnh CNH-HĐH đất nước đã khẳng định: “Phụ nữ vừa là
người lao động, người công dân, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người” Thực tế cũng đã chứng minh, trong xã hội truyền thống cũng như
xã hội hiện đại, với thiên chức mang thai, sinh con và làm mẹ, phụ nữ luôn đảm đương vai trò cao cả: duy trì và phát triển nòi giống, tái sản xuất sức lao động; nuôi dạy, hình thành nhân cách thế hệ trẻ, góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước Không chỉ vậy, phụ nữ còn là người giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng các mối quan hệ và tổ chức cuộc sống gia đình; Là người vun đắp hạnh phúc, người duy trì và phát triển những giá trị văn hóa gia đình, giữ gìn bản sắc dân tộc
Người mẹ còn là tấm gương phản chiếu cho con, người mẹ đức độ vị tha thường có con sẽ ngoan ngoãn, lễ phép Người mẹ có vai trò to lớn trong việc nuôi dạy con trở thành những người tốt Đề tài nghiên cứu “Vai trò của phụ nữ trong gia đình” của Trung tâm nghiên cứu phụ nữ và gia đình - Học viện Phụ nữ Việt Nam cho thấy, có 32,4 người vợ đảm nhiệm việc kèm cặp đôn đốc con học trong khi tỷ lệ này ở chồng chỉ có 10,7 và hai vợ chồng đảm nhiệm ngang nhau là 18,8 Không chỉ kèm cặp con về kiến thức, người
mẹ còn là người bạn lớn của con; chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, giúp con giải quyết những khúc mắc từ đáy lòng, vượt qua những khó khăn trong cuộc
sống Bác Hồ đã dạy rằng: “Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng
thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì cũng không hoàn toàn mang lại kết quả tốt” Bao giờ gia đình cũng là nơi giáo huấn đầu tiên của đứa trẻ
Trong thời kỳ mang thai, mọi tình cảm, hành vi cũng như thể lực của người
mẹ đều trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý của đứa con sau này Những năm tháng của thời ấu thơ, những việc chăm sóc, dạy dỗ của cha
mẹ, ông bà đều có tác động mạnh đến việc hình thành nhân cách của đứa trẻ
Trang 2015
Điểm mạnh nhất của giáo dục gia đình là quan hệ tình cảm ruột thịt giữa cha
mẹ và con cái Từ ánh mắt, nụ cười của người mẹ, đến cách răn dạy của người cha, đã tạo nhiều cảm xúc tích cực, yêu thương, có sực mạnh cảm hóa con cái Trong một xã hội đang có nhiều biến động về kinh tế, xã hội, văn hóa như hiện nay thì liệu chức năng cơ bản của gia đình là giáo dục, chăm sóc, bảo vệ con cái càng phải được quan tâm, đề cao và chú trọng Mỗi gia đình phải là một tổ ấm lành mạnh, đủ sức để bảo vệ con cái được sống an toàn trong thế giới đầy sự bất ổn này
Đối với trẻ em, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là vấn đề có tính chiến lược lâu dài, góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho tương lai của đất nước Làm tốt công tác này là trách nhiệm của các cấp Ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, gia đình, nhà trường và xã hội Để tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong thời gian tới, Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính Trị đã quán triệt một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc giáo dục và bảo vệ trẻ em, nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội
- Rà soát, sửa đổi bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc giáo dục và bảo vệ trẻ em, xây dựng và tổ chức thực hiện
có hiệu quả các chương trình, đề án chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, của từng địa phương, từng ngành…
- Bố trí tăng nguồn ngân sách cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo
vệ trẻ em, trong đó ưu tiên kinh phí đầu tư cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số,
Trang 21- Tăng cường quản lý nhà nước, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán
bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp, thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật và công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ
em, phát hiện ngăn chặn lên án các hành vi bạo lực, vi phạm quyền trẻ em
Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, người truyền bá chủ nghĩa Mác – Lenin vào Việt Nam đã mở ra kỷ nguyên mới về quyền con người, quyền công dân cho nhân dân Việt Nam Người đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ em Người từng nói:
Muốn có chế độ XHCN thì phải có con người XHCN
Muốn có con người XHCN thì phải có tư tưởng XHCN
Rồi từ đó di đến phải trồng người, phải giáo dục rèn luyện ngay từ khi còn nhỏ
Vấn đề trẻ em nói chung và quyền trẻ em nói riêng được cương lĩnh hóa trong Chương trình Việt Minh và sau đó Cách mạng tháng tám dành chính quyền về tay nhân dân lao động đã được thể chế hóa về mặt nhà nước trong hệ thống pháp luật Hiến pháp 1946 – hiến pháp đầu tiên khẳng định trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng Hiến pháp 1959 và 1980 đều quy định nhà nước bảo hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, dành một điều riêng quy định quyền của trẻ em trong Chương quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Hiến pháp năm 1992 ngoài việc quy định quyền của trẻ em, đã quy định trách nhiệm của nhà nước và gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định, đề cao và mở rộng hơn các quyền con người, quyền công dân Hiến pháp năm 1992 ngoài việc quy định
Trang 2217
quyền trẻ em còn quy định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình trong việc bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định, đề cao và mở rộng các quyền con người, quyền công dân Trong đó, trẻ em là đối tượng được nhà nước chủ trương quan tâm đặc biệt: Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em (Điều 36)
Như vậy, quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của nhà nước về quyền trẻ em là cơ sở để xây dựng và bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em trên thực tế Đồng thời, được cụ thể hóa bằng các chương trình, chính sách, chế độ ưu đãi hỗ trợ để trẻ em được hưởng các quyền của mình một cách toàn vẹn nhất
Tuy nhiên, dưới chế độ phong kiến, bà mẹ và trẻ em là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều thiệt thòi bất công Quyền lợi của họ hầu như chưa được quan tâm xem xét Người mẹ chỉ là cái bóng của chồng, không có quyền
tự quyết định và làm gì cũng phải xin phép Với quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (sinh một con trai coi như có con, mười con gái coi như không có con), cùng với lễ giáo phong kiến: thuyết “tam tòng”, “tứ đức” đã biến phụ nữ thành nô lệ trong gia đình phong kiến Quyền lợi của trẻ em (đặc biệt là bé gái) cũng không được đảm bảo mà phụ thuộc vào người cha Người cha có thể quyết định bán, cho thuê, gán nợ và quyết định cả chuyện cưới xin của con mình Ở xã hội mới, quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em đã được bảo đảm hơn nhưng do một phần ảnh hưởng của chế độ phong kiến và đặc điểm riêng về giới tính, lứa tuổi nên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, người mẹ và trẻ em vẫn thường gặp phải không ít khó khăn và phần nào chịu yếu thế hơn so với nam giới, trong việc bảo đảm những nhu cầu sống, nhu cầu phát triển cho bản thân và trong việc đảm bảo quyền lợi của mình Do đó, việc ghi nhận nguyên tắc sẽ là cơ sở vững chắc cho việc xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư còn lại của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, đồng thời
Trang 2318
chống lại ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân và gia đình tư sản để củng cố chế
độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh đó, việc ghi nhận bằng pháp luật là điều cần thiết bởi vì “đảm
bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để quyền con người dược thực hiện” [28, tr.50] Thông qua và bằng các quy định pháp
luật cụ thể, Nhà nước và xã hội còn xác định được những ưu tiên nhằm động viên và phát huy vai trò của người phụ nữ trong mọi mặt đời sống, để trẻ em
có thể có một môi trường phát triển lành mạnh nhất, trở thành tương lai, trụ cột đất nước Đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ
em trong quan hệ Hôn nhân và gia đình chính là Nhà nước – cơ quan cao nhất đại diện cho quốc gia, dân tộc Còn Nhà nước đã sử dụng pháp luật như một công cụ và là cách thức chủ yếu để các quốc gia ghi nhận vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ, của trẻ em Bảo vệ quyền của họ bằng pháp luật không chỉ
là việc ghi nhận các quyền mà còn bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện bằng tính cưỡng chế tuyệt đối Để sử dụng được hiệu quả công cụ này chính
là thể hiện sự quản lý của một quốc gia “Tôn trọng, thực thi và bảo vệ quyền
con người về hôn nhân và gia đình đã thực sự là tiêu chí để đánh giá tiến bộ
xã hội không chỉ mang tính quốc gia mà còn mang tính toàn cầu” [7, tr.15]
Ngoài ra, việc ghi nhận nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em trong pháp luật hôn nhân và gia đình là một xu hướng tất yếu, phù hợp với tình hình thế giới Vấn đề quyền con người của phụ nữ và trẻ em được đề cập khá sớm trong các văn bản pháp luật quốc tế Đã có rất nhiều văn bản pháp luật ghi nhận quyền con người của phụ nữ và quyền trẻ em Mục đích của việc ghi nhận này là để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, đảm bảo những quyền này được thực hiện trên thực tế Công ước CEDAW – công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 đã được Việt Nam phê chuẩn năm 1982 và Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 cũng đã
Trang 2419
được Việt Nam gia nhập năm 1990 Theo quy định của Công ước thì các quốc gia thành viên phải có những biện pháp để “nội luật hóa” đảm bảo những quy định trong công ước được thực hiện trên thực tế Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình là ngành luật gần gũi, bảo vệ một cách
cụ thể quyền lợi của phụ nữ và trẻ em Vì vậy, việc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được ghi nhận thành một nguyên tắc quan trọng trong luật là điều tất yếu
1.2.4 Sự phát triển của việc ghi nhận nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ
em qua các thời kì pháp luật
Lịch sử Việt Nam gắn liền với chế độ phong kiến tập quyền kéo dài hàng nghìn năm, luật pháp chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng triết học Nho
giáo, Phật giáo với quan niệm “trọng nam khinh nữ”, “tam tòng tứ đức” Bên
cạnh đó, pháp luật về hôn nhân và gia đình có liên quan nhiều đến phong tục tập quán và đạo đức, rất nhiều điều luật được bắt rễ từ phong tục tập quán của Việt Nam, đi sâu vào tiềm thức, thành thói quen ứng xử trong nhân dân
Ngay thời gian đầu Nhà nước phong kiến đã lên tiếng bảo vệ quyền trẻ
em từ rất sớm Thời nhà Trần đã lập hàng loạt kho thóc ở Trung ương và địa phương nhằm chẩn cấp cho dân nghèo, Nhà nước cũng bảo trợ cho người tàn tật, trẻ mồ côi Thời Lê Sơ (thế kỉ XV) cứu trợ của Nhà nước cho các đối tượng đặc biệt khó khăn trong đó việc bảo vệ quyền trẻ em đã được Quốc triều hình luật quy định Thời nhà Nguyễn, Pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em cũng được đề cập trong Bộ luật Gia Long (thế kỉ XIX) Bộ luật Gia Long và
Bộ luật Hồng đức được đánh giá là những thành tự lập pháp của nhà nước phong kiến Việt Nam thời bấy giờ Nhưng nổi bật hơn vẫn là Luật Hồng Đức của nhà Lê Với năm mối quan hệ cơ bản theo quan niệm của Khổng Tử: quần thân (Vua – Tôi), phụ tử (Vợ - chồng) huynh đệ (Anh- Em) bằng hữu (Bạn – bè) thì đã có ba mối quan hệ gắn bó trực tiếp gia đình Do ảnh hưởng
Trang 2520
của tư tưởng Nho giáo và đề cao quyền gia trưởng trong gia đình cùng với sự kết hợp giữa phong tục tập quán nên gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong xã hội phong kiến, quyền lợi của gia đình luôn được đặt trên quyền lợi của cá nhân Những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em, quyền lợi của các con trong gia đình chỉ ở mức độ nhất định, sự công nhận quyền sở hữu tài sản riêng của các con và cho phép các con ra ở riêng: con cái khi đủ 15 tuổi được cấp ruộng đất công để tự nuôi sống bản thân (điều 347) con cái được quyền sở hữu tài sản do được thừa kế với quyền thừa kế như nhau (điều 388) không phân biệt con trai với con gái; không cho phép cha mẹ bán tài sản của con thông qua những quy định bảo vệ quyền thừa kế tuyệt đối của con cái và trừng phạt mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu của các con (điều 377 Điều 379); cha mẹ phải chịu trách nhiệm về những hành vi của con vì hơn ai hết cha mẹ là người có nghĩa vụ và trách nhiệm dạy bảo, giáo dục con do đó mà khi con làm sai thì cha mẹ là người có lỗi đầu tiên
Do đó, cha mẹ phải chịu trách nhiệm hình sự và dân sự trong bồi thường thiệt hại (điều 457) Bộ luật này còn quy định việc trừng trị tội gian dâm với trẻ em gái, tội buôn bán phụ nữ, trẻ em; việc giảm hoặc hoãn thi hành án đối với phụ nữ có thai hay đang nuôi con nhỏ; quyền thừa kế của con nuôi
Tuy nhiên, bộ luật này vẫn bộc lộc nhiều hạn chế: chưa quy định về hậu quả pháp lý của ly hôn; chưa quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con về tài sản mà chỉ mới quy định các quan hệ nhân thân giữa cha mẹ đối với con; đặc biệt là chưa quan tâm bảo vệ quyền lợi của con ngoài giá thú; chưa có quy định về xác định cha mẹ - con nên đứa trẻ sinh ra ngoài giá thú đều không được bảo vệ quyền lợi pháp lý
kiến, đặt dưới ách đô hộ của thực dân Pháp Sau khi hoàn thành việc xâm lược nước ta, để thực hiện chính sách chia để trị, thực dân pháp đã ban hành ở
Trang 2621
ba miền Bắc, Trung, Nam ba bộ luật khác nhau: ở Bắc Kỳ là Bộ dân luật năm
1931, ở Trung kỳ là Bộ dân luật năm 1936, ở Nam kỳ là Tập dân luật giản yếu, 1883 “Các quan hệ hôn nhân và gia đình thời kỳ này vừa thể hiện xu hướng Âu hóa theo kiểu Pháp, vừa cố duy trì những phong tục tập quán của người Việt Nam” [2, tr.13] Quan hệ gia đình nói chung và quan hệ vợ chồng nói riêng được tổ chức theo chế độ gia trưởng, phụ quyền – người chồng là người đứng đầu gia đình trong quan hệ nội bộ, thay mặt cho gia đình trong quan hệ với người thứ ba Trong cả ba văn bản pháp luật này đều không quy định nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em Có thể nói, việc thực dân Pháp ban hành ra các bộ dân luật để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình ở thời kỳ này chỉ là công cụ pháp lý mà thực dân phong kiến nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến
1945 đến nay, quyền lợi của phụ nữ và trẻ em đã được Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa quan tâm bảo vệ
Năm 1946, hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong lịch sử lập pháp của nước ta Hiến pháp ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt – là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng để xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới dân chủ, tiến
bộ Hiến pháp quy định về quyền được giáo dục và giáo dưỡng của trẻ em Nhà nước đảm bảo cho trẻ em được giáo dục, học tập được chăm sóc về mặt giáo dưỡng (Điều 14) Không những thế, nhà nước còn có chính sách hỗ trợ đối với học trò nghèo (điều 15) Chỉ với số lượng 2 điều ít ỏi, Hiến pháp đã đặt nền móng đầu tiên khẳng định các quyền cơ bản thiêng liêng của trẻ em, quyền được học tập và chăm sóc Quy định này sẽ là cơ sở tiền đề cho các quy định của các văn bản pháp luật khác, nhằm cụ thể hóa, đảm bảo cho quyền lợi của trẻ em được bảo vệ
Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 đã ghi nhận việc xóa bỏ quyền trừng
Trang 2722
giới Sắc lệnh số 159/SL ghi nhận quyền yêu cầu ly hôn của người phụ nữ Các quy định này đã mở ra một thời kì mới làm thay đổi địa vị của người phụ
nữ và trẻ em trong gia đình Với sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 bảo vệ bà mẹ và trẻ em được ghi nhận là một nguyên tắc tại Điều 3 của Chương I Kế thừa và phát huy những ưu điểm của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể nguyên
tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em tại khoản 6 Điều 2: “Nhà nước xã hội và gia đình
có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ”
Có thể thấy rằng, trước khi Cách mạng tháng 8 thành công, nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em chưa được ghi nhận Từ sau khi Cách mạng tháng 8 với sự ra đời của Nhà nước Dân chủ cộng hòa thì quyền lợi của người phụ
nữ và của trẻ em đã được quan tâm bảo vệ Đây trở thành nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và được kế thừa, hoàn thiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Tuy nhiên, để đảm bảo các quy định của pháp luật thể hiện nội dung nguyên tắc đi vào đời sống chứ không phải chỉ là một quy định trên luật đòi hỏi cần có sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Nay, Hiến pháp mới năm 2013, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời đã hoàn thiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ
em, thể hiện sâu sắc các quy định về trách nhiệm pháp lý, biện pháp trách nhiệm pháp lý tăng dần tính nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm quyền lợi của họ
1.3 Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em đƣợc ghi nhận trong những văn bản Pháp luật Quốc tế
Quyền con người nói chung và quyền phụ nữ, quyền trẻ em nói riêng ngày nay trở thành vấn đề quan tâm của cộng đồng quốc tế Phụ nữ và trẻ
em ở tất cả các nước trên thế giới vẫn còn sống trong những điều kiện khó
Trang 2823
khăn và họ cần được quan tâm đặc biệt Cộng đồng quốc tế mà trung tâm là Liên hợp quốc đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các văn bản pháp lý quốc tế nhằm xác lập các quyền cơ bản của phụ nữ và trẻ em như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Công ước về loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979, Công ước về quyền trẻ em năm 1989… bảo vệ phụ nữ và trẻ em được ghi nhận như một nguyên tắc quan trọng trong hầu hết các văn bản này
Điều 1 Hiến chương Liên Hợp quốc khẳng định: “Tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948
đã nhấn mạnh như sau: “Bà mẹ và trẻ em được đảm bảo chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” (Khoản 2 Điều 25) “Đây là sự thừa nhận của xã hội đối với chức năng làm mẹ của người phụ nữ, với chức năng này người mẹ được coi là chủ thể đặc biệt của xã hội, họ có quyền ưu tiên chăm sóc, giúp đỡ và bảo vệ” [1, tr.13]
Tuy nhiên, các văn kiện trên vẫn chưa đủ sức bảo vệ quyền của người phụ nữ Do đó, ngày 10/12/1979 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - gọi tắt là công ước CEDAW đã được Hội đồng Liên hợp quốc thông qua và để ngỏ cho các nước ký, phê chuẩn, gia nhập theo Nghị quyết số 34/180 ngày 18/12/1979 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Công ước
đã đề cập một cách toàn diện, đầy đủ và cụ thể các quyền cơ bản của phụ nữ Công ước đã điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và đặc biệt là quy định sự bình đẳng của phụ nữ Theo công ước, các quốc gia thành viên cần phải loại bỏ sự phân việt đối với phụ nữ “Phân biệt đối xử” được hiểu là “bao hàm bất kì sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân
Trang 29vụ, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc trẻ em để tạo điều kiện cho phụ nữ và nam giới có thể kết hợp thực hiện nghĩa vụ gia đình và công việc cơ quan Ngay cả việc “các nước tham gia Công ước thông qua những biện pháp đặc biệt, kể cả các biện pháp nêu trong Công ước này nhằm bảo vệ người mẹ sẽ không bị coi là phân biệt đối xử” (Khoản 2 Điều 4)
Ngày 19/03/1982, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức phê chuẩn CEDAW và trở thành thành viên thứ 35 của Công ước này Hiện nay, Việt Nam đã tiến hành “nội luật hóa” các quy định của Công ước trong nhiều điều luật quan trọng như Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình… nhằm bảo đảm tốt việc bảo
vệ người phụ nữ Hiện nay, Chính phủ còn nỗ lực trong việc tuyên truyền, vận động người dân nhằm thay đổi nhận thức về bình đẳng giới và quyền phụ nữ
Trước khi Liên hợp quốc được thành lập, các quốc gia đã thông qua
Trang 3025
Tuyên ngôn Giơnevơ 1924 về quyền trẻ em khẳng định trẻ em cần được chăm sóc đặc biệt Tuyên ngôn về các quyền trẻ em do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1959 khẳng định: “Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em điều tốt nhất” Như vậy, từ khi được thành lập đến nay với vai trò là trung tâm
cả cộng đồng quốc tế, Liên hợp quốc luôn bảo trợ cho việc kí kết điều ước quốc tế nói chung, điều ước quốc tế về nhân quyền nói riêng cũng như thông qua các văn bản là cơ sở cho quá trình quốc tế hóa vấn đề quyền con người và quyền trẻ em
Có thể nói, trước năm 1989, có rất nhiều văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người nói chung nhưng vẫn chưa có điều ước quốc tế nói riêng
về quyền trẻ em.Tình trạng trẻ em bị xâm phạm, bị ngược đãi, bị bóc lột về lao đọng, bị mua bán xảy ra ở khắp các khu vực trên thế giới Vì vậy, cần phải có điều ước quốc tế đa phương ghi nhận và điều chỉnh lĩnh vực này Với sự nỗ lực của các quốc gia, Công ước về quyền trẻ em đã được thông qua và ký ngày 20/11/1989 (Công ước về quyền trẻ em năm 1989), có hiệu lực từ ngày 2/9/1990
Công ước đã đưa ra nguyên tắc bảo vệ trẻ em đó là: “Đảm bảo cho trẻ
em được bảo vệ khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử” (Điều 2) và trong mọi hoạt động đối với trẻ em, những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu” (Khoản 1 Điều 3) Nguyên tắc bảo vệ trẻ em còn được quy định tại Điều 21 của Công ước như sau: “Các quốc gia thành viên công nhận hoặc cho phép chế độ nhận làm con nuôi phải đảm bảo rằng những lợi ích tốt nhất cho đứa trẻ phải là quan tâm cao nhất…”
Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 là văn bản pháp lý thẩm thấu giữa cơ sở ý luận và cơ sở thực tiễn Là văn bản mang tính phổ thông rộng rãi được nhiều quốc gia tham gia Nó mang tính lý tưởng phổ quát, tính khả thi cao; quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng là sản phẩm của
Trang 31Ngoài ra một văn bản rất quan trọng góp phần thiết thực bảo vệ quyền trẻ em nữa là Công ước La hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước (viết tắt là công ước Lahay) Xuất phát từ nhu cầu ngày càng tăng của việc cho nhận con nuôi giữa các nước, đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ và có hiệu quả hơn giữa chính phủ các nước có liên quan trong việc bảo vệ lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi mà Công ước được ra đời Nó định ra những đảm bảo dể việc nuôi con nuôi giữa các nước được thực hiện, thiết lập hệ thống hợp tác (thông qua cơ chế liên hệ giữa các nhà chức trách trung ước của nước gốc và nước nhận) nhằm tôn trọng những đảm bảo trên và ngăn chặn việc bắt cóc, mua bán trẻ em; đồng
Trang 332.1.1 Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Để bắt đầu một mối quan hệ về hôn nhân, người nam và người nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Sau khi đăng ký kết hôn, các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định sẽ phát sinh Vì vậy, để chấm dứt mối quan hệ về hôn nhân, nam và nữ cũng phải thực hiện một sự
kiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận, đó là “ly hôn”
Theo quy định tại Khoản 14 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình: “Ly
hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực Pháp luật của Tòa án”
Có thể thấy, mục đích cơ bản của hôn nhân là xây dựng một cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc Ly hôn là mặc dù là mặt trái của một cuộc hôn nhân nhưng cũng là mặt không thể thiếu khi quan hệ tình cảm vợ chồng đã trở nên mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài Vì vậy, khi cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được thì việc chấm dứt một mối quan hệ hôn nhân là điều cần thiết Vậy, quyền được yêu cầu ly hôn được quy định cho chủ thể nào?
Trang 3429
Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ, chồng hoặc
cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” Như vậy, theo quy
định trên, các bên đều có quyền yêu cầu ly hôn trong đó có người vợ Quy định trên là phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích cho người phụ nữ bởi hiện nay, mặc dù xã hội đã phát triển, đời sống được nâng cao nhưng tình trạng bạo hành gia đình về cả thể chất và tinh thần vẫn xuất hiện trong cuộc sống đặc biệt là đối với người phụ nữ Do đó, việc ghi nhận quyền yêu cầu ly hôn của người phụ nữ là cần thiết, để họ có thể chủ động bảo vệ bản thân, chấm dứt một cuộc hôn nhân không hạnh phúc
Pháp luật còn hạn chế quyền ly hôn của người chồng trong trường hợp
nhất định Cụ thể tại Khoản 3 Điều 51 có quy đinh: “3 Chồng không có quyền
yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Quy định trên là hoàn toàn phù hợp và cần thiết bởi
việc ly hôn là điều không phải ai cũng mong muốn Đặc biệt là người mẹ mang thai, sinh con, nuôi con rất cần đến sự quan tâm, chăm sóc về cả vật chất và tinh thân của người chồng Do đó, để không ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như để đảm bảo người mẹ được bảo vệ tốt nhất, việc Luật Hôn nhân và gia đình quy định hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi người vợ mang thai, sinh con hay nuôi con là điều cần thiết
Tuy nhiên, quy định hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi người
vợ mang thai, sinh con hay nuôi con dưới 12 tháng không đồng nghĩa với việc người vợ cũng không được quyền ly hôn Có thể thấy, mặc dù đang mang thai, sinh con hay nuôi con nhưng nếu cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, việc tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân chỉ khiến cho người vợ cảm thấy mệt mỏi, ảnh hưởng đến thể chất hay tinh thần thì người vợ cũng hoàn toàn có thể thực hiện quyền ly hôn mà không bị hạn chế Đây là quy định hợp lý, bảo
vệ được người phụ nữ trong việc quyết định có ly hôn hay không
Trang 3530
Bên cạnh đó, mặc dù ly hôn là quyền của người phụ nữ, nhưng trong rất nhiều trường hợp, vì những lý do khác nhau mà người phụ nữ không thể thực hiện quyền ly hôn để bảo vệ bản thân của mình Có thể lấy ví dụ về trường hợp: người phụ nữ do bị bệnh tâm thân hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của bản thân, đồng thời họ là nạn nhân của bạo hành gia đình do người chồng gây ra Trong những trường hợp như này, mặc dù pháp luật có quy định về quyền được ly hôn của người phụ nữ nhưng
để thực hiện được quyền trên là rất khó khăn Chính vì vậy, để bảo vệ người phụ nữ, bên cạnh quy định về quyền yêu cầu ly hôn của chính người phụ nữ, Khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định về quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích như sau:
Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác
mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ
Quy định này góp phần bảo vệ người mẹ tốt hơn trong những trường
hợp họ không thể tự mình thực hiện quyền ly hôn theo quy định
Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình còn quy định về các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm cản trở ly hôn (Điểm e Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân
và gia đình)
2.1.2 Quyền sinh con và nuôi con
Sinh con là một chức năng sinh học tự nhiên của người mẹ mà không ai
có thể thay thế được Có thể thấy hiện nay những cặp vợ chồng hiếm muộn không thể sinh con, những người phụ nữ vì lý do sức khỏe mà không thể tự mình mang thai, sinh con ngày càng nhiều Có rất nhiều cặp vợ chồng vì hiếm muộn, không thể sinh con mà gặp phải gánh nặng lớn về tâm lý, vợ chồng
Trang 3631
mâu thuẫn, hôn nhân đổ vỡ Để có thể giúp những cặp vợ chồng vô sinh, những người phụ nữ đơn thân không thể tự mình mang thai, sinh con, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định một người phụ nữ có thể xác lập quan hệ cha mẹ và con đối với con thông qua việc nuôi con nuôi Tuy vậy, điều đó dường như vẫn là thiếu sót, việc được tự mình mang thai, nuôi con vẫn là một điều lớn lao, hạnh phúc đối với người phụ nữ Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã luật hóa quy định về việc sinh con theo phương pháp khoa học đã được quy định tại Nghị định 12/2013/NĐ-CP ngày 12/02/2013
về Sinh con theo phương pháp khoa học Cụ thể tại Khoản 21 Điều 3 có quy
định: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật
thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong trong ống nghiệm” Đồng thời, Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014 có bổ sung quy định về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Như vậy, có thể thấy rằng, để bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định đầy đủ về việc nhận nuôi con, cho phép sinh con theo phương pháp khoa học cũng như cho phép mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo Đây là những quy định mang tính nhân văn cao khi
đã tạo cơ hội cho nhiều người được làm cha mẹ, giải tỏa được gánh nặng tâm
lý gia đình, hạn chế được sự đổ vỡ của hôn nhân
Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có quy định
cấm đối với hành vi: “Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật sinh sản vì mục đích
thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tình” – Điểm g Khoản 2 Điều 5 Có thể thấy hiện nay, nhiều người
phụ nữ vì nhẹ dạ cả tin, vì hoàn cảnh cuộc sống gia đình gặp khó khăn mà phải thực hiện việc mang thai hộ để đổi lấy tiền hoặc các điều kiện vật chất Do đó, quy định cấm đối với hành vi sinh con bằng kỹ thuật sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại là điều cần thiết để bảo vệ
Trang 3732
người phụ nữ trước những hành vi lợi dụng ý nghĩa nhân văn của việc mang thai hộ, sinh con bằng kỹ thuật sinh sản để trục lợi của các tổ chức, cá nhân
2.1.3 Bảo vệ người mẹ trong mối quan hệ gia đình
Luật Hôn nhân và gia đình cũng có quy định riêng để đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Từ khi ban hành đạo luật đầu tiên năm 1959 đến
nay, Luật Hôn nhân và gia đình luôn thống nhất nguyên tắc cấm “Người đang có
vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” Quy định này chính thức xóa bỏ chế độ đa thê mà pháp
luật thời kì phong kiến cũng như thời kì Pháp thuộc duy trì, ghi nhận nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, bảo vệ quyền bình đẳng của người phụ nữ
Quy định cấm còn đi kèm theo các chế tài xử phạt hành chính (phạt tiền) cũng như chế tài hình sự Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng tại Điều 182 như sau:
Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ
là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì
bị phạt cành cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm: Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; đã bị xử phạt vi phạm hành chính vì hành vi này mà còn vi phạm
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm: làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó
Trang 3833
Có thể nói, ghi nhận bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng góp phần bảo vệ quyền của phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình
2.1.4 Các quy định khác liên quan đến ly hôn
2.1.4.1 Quyền nuôi con sau khi ly hôn của người mẹ:
Tòa án luôn dựa vào nguyên tắc thỏa thuận của hai vợ chồng để quyết định ai sẽ là người được nuôi con Theo đó, sau khi ly hôn, hai bên có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi
ly hôn đối với con Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cha mẹ cũng xảy ra chuyện tranh giành nuôi con Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ nuôi con trong các trường hợp sau đây:
- Con chưa thành niên
- Con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Ngoài ra, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào các điều kiện tốt nhất cho con để chỉ định người được quyền nuôi con
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con Đây vừa là quy định nhằm đảm bảo quyền lợi của đứa trẻ được nuôi dưỡng, trông nom trong điều kiện tốt nhất, nhưng đây cũng là quy định nhằm bảo vệ quyền nuôi con của người mẹ
2.1.4.2 Quy định về quyền lưu cư của vợ chồng sau khi ly hôn là một quy định tiến bộ so với Luật Hôn nhân và gia đình Trong thực tế hiện nay, rất
nhiều cặp vợ chồng sau khi ly hôn, người vợ thường phải mất một khoảng thời gian sau khi ly hôn mới có thể ổn định được cuộc sống Rất nhiều trường
Trang 3934
hợp ngay sau khi ly hôn, người vợ đã phải ra khỏi nhà, việc ly hôn vốn đã là điều không ai mong muốn lại càng khiến người mẹ trở nên khó khăn hơn Vì vậy, để bảo vệ người mẹ trong những trường hợp này, Luật Hôn nhân và gia đình có quy định tại Điều 63 như sau:
Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp
các bên có thỏa thuận khác
Như vây, có thể thấy rằng, quy định của Luật Hôn nhân và gia đình một mặt vẫn đảm bảo quyền sở hữu đối với tài sản của một cá nhân là không thể xâm phạm, mặt khác vẫn tạo điều kiện cũng như bảo vệ được người phụ nữ
trong việc có thời gian tìm nơi ở mới để ổn định cuộc sống
2.1.4.3 Đối với tài sản khi ly hôn
Có thể thấy, vấn đề tài sản luôn là vấn đề quan trọng và được Pháp luật quy định cụ thể từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một cuộc hôn nhân Trong thời
kỳ hôn nhân, các quy định về tài sản vợ chồng được Luật Hôn nhân và gia đình đưa ra nhằm mục đích duy trì các điều kiện về vật chất để gia đình có thể duy trì, tồn tại, phát triển thì khi vợ chồng ly hôn, vấn đề chia tài sản cũng phải được đặt ra để đảm bảo cho mỗi bên sau khi ly hôn đều có thể tiếp tục ổn định, bắt đầu cuộc sống mới
- Nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi
Theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định
nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn đó là:“Tài sản chung
của vợ chồng được chia đôi”
Như đã nêu ra và phân tích trước đó, mọi nguồn thu nhập của vợ hoặc chồng được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của
Trang 4035
vợ chồng nên về nguyên tắc, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi Quy định trên là hoàn toàn phù hợp bởi nếu chỉ dựa vào công việc,
so sánh nguồn thu nhập vợ chồng để thực hiện việc chia tài sản khi ly hôn thì
đó sẽ là điều bất lợi, ảnh hưởng lớn đến người mẹ - những người phụ nữ ở nhà chăm sóc con cái, không tạo ra thu nhập vào tài sản chung
- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình:
Tại Điều 61 của Luật Hôn nhân và gia đình có quy định:
1 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của
vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
2 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này
Có thể thấy, mặc dù hiện nay xã hội đã phát triển nhưng việc con cái sau khi đã kết hôn về ở với bố mẹ do vẫn chưa có điều kiện về nhà ở riêng hoặc để có điều kiện chăm sóc bố mẹ là điều vẫn thường xảy ra Chính vì lẽ
đó, chế độ tài sản của vợ chồng trong mối quan hệ với gia đình có thể sẽ phát sinh nhiều vấn đề hơn mà nếu pháp luật không quy định cụ thể thì việc ly hôn
có thể sẽ ảnh hưởng lớn đến mỗi bên sau khi ly hôn Theo đó, ta thường thấy, khi sống chung với bố mẹ, vợ chồng ngoài quyền, nghĩa vụ đối với nhau còn