1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tim hieu ve bai giang Elearning

19 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 349,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạo môi trường học tập cộng tác giúp cải thiện các khuyết điểm mà các phương pháp truyền thống mang lại như: tạo cho người học khả năng tự tin hơn khi phát biểu ý kiến của mình nhược điể[r]

Trang 1

BÀI THU HOẠCH CÁ NHÂN Môn: Ứng dụng CNTT trong dạy học

Câu 1:Khái niệm về E- learning và chuẩn Scorm.

a Lịch sử

Vào đầu những năm 1960, các giáo sư tâm lý học của đại học Stanford Patrick Suppes và Richard C Atkinson đã thử nghiệm với việc dùng máy tính dạy toán và đọc cho trẻ em tiểu học tại East Palo, California Chương trình giáo dục cho tài năng trẻ của Standfors được bắt nguồn từ những thử nghiệm ban đầu này.

Hệ thống Elearning ban đầu dựa trên học/đào tạo với máy tính thường cố gắng nhân rộng phong cách giảng dạy trong đó vai trò của hệ thống Elearning được cho là chuyển giao kiến thức, trái ngược với các hệ thống sau này phát triển dựa trên việc hỗ trợ học tập, khuyến khích chia sẻ sự phát triển và kiến thức.

Từ năm 1993, William D Graziadei đã miêu tả một bài giảng truyền tải của máy tính, hướng dẫn và đánh giá dự án sử dụng thư điện tử Năm 1997, ông công bố một bài báo miêu tả sử phát triển một chiến lược tổng thể cho việc quản lý và phát triển khóa học dựa trên công nghệ cho

hệ thống giáo dục Ông cho rằng các sản phẩm phải dễ sử dụng, duy trì, vận chuyển, nhân rộng, có khả năng mở rộng, và giá cả phải chăng, và chúng phải có khả năng thành công cao trong dài hạn với hiệu quả về chi phí.

William D Graziadei, Sharon Gallagher, Ronald N Brown, Joseph Sasiadek đã xây dựng một hệ thống dạy và học đồng bộ và không đồng bộ: khai thác một giải pháp hệ thống quản lý các lớp học và khóa học Năm 1997, Graziadei, W.D, đã công bố một bài báo với tựa đề "Xây dựng

hệ thống dạy và học đồng bộ và không đồng bộ: khai thác một giải pháp hệ thống quản lý các lớp học và khóa học" Họ miêu tả một quá trình tại đại học State University of New York trong việc định giá các sản phẩm và phát triển chiến lược tổng thể cho việc quản lý và phát triển các khóa học dựa trên công nghệ trong việc dạy và học Sản phẩm này dễ sử dụng, duy trì, vận chuyển, nhân rộng, có khả năng mở rộng, và chúng phải có khả năng thành công cao trong dài hạn Ngày nay nhiều công nghệ có thể, hoặc đang được sử dụng trong Elearning, từ blogs đến kết hợp phần mềm, ePortfolios, và các lớp học ảo Hầu hết các tình huống eLearning sử dụng sự kết hợp các công nghệ này.

b Một số định nghĩa e-Learning tiêu biểu

Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về e-Learning, dưới đây sẽ trích ra một số định nghĩa e-Learning đặc trưng nhất

 E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton).

 E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ( Compare Infobase Inc)

 E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục ( MASIE Center)

 Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT ) ( Sun Microsystems, Inc )

Trang 2

 Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các

phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân ( e-learningsite)

 "Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới e-learning trong doanh nghiệp)

Jay Cross, Giám đốc điều hành (CEO) của Internet Time Group tập hợp một số định nghĩa

về e-Learning và trình bày một số quan điểm của ông về e-Learning tại: The e-Learning FAQ Bạn cũng có thể đọc thêm các định nghĩa Learning trên Web (với sự hỗ trợ Google): Định nghĩa e-Learning

c Các đặc điểm chung của e-Learning

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung e-Learning đều có những điểm chung sau :

 Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…

 Hiệu quả của e-Learning cao hơn so với cách học truyền thống do e-Learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người

 E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, e-Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực e-Learning ra đời

d Tại sao e-Learning lại đưa vào để phục vụ học tập?

“Information technology will bring mass customization to learning too Workers will be able to keep up to date on techniques in their field People anywhere will be able to take the best courses taught by the greatest teachers.” Bill Gates, The Road Ahead

Dịch ra cụ thể là “ Công nghệ thông tin cũng sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta Những người công nhân sẽ có khả năng cập nhật các kĩ thuật trong lĩnh vực của mình Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất dạy bởi các giáo viên giỏi nhất.” Nếu công nghệ thông tin đạt tới đỉnh điểm của nó thì thật là tuyệt vời Ngay tại Việt Nam, chúng ta cũng có thể tham gia các cua học bên Mĩ với thầy giáo giỏi nhất

Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức Đặc điểm của nền kinh tế này

là dịch vụ sẽ là khu vực thu hút được nhiều lao động tham gia nhất và là những lao động có tri thức cao Do đó việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định

sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình, và cá nhân E-learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này Việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học mà là học suốt đời Tức là đối tượng học tập sẽ bao gồm cả người lớn Hãy quan sát biểu

đồ dưới đây :

Trang 3

Hình 2.1: Adult students represent nearly 50% of student body

Hơn nữa với sự phát triển của khoa học tâm sinh lý khi nghiên cứu về bộ não con người sẽ tìm ra được chính xác ưu điểm và nhược điểm của từng người Từ đó, với sự hỗ trợ của các phần mềm thông minh, có tính tương tác cao sẽ đưa ra cách giảng dạy phù hợp với từng người Đây là

cơ hội tuyệt vời để người bị coi là “cá biệt” theo cách đào tạo truyền thống bắt kịp với các người bình thường khác

Đối với các công ty, sự đào tạo nhân viên các kĩ năng mới sẽ quyết định chất lượng sản phẩm và các dịch vụ mà họ cung cấp Những công ty có doanh thu tăng đều đồng nghĩa với việc tăng đầu tư vào việc đào tạo Một vấn đề đặt ra với các công ty là làm sao tạo ra tạo các nội dung huấn luyện nhanh nên họ rất cần các công cụ tạo nội dung dễ dàng, nhanh và không đòi hỏi kiến thức về IT quá nhiều

Một số ý kiến khác

 "e-Learning trên mạng Internet sẽ trở nên rất phổ biến Nó chuẩn bị làm lu mờ email" JOHN T CHAMBERS - PRESIDENT AND CEO, CISCO

SYSTEMS

 " Motorola không chỉ muốn các kĩ sư với bằng 4 năm Thay vào đó, chúng tôi muốn những nhân viên có bằng cấp 40 năm." Christopher Galvin, President and CEO of Motorola.

Trang 4

e Kiến trúc hệ thống E-learning

Hình vẽ dưới đây mô tả kiến trúc của một hệ thống e-Learning:

Hình 2.2: kiến trúc của một hệ thống e-Learning Quan sát trên hình vẽ, chúng ta thấy:

- Học tập sẽ dựa trên mạng Internet là chủ yếu, thông qua World Wide Web (WWW).

- Hệ thống e-Learning sẽ được tích hợp vào portal của trường học hoặc doanh nghiệp Như vậy hệ thống e-Learning sẽ phải tương tác tốt với các hệ thống khác trong trường học như hệ thống quản lý sinh viên, hệ thống quản lý giáo viên, lịch giảng dạy…cũng như các hệ thống của doanh nghiệp như là ERP, HR…

- Một thành phần rất quan trọng của hệ thống chính là hệ thống quản lý học tập (Learning Management System), gồm nhiều module khác nhau, giúp cho quá trình học tập trên mạng đuợc thuận tiện và dễ dàng phát huy hết các điểm mạnh của mạng Internet ví dụ như

 Diễn đàn để trao đổi ý kiến giữa các thành viên của một lớp

 Module khảo sát lấy ý kiến của mọi người về một vấn đề nào đó

 Module kiểm tra và đánh giá

 Module chat trực tuyến

 Module phát video và audio trực truyến

 Module Flash

 …

- Một phần nữa rất quan trọng là các công cụ tạo nội dung Hiện nay, chúng ta có 2 cách tạo nội dung là trực tuyến (online), có kết nối với mạng Internet và offline (ngoại tuyến), không cần kết nối với mạng Internet Những hệ thống như hệ thống quản trị nội dung học tập (LCMS –

Trang 5

Learning Content Management System) cho phép tạo và quản lý nội dung trực tuyến Các công cụ soạn bài giảng (authoring tools) giáo viên có thể cài đặt ngay trên máy tính cá nhân của mình và soạn bài giảng Với những nước và khu vực mà cơ sở hạ tầng mạng chưa tốt thì việc dùng các công

cụ soạn bài giảng là một sự lựa chọn hợp lý Một hệ thống tạo nội dung mềm dẻo thường cho phép kết hợp giữa soạn bài giảng online và offline

- Với các trường và cơ sở có quy mô lớn cần phải quản lý kho bài giảng lớn và muốn chia sẻ cho các trường khác thì phải nghĩ đến giải pháp kho chứa bài giảng Kho chứa bài giảng này cho phép lưu trữ, quản lý thông tin về các bài giảng (thường dùng các chuẩn về metadata của

IEEE,IMS, và SCORM) Hơn nữa, thường có engine tìm kiếm đi kèm, tiện cho việc tìm kiếm các bài giảng (hoặc tổng quát hơn là đối tượng học tập) Đôi khi các LCMS cũng đủ mạnh để thực hiện việc quản lý này hoặc cũng có các sản phẩm chuyên biệt cho nhiệm vụ này (chẳng hạn các sản phẩm của Harvest Road, http://www.harvestroad.com).

- Các chuẩn/đặc tả là một thành phần kết nối tất cả các thành phần của hệ thống e-Learning LMS, LCMS, công cụ soạn bài giảng, và kho chứa bài giảng sẽ hiểu nhau và tương tác được với nhau thông qua các chuẩn/đặc tả Chuẩn và đặc tả e-Learning cũng đang phát triển rất nhanh tạo điều kiện cho các công ty và tổ chức tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm e-Learning, và người dùng có rất nhiều sự lựa chọn

f Học tập kết hợp

Phần này nhằm trả lời câu hỏi liệu e-Learning có thể thay thế được cách học truyền thống? Câu trả lời là e-Learning không thể thay thế hoàn toàn cách học truyền thống Chúng ta sẽ lấy thí dụ thông qua một công ty Công ty Quality Learning Inc cung cấp các cua đào tạo về IT và truyền thông Mười năm trước công ty chỉ áp dụng cách đào tạo truyền thống là dựa trên lớp học,

có sự hướng dẫn của giáo viên Nhưng đến 1997, công ty chuyển sang áp dụng online learning

Họ nhận ra rằng e-Learning thuần tuý không phải là một gải pháp hoàn hảo và số học viên của họ đã giảm đáng kể Đó chính là nguyên nhân tại sao họ kết hợp cả hai cách học thành một mô hình gọi là Blended Learning Model

Họ cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau và Open Learning Center là phần chính của giải pháp Trong những trung tâm này, học viên có thể gặp các học viên khác, tham gia các buổi thảo luận, và trao đổi các thắc mắc với giao viên Nó là sự kết hợp của:

- Online và offline learning

- Nhiều định dạng bài học khác nhau (điện tử, giấy)

- Formal và informal learning

- Học đồng bộ và không đồng bộ

Có thể tóm tắt như hình dưới đây:

Trang 6

Hình 2.3: Học tập kết hợp Như vậy, chúng ta phải kết hợp cả hai cách học tập: e-Learning và truyền thống để đem lại hiệu quả cao nhất cho học viên Giải pháp kết hợp này được gọi là BLENDED SOLUTION.

Hình 2.4: blended solution.

2 Chuẩn Scorm:

a Scorm là gì?

Có thể coi SCORM là sự kết tinh trí tuệ của cả cộng đồng e-Learning trong nhiều năm qua SCORM là một mô hình tham khảo các chuẩn kĩ thuật, các đặc tả và các hướng dẫn có liên quan đưa ra bởi các tổ chức khác nhau dùng để đáp ứng các yêu cầu ở mức cao của nội dung học tập và các hệ thống thông qua các từ “ilities”

• Tính truy cập được (Accessibility): Khả năng định vị và truy cập các nội dung giảng dạy

từ một nơi ở xa và phân phối nó tới các vị trí khác

• Tính thích ứng được (Adaptability): Khả năng cung cấp các nội dung giảng dạy phù hợp với yêu cầu của từng cá nhân và tổ chức

• Tính kinh tế (Affordability): Khả năng tăng hiệu quả và năng suất bằng cách giảm thời gian và chi phí liên quan đến việc phân phối các giảng dạy

• Tính bền vững (Durability): Khả năng trụ vững với sự phát triển của sự phát triển và thay đổi của công nghệ mà không phải thiết kế lại tốn kém, cấu hình lại

Trang 7

• Tính khả chuyển (Interoperability): Khả năng làm cho các thành phần giảng dạy tại một nơi với một tập công cụ hay platform và sử dụng chúng tại một nơi khác với một tập các công cụ hay platform

• Tính sử dụng lại (Reusability): Khả năng mềm dẻo trong việc kết hợp các thành phần giảng dạy trong nhiều ứng dụng và nhiều ngữ cảnh khác nhau

Các phiên bản SCORM ngày càng được hoàn thiện để thực hiện đầy đủ các yêu cầu trên

b Các thành phần trong SCORM

SCORM Packaging: SCORM dùng đặc tả Content Packaging, cốt lõi của đặc tả Content

Packaging là một file manifest File manifest này phải được đặt tên là imsmanifest.xml Như phần

đuôi file đã đưa ra, file này phải tuân theo các luật XML về cấu trúc bên trong và định dạng.

Thành phần chính trong Package Interchange File:

 Phần metadata ghi các thông tin cụ thể về gói tin.

 Phần Organizations là nơi mô tả cấu trúc nội dung chính của gói Nó gần như một bảng mục lục Nó tham chiếu tới các các tài nguyên và các manifest con khác được mô tả chi tiết hơn

ở phần dưới.

 Phần Resources bao gồm các mô tả chỉ tới các file khác được đóng cùng trong gói hoặc các file khác ở ngoài (như là các địa chỉ Web chẳng hạn).

 Sub-manifests mô tả hoàn toàn các gói được gộp vào bên trong gói chính Mỗi sub-manifest cũng có cùng cấu trúc bao gồm Meta-data, Organizations, Resources và Sub-sub-manifests.

Do đó manifest có thể chứa các sub-manifest và các sub-manifest có thể chứa các Sub-manifes khác nữa.

Hình 2.36: SCORM Packaging

Trang 8

Đặc tả này cho phép đóng gói nhiều khoá học và các thành phần cao cấp khác từ những bài học đơn lẻ, các chủ đề và các đối tượng học Đặc tả này cũng cung cấp các kĩ thuật đóng gói manifest và các file thành một gói vật lý Các định dạng file được ghép các file riêng rẽ là PKZIP (ZIP) file, Jar file (JAR), hoặc cabinet (CAB) file Phương pháp thực thi một chuẩn theo một công nghệ cụ thể được gọi là binding và không phải là phần lõi của chuẩn.

 SCORM RTE (Run Time Environment): Trong SCORM đặc tả Runtime Environment (RTE) quy định sự trao đổi giữa hệ thống quản lý đào tạo và các SCO (Sharable Content Object - Đối tượng nội dung có thể chia sẻ được) tương ứng với một modul SCORM Runtime Environment xác định một giao thức và mô hình dữ liệu dùng cho trao đổi thông tin giữa các đối tượng học tập và các hệ thống quản lý Trong quá trình thực thi, những người soạn bài tạo các trang HTML, HTML trao đổi với một hệ thống quản lý bằng cách sử dụng các hàm JavaScript nằm trong file APIWrapper.js Chuẩn trao đổi thông tin cung cấp rất nhiều cách thức mà hệ thống quản lý và modul có thể trao đổi thông tin Sau đây là 5 phương thức quan trọng nhất trong SCORM RTE 2004: Initialize, Terminate, GetValue, SetValue và Commit.

 SCORM metadata: bao gồm toàn bộ thông tin của nội dung E-Learning, ví dụ như thông tin

vể tác giả, thông tin về giá, danh mục, nhu cầu kỹ thuật cho sự hoạt động của khoá học, chỉ tiêu phấn đấu của học viên, các từ khoá giúp ích cho việc tìm kiếm nội dung trên website…

Câu 2: Phân biệt giáo án và giáo án điện tử.

 Giáo án: Là “Kế hoạch và dàn ý giờ lên lớp của giáo viên, bao gồm đề tài của giờ

lên lớp, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy và trò, khâu kiểm tra đánh giá Tất cả được ghi ngắn gọn theo trình tự thực tế sẽ diễn ra trong giờ lên lớp Giáo án được giáo viên biên soạn trong giai đoạn chuẩn bị lên lớp và quyết định phần lớn sự thành công của bài học.”

Giáo án điện tử:Là giáo án truyền thống của giáo viên nhưng được đưa vào máy vi

tính, giáo án truyền thống nhưng được lưu trữ, thể hiện ở dạng điện tử (trên máy tính)

Khi giáo án truyền thống được đưa vào máy tính thì những ưu điểm, thế mạnh của CNTT sẽ phát huy: lưu trữ, hình thức, chia sẻ, xử lý, quản lý…

Nếu coi giáo án là “kịch bản” thì bài giảng được coi là “vở kịch được công diễn” Bài

giảng là tiến trình giáo viên triển khai giáo án của mình ở trên lớp

Như vậy bài giảng điện tử là bài giảng của giáo viên được thể hiện trên lớp nhờ sự hỗ trợ của các thiết bị điện tử và phương tiện CNTT&TT.

Trang 9

* Phương tiện CNTT thường gồm:

- Phần mềm trình chiếu như powerpoint (đơn giản và thuận tiện nhất) Đây là dạng phổ biến

nhất hiện song mọi người hay nhầm lẫn gọi đây là giáo án điện tử.

Vì vậy việc sử dụng Powerpoint soạn bài, có thể gọi là bản trình chiếu.

Phần tài liệu tiếp theo sẽ nói kinh nghiệm cách trình bày powerpoint ra sao

- Sử dụng các công cụ thể hiện multimedia gồm văn bản text, âm thanh (sound), tiếng nói

(voice), hình ảnh (image), video, hoạt hình (animation) cho chữ và hình, đồ hoạ (graphic)…

- Sử dụng flash là một định dạng nén của hãng Macromedia trước đây chứa video, các hoạt hình, âm thanh, truyền hình… Đây là định dạng phổ biến và rất tiện để truyền tải thông tin hiện nay

- Các phần mềm soạn bài giảng hiện có rất nhiều và rất hiện đại, thường được gọi

là authoring tools trong e Learning.

- Giáo viên có thể ban đầu soạn bài giảng bằng Powerpoint, sau đó chuyển sang Authoring tools vì nó có chức năng chuyển đổi

- Bài giảng điện tử e Learning là thể hiện cao cấp nhất của bài giảng điện tử bởi nó có thể chứa không chỉ bài giảng text, video chèn vào bình thường mà nó còn có cấu trúc chuẩn hoá theo định dạng SCORM, AICC để đưa vào các hệ thống quản lí bài giảng (Learning

Managment System: LMS)

- Thông thường Bài giảng điện tử e Learning còn có thể có: Có video hình ảnh giáo viên giảng bài, có thể có bài thi kiểm tra với nhiều loại trắc nghiệm khác nhau, có thể chat giữa giáo viên và người học, có thể thăm dò ý kiến, có thể đưa vào một cách dễ dàng các mẩu multimedia

- Như vậy với bài giảng điện tử e Learning, người học có thể học một mình vì hình ảnh và tiếng giáo viên giảng bài có thể đã được gắn vào nên rất sinh động, có thể tự kiểm tra kiến thức qua gần 20 kiểu trắc nghiệm

- Authoring tool là công cụ soạn bài giảng điện tử, nó có thể cho phép soạn off-line, nghĩa

là không cần nối mạng, vẫn soạn được bài giảng Sau đó xuất kết quả ra đĩa CD để học cũng off-line Điều quan trọng là phải tuân theo chuẩn quốc tế

Hiện nay có rất nhiều Authoring tools, có cái miễn phí, có cái giá rất rẻ

Cụ thể thí dụ:

- Microsoft Producer là phần mềm soạn bài giảng e Learning, miễn phí

- Presenter của Adobe

Câu 3: Bài giảng điện tử E-learning là gì?

Bài giảng e-Learning là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng (authoring tools), có khả năng tích hợp đa phương tiện (multimedia) gồm phim (video), hình ảnh, đồ họa, hoạt hình, âm thanh, , và tuân thủ một trong các chuẩn, AICC

Bài giảng e-Learning khác hoàn toàn với các khái niệm: giáo án điện tử, bài trình chiếu hoặc bài giảng điện tử (powerpoint) thường gọi

Từ trước đến nay bạn soạn bài giảng bằng PowerPoint thì phải trực tiếp sử dụng nó, còn bài

Trang 10

giảng e-Learning thì là một bài giảng hoàn toàn phụ thuộc vào tác động của người học Bài giảng e-Learning có thể dùng để học ngoại tuyến (off-line) hoặc trực tuyến (online) và có khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự học mà không cần đến thầy dạy, không cần đến trường – lớp Do đó, để soạn 1 bài giảng E-learning phải dự kiến các tình huống xảy ra khi người học tác động vào bài giảng để có phương án xủ lý thích hợp

Có thể nói E-Learning là bài giảng của giáo viên được soạn thảo trên nền web

Câu 4: Một số hình thức về E-learning

Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…

Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous)

và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous) Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong

đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp… Giao tiếp không đồng bộ là hình thức

mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn Đặc trưng của kiểu học này

là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra Học viên được tự

do chọn lựa thời gian tham gia khoá học

 Một số hình thức E-learning

Có một số hình thức đào tạo bằng E-learning, cụ thể như sau:

1 Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có

sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin

2 Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training) Hiểu theo nghĩa rộng,

thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training

3 Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo sử dụng công

nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình

Ngày đăng: 05/06/2021, 19:43

w