1. Trang chủ
  2. » Đầu bếp

Thực hiện quyền bảo tồn văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập: qua trường hợp của dân tộc Tày

19 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 453,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” - (Điều 2) và Công ước quốc tế về các quyề[r]

Trang 1

THỰC HIỆN QUYỀN BẢO TỒN VĂN HOÁ CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP:

QUA TRƯỜNG HỢP CỦA DÂN TỘC TÀY

Hoàng Thị Thu

(Học viên cao học nhân quyền khoá 6

Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)

Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, từ thời xa xưa đã là nơi gặp gỡ của nhiều làn sóng di cư, là nơi giao lưu văn hóa của nhiều dân tộc Nước Việt Nam ta

từ thời cổ đại đã là quốc gia đa dân tộc, nhưng vì hồi ấy các dân tộc nước chưa có chữ viết, nên tri thức dân tộc học đã không được ghi lại và lưu truyền cho đời sau Hiện nay, các nhà khoa học nước ta vẫn công nhận tài liệu dân tộc học sớm nhất ở Việt Nam là tác phẩm “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi - nhà thơ, nhà bác học và là người anh hùng dân tộc; hay trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn, ngoài việc nói đến đời sống của người Việt, dân tộc đa số, Lê Quý Đôn còn nói đến các dân tộc thiểu số anh em như người Thổ (Tày), người Thái, người Nùng v.v Các tài liệu về dân tộc học hoặc có liên quan đến các dân tộc ở Việt Nam cũng có thể tìm thấy trong các thư tịch cổ của Trung Quốc như Sử ký Tư Mã Thiên, Tùy thư, Bắc sử, Nam sử, Tống sử275 v.v

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập năm 1930 cho đến nay rất coi trọng vấn đề dân tộc và đã đề ra đường lối, chính sách, chủ trương, nhiệm vụ đúng đắn về vấn đề này trong từng thời kỳ, dựa vào tình hình đặc điểm các dân tộc trong nước, căn cứ vào học thuyết Mác - Lê nin về vấn đề dân tộc Từ khi thành lập cho đến Đại hội III (năm 1960), Đảng đã đề ra 3 chính sách cơ bản của dân tộc là: đoàn kết, bình đẳng, tương trợ Đến Đại hội IV (năm 1976), các nguyên tắc trên lại được khẳng định, đồng thời được bổ sung một nguyên tắc nữa là cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội IV có đoạn viết: “Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế - văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có một cuộc sống ấm no hạnh phúc, đều phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ”276 vv Tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, song song với việc đổi mới trên lĩnh vực kinh tế, Đảng chủ trương từng bước xây dựng thể chế chính trị mới, tiếp thu di sản của

275 Phan Hữu Dật (tái bản lần thứ nhất), Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Một số vấn đề về dân

tộc học Việt Nam, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2018, tr.38

276 Phan Hữu Dật, Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tái bản lần

thứ nhất, 2018, tr.56

Trang 2

lịch sử nước ta về thiết chế xã hội cổ truyền, xác định những mặt tích cực, có thể cải biên, nâng cao phục vụ cho sự nghiệp xây dựng thể chế chính trị mới, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong việc bảo tồn, làm giàu và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc

Có thể hiểu truyền thống văn hóa là những kinh nghiệm tích lũy được của con người trong quá trình thích ứng với môi trường tự nhiên mà họ đã và đang sinh sống, đó là các chuẩn mực của ứng xử xã hội giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác Đó là các thói quen trong nếp nghĩ, các tri thức đã tích lũy được, niềm tin và biểu tượng của thế giới tinh thần và tâm linh v.v Tất cả những điều đó trải qua quá trình lịch sử lâu dài, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã tạo nên các hệ giá trị của di sản văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa Đó là xuất phát điểm, là nền tảng và môi trường xã hội cho mọi sự phát triển của cộng đồng

Việt Nam rất giàu về truyền thống văn hóa, trước hết là truyền thống văn hóa của 54 tộc người, trong đó người Việt (Kinh) là dân tộc đa số, còn lại là 53 dân tộc thiểu số khác, với quy mô dân số, trình độ phát triển kinh tế xã hội và sắc thái văn hóa khác nhau Đã có nhà nghiên cứu nói Việt Nam như một Đông Nam Á thu nhỏ

về mặt sắc tộc và văn hóa Đó là các truyền thống văn hóa địa phương, với 7 vùng văn hóa lớn và 25 tiểu vùng Mỗi vùng văn hóa như vậy chứa đựng các truyền thống văn hóa và mang bản sắc văn hóa riêng277

Truyền thống văn hóa tộc người là điều dễ nhận diện, phức tạp hơn là truyền thống văn hóa địa phương Theo quan điểm chung nhất, có thể hiểu truyền thống văn hóa địa phương là hệ thống các tri thức, quan niệm, thói quen, phong tục, nghi thức đã nảy sinh và định hình trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng trong mối quan hệ với tự nhiên, hoạt động sản xuất, quan hệ xã hội, đời sống vật chất tinh thần của con người, từ đó có thể tạo nên ý thức và niềm đồng cảm giữa con người trong cùng một địa phương ấy, tạo nên tính tự tôn dân tộc

Quyền văn hóa của người thiểu số trong luật quốc tế

Quyền của các dân tộc thiểu số thuộc quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế quan trọng Đó không phải là những đặc quyền, mà nó được quy định để tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có thể bảo tồn những bản sắc, đặc trưng và truyền thống của họ Các quyền

đó chỉ quan trọng trong việc bảo đảm sự đối xử bình đẳng.278

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc (UDHR) năm 1948 có ghi: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do

277 Phan Hữu Dật, Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tái bản lần

thứ nhất, 2018, tr.271

278 Trịnh Quốc Toản, Vũ Công Giao, Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013, Khoa Luật,

Đại học quốc gia Hà Nội, 2017, tr.685

Trang 3

không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” - (Điều 2) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ICCPR năm 1966 ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ về quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” - (Điều 27) Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị, mà quyền dân tộc thiểu số được coi

là quyền cơ bản trong nhóm các quyền các quyền dân sự, chính trị đó

Bên cạnh ghi nhận quyền của các dân tộc thiểu số, luật pháp quốc tế còn quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên Công ước phải bảo đảm cho các cá nhân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số quyền được hưởng nền văn hóa, ngôn ngữ trong các điều kiện đặc thù của mình

Trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 ghi: “Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ và khuyến khích những điều kiện để thúc đẩy bản sắc đó; Các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những mục tiêu này” (Điều 1) Đây là văn kiện riêng biệt duy nhất của Liên Hợp Quốc đề cập đến các quyền đặc biệt của người thiểu số Tuyên bố sau khi quy định bảo đảm một sự cân bằng giữa các quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số được duy trì, phát triển bản sắc và những đặc trưng của họ cùng những nghĩa vụ tương ứng của các quốc gia, đã đề cập đến việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập về chính trị của các quốc gia Các nguyên tắc được ghi nhận trong Tuyên bố được áp dụng cho những người thuộc các nhóm thiểu số nhằm bổ sung cho các quyền con người đã được thừa nhận rộng rãi

và đã được bảo đảm trong các văn kiện quốc tế khác

Các văn kiện khu vực ghi nhận những quyền đặc biệt của người thiểu số bao gồm Công ước khung về bảo vệ người dân tộc thiểu số, Hiến chương Châu Âu về các ngôn ngữ thiểu số và khu vực, Văn kiện của Hội nghị Copenhagen về vị thế của con người (Tổ chức An ninh và hợp tác Châu Âu - OSCE) v.v Theo đó, pháp luật quốc tế quy định quyền của các dân tộc thiểu số gồm các quyền sau:

* Được các quốc gia bảo vệ cuộc sống và những đặc trưng về dân tộc, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ

* Có những quyền hưởng thụ đời sống văn hóa, thể hiện và thực hành tín ngưỡng riêng của họ cũng như sử dụng ngôn ngữ của riêng họ trong đời sống riêng

tư cũng như công cộng

Trang 4

* Có quyền tham gia vào đời sống công cộng và các hoạt động văn hóa, tôn giáo, kinh tế, xã hội

* Có quyền tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng tới họ ở cấp độ quốc gia và khu vực

* Có quyền thiết lập và duy trì những tổ chức riêng của họ

* Có quyền thiết lập và duy trì các mối quan hệ hòa bình với các thành viên khác của nhóm họ và của những người thuộc các nhóm thiểu số khác, cả trong phạm vi quốc gia và ngoài biên giới quốc gia

* Được tự do thực hiện các quyền của họ, dưới hình thức cá nhân hay cùng các thành viên khác trong cộng đồng, mà không bị phân biệt đối xử

Như vậy, quyền dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của pháp luật quốc tế về quyền con người Việc thúc đẩy và thường xuyên thực hiện quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ như là một phần gắn liền trong sự phát triển xã hội nói chung và trong khuôn khổ dân chủ, pháp luật nói riêng, góp phần vào việc tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc và các quốc gia279

Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa có vị trí quan trọng trong hệ thống quyền con người, được đề cập trong Điều 27 của UDHR 1948 sau đó được cụ thể hóa trong Điều 15 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ICESCR 1966 Theo đó, các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận mọi người đều có quyền: a, được tham gia vào đời sống văn hóa; b, Được hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học và các ứng dụng của nó; c, Được bảo hộ các quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào của mình… Theo Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, các quốc gia thành viên cần phải cung cấp thông tin về việc tạo lập quỹ cho việc thúc đẩy, phát triển văn hóa và tham gia rộng rãi vào đời sống văn hóa như hỗ trợ các sáng tạo cá nhân, thiết lập các thiết chế cơ sở hạ tầng (trung tâm văn hóa, nhà bảo tàng, rạp chiếu phim, thư viện, làng nghề, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể v.v.)

Nhằm góp phần cụ thể hóa các quy định trên, năm 2009, Ủy ban về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã thông qua Bình luận chung số 21 về quyền tham gia vào đời sống văn hóa, trong đó Ủy ban đã giải thích những khái niệm căn bản về

“văn hóa” và “đời sống văn hóa”, “tham gia vào đời sống văn hóa” cũng như các khía cạnh của quyền tham gia vào đời sống văn hóa và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên để đảm bảo quyền này, cụ thể là:

Văn hóa “bao gồm những lối sống, ngôn ngữ, văn học truyền miệng và viết,

279 Trịnh Quốc Toản, Vũ Công Giao, Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013, Khoa Luật,

Đại học quốc gia Hà Nội, 2017, tr.685

Trang 5

âm nhạc và bài hát, các hình thức giao tiếp không lời, tôn giáo hay các hệ thống tín ngưỡng, nghi thức và nghi lễ, thể thao và các trò chơi, phương thức sản xuất hay công nghệ, môi trường tự nhiên và nhân tạo ẩm thực, trang phục và nơi sinh sống, nghệ thuật, phong tục và truyền thống mà qua đó các cá nhân, nhóm người và cộng đồng thể hiện tính nhân văn và ý nghĩa của sự tồn tại của họ, cũng như xây dựng thế giới quan thể hiện sự tương tác với các thế lực bên ngoài có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Văn hóa hình thành và phản chiếu các giá trị của hạnh phúc và đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của các cá nhân, nhóm người và cộng đồng người”

- (Trích Đoạn 13, Bình luận chung số 21 về quyền tham gia vào đời sống văn hóa của Ủy ban về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 2009)

Việc “tham gia vào đời sống văn hóa” được hiểu là: i, Tham gia vào đời sống văn hóa, bao gồm việc lựa chọn và nhận diện bản sắc văn hóa của cá nhân hay nhóm cá nhân và tham gia vào các thực hành văn hóa để thể hiện bản thân; ii, Tiếp cận với đời sống văn hóa thông qua một nền giáo dục tôn trọng đầy đủ bản sắc văn hóa cũng như việc tìm kiếm và truyền bá thông tin về các nền văn hóa và hưởng lợi

từ các di sản văn hóa; iii, Đóng góp vào đời sống văn hóa qua việc tham gia vào các sáng tạo và biểu đạt về cảm xúc, trí tuệ và tinh thần cũng như tham gia vào các chính sách và quyết định có ảnh hưởng đến quyền về văn hóa của mình

Theo đó, quyền tham gia vào đời sống văn hóa là một quyền tự do, chủ thể của quyền có thể lựa chọn quyết định thực hành hay không thực hành thực hành quyền này, trong khi các quốc gia thành viên có nghĩa vụ không can thiệp và phải thúc đẩy việc thực thi quyền này, theo quy định của Bình luận chung số 21, quyền tham gia vào đời sống văn hóa có tính chất như sau:

- Tính sẵn có: thể hiện ở sự hiện diện của các sản phẩm và dịch vụ văn hóa

mở cho mọi người thưởng thức và hưởng lợi từ chúng, bao gồm thư viện, bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu phim và sân vận động, thể dục thể thao; Văn học, bao gồm cả văn hóa dân gian và nghệ thuật dưới mọi hình thức; Không gian công cộng cần thiết cho các tương tác văn hóa như công viên, quảng trường, đường phố; Cảnh vật tự nhiên như biển, hồ, sông, núi, rừng và các khu dự trữ sinh quyển cùng các hệ thực vật và động vật có ở đó thể hiện bản sắc và sự đa dạng sinh học của những khu vực này; Các sản phẩm văn hóa phi vật thể như ngôn ngữ, phong tục, truyền thống, tín ngưỡng, kiến thức và lịch sử, cũng như những giá trị tạo nên bản sắc và đóng góp vào sự đa dạng văn hóa của các cá nhân và cộng đồng

- Khả năng tiếp cận: bao gồm các cơ hội cụ thể và hiệu quả cho các cá nhân

và cộng đồng để hưởng thụ văn hóa một cách đầy đủ, trong khả năng vật chất và tài chính cho tất cả mọi người ở cả thành thị và nông thôn mà không có sự phân biệt đối xử nào

- Sự thừa nhận: đòi hỏi các luật, chính sách, chiến lược, chương trình và biện

Trang 6

pháp được các quốc gia thành viên thông qua về việc hưởng và thực hiện các quyền

về văn hóa cần được xây dựng và thực hiện với sự thừa nhận của các cá nhân và cộng đồng có liên quan

- Tính thích nghi: liên quan đến sự linh hoạt và phù hợp của các chiến lược,

chính sách, chương trình và biện pháp được các quốc gia thành viên thông qua trong bất kỳ lĩnh vực đời sống văn hóa nào và phải tôn trọng sự đa dạng văn hóa của cá nhân và cộng đồng

- Tính phù hợp: đề cập tới việc thực hiện một quyền con người cụ thể một

cách thích hợp và phù hợp với một phương thức hay bối cảnh văn hóa, có nghĩa là tôn trọng nền văn hóa và các quyền văn hóa của các cá nhân và cộng đồng, bao gồm các cá nhân hoặc nhóm thiểu số và người bản địa280

Quyền văn hoá của các dân tộc thiểu số trong pháp luật Việt Nam

Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa” (Điều 41) Nhà nước Việt Nam cũng ban hành nhiều văn bản quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật xuất bản, Luật Quảng cáo , tạo lập một hành lang pháp luật rộng

mở, thuận lợi cho các hoạt động về bảo tồn di sản văn hóa, tôn trọng quyền tự do sáng tạo và tự do hoạt động văn hóa của các tổ chức, cá nhân, bảo vệ quyền tác giả

và các quyền liên quan… Đặc biệt, Luật Di sản văn hóa quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, đoàn thể liên quan ở Trung ương và Ủy ban Nhân dân các cấp trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, mở rộng giao lưu, tuyên truyền,

giới thiệu di sản văn hóa Việt Nam ra nước ngoài

Ngoài ra, nhiều Luật và Pháp lệnh khác liên quan đến lĩnh vực văn hóa như

Bộ luật Hình sự sửa đổi; Luật Báo chí sửa đổi; Luật Xuất bản; Luật Bình đẳng giới; Luật trẻ em, Nghị định số 79/2012/NĐ - CP, ngày 05/10/2012 của Chính phủ khuyến khích tổ chức, cá nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; đầu tư cho việc sưu tầm, nghiên cứu, giữ gìn, phát huy giá trị các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nghệ thuật thế giới

Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền văn hóa về cơ bản được xây dựng hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam không ngừng xây dựng và triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh

280 Nguyễn Bá Diến, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Mối quan hệ giữa luật Việt Nam và Luật nhân

quyền quốc tế, tr.286

Trang 7

thần ngày càng cao của người dân; khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển cho lĩnh vực văn hóa; bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, nhất là của các dân tộc thiểu số, trong đó có bảo tồn tiếng nói và chữ viết

Nước ta là một nước đa dân tộc, các dân tộc ở nước ta sinh sống trong những vùng có hoàn cảnh địa lý tự nhiên không giống nhau Các dân tộc cộng cư với nhau trong những vùng khác nhau, môi trường địa lý và môi trường nhân văn khác nhau

đó làm cho các dân tộc trong từng vùng trải qua quá trình giao lưu văn hóa lâu đời

có những sắc thái địa phương mà ta không thể không quan tâm, vùng Đông bắc có giao lưu văn hóa của các dân tộc người Tày, Nùng, Dao, Việt; Vùng Tây bắc có bản sắc và giao lưu văn hóa của các dân tộc nói tiếng Thái, Mông, Việt, Mường, Khơ

Me, Mianma…v.v, việc nghiên cứu và giao lưu văn hóa theo từng vùng cho phép ta tìm hiểu được kỹ càng hơn văn hóa tộc người, từ đó có cách xử lý tốt hơn mối quan

hệ giữa văn hóa và phát triển.281

Trong sự phát triển giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, đối với dân tộc ở vùng rẻo cao và vùng căn cứ cách mạng trước đây còn gặp nhiều khó khăn, việc bảo tồn bản sắc đối với của các dân tộc này không dễ dàng Trải qua thời gian, việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc là quá trình đồng hóa dân tộc Ở nước ta, cơ bản là sự đồng hóa tự nhiên, đồng hóa ở đây không chỉ dân tộc có số dân đông hơn đồng hóa một bộ phận dân tộc có số dân ít hơn mà còn có trường hợp một bộ phận dân tộc đa

số bị dân tộc thiểu số đồng hóa Ví dụ như cư dân ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An (Cao Bằng) hiện nay chủ yếu là con cháu của các quan lại họ Lê, nay tiếp thu văn hóa Tày v.v Ở Việt Nam ít nói đến sự đồng hóa dân tộc bằng biện pháp cưỡng bức Tuy nhiên, thời kỳ nhà nước đưa ra chủ trương xây dựng “chế độ mới xã hội chủ nghĩa” với chủ thể là “con người mới xã hội chủ nghĩa” thì nhà nước cũng đồng thời chủ trương phá bỏ các phong tục tập quán bị cho là “bảo thủ lạc hậu” để “xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa” Vì vậy, rất nhiều thứ thuộc về văn hóa truyền thống của dân tộc Tày bị phá bỏ, những người hoạt động tín ngưỡng sẽ bị loại trừ, những ông Tảo, bà Pửt, Then v.v, đều bị cho là những kẻ gieo rắc mê tín dị đoan làm u mê dân chúng, cho nên họ đều bị bắt và đem đi đến các “trại cải tạo” để học tập, họ phải viết bản kiểm điểm và phải lên tiếng tự phỉ báng những việc họ đã từng làm, sau đó họ phải viết giấy cam kết là không bao giờ hành nghề mê tín nữa, còn các sách và dụng cụ hành nghề thì bị mang ra đốt Việc này khác gì thực hiện việc đồng hóa toàn diện giữa dân tộc lớn với dân tộc nhỏ một cách hợp pháp Những ông Tảo, bà Pửt, Then khi hành nghề đều có những cuốn sách, sách đó không phải chỉ có giá trị cúng bái (tín ngưỡng của người Tày), mà sách còn có giá trị văn học mang tính nhân văn rất cao, ví dụ như Trường ca “Khảm hải” (Vượt

281 Phan Hữu Dật, Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tái bản lần

thứ nhất, 2018, tr.232

Trang 8

biển) dài 650 câu, được hát ở các đêm Then và Pửt, tác phẩm “Khảm hải” đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, may mắn là các khúc ca này vẫn có nhiều người lúc đó thuộc nên đã được sưu tầm và ghi chép lại.282

Chủ nghĩa Mác - Lênin lên án hiện tượng đồng hóa cưỡng bức Đảng và Nhà nước ta không bao giờ chủ trương một sự đồng hóa như vậy Tuy nhiên, một số cán

bộ các ngành, các cấp địa phương, do tư tưởng chủ quan nóng vội, cố tình hay vô thức đã có một số việc làm trên thực tế là sự cưỡng bức về thực chất Như ở Tây Nguyên, để xúc tiến việc giải thể nhà dài, có nơi đề ra chủ trương cấp đất cấp rừng cho từng hộ gia đình Ở Thừa Thiên - Huế, có cuộc vận động đồng bào thiểu số bỏ nhà sàn để ở nhà đất…v.v Những biện pháp cưỡng bức như vậy cần được loại bỏ,

vì nếu không, trong mối quan hệ giữa các dân tộc có lúc phải trả giá.283

Từ thời kỳ đổi mới đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền con người nói chung, quyền của các dân tộc thiểu số nói riêng, trong đó có quyền được tham gia vào đời sống văn hóa Các quy định của pháp luật Việt Nam là phù hợp và tương thích với Luật Nhân quyền quốc tế, đồng thời thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng, Nhà nước: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay vẫn nổi lên những thách thức như: năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, nhất là vùng dân tộc thiểu

số còn bất cập; Trình độ dân trí, ý thức pháp luật của người dân tộc thiểu số còn hạn chế Bên cạnh đó, một số thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng tình hình khó khăn, sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật vu cáo, vu cáo, xuyên tạc về vấn đề dân tộc; Tuyên truyền, chia rẽ khối đại đoàn kết, gây mát ổn định chính trị xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Do vậy, việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu

số theo tinh thần Hiến Pháp 2013 là vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu lý luận, xây dựng, thực thi pháp luật ở Việt Nam hiện nay.284

Khái quát về văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc Tày

Trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, người Tày có dân số đông thứ 2 ở Việt Nam sau người Kinh, dân số hiện nay là 1.626.392 (số liệu 2009), người Tày sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi phía bắc Việt Nam khu vực tập trung nhiều người Tày là các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Cạn, Yên Bái, lào Cai, Đắc lắc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hòa Bình, Lâm Đồng v.v

Người Tày, Nùng có mối quan hệ gần gũi với người Choang tại Trung Quốc

Về ngôn ngữ khi giao tiếp có thể hiểu được nhau, chỉ khác về ngữ điệu vùng miền

282 Dương Thuấn, Văn hóa Tày ở Việt nam và tiến trình hội nhập thế giới, nhà xuất bản Tri thức, 2012, tr.299

283 Phan Hữu Dật, Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tái bản lần

thứ nhất, 2018, tr.234

284 Trịnh Quốc Toản - Vũ Công giao, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Thực hiện các quyền hiến định

trong Hiến pháp năm 2013, nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2017, tr.684-685

Trang 9

Dân tộc Tày có bản sắc văn hóa rất đặc biệt: Tiếng Tày nằm trong ngữ hệ Thái - Ka Đai cùng với 7 dân tộc trong nước là Thái, Nùng, Giáy, Bố Y, Sán Chay,

Lào, Lự và các quốc gia Đông Nam Á là Thái Lan, Lào và dân tộc Choang (Quảng

Tây - Trung Quốc) Người Tày có thể nói chuyện, trao đổi thông thường với các dân tộc này

Về tôn giáo, người Tày không theo tôn giáo nào Đây là một điểm khác biệt

chủ yếu giữa dân tộc Tày với nhiều dân tộc khác, có lẽ do người Tày tin vào việc thờ cúng tổ tiên và tin vào phong thủy Một số ít gia nhập Đạo Thiên chúa vì họ di dân vào phía nam và khi họ sống ở vùng đất Công giáo, họ chỉ có suy nghĩ là “nhập gia tùy tục” để con cái không bị lẻ loi nơi phương xa, hoặc do kết hôn với người

Công giáo nên họ theo Đạo Thiên chúa

Về chữ viết, trải qua quá trình lịch sử, từ xưa người Tày đã có nền văn học bằng nhiều thứ chữ khác nhau: chữ Hán, chữ Nôm Tày, chữ Tày la - tinh, chữ Quốc ngữ

Người Tày có chữ viết riêng là chữ Nôm Tày, đó là loại chữ vuông gốc Hán giống như chữ Nôm Kinh, chữ Choang (Quảng Tây - Trung Quốc), chữ Hàn Quốc, chữ Trung Quốc và chữ Nhật Bản.285

So với các dân tộc khác ở Việt Nam, ngôn ngữ và chữ viết Tày phát triển khá sớm Hiện nay các văn bản còn lưu giữ được, bao gồm văn bản chữ Hán và chữ Nôm Tày, được xác định là có từ rất lâu đời, ngoài các tác phẩm văn học được lưu truyền trong nhân dân, người Tày còn có các pho sách của các thầy mo, thầy tảo dùng để hành nghề cúng bái, các pho sách dân ca mỗi cuốn dài hàng nghìn câu như:

lượn lương, lượn cọi, lượn nàng ơi, then pửt, hát đám cưới, Phuối rọi…, được dân

gian ghi chép và lưu truyền lại Tục ngữ ca dao Tày, Truyện cổ dân gian Tày, truyện thơ Nôm Tày được sưu tầm và phiên âm, biên dịch sang tiếng Việt như: Nam Kinh Thị Đan, Bjoóc Lạ Lương Quân, Tần Chu, Lý Thế Khanh v.v, và hàng trăm câu chuyện khuyết đang chưa được sưu tầm đầy đủ và phiên âm, biên dịch để công bố với bạn đọc

Chữ Nôm Tày là một sáng tạo tuyệt vời do các thế hệ người Tày làm nên để ghi lại tiếng nói, ghi chép các sự kiện về lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán và sáng tác văn học nghệ thuật Với hàng trăm đầu sách nôm Tày, đơn cử một số tác phẩm thể hiện khả năng sáng tạo tuyệt vời của dân tộc Tày, đó là:

* Trong tín ngưỡng của người Tày, nổi bật là các bài then cổ, hiện nay bộ then cổ tại Tuyên Quang còn khá đồ sộ với 81 cung khoảng 1000 trang, gần 20.000 câu thơ thất ngôn, ông Then - bà Then mượn lời ca tiếng đàn dẫn đoàn quân Then mang lễ vật đến với các đấng siêu nhiên để cầu xin các vị thần linh phù hộ, che chở,

285 Tống Đại Hồng, Chữ nôm Tày - kho tàng văn hóa vô giá đang bị lãng quên, Thực trạng và giải pháp bảo

tồn, phát huy văn hóa cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), thư viện quốc

gia Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2017, tr.97

Trang 10

bảo vệ cho cộng đồng tránh khỏi thiên tai, dịch bệnh, cầu mong cuộc sống no đủ, hạnh phúc Ngoài ra, Then còn là loại hình dân ca độc lập được sử dụng trong sinh hoạt văn hóa văn nghệ cộng đồng, là loại hình sinh hoạt văn hóa tâm linh của người Tày nói riêng và của người Nùng và Thái nói chung

Bộ Then cổ là một tài liệu đồ sộ quý giá, thể hiện sự sáng tạo tài tình của dân tộc Tày Vì vậy, Then cổ đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và đang lập hồ sơ để UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.286

* Văn quan làng: Hát quan làng là lối hát đối đáp giữa hai vị trưởng đoàn nhà trai và nhà gái trong lễ đón dâu của người Tày, trên thế giới có lẽ ít có dân tộc nào

mà toàn bộ nghi lễ đón dâu, từ việc mời nhà trai vào nhà, mời trầu, mời nước, nộp

đồ lễ, xin dâu, xin rể vào lạy tổ tiên, họ hàng, lạy bố mẹ, anh chị, mời cơm, mời rượu v.v cho đến khi đoàn đón dâu về đến nhà trai lại giao dâu, nhận rượu, xin dâu

ra cửa v.v, tát cả thủ tục ấy được vận dụng bởi hàng trăm bài thơ và được hát với làn điệu dân ca trữ tình, mượt mà, ấm áp, cảm động Đó được gọi là hát quan làng, thực là một nghi lễ độc đáo, thể hiện tính nhân văn riêng có của người Tày

* Người Tày rất yêu thích tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của nhà văn La Quán Trung (Trung Quốc), do nội dung hấp dẫn nên họ đã chuyển thể toàn bộ truyện từ văn xuôi thành truyện thơ thất ngôn trường thiên, ghi chép lại bằng chữ Nôm Tày và đến nay một số cụ già vẫn thuộc làu Điều này thể hiện sự lao động công phu và sáng tạo tài hoa của các học giả người Tày đã làm cho tác phẩm của họ sống mãi trong lòng dân

Tuy nhiên, hiện nay chữ Nôm Tày đang dần mai một, chỉ có một số ít người già trên 80 - 90 tuổi hiện nay còn có thể đọc được chữ này, nhiều địa phương chưa

có chương trình, kế hoạch gì để bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các văn bản chữ Nôm Tày, sổ sách sưu tầm từ lâu nằm trong các bảo tàng của tỉnh gần như bị lãng quên vì không ai dịch, không có kế hoạch sử dụng nó Hiện nay, Viện Hán Nôm đã dịch thuật được 18 tổng tập truyện thơ nôm dân tộc Tày nhưng rất ít người quan tâm sử dụng, do đó khả năng mai một và thất truyền là rất lớn Đây là điều trăn trở của những nhà nghiên cứu về chữ Nôm Tày và những người con dân tộc Tày, hiện tại tiếng Tày được phiên âm la tinh và vẫn được sử dụng là ngôn ngữ hàng ngày song song với tiếng Việt (tiếng phổ thông), sử dụng chủ yếu ở các làng bản trong khu vực các tỉnh biên giới phía bắc, một phần trong khu vực các tỉnh Tây Nguyên do thời kỳ di dân từ những năm 1954, 1975 người dân

di cư từ các tỉnh biên giới phía bắc vào phía nam, số lượng người Tày ở các tỉnh phía nam lên đến hàng chục vạn người Họ vào phía nam dựng nên các bản Tày, các

286 Tống Đại Hồng, Chữ nôm Tày - kho tàng văn hóa vô giá đang bị lãng quên, Thực trạng và giải pháp bảo

tồn, phát huy văn hóa cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), thư viện quốc

gia Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2017, tr.100

Ngày đăng: 05/02/2021, 07:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w