Trong những năm 1850, một cơn bão ở Đại Tây Dương đã làm đắm một con tàu có tên là Antje, và cơn bão đó đã được gọi là “bão Antje”, trong khi một cơn bão khác đổ bộ vào Florida vào Ngày [r]
Trang 1TÌM HIỂU VỀ BÃO
1/Phân biệt các cấp độ bão
Theo qui định của các ban bão Tây Thái Bình Dương (khu vực có Việt Nam):
- Sức gió không quá 63km/giờ thì người ta gọi đó là áp thấp nhiệt đới (tropical depression)
- Sức gió từ 63-88km/giờ: bão nhiệt đới (tropical storm)
- Sức gió từ 89-117km/giờ: bão nhiệt đới dữ dội (severe tropical storm)
- Sức gió từ 118km/giờ trở lên: bão lớn (typhoon)
2/ Khi nào gọi là siêu bão?
Bản đồ ảnh mây vệ tinh chụp cơn bão Souledor vào lúc 5 giờ 43 phút sáng 8/8/2015 Ảnh do Trung tâm khí tượng thủy văn Trung ương Trung Quốc cung cấp lúc 6 giờ sáng 8/8/2015
Cũng là vùng Tây Thái Bình Dương nhưng theo qui định của Trung tâm Cảnh báo bão chung hải quân Mỹ đặt tại Guam, khi bão đạt mức gió trên 115knot (213km/giờ) gọi là siêu bão (super typhoon)
Đối với thang xếp hạng Saffir-Simpson dành cho vùng Đại Tây Dương và Đông Thái Bình Dương, khi bão
ở mức trên 117km/giờ thì được phân chia theo năm cấp về sức gió:
- Cấp 1 sức gió tối đa trong khoảng 118 - 153km/giờ
- Cấp 2 (154-177km/giờ)
- Cấp 3 (178-209km/giờ)
- Cấp 4 (210-249km/giờ)
- Cấp 5 (trên 250km/giờ)
Trang 2Một qui định khác là khi áp suất đạt dưới 920 HPA thì được xếp vào hàng siêu bão.
3/ Cấu trúc của bão
Các thành phần chính của bão bao gồm các dải mưa ở rìa ngoài, mắt bão nằm ở chính giữa và thành mắt bão nằm ở ngay sát mắt bão Ở nửa dưới của khí quyển, không khí chuyển động xoắn vào tâm theo ngược chiều kim đồng hồ, chuyển động thẳng đứng lên trên trong thành mắt bão và toả ra ngoài ở trên đỉnh theo chiều ngược lại Ở chính giữa trung tâm của cơn bão, không khí chuyển động giáng xuống, tạo nên vùng quang mây ở mắt bão
Mắt bão
Mắt bão là vùng tương đối lặng gió, quang mây, có đường kính khoảng 30- 60 km Khi ở trong khu vực bão, người ta thường rất ngạc nhiên khi thấy gió và mưa đang rất dữ dội lại đột nhiên ngừng hẳn, trời quang mây tạnh, đó là khi mắt bão đi qua
Hình : sơ đồ cấu trúc bão với các thành phần cơ bản: mắt bão, thành mắt bão và các dải mưa xoắn
Thành mắt bão
Đó là tường mây dày xung quanh mắt bão gồm các đám mây giông phát triển lên rất cao Đây là nơi có gió mạnh nhất trong bão
Các dải mưa xoắn
Các dải mây mưa ở rìa ngoài của bão có thể trải xa cách tâm bão hàng trăm kilômet Những dải mây giông dày đặc này chuyển động xoắn chậm theo ngược chiều kim đồng hồ, có độ rộng từ khoảng vài kilômét đến vài chục kilômét và dài khoảng từ 80 đến 500 km
Kích thước của bão
Kích thước đặc trưng của bão khoản vài trăm kilômét, nhưng có thể biến đổi đáng kể Kích thước của bão không nhất thiết biểu hiện cho cường độ bão
4/Đặt tên cho bão
Vào ngày 29 tháng 10 năm 2012, cơn bão Sandy đổ bộ vào New York Khoảng 200 người đã thiệt mạng và thiệt hại lên tới 71 tỉ đô la, chỉ thấp hơn thiệt hại do siêu bão Katrina gây nên tại New Orleans vào năm
2005 Tuy nhiên, cả bảo Sandy lẫn Katrina sẽ không bao giờ xảy ra nữa do các nhà khí tượng đã nhanh chóng loại bỏ hai tên gọi này Tổ chức Khí tượng Thế giới thuộc Liên Hợp Quốc chọn tên bão từ các danh sách được sử dụng lại sau mỗi sáu năm, nhưng loại bỏ những tên gọi gắn liền với những cơn bão có mức độ
Trang 3hủy diệt khủng khiếp Những tên gọi gây tranh cãi như Adolf và ISIS cũng bị loại ra Vậy các cơn bão được đặt tên như thế nào và truyền thống này đã hình thành ra sao?
Trong hàng trăm năm, người dân sống ở các đảo thuộc vùng Caribbe, vốn dường như thường xuyên đối mặt với cơn thịnh nộ của Chúa, đã đặt tên các cơn bão theo tên các vị thánh Nhưng nói chung, việc đặt tên bão khá lộn xộn Trong những năm 1850, một cơn bão ở Đại Tây Dương đã làm đắm một con tàu có tên là Antje, và cơn bão đó đã được gọi là “bão Antje”, trong khi một cơn bão khác đổ bộ vào Florida vào Ngày Lao động(1/5) nên nó được đặt tên là “bão Ngày lao động”
Vào cuối thế kỷ 19, Clement Wragge, một nhà dự báo khí tượng người Úc, đã cố gắng thiết lập nên một hệ thống bằng cách đặt tên các cơn bão theo bảng chữ cái Hy Lạp Khi chính phủ Úc từ chối công nhận hệ thống này, ông bắt đầu đặt tên các cơn bão theo tên các chính trị gia Không có gì ngạc nhiên, một hệ thống
mà dường như mô tả một chính trị gia là “gây thảm họa lớn” hoặc “lang thang không mục đích về phía Thái Bình Dương” đã gặp phải sự phản đối Một phương pháp khác để đặt tên các cơn bão là dùng tọa độ địa lý vốn giúp các nhà khí tượng học theo dõi chúng Nhưng điều này cũng chẳng có ích gì cho những người sống trên bờ và dựa vào các thông báo thời tiết ngắn gọn và hữu ích trên sóng đài phát thanh
Truyền thống chính thức đặt tên các cơn bão bắt đầu hình thành vào năm 1950 khi chúng được gọi tên theo
cách đọc bảng chữ cái mà các binh lính Mỹ thời đó sử dụng (Able, Baker, Charlie, vv…) Những cái tên này
ngắn gọn và dễ phát âm hay ghi lại Việc trao đổi các thông tin giữa hàng ngàn đài phát thanh nằm rải rác, các tàu thuyền trên biển và các căn cứ ven biển trở nên dễ dàng hơn Kỹ thuật mới này đã chứng minh đặc biệt hữu ích khi hai cơn bão có cường độ khác nhau xảy ra cùng một lúc
Tuy nhiên, chỉ hai năm sau, vào năm 1952, một hệ thống phát âm bảng chữ cái quốc tế mới đã được thông
qua (Alpha, Bravo, Charlie, vv…) nên đã gây ra một số nhầm lẫn Vì vậy, học theo cách các nhà khí tượng
hải quân đặt tên các cơn bão theo tên vợ mình, Trung tâm Dự báo Bão Quốc gia Mỹ đã bắt đầu sử dụng các tên phụ nữ (để đặt tên cho các cơn bão) Cách làm này tỏ ra phổ biến, và gây nhiều tranh cãi Các phương tiện truyền thông rất thích thú khi mô tả các cơn bão mang tên nữ giới đầy “cuồng nộ”, “trêu ghẹo” và “tán tỉnh” các bờ biển Các nhà hoạt động nữ quyền đã vận động chống lại cách làm này và từ năm 1978 tên bão
đã sử dụng đan xen tên gọi của cả hai giới
Năm 1979, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Cơ quan khí tượng Mỹ (NWS) thống nhất sử dụng tên bão gồm cả tên nữ và nam giới
Các cơn bão ở lòng chảo đông bắc Thái Bình Dương được đặt theo tên phụ nữ từ năm 1959-1960 Năm
1978, cả hai loại tên đều được sử dụng Ở vùng bắc Ấn Độ Dương, các bão nhiệt đới không được đặt tên Tại tây nam Ấn Độ Dương, bão lần đầu có tên vào mùa 1960-61 Vùng Australia và nam Thái Bình Dương, tên phụ nữ được lấy làm tên bão từ năm 1964, và 10 năm sau thì tên của nam cũng được dùng
Từ ngày 1/1/2000, các cơn bão ở lòng chảo tây bắc Thái Bình Dương (khu vực mà Việt Nam nằm trong)
được đặt theo một danh sách các tên mới lạ Những tên mới bổ sung bao gồm các tên châu Á, được lấy từ các nước và vùng lãnh thổ là thành viên của WMO trong khu vực Mỗi trong số 14 thành viên cung cấp 10 cái tên, tạo thành danh sách 140 tên bão
Những tên này có hai điều khác biệt so với tên bão ở các nơi trên thế giới Thứ nhất, hầu hết chúng không phải là tên riêng của người, mà thường là tên hoa, động vật, chim, cây cỏ hay thậm chí tên món ăn Thứ hai, các tên này không được đặt tuần tự theo thứ tự chữ cái, mà theo thứ tự chữ cái của tên các nước
Các cơn bão đang hình thành ở khu vực này sẽ được Trung tâm Bão nhiệt đới Tokyo thuộc Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đặt tên
10 tên bão mà Việt Nam đã đăng ký với WMO là :
- Sơn Tinh (Sontinh)
Trang 4- Lekima
- Ba Vì (Bavi)
- Côn Sơn (Conson)
- Sơn Ca (Sonca)
- Trà Mi (Trami)
- Hạ Long (Halong)
- Vàm Cỏ (Vamco)
- Sông Đà (Songda)
- Sao La (Saola)
SƯU TẦM