1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức pháp lý về các quyền văn hóa

8 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 362,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi cho rằng, văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nh[r]

Trang 1

NHẬN THỨC PHÁP LÝ VỀ CÁC QUYỀN VĂN HÓA

(Hội thảo Khoa Luật ĐHQG HN ngày 28/6/2019)

PGS.TS.Chu Hồng Thanh

Quyền văn hóa, nói đầy đủ hơn là “Các quyền con người về văn hóa”

Để nâng cao khả năng hưởng thụ các quyền con người về văn hóa và đề cao trách nhiệm trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền quan trọng này thì việc làm rõ nhận thức về các quyền văn hóa là có rất nhiều ý nghĩa Trong thực tế các khái niệm văn hóa và quyền văn hóa đang được hiểu rất khác nhau, ngay trong các Công ước, Hiến pháp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

I Văn hóa Văn hóa là sản phẩm của chính con người; là hệ quả của sự tiến

hóa nhân loại Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới muôn loài và tạo ra sự khác biệt trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm

“văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác

nhau về Văn hóa Trong quyển sách “Culture, a critical review of concept and

definitions” (“Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa”, A.L Kroeber và Kluckhohn xuất bản, 1952), đã trích dẫn và đưa ra khoảng

160 định nghĩa về văn hóa khác nhau Xa hơn, năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”[1] Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người[2] F Boas thì định nghĩa

“Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau”[3] Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L Kroeber và Kluckhohn đưa ra là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là

[1] E.B Tylor, Văn hóa nguyên thủy, Huyền Giang dịch từ tiếng Nga, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, tr, 13

[2] Vũ Minh Chi, Nhân học văn hóa – con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, (sách tham khảo), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 39

Trang 2

[3] F Boas, Primitive Minds (Trí óc của người Nguyên Thủy), Ngô Phương Lan dịch, 1921, p 149

kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”[4]…

Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[5] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh

ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh

sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”[6] Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc Riêng Nguyễn Đức Từ Chi xem văn hóa từ hai góc độ Góc độ thứ nhất là góc độ hẹp, mà ông gọi là

“góc nhìn báo chí” Theo góc nhìn này, văn hóa sẽ là kiến thức của con người và xã hội Nhưng, ông không mặn mà với cách hiểu này vì hiểu như thế thì người nông dân cày ruộng giỏi nhưng không biết chữ vẫn bị xem là “không có văn hóa” do tiêu chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩn kiến thức sách vở Còn góc nhìn thứ hai là “góc nhìn dân tộc học” Với góc nhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống -cả vật chất, xã hội, tinh thần- của từng cộng đồng[7]; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau Văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

[4] A.L Kroeber và Kluckhohn, Culture, a critical review of concept and definitions, Vintage Books, A Division of Random House, New York, 1952, p.357

Trang 3

[5] Hồ Chí Minh Toàn Tập, in lần 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr 431

[6] Dẫn theo Trần Quốc Vượng (chủ biên), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dụ, 2005, tr 22

[7] Nguyễn Đức Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, NXB Chính trị Quốc gia, 2003, tr 565, 565, 570

Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”[8]; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng

xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[9]…

Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng Mỗi định nghĩa

đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Như định nghĩa của Tylor và của Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là tập hợp những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ tri thức, tôn giáo, đạo đức, ngôn ngữ,… đến âm nhạc, pháp luật… Còn các định nghĩa của F Boas, Nguyễn Đức Từ Chi, tổ chức UNESCO… thì xem tất cả những lĩnh vực đạt được của con người trong cuộc sống là văn hóa Chúng tôi dựa trên các định nghĩa đã nêu

để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu Chúng tôi cho rằng, văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn

Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Mác

và Ph.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động

cơ bản là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần" Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Như vậy, nói văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người Do đó, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội Tuy nhiên, với tư cách là hoạt động tinh thần, thuộc về ý thức của con người nên sự phát triển của

Trang 4

[8] Dẫn theo chương Văn hóa trong giáo trình Nhân học đại cương của Bộ môn Nhân học, Đại học KHXH&NV TP.HCM, tài liệu đánh máy

[9] Ngô Văn Lệ, Tộc người và văn hóa tộc người, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, 2004, tr 314

văn hóa bao giờ cũng chịu sự quy định của cơ sở kinh tế, chính trị của mỗi chế độ xã hội nhất định Tách rời khỏi cơ sở kinh tế và chính trị ấy sẽ không thể hiểu được nội dung, bản chất của văn hóa

II Quyền con người về văn hóa Như vậy có nhiều cách hiểu khác nhau

về văn hóa Dưới giác độ khoa học pháp lý và nhân quyền học thì phải xác định rõ nội hàm “Quyền con người về văn hóa” Khoản 1 Điều 15 Công ước

về các quyền KT XH VH xác định” 1 Các quốc gia thành viên Công ước thừa

nhận mọi người đều có quyền: a) Được tham gia vào đời sống văn hoá; b) Được hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học và các ứng dụng của nó; c) Được bảo hộ các quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào của mình 2 Các biện pháp mà các quốc gia thành viên Công ước

sẽ tiến hành nhằm thực hiện đầy đủ quyền này phải bao gồm các biện pháp cần thiết để bảo tồn, phát triển và phổ biến khoa học và văn hoá 3 Các thành viên Công ước cam kết tôn trọng quyền tự do không thể thiếu được đối với nghiên cứu khoa học và các hoạt động sáng tạo 4 Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận lợi ích của việc khuyến khích và phát triển các mối quan hệ và hợp tác quốc

tế trong các lĩnh vực khoa học và văn hoá.” Như vậy khái niệm quyền văn hóa được xác định trong Công ước là quyền con người bao gồm: (1) Quyền tham gia đời sống văn hóa của cộng đồng; (2) Quyền được hưởng lợi ích của các tiến bộ KHKT và các ứng dụng của khoa học công nghệ.(3) Quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào của mình (4) Quyền tự do nghiên cứu khoa học và các hoạt động sáng tạo (5) Quyền được các quốc gia bảo hộ để thực hiện các quyền trên

Các kết luận và khuyến nghị sơ bộ của Báo cáo viên Đặc biệt về các quyền văn hoá của Liên Hợp Quốc làm việc tại Việt Nam, từ ngày 18 đến ngày 29/11/2013

đã thể hiện các Quyền văn hóa như sau: “Việc đảm bảo quyền thụ hưởng văn hoá của tất cả mọi người là một vấn đề phức tạp và để hoàn thành nhiệm vụ này là việc không

hề dễ dàng Điều này đã được minh chứng qua các chủ đề cụ thể tôi đã đề cập đến trong suốt chuyến thăm của mình, đó là: quyền được thụ hưởng nghệ thuật, tự do sáng tạo và biểu đạt nghệ thuật, quyền của người dân trong việc thể hiện bản dạng văn hoá của họ, và quyền tiếp cận và thụ hưởng di sản văn hoá của chính họ cũng như của người khác, vấn đề về dạy lịch sử trong nhà trường, và tác động của du lịch đối với việc thụ hưởng các quyền văn hoá.” Như vậy khái niệm quyền văn hóa được mở rộng hơn rất nhiều so với công ước, bao gồm không chỉ khoa học kỹ thuật và sáng tạo

Trang 5

mà cả nghệ thuật, bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, cả lịch sử và hưởng thụ du lịch Không những thế trong Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt của LHQ còn mở rộng hơn rất nhiều về nội hàm của quyền văn hóa Chẳng hạn:

-Về Kinh tế - xã hội, Báo cáo viết: “Về phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo ở các khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa, và đã có nhiều nỗ lực hướng tới việc hoàn thành các Mục tiêu Thiên niên kỷ Những tiến bộ này là vô cùng ấn tượng Tôi có thể lấy dẫn chứng là ở các bản làng nông thôn mà tôi đã đến thăm, đường xá đã được xây dựng nhiều, trường học được thành lập và nhiều nhà cửa đã được hỗ trợ hoặc tu sửa”, hoặc “Chính phủ cần đảm bảo có nhiều sự linh hoạt hơn trong chính sách và tham vấn thực sự với các cộng đồng có liên quan khi phát triển các chương trình Cần xây dựng một mô hình thực hành mới trong đó người dân có được không gian để đóng góp vào việc thiết kế các chương trình có ảnh hưởng to lớn tới lối sống của họ.”;

- Quyền văn hóa bao gồm cả quyền của người dân tộc thiểu số: “các chương trình phát triển có thể có tác động tiêu cực đối với các quyền văn hoá của con người, đặc biệt là các quyền của các dân tộc thiểu số.”

- Quyền văn hóa bao gồm cả các quyền phát triển các sản phẩm ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, các lễ hội và văn hóa “Rất nhiều chương trình đã được phát triển nhằm giúp người dân của các cộng đồng dân tộc bán được sản phẩm nghề thủ công của họ và tiếp cận được với thị trường, cũng như biểu diễn minh hoạ văn hoá truyền thống của họ thông qua nhiều lễ hội và chương trình biểu diễn khác nhau Điều này đã cho phép các cộng đồng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế

ở khu vực họ sinh sống, và cũng giúp Chính phủ thúc đẩy hình ảnh về một đất nước

đa văn hoá.”

- Quyền văn hóa có nội dung liên quan đến các dự án đầu tư phát triển và sở hữu đất đai Báo cáo viên đặc biệt thể hiện sự “quan ngại trước những trường hợp đời sống và văn hóa của cộng đồng địa phương hoặc cộng đồng thiểu số đã bị các chương trình phát triển phá vỡ hoàn toàn” và “khuyến nghị Chính phủ đảm bảo việc công nhận sở hữu tập thể đối với đất đai cho những cộng đồng có ước muốn giữ và phát triển nếp sống truyền thống của họ, thường là dựa vào nông nghiệp, vào rừng, chăn nuôi hay đánh cá.”

- Quyền văn hóa được báo cáo viên đặc biệt tiếp cận đến bao gồm cả ngôn ngữ, tiếng nói và chữ viết của các dân tộc, việc học ngoại ngữ và giảng dạy song ngữ trong các nhà trường Báo cáo có tính đến “công việc của Viện Ngôn ngữ học trong việc tài liệu hóa và bảo tồn các ngôn ngữ dân tộc thiểu số và xây dựng các bộ chữ viết, cũng như dự án nghiên cứu thí điểm tiến hành cùng UNICEF để thúc đẩy giáo dục song ngữ cho người H’mong, J’rai và Khmer, ba trong số những nhóm thiểu số lớn, ở cấp mầm non và tiểu học Nghiên cứu đã chứng minh, học sinh được

Trang 6

thụ hưởng những chương trình này có kết quả học tập tốt, và tôi khuyến nghị mạnh

mẽ với Chính phủ tiếp tục hỗ trợ dự án giáo dục song ngữ, mở rộng phạm vi đến các nhóm khác, các khu vực khác và các cấp học khác.”

- Quyền văn hóa theo báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt còn bao gồm cả các quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do học thuật Báo cáo cho rằng “ Đã đến lúc Việt Nam đảm bảo tự do nhiều hơn cho các biểu đạt nghệ thuật cũng như cho các tự do học thuật, và cho phép những tiếng nói đa dạng tìm được chỗ đứng của mình Sự thiếu vắng các nhà xuất bản tư nhân đã làm giảm đáng kể phạm vi cất lên của những tiếng nói độc lập có thể được nghe thấy.”

Như vậy phạm vi của các “quyền văn hóa” chưa thực sự được định biên rõ ràng và phụ thuộc rất nhiều vào cách hiểu rộng, hẹp khác nhau về khái niệm văn hóa Theo khái niệm rộng thì văn hóa bao gồm toàn bộ sản phẩm vật chất và tinh thần, toàn bộ cách ứng xử và quan hệ giữa người với người, trong lịch sử và đương đại Theo khái niệm hẹp thì quyền văn hóa thể hiện quyền của con người trong đời sống văn hóa

Rõ ràng việc xác định nội hàm của khái niệm “quyền văn hóa” thực sự không phải là công việc đơn giản và cũng không thể dễ dàng để có một khái niệm thống nhất, nhất quán Tuy nhiên, trong các quyền con người có quyền văn hóa Việc ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền văn hóa đòi hỏi phải xác định rõ nội dung của các quyền ấy và phân biệt nó với các quyền kinh tế,

xã hội và các quyền về dân sự chính trị

Hiến pháp năm 2013 đánh dấu một bước tiến bộ mới vượt bậc trong việc ghi nhận các quyền dân sự và chính trị; kinh tế xã hội và văn hóa Điều 41 Hiến pháp quy định: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” Như vậy theo quan niệm của Hiến pháp thì Quyền văn hóa bao gồm 4 nội dung chính: (1) Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, (2) Quyền tiếp cận các giá trị văn hóa, (3) Quyền tham gia vào đời sống văn hóa, (4) sử dụng các cơ sở văn hóa Như vậy Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ ràng nội hàm các quyền văn hóa, tuy nhiên vẫn phụ thuộc vào nhận thức về

“văn hóa” theo nghĩa rộng hẹp khác nhau Có thể nhận thấy hạn chế này là không tránh khỏi vì các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa không thể tồn tại tách ròi biệt lập mà có sự đan xen, giao thoa và tích hợp lẫn nhau, đồng thời nội dung và phạm vi khái niệm về quyền văn hóa cũng thể hiện tính ước lệ tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia có những quy định phù hợp

Tư những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm pháp lý về Quyền văn

hóa như sau: Quyền văn hóa là quyền con người về văn hóa, bao gồm quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, quyền tiếp cận các giá trị văn hóa, quyền tham gia vào đời sống văn hóa, quyền sử dụng các tài sản và cơ sở văn hóa, được ghi nhận

và bảo đảm thực hiện trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế

Trang 7

III Một số thách thức đối với quyền văn hóa ở Việt Nam

Hiên nay ở Việt Nam đang sử dụng văn hoá như một nguồn lực để phát triển Với truyền thống văn hóa đa dạng, phong phú và sinh động, Việt Nam đang hấp dẫn một số lượng ngày càng nhiều nhà đầu tư, khách du lịch trong nước và quốc tế Nhiều chương trình đã được phát triển nhằm giúp người dân của các cộng đồng dân tộc bán được sản phẩm nghề thủ công của họ và tiếp cận được với thị trường, cũng như biểu diễn minh hoạ văn hoá truyền thống của họ thông qua nhiều lễ hội và chương trình biểu diễn khác nhau Điều này đã cho phép người dân và các cộng đồng thực hiện các quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, quyền tiếp cận các giá trị văn hóa, quyền tham gia vào đời sống văn hóa, quyền sử dụng các tài sản và cơ sở văn hóa, tham gia vào quá trình tìm kiếm thu nhập và phát triển kinh tế ở khu vực

họ sinh sống, và cũng giúp Chính phủ thúc đẩy hình ảnh về một đất nước đa văn hoá Tuy vậy, do tác động kinh tế thị trường và cơ cấu lợi ích, người dân tại địa phương lại không phải là đối tượng hưởng lợi chủ yếu từ nguồn doanh thu ở chính địa phương họ Vì vậy cần có các biện pháp đảm bảo rằng những người dân mà di sản và tài sản văn hóa của họ được đem ra sử dụng để thúc đẩy giao lưu phát triển văn hóa và du lịch chứ không phải mục đích cuối cùng là kinh doanh văn hóa Người dân phải được trao quyền để quản lý các hoạt động này theo hướng có lợi nhất cho họ, và họ phải được hưởng đầu tiên các giá trị văn hóa do chính họ mang lại, duy trì và phát triển các vốn quý về văn hóa một cách tự nhiên theo các giá trị đích thực, không thương mại hóa các hoạt động văn hóa

Việc tổ chức các lễ hội và sinh hoạt văn hóa cần mang tính tự nhiên, tự thân,

là nhu cầu cuộc sống sinh động và sáng tạo chứ không phải là hoạt động mang tính mệnh lệnh hành chính cứng nhắc, gò bó Trong thực tế có nhiều sự kiện văn hóa được tổ chức trong đó mọi người được yêu cầu trình diễn để “thực hiện nhiệm vụ chính trị”chứ không phải thực sống đời sống văn hoá với bản sắc riêng có, hoặc là

cố ý để lưu giữ một cách máy móc và mô phỏng một số khía cạnh cụ thể văn hoá truyền thống chỉ để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Để thoả mãn các nhu cầu

đó thì đa số trong các sự kiện được tổ chức đã bán vé cho những người muốn tham gia hoặc chỉ gửi giấy mời cho những đối tượng được tham gia…vì thế mất dần đi tính tự nhiên và tính bản sắc vồn có của sinh hoạt văn hóa cộng đồng Nói cách khác sinh hoạt văn hóa dần mất đi tính đại chúng trong thực hiện quyền, chủ yếu được tổ chức để “biểu diễn” Ví dụ lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể Cồng chiêng là một nhạc cụ linh thiêng và quý giá của người Tây Nguyên chỉ được đem ra chơi vào những dịp đặc biệt, nay được đem ra biểu diễn thu phí theo yêu cầu của khách du lịch ở bất cứ nơi nào và bất cứ thời điểm nào đã làm mất đi tính đặc trưng linh thiêng, tầm quan trọng văn hoá ban đầu của sinh hoạt cồng chiêng Quan họ Bắc Ninh, hát văn hầu đồng,

Trang 8

hát tài tử Nam Bộ…cũng diễn biến theo hướng không phải là duy trì sinh hoạt văn hóa mà là để biểu diễn phục vụ nhu cầu kinh doanh và “nhiệm vụ chính trị”

Mặc dù sinh hoạt văn hóa cũng có quá trình vận động và phát triển và cũng

có nhu cầu mở rộng giao lưu tương tác và phục vụ nhu cầu phát triển du lịch, giao lưu, phát triển kinh tế xã hội…tuy nhiên không phải vì thế mà làm mất đi quyền được tiếp cận văn hóa, quyền tham gia vào đời sống văn hóa, quyền sử dụng các tài sản và cơ sở văn hóa của mọi người dân, không thể trở thành đặc quyền riêng có của một nhóm người có tiền, có quyền, của các lực lượng chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp, dẫn đến các sản phẩm văn hóa chỉ còn tồn tại như sân khấu hóa, những chủ nhân thực sự của hoạt động văn hóa và thực hành văn hóa chỉ đóng vai

sứ giả văn hóa hoặc quan sát viên đứng ngoài cuộc Vì thế, Chính phủ nên hỗ trợ không chỉ các hoạt động biểu diễn văn hóa hay sản phẩm truyền thống dành cho du khách mà quan trọng hơn là nuôi dưỡng và phát triển các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, bao đảm cho người dân được thực hành các quyền văn hóa của họ theo đúng các nhu cầu, lợi ích về văn hóa

Liên quan đến thực hành các quyền văn hóa là diễn biến phức tạp của các tín ngưỡng, tôn giáo, liên quan đến định nghĩa thế nào là hủ tục hay tập quán không tốt

và khái niệm về “mê tín dị đoan” Những khái niệm này cần được làm rõ như là những thực hành mâu thuẫn với các quyền con người hay hạ thấp nhân phẩm con người Ngay cả một số di sản văn hóa phi vật thể sau khi đã được UNESCO công nhận cũng đã có những thể hiện phát triển biến tướng, biến thể theo hướng vụ lợi hoặc mê tín dị đoan, ảnh hưởng trực tiếp tới việc hưởng thụ các quyền văn hóa

Để thực sự bảo đảm thúc đẩy các quyền văn hóa thì một trong những vấn đề then chốt với Việt Nam ngày nay là có một không gian cho các cuộc tranh luận và biểu đạt quan điểm, khuyến khích tư duy phê phán, phân tích và tranh luận, tạo cách tiếp cận so sánh và đa chiều Trên cơ sở tôn trọng Hiến pháp và các tiêu chuẩn quốc

tế, hoạt động của hệ thống chính trị và bộ máy chính quyền …cần đảm bảo tự do nhiều hơn cho các biểu đạt nghệ thuật, cho tự do học thuật, tự do sang tác và tạo điều kiện để những tiếng nói đa dạng và các sang kiến, phát minh tìm được chỗ đứng của mình Hiến pháp 2013 đã quy định những quyền cơ bản trong đó có các quyền văn hóa nhưng trong thực tế vẫn không hề dễ dàng để có thể thụ hưởng những quyền này do rất nhiều các quy định cụ thể thiếu rõ ràng, minh bạch và quá trình tổ chức thực hiện còn bị vướng víu rất nhiều, cả về nhận thức, lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và hoạt động cụ thể Báo cáo của phái viên đặc biệt Liên hợp Quốc cho rằng trong thực hành các quyền văn hóa thì “tự do biểu đạt là một phần không thể tách rời của đời sống văn hóa và là trái tim của những nền văn hóa sinh động cũng như trong hoạt động của một xã hội dân chủ”

Ngày đăng: 31/01/2021, 14:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w