1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề pháp lý về nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh ở việt nam

69 554 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 806,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng cũng chứa nhiều nguy cơ, trong đó có nguy cơ bênnhận quyền có khả năng bị mất uy tín thương hiệu còn bên nhận quyền sẽ bị ràngbuộc nhiều điều khoản không họp lý, và một số hạn chế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC ĐỘ PHAP LUẬT

CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

Giáo viên hướns dẫn: Sinh viên thưc hiên:

MSSV: 5062336Lớp Luật Thương Mại 1- 32

Cần Thơ, Tháng 4/ 2010NHẶN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 2

BNQ : Bên nhượng quyẻn

BNHQ : Bên nhận quyền

LCT : Luật cạnh tranh

NQTM : Nhượng quyền thương mại

PLCT : Pháp luật cạnh tranh

ECJ : Tòa án tư pháp Châu Âu

TEC : Hiệp đinh thành lập cộng đồng châu Âu

TATC : Tòa án tối cao

NHẶN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆNDANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐÀU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2. Mục đích nghiên cứu 8

3. Phạm vi nghiên cứu đề tài 8

4. Phương pháp nghiên cứu 8

5. Cơ cấu của luận vãn 8

CHƯƠNG 1 ! 10

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ VÁN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN PHAP LUẬT CẠNH TRANH 10

1.1. Khái quát chung về hoạt động nhượng quyền thương mại 10

1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại trên thế giới 10

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động của nhượng quyền thương mạil 1 1.1.2.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại 11

1.1.2.2 Đặc điểm nhượng quyền thương mại 13

1.1.2.3 Vai trò của pháp luật về nhượng quyền thương mại 15

1.2. Khái quát chung về pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam 16

1.3 Mối quan hệ pháp luật nhượng quyền thương mại và pháp luật cạnh tranh .21

CHƯƠNG 2 29

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC Độ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SÓ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 29

2.1. Nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh của một số nước trên thế giới 29

2.1.1. Nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh của liên minh Châu Âu EU 29

2.1.2. Nhượng quyền thương mại dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh ở Mỹ .v 35

2.2.1. Sự càn thiết điều chỉnh pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong họp đồng nhượng quyền thương mại 40

2.2.2. Pháp luật điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong họp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 42

2.2.2.1. Khả năng áp dụng pháp luật cạnh tranh vào họp đồng nhượng quyền thương mại 42

CHƯƠNG 3 53

Trang 4

MỘT SÓ ĐỀ XUẤT NHẰM LÀM HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀNHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC Độ PHÁP LUẬT CẠNHTRANH Ở VIỆT NAM ’ 533.1 Thực trạng về nhượng quyền thương mại dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh

ở Việt Nam 533.2. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp

luật cạnh tranh ở Việt Nam 61

quyền thương mại 613.2.2 Một

số đề xuất cụ thể 63

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Theo đánh giá của các chuyên gia, phương thức kinh doanh thông qua mô hìnhnhượng quyền thương mại, là một cơ hội kinh doanh mới cho các doanh nghiệp ViệtNam, nhất là những doanh nghiệp muốn vươn xa nhưng chưa đủ sức tấn công vào thịtrường lớn nhu Mỹ, Nhật, Châu Âu Mô hình nhượng quyền thương mại đã giúp họxâm nhập một cách gián tiếp vảo các thị trường với chi phí thấp nhất Tuy nhiên đốivới các chủ doanh nghiệp vì muốn bảo vệ các quyền liên quan tới sở hữu trí tuệ nhu bímật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và để bảo uy tín thương hiệu của mình mà

có những thỏa thuận đặt ra những điều khoản trong họp đồng nhượng quyền thươngmại, nhung những điều khoản đó có thể rơi vào trường họp là những thỏa thuận bị sựđiều chỉnh của Pháp luật cạnh tranh Chính vì thế mà ngoài việc quan tâm đến phẩmchất đạo đức của các đối tượng mà mình trao quyền, các doanh nghiệp cần thận trọnghơn trong khâu làm họp đồng để tránh những sai phạm không đáng có, tránh “tầm”điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh của các quốc gia này

Việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại, mặc dù có nhiềuthuận lợi nhu đối với bên nhận quyền thì sẽ rút ngắn được thời xây dựng thương hiệu,

ít tốn kém còn bên nhận quyền thì mở rộng được mạng lưới quy mô sản xuất củamình một cách nhanh nhất Nhưng cũng chứa nhiều nguy cơ, trong đó có nguy cơ bênnhận quyền có khả năng bị mất uy tín thương hiệu còn bên nhận quyền sẽ bị ràngbuộc nhiều điều khoản không họp lý, và một số hạn chế nhất định trong hợp đồng.Với mong muốn tìm hiểu hành lang pháp lý cho hoạt động nhượng quyền thương mại,

mà đặt biệt là các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại nhưng có liên quanđến các lĩnh vực khác, trong đó có bao gồm Luật cạnh tranh Chính vì thế mà ngườiviết đã chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về nhượng quyền thương mại dưới góc độpháp luật cạnh tranh ở Việt Nam” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 6

2. Mục đích nghiên cứu

Trước xu thế chung của nền kinh tế thế giới và trong bối cảnh Việt Nam đangtrong giai đoạn chuyển mình với những thời cơ và thách thức đặt ra thì việc các doanhnghiệp lựa chọn mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại được coi là một trongnhững sự lựa chọn phù họp Điều này đã mở ra hướng đi cho các doanh nghiệp đặc biệt

là các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi mới bắt đầu kinh doanh Bởi vì đây là phương thứckinh mang đến nhiều lợi nhuận cho các bên tham gia nhưng bên cạnh đó cũng gặpkhông ít khó khăn khi tham gia hoạt động nhượng quyền như nguy cơ mất uy tín thương

hiệu, bị một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong họp đồng nhượng quyền Do đóluận văn sẽ nghiên cứu lý luận chung về hoạt động nhượng quyền thương mại và liênquan đến pháp luật cạnh tranh, làm sáng tỏ hơn vấn đề nhượng quyền thương mại dướigóc độ pháp luật cạnh tranh ở một số nước trên thế giới và Việt Nam Trên cơ sở đóluận vãn sẽ đề xuất một số ý kiến để hoàn thiện những quy định về nhượng quyềnthương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh Từ đó luật cạnh tranh có thể áp dụng mộtcách hiệu quả hơn trong nhượng quyền thương mại đối với nền kinh tế của Việt Namđang trên đường phát triển

3. Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong khuôn khổ luận vãn tốt nghiệp của mình, do giới hạn về thời gian nghiêncứu nên người viết chỉ nghiên cứu các quy đinh liên quan đến pháp luật cạnh tranhtrong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam Trên cơ sở liên hệ với pháp luậtmột số nước trên thế giới Từ đó đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện những quy địnhcủa pháp luật cạnh tranh về nhượng quyền thương mại

4. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được dùng để nghiên cứu đề tài là phương pháp nghiên cứuphân tích, tổng hợp tài liệu Bên cạnh đó phương pháp sưu tầm và tổng họp các bàinghiên cứu, ý kiến của các luật gia, nhả luật học.v.v Kết họp với phân tích, đối chiếuvới các quy định của pháp luật, nhằm tìm ra những điểm mới, điểm hạn chế để từ đó để

có một bài nghiên cứu hoàn chinh

5. Cơ cấu của luận văn

Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận vãn gồm có bachương:

Chương 1: Khái quát chung về nhượng quyền thương mại và vấn đề pháp lý liênquan đến pháp luật cạnh tranh

Trang 7

Chương 2: Nhượng quyền thương mại dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh ởViệt Nam và một số nước trên thế giới

Chương 3: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện những quy định về nhượng quyềnthương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam

Với sự cố gắng của bản thân và sự tận tình giúp đỡ của Cô Nguyễn Mai Hân đãgiúp người viết hoàn thành Luận văn này Tuy nhiên do kiến thức còn hạn chế và thờigian nghiên cứu ngắn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp ýkiến của quý thầy cô và các bạn Cuối lời em xin chân thành cám ơn cô Nguyễn MaiHân và các bạn!

Trang 8

1 hien-tai-va-tuong-lai/ 28/05/2009

http://doanlmhansaigon.vn/dcfault/nhuong-qLiycn/kicn-thuc/2009/05/474/nhuong-quycn-thuong-mai-lich-su-CHƯƠNG 1 KHẮT QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ VÁN

ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

1.1. Khái quát chung về hoạt động nhượng quyền thương mại 1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động nhương quyền thương

mại trên thế giói

Hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM) đang được xem là một trongnhững chìa khóa mở ra những vùng đất mới của thưcmg trường, đem lại nhiều lợi íchcho nền kinh tế của nhiều quốc gia Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khaicủa lối kinh doanh nhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17- 18 nhưng bùng

nổ tại Mỹ Sự lớn mạnh của mô hình kinh doanh NQTM thật sự bắt đầu sau chiến tranhthế giới thứ hai, khi hàng loạt thương hiệu trong các ngành dịch vụ, bán lẻ, chuỗi kháchsạn, nhà hàng, thức ăn nhanh ra đời, mô hình kinh doanh NQTM sau đó ngày càng pháttriển và phổ biến khắp thế giới

Ngày nay, NQTM đã có mặt hầu nhu tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ thựcphẩm, nhà hàng, khách sạn, giải trí, dịch vụ thuê xe, và phát triển với tốc độ cao trênphạm vi toàn cầu với các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới như: Mc Donald’s, Lotteria, KFC,Burger King, Theo số liệu thống kê tại Hoa kỳ hiện có hơn 500.000 họp đồng NQTMvới doanh thu lên đến 1.350 tỷ USD trong một năm; còn lại khu vực Bắc Mỹ, hiện cóhơn 750.000 ngàn họp đồng được ký kết Riêng tại Châu Âu, thì sự tăng trưởng củahoạt động này cũng rất lớn, năml988 toàn Châu Âu có tổng cộng 3.338 hệ thốngnhượng quyền với 167.432 cửa hàng kinh doanh khác nhau1

Hoạt động nhượng quyền thương mại tại khu vực Châu Á cũng đang rất pháttriển và đạt được nhiều thành công, theo báo cáo của Hiệp hội nhượng quyền thươngmại thế giới vào năm 1988, thì hàng năm khu vực này có mức tăng trưởng trên 7% vềNQTM và đóng góp vào nền kinh tế khoảng 150 tỷ USD Những lợi ích mà hoạt độngnày mang lại cho các quốc gia là rất lớn, chính vì thế mà các quốc gia đã có nhữngchính sách khuyến khích phát triển Franchise, Hoa Kỳ được xem là quốc gia đầu tiên đã

luật hóa hoạt động này và có chính sách ưu đãi cho những cá nhân, doanh nghiệp kinh

Trang 9

2 Ts Lý Quý Trung-Franchise- Bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh-Nxb Trẻ

2006

-Trang 30

Franchise tại Mỹ với số vốn đầu tư từ 500.000 đến 1.000.000 USD và thuê ít nhất 10

nhân công tại địa phương thì sẽ được cấp thị thực thường trú (Green Card) tại Mỹ.2 Tạimột số quốc gia còn đầu tư xây dựng các trung tâm học thuật, nghiên cứu chính sách vềFranchise, và ở các trường đại học cũng có riêng chuyên ngành về íranchisc để đào tạo,đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Ngày nay nhiều tổ chức phi chính phủ đã được thànhlập nhằm thúc đẩy sự phát triển, quảng bá hoạt động NQTM, điển hình như Hội đồngíranchisc thế giới (World Franchise Council) ra đời vào năm 1994 Ngoài ra đánh dấu

sự phát triển của hoạt động này là sự ra đời của một tổ chức uy tín và lâu đời nhất nhưhiệp hội ữanchise quốc tế (International Franchise Associltion) được thành lập vào năm

1960 vói 30.000 thành viên, bao gồm các doanh nghiệp mua, bán Franchise Mục đíchcủa IFA là cung cấp nguồn thông tin về sự phát triển của hệ thống nhượng quyền toàncầu, cung cấp hổ trợ các khóa huấn luyện, chương trình đào tạo, tổ chức hội trợ triểnlãm Franchise quốc tế hàng năm thu hút nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế thamdự

Riêng đối với Việt Nam thì hoạt động này cũng bắt đầu xuất hiện năm 1990, chủyếu là hình thức nhượng quyền sản phẩm, như cửa hàng nước giải khác, cây xăng, Xemáy Công ty cà phê Trung Nguyên được xem là doanh nghiệp đi đầu tại Việt Namtrong lĩnh vực NQTM và thu được thành công với hơn 500 cửa hàng nhượng quyềnchính thức trong cả nước và đã có mặt tại Nhật Bản, Campuchia, Thái Lan, Nhìn mộtcách tổng quan, hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam hứa hẹn một thị trường đầy hấpdẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO,hoạt động này càng phát triển mạnh mẽ hơn, nhiều tập đoàn trên thế giới như: McDonald’s, Satubcks, Seven-eleven, Walmart cũng đang xâm nhập thị trường ViệtNam Như vậy có thể khan định Việt Nam đang trong giai đoạn khởi động lĩnh vựcNQTM tiềm năng phát triển rất lớn và sẽ tăng trương mạnh trong những năm tới

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động của nhượng quyền thương mại 1.1.2.1. Khái niệm về nhượng quyền thương mại

Franchise (nhượng quyền thương mại) có nguồn gốc từ tiếng pháp có nghĩa

là đặc quyền, ưu đãi là một hình thức nhân rộng thương hiệu, nhân rộng mô hình kinhdoanh có xuất xứ từ Châu Âu cách đây cả trăm năm nhưng lại phát triển mạnh mẽ tại

Mỹ Với sự phát triển nhanh chóng của nó, đến nay hoạt động này đã

Trang 10

3 htlp;//www.saga.vn/vicw.aspx?icM579/ 03/02/2007

xuất hiện gàn như khắp thế giới và được các quốc gia đều đã luật hóa các quy định điềuchinh hoạt động nhượng quyền Vì vậy, hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau vềNQTM

Theo Hiệp hội nhượng quyền thưong mại quốc tế (The International FranchiseAssociation) thì “nhượng quyền thưong mại (NQTM) là mối quan hệ theo họp đồng,giữa bên giao và bên nhận quyền, theo đó bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quantâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận trên các khía cạnh như: Bí quyết kinhdoanh, đào tạo nhân viên, bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phưong thức,phương pháp kinh doanh do bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và bên nhận dạng, hoặc sẽtiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”3 Theođịnh nghĩa này thì vai trò của bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tư vốn và điềuhành doanh nghiệp được đặc biệt nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên giaoquyền

Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng nhượng quyền thương mại là cách thức

tiếp thị và phân phối sản phẩm, dịch vụ dựa trên mối quan hệ giữa hai đối tác; một bêngọi là bên nhượng quyền (Franchisor) với một bên gọi là bên nhận quyền (Franchisee)thông qua họp đồng NQTM

Ở Việt Nam thì hoạt động NQTM có xu hướng phát triển với tốc độ cao tronggiai đoạn hiện nay Nhưng xét một cách tổng quan thì chưa xứng với tiềm năng hiện cótrong nước, một phần là do khung pháp lý quy định về vấn đề này còn hạn chế, có thểthấy hoạt động này chỉ được quy định một cách chi tiết trong luật thương mại 2005, từđiều 284 đến 291, đây cũng được xem là một bước tiến lớn trong Luật thương mại ViệtNam góp phần rút ngắn khoảng cách trong hoạt động thương mại so với các quốc giakhác trên thế giới Tuy nhiên trong Luật thương mại 2005 đã không đưa ra khái niệmhoạt động NQTM một cách chi tiết mà chỉ được ghi nhận tại điều 284 của Luật thươngmại 2005 như sau:

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền(BNQ) cho phép và yêu cầu bên nhận quyền (BNHQ) tự mình tiến hành việc mua bánhàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

1 Việc mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức

tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hànghóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinhdoanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

Trang 11

2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyềntrong việc điều hành công việc kinh doanh.

Theo khái niệm này thì NQTM được xem là một hoạt động thưong mại nhằm mở rộng

hệ thống kinh doanh của các thương nhân, thông qua việc chia sẻ quyền kinh doanhtrên một thưong hiệu cho một thương nhân khác Quan hệ này được tạo lập ít nhất làhai chủ thể bao gồm BNQ (là bên sở hữu đối với “quyền thương mại” và BNHQ là (bênđộc lập, muốn kinh doanh bằng “quyền thương mại” của BNQ) Các bên trong quan hệthỏa thuận BNQ thương mại trao cho BNHQ “quyền kinh doanh” bao gồm quyền sửdụng tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinhdoanh, của BNQ để kinh doanh và sẽ được nhận một khoản phí hay % doanh thutrong một khoảng thời gian nhất định, đồng thời BNHQ sử dụng “quyền thương mại”của bên nhượng quyền để kinh doanh nhung phải chấp nhận tuân thủ một số điều kiệncủa BNQ đưa ra

Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về NQTM dựa trên quan điểm cụ thể củacác nhà làm luật ở mỗi quốc gia khác nhau Nhưng có thể thấy rằng các quan điểmchung trong tất cả các khái niệm trên là việc một bên độc lập (BNHQ) phân phối, kinhdoanh sản phẩm hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu và các đối tượng quyền sở hữu trí tuệkhác cũng như hệ thống kinh doanh đồng bộ do một bên khác (BNQ) phát triển và sởhữu; để được phép làm điều này, BNHQ phải trả một khoản phí và chấp nhận một sốhạn chế do BNQ quy định

Từ những khái niệm trên cho ta thấy sự cần thiết của một hành lang pháp lý rõràng và đầy đủ để điều chỉnh hoạt động này là rất quan trọng Thực tiễn hoạt độngNQTM đang diễn ra hết sức sôi nổi, đầy tiềm năng, tuy nhiên đây là một phương thứckinh doanh thương mại đặc biệt có liên quan đến cả hệ thống kinh doanh bao gồm:nhiều chủ thể khác nhau và hên quan đén cả nền kinh tế, lại chứa đựng nhiều khả nănggây ra tranh chấp Vỉ thế việc ban hành các qui đinh của pháp luật điều chinh hoạt độngnhượng quyền, đảm bảo cho hoạt động này phát triển trong khuôn khổ của pháp luậtgóp phần tạo sự thông thoáng trong kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế vảcác chủ thể Ngoài ra, thì các yếu tố hình thành quan hệ pháp luật về NQTM đã tồn tại

và hoàn thiện hơn là rất càn thiết

1.1.2.2. Đặc điểm nhượng quyền thương mại

Từ khái niệm trên cho ta thấy NQTM ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bảnsau:

Trang 12

4 Theo khỏan 1, điều 3, Luật thương mai 2005

5 Theo khỏan 1, khỏan 2, điều 3, nghị định số 3 5 hướng dẫn chi tiet một số họat đông nhượng quyền thương mai

6 Theo khỏan 3, khỏan 4, khoản 5, điều 3, nghị định số 35 hướng dẫn chi tiet một số họat đông nhượng

quyền

thương mai

Thứ nhất đây là một hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời4 Hoạt độngnày được thực hiện dựa trên thỏa thuận giữa các bên tham gia nhằm mục đích là, thuđược lợi nhuận trong kinh doanh Theo đó một bên sẽ trao quyền sử dụng các đối tượng

sở hữu trí tuệ và dấu hiệu thương mại của mình gọi chung là các quyền thương mạinhư: tên thương mại, bí quyêt kinh doanh, biểu tượng kinh doanh Và một bên phải

bỏ vốn ra đầu tư cơ sở kinh doanh cùng với việc trả phí cho việc sử dụng các quyềnthương mại đó, đồng thời cũng phải tuân thủ theo các quy định do BNQ đặc ra trongquá trình kỉnh doanh

Thứ hai trong mối quan hệ NQTM gồm có hai chủ thể tham gia đó là BNQ vàBNHQ Theo đó BNQ là bên có quyền sở hữu đối với các quyền thương mại đượcchuyển giao cho BNHQ để tiến hành kinh doanh, và là thương nhân được cấp quyềnthương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam, trong đó bao gồm bên nhượngquyền thứ cấp trong mối quan hệ với bên nhận quyền (bên nhượng quyền thứ cấp làthương nhân có quyền cấp lại quyền thương mại mả mình đã nhận từ bên nhượngquyền ban đầu cho bên nhận quyền thứ cấp)5

Còn phía BNHQ là các thương nhận được nhận quyền thương mại để tiến hànhviệc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các quy đinh của BNQ đặc ra Trongmối quan hệ sẽ bao gồm cả bên nhận quyền sơ cấp (bên nhận quyền sơ cấp là thươngnhân nhận quyền thương mại từ bên nhượng quyền ban đầu), và bên nhận quyền thứcấp (bên nhận quyền thứ cấp là thương nhân nhận lại quyền thương mại từ bên nhượngquyền thứ cấp)6

Thứ ba về phí nhượng quyền đây là vấn đề luôn được các chủ thể trong quan hệnhượng quyền quan tâm Mặc dù phí nhượng quyền không được nêu ra một cách cụ thểtrong Luật thương mại 2005, nhưng trên thực tế thì phí nhượng quyền được hiểu là mộtkhoảng tiền do bên nhận quyền sẽ trả cho bên nhượng quyền khi sử dụng các quyềnthương mại để tiến hành sản xuất, kinh doanh Và được các bên tự thỏa thuận khi thanhtoán với nhau mả không chịu giới hạn từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cónghĩa là BNHQ sẽ trả cho BNQ một khoản tiền khi hai bên ký kết họp đồng nhượngquyền thương mại Vả khoản tiền đó sẽ do hai bên tự thỏa thuận với nhau đến một mứcgiá phù họp và một cách tự nguyện không bên nào ép buộc bên nào Và mức phí

Trang 13

nhượng quyền đó không có qui định trong luật và không có một cơ quan nhà nước nào

ra mức giá chung cho phí nhượng quyền thương mại

I.I.2.3. Vai trò của pháp luật về nhượng quyền thương mại

Cũng nhu các quan hệ pháp luật khác thì quan hệ pháp luật về hoạt động nhượng

quyền luôn tồn tại các mối quan hệ sau: đó là quan hệ giữa cơ quan nhà nước với cácchủ thể tham gia kinh doanh và mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau Còn

về mặt khách thể chính là hoạt động nhượng quyền và nội dung là quyền và nghĩa vụcủa các bên tham gia Trong pháp luật về nhượng quyền có các quy định sau:

+ Quy định về tư cách chủ thể giữa các bên tham gia quan hệ nhượng quyền baogồm BNQ và BNHQ, quyền và nghĩa vụ các bên

+ Quy định về chế độ pháp lý của họp đồng Đó là cách thức xác lập họp đồng,đối tượng, hình thức, thời hạn của họp đồng, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thểtham gia khi thực hiện họp đồng và những điều kiện khi chấm dứt họp đồng và hậu quảpháp lý khi giải quyết

+ Các quy đinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối vói hoạt động nhượngquyền thương mại: nghĩa vụ đãng ký hoạt động nhượng quyền giữa các bên tham gia,

cơ quan có thẩm quyền đăng ký, thủ tục đăng ký, đồng thời quy đinh về các hành vi

vi phạm pháp luật, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm

Hoạt động NQTM là hình thức kinh doanh mang lại nhiều lợi ích cho các bêntham gia: Như hệ thống kinh doanh được mở rộng, thương hiệu được quảng bá rộng rãi,đồng thời cũng giúp các doanh nghiệp xâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng và chiphí thấp Riêng đối với các bên lần đầu kinh doanh nhượng quyền thì đây là cách lựachọn tốt nhằm giảm thiểu rủi ro, vì không cần phải trãi qua giai đoạn xây dựng và pháttriển ban đầu Tuy nhiên hoạt động này càng được khuyến khích và mở rộng thì càngchứa đựng khả năng tranh chấp cao Bản thân quyền thương mại đã liên quan trực tiếptới lợi ích của một nhà kinh doanh, việc phát triển “quyền thương mại” đồng nghĩa vớiviệc nâng cao vị thế cạnh tranh của nhà kinh doanh đó trên thị trường và quyết địnhmức tăng doanh thu, lợi nhuận Việc nhượng lại quyền này cho một chủ thể khác đểcùng kinh doanh chia sẻ lợi ích nên dễ gây ra tranh chấp Chính vì thế mà hoạt độngNQTM là một hoạt động đặc biệt, cần sự điều chỉnh của pháp luật nhằm giảm thiểunhững kẻ hở trong quá trình kinh doanh Và đây cũng là công cụ hữu hiệu để BNQ duytrì uy tín của nhãn hiệu, cũng như sự phát triển đồng bộ của cả hệ thống bằng nhữngđiều khoản về nghĩa vụ mà luật quy định mà BNHQ phải tuân theo và được đảm bảothực hiện bằng các hình thức như: phạt vi phạm hợp đồng, bồi thương thiệt hại, Mặt

Trang 14

khác với một hành lang pháp lý đầy đủ sẽ tạo nên tâm lý an tâm hon cho BNHQ khi kýkết họp đồng NQTM Vì quyền lợi của họ sẽ được pháp luật bảo vệ trong khi tiến hànhkinh doanh Như việc quy định các nghĩa vụ của BNQ về việc hỗ trợ, giúp đỡ bên nhậnBNHQ quyền trong suốt quá trình kinh doanh hay việc BNQ phải có nghĩa vụ phảicung cấp bản giới thiệu về kinh doanh nhượng quyền cho BNHQ xem xét để quyết địnhxem có nên giao kết họp đồng NQTM hay không? Trong bản giới thiệu đó sẽ quy địnhcác thông tin mà BNQ phải cung cấp như: Tình hình tài chính, kinh nghiệm kinh doanh,giới thiệu về doanh nghiệp, đội ngủ quản lý và các của hàng đang hoạt động.

Đồng thời pháp luật về NQTM được ban hành với những quy định cụ thể, rõràng và đầy đủ thi sẽ giúp cho hoạt động NQTM phát triển ổn định không những chocác doanh nghiệp trong nước mà còn thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài góp phầntăng doanh thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy nền kinh tế bền vững Do đó phápluật về NQTM có vai trò rất quan trọng cho hoạt động kinh doanh nhượng quyền, nótạo được tính ổn định trong kinh doanh, vả tạo tâm lý an tâm cho các doanh nghiệp vảcác nhà đầu tư trong và ngoài nước Và cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tếcủa đất nước và thu được nhiều lợi nhuận hon

1.2 Khái quát chung về pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam

1.2.1. Khái niệm cạnh tranh

Từ lâu các vấn đề cạnh tranh kinh tế được các nhà kinh tế học trước C.Mac

Và chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa MacLênin cũng đã đề cập đến Ở nước tatrong quá trình đổi mới cũng đã thay đổi về tư duy, quan điểm đối với cạnh tranh Cạnhtranh vừa là môi trường vừa là động lực của nên kinh tế thị trường Sự đa dạng về thànhphàn kinh tế và sự đông đảo của chủ thể tham gia kinh doanh hiện nay, đã làm cho cuộcsống thị trường trở nên sôi động, tình hình cạnh tranh diễn ra ngày càng phức tạp, gaygắt và cũng vô cùng phong phú Cạnh tranh đã đem lại cho thị trường, cho đời sống xãhội một diện mạo mới, linh hoạt đa dạng và ngày càng phát triển, đồng thời cũng nảysinh nhiều vấn đề xã hội như: phá sản, kinh doanh gian dối cạnh tranh không lànhmạnh Qua nhiều năm phát triển của nền kinh tế thị trường cạnh tranh không còn lảkhái niệm mới mẻ trong đời sống kinh tế -xã hội, và trong khoa học pháp lý của ViệtNam Cho đến nay các nhà khoa học trong nước và nước ngoài dường như chưa thỏamãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh Bởi vì cạnh tranh là một hiện tượng củanền kinh tể thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mỗi lĩnh vực Mọi công đoạn của quátrình kinh doanh và với bất cứ chủ thể nào đang tồn tại trên thị trường Do đó nó đượcnhìn nhận ở nhiều gốc độ khác nhau, tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các

Trang 15

7 TS Lê Danh Vĩnh, Ths Nguyễn Ngọc San, Hoàng Xuân Bắc: Pháp luật cạnh tranh tại ViệtNam Nxb Tư Pháp,

2006, tr 9

8 Luật cạnh tranh cùa Pháp và Liên Minh Châu Âu, Nguyễn Hữu Huyên, Nxb Tư pháp, HàNội, 2004, tr.l 1

nhà khoa học.Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh

tranh được cuốn Black’s law dictionary diễn tả là sự nổ lực hoặc hành vi của hai haynhiều thương nhân nhằm tranh giành lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba7

Theo từ điển Comu của Pháp thì cạnh tranh được hiểu là “hành vi của doanh nghiệp

độc lập với nhau và đối thủ của nhau về cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãnnhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc bịmất đi một lượng khách hàng thường xuyên”8

Như vậy cạnh tranh có thể được hiểu là quá trình mà các chủ thể tìm mọi biệnpháp để vượt lên so với các đối thủ về một lĩnh vực nhất định Và còn nhiều các kháiniệm khác về cạnh tranh

Từ những khái niệm trên về cạnh tranh và từ quá trình tìm hiểu mà người viết đã

có một quan niệm khác về cạnh tranh đó là “cạnh tranh là một động lực nhằm thúc đẩycác chủ thể tham gia kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, có thể sáng tạo, vả linhhoạt hơn trong quá trình sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm mới, với kiểu dáng mới đểphù họp thị hiếu của người tiêu dùng, từ đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng về phíadoanh nghiệp của mình hơn” nó có tác động tích cực đến nền kinh tế của thị trường,góp phàn thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia

Mặc dù nhìn nhận cạnh tranh dưới nhiều góc độ khác nhau, song các lý thuyết về

kinh tế điều nhất trí rằng, cạnh tranh là sản phẩm riêng và là động lực phát triển nềnkinh tế thị trường, vì vậy mà cạnh tranh được mô tả qua nhiều đặc điểm khác nhau

1.2.2. Đặc điểm của cạnh tranh

Thứ nhất, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinhdoanh Với tư cách là hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại khi có mặtnhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau

Trong trường họp chỉ có một doanh nghiệp tồn tại thì sẽ không có cạnh tranh xuất hiệntrong thị trường Bên cạnh đó, nếu như các doanh nghiệp mả thuộc một hình thức sởhữu nhu doanh nghiệp nhà nước thì cạnh tranh diễn ra cũng không có ý nghĩa

Thứ hai, cạnh tranh chỉ tồn tại khi các chủ thể kinh doanh có quyền tự do hoạtđộng trên thị trường Tại vì nếu họ có quyền tự do hoạt động trên thị trương thì sẽ đảmbảo cho các doanh nghiệp có thể chủ động tiến hành cuộc tranh giành, để tìm cơ hộiphát triển trên thương trường Neu các doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh trên thị

Trang 16

9 Cách diễn tả cùa PGS Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh

trường theo một khuôn mẫu đã được định sẵn thì sẽ làm cho các doanh nghiệp này tuộthậu, mất đi tính năng động trên thị trường như: không ngừng sáng tạo, cải tiến khoahọc, nâng cao chất lượng sản phẩm

Thứ ba, đặc điểm của cạnh tranh còn biểu hiện qua hình thức, cách thức Cạnhtranh thể hiện ở sự ganh đua, sự kình địch lẫn nhau của các doanh nghiệp Với sự thúcđẩy của lợi nhuận, thì các doanh nghiệp đã lợi dụng nhiều cách thức cạnh tranh khácnhau trong thị trường để tối đa quá lợi nhuận Để làm được điều đó thì các doanhnghiệp phải thu hút được khách hàng, người tiêu dùng mua hàng hóa, dịch vụ củadoanh nghiệp mình

Thứ tư, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giànhthị trường mua hoặc bán sản phẩm Cũng chính lợi nhuận đã thúc đẩy các doanhnghiệp, các nhà kinh doanh khi tham gia thị trường luôn ganh đua để có thể tranh giành

và tận dụng những cơ hội tốt nhằm mở rộng thị trường để mua hoặc bán sản phẩm Kếtquả của cuộc cạnh tranh trên thị tường là người có thế mạnh sẽ được mở rộng được thịphàn, còn người yếu hơn sẽ bị thu hẹp hoặc sẽ bị mất đi thị trường Và doanh nghiệp đó

sẽ rời khỏi thị trường hoặc tìm cho mình một hướng đi khác phù họp hơn

1.2.3. Vai trò của cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt của vật chất, giá

cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường9 Nhờ có cạnh tranh, với sự thay

đổi hên tục về nhu cầu cùng với bản tính tham lam của con người mà nền kinh tế thịtrường đã đem lại những bước nhảy vọt mà loài người chưa từng có được trong cáchình thái kinh tế trước đó Sự ham muốn không có điểm dừng đối với lợi nhuận của nhàkinh doanh đã mau chống trở thành động lực thúc đẩy họ sáng tạo không mệt mỏi làmcho cạnh tranh được nhìn nhận là động lực của sự phát triển Do đó cạnh tranh cónhững vai trò cơ bản sau đây:

Một là, cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Trong môi trường cạnhtranh, người tiêu dùng có vị trí trung tâm mả ở đó họ được phục vụ bởi các bên thamgia cạnh tranh Nhu cầu của họ được đáp ứng một cách tốt nhất mà thị trường có thểcung ứng, vì chính họ là những người bỏ phiếu bằng chính đồng tiền để quyết định aitồn tại và ai phải ra khỏi cuộc chơi

Hai là, cạnh tranh với vai trò điều phối Như một quy luật sinh tồn của tự nhiên,cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực tập trung vào tay các doanh

Trang 17

10 Theo điều 1 Luật cạnh tranh 2004

nghiệp giỏi, có khả năng và bản lĩnh trong kinh doanh Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại

bỏ những khả năng lạm dụng quyền lực của thị trường để bóc lột đối thủ cạnh tranh vàbốc lột khách hàng

Ba là, cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệuquả nhất Với những nổ lực giảm chi phí để từ đó giảm giá thành của hàng hóa, dịch vụ,các doanh nghiệp buộc phải đặc mình vào những điều kiện kinh doanh tiết kiệm bằngcách sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực mà họ có được Mọi sự lãng phí hoặctính toán sai lầm trong việc sử dụng nguyên vật liệu điều có thể dẫn đến thất bại trongkinh doanh

Bốn là, cạnh tranh có tác dụng việc thúc đẩy ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỷthuật trong kinh doanh Nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận đã thúc đẩy các doanh nghiệpkhông ngừng áp dụng các tiến bộ khoa học, kỷ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng

sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, để đáp ứng ngày càng tốt hon đòi hỏi của thị trường,

từ đó mong giành phần thắng về mình

Năm là, cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tụctrong đời sống kinh tế- xã hội Nền tảng của quy luật cạnh tranh trên thị trường là sự tự

do trong kinh doanh và độc lập trong sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp Khi sự tự

do kinh doanh bị tiêu diệt, mọi sự thi đua chỉ là những cuộc tụ họp theo phong trào màkhông thể là động lực đích thực thúc đẩy sự phát triển Cạnh tranh đòi hỏi nhà nước vàpháp luật phải tôn trọng sự tự do trong hoạt động kinh doanh

Với ý nghĩa là động lực của sự phát triển nền kinh tế Cạnh tranh luôn là đốitượng được pháp luật và các chính sách kinh tế quan tâm Trãi qua vài thế kỷ thăngtrầm của nền kinh tế thị trường, và với sự chấm dứt của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tậptrung, con người ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về bản chất và ý nghĩa của cạnhtranh đối với sự phát triển của nền kinh tế

1.2.4. Phân loại hành vi cạnh tranh

Theo Luật cạnh tranh 2004 thì hành vi cạnh tranh được chia thành hành vicạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh10

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi xâm hại trực tiếp đến lợi ích

của đối thủ cạnh tranh, cụ thể là xâm hại đếm trực tự lành mạnh của thị trường bằng

Trang 18

Hành vi hạn chế cạnh tranh cũng được thực hiện bằng những phương thức bấtchính nhưng lại xâm hại đến cơ cấu và thiết chế của thị trường, làm giảm thiểu hoặc thủtiêu cạnh tranh trên thị trường, so với cạnh tranh không lành mạnh hành vi hạn chế cạnh

tranh có khả năng gây thiệt hại cao hơn Hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm ba dạng:thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền để hạn chếcạnh tranh và tập trung kinh tế

Khi đã chọn nền kinh tế thị trường, Luật cạnh tranh là một nhu cầu tất yếu đểbảo vệ lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp và người tiêu dùng đồng thời cũng ngănngừa nạn “cá lớn nuốt cá bé”.Thực tế trong môi trường kinh doanh, bên cạnh nhữnghoạt động cạnh tranh lành mạnh đã và đang ngày càng nhiều hành vi cạnh tranh khônglành mạnh như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường tồn tại Đối với một bộ phận doanh nghiệp, thay vì coi cạnh tranh như là môt

cơ hội để mở rộng thị trường, cải tiến kĩ thuật để mình lả sự lựa chọn tốt nhất củangười tiêu dùng thì họ lại nhìn cạnh tranh như một mối hiểm họa đối với sự phát triển,khả năng thu lợi nhuận cũng nhu sự tồn vong của doanh nghiệp Vì vậy họ không nỗlực điều chỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện mới, mà họ lại chọn mộtcon đường dễ dàng hơn là dàn xếp, thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh tranh với đối thủ đểduy trì thị phàn và lợi nhuận kinh doanh

Theo Điều 8, Luật Cạnh Tranh 2004 thì các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh baogồm:

- Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trục tiếp hoặc gián tiếp;

- Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứngdịch vụ;

- Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bánhàng hóa, dịch vụ;

- Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

- Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện kí kết họp đồng mua, bánhàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ khôngliên quan trực tiếp đến đối tượng họp đồng;

Trang 19

- Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị

trường hoặc phát triển kinh doanh;

- Thỏa thuận loại bỏ thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên củathỏa thuận;

- Thông đồng để một hoặc các bên thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng

hóa, cung ứng dịch vụ

Những hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không chỉ làm sai lệch, cản trởcạnh tranh trên thị trường gây hậu quả xấu tới nền kinh tế nói chung mà còn ảnh hưởnglớn tới doanh nghiệp khác Đặc biệt người trực tiểp gánh chịu hậu quả là người tiêudùng Người tiêu dùng Việt Nam đã phải chịu nhiều thiệt thòi trong thời gian qua vớicác trường họp của sản phẩm như ôtô, dược phẩm Hon nữa hiện xu hướng cạnh tranhtoàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ nên việc kiểm soát các hành vi cạnh tranh xuyên biêngiới sẽ cảng khó khăn, phức tạp Vì vậy nhả nước nào cũng cố gắng bằng nhiều cáchkhác nhau tạo lập và duy trì cho mọi hoạt động kinh doanh diễn ra trong môi trườngcạnh tranh lành mạnh, họp pháp, vãn minh Điều này thật không dễ nhất là đối với nềnkinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam

1.3 Mối quan hệ pháp luật nhượng quyền thương mại và pháp luật cạnh tranh

Từ khái quát chung về NQTM và PLCT Thì với vai trò tích cực của mình, NQTM

đã và đang được xem là cách thức hiểu quả để các bên mở rộng quy mô sản xuất, kinhdoanh bằng cách khai thác các thương hiệu thành công thông qua việc chuyển giaoquyền sử dụng các quyền thương mại của bên nhận quyền Cũng chính vì điều đó màtrong họp đồng NQTM có thể chứa đựng các hạn chế có khả năng tác động tiêu cực đến

môi trường cạnh tranh Những hạn chế trong họp đồng NQTM trong nhiều trường hợpđược giải thích lả càn thiết, họp lý nhằm bảo vệ lợi ích của bên nhượng quyền cũng nhưđảm bảo danh tiếng của hệ thống nhượng quyền Tuy nhiên dưới góc độ của pháp luậtcạnh tranh, các mức độ nhất định có thể ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh Do vậy,cần phải đặt các thỏa thuận của các bên trong họp đồng nhượng quyền trong mối quan

hệ với PLCT NQTM là một hoạt động thương mại cho nên họp đồng NQTM cũng cóđầy đủ các nội dung cơ bản của một hợp đồng thương mại như quyền và nghĩa vụ củacác bên, thời hạn hợp đồng, nội dung quyền thương mại được chuyển nhượng, sử dụngnhãn hiệu, tên thương mại và bí quyết kinh doanh, chấm dứt họp đồng, giải quyết tranh

Trang 20

vấn đề liên quan đến hạn chế cạnh tranh có thể được ghi nhận trong họp đồng nhượngquyền.

Thứ nhất, điều khoản về đề xuất giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Với lý donhằm đảm bảo tính thống nhất của cả hệ thống nhượng quyền, trong họp đồng NQTM,BNQ thường đưa ra các quy định nhằm loại bỏ sự cạnh tranh về giá của các bên nhậnBNHQ trong toàn bộ hệ thống Theo đó, khi ký họp đồng BNQ sẽ đưa ra yêu cầu củamình về việc xác định mức giá đối với hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của hoạt độngnhượng quyền, đồng thời sẽ loại bỏ quyền của BNHQ trong việc đưa ra mức giá khácvới đề xuất của mình Bên cạnh đó, họp đồng NQTM còn có khả năng xuất hiện quyđịnh về ấn định giá bán cho các thành viên của hệ thống NQTM, điều khoản này thôngthường được thể hiện dưới các hình thức:

+ Đảm bảo một mức giá thống nhất đối với tất cả các BNHQ trong toàn hệ thống

+ Các BNHQ không được cạnh tranh về giá với nhau

+ Các BNHQ không được phép tăng đon vị sản phẩm bán ra cho cùng mức giá

Ví dụ như ở Việt Nam, hệ thống NQTM “phở 24” công khai ấn định giá bán24.000đ/ tô phở cho các BNHQ có liên quan Có nghĩa là giá bán một tô phở là 24.000

là mức giá thống nhất đối với tất cả các cửa hàng là BNHQ Các cửa hàng này khôngđược bán cao hơn hoặc thấp hơn mức giá mà BNQ đã đưa ra Và với cung mức giá nhưvậy các cửa hàng không được tăng đơn vị của phở lên nhiều hơn so với quy định chungnhằm đảm bảo tính thống nhất đối với tất cả BNHQ trong toàn hệ thống

Xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau như đảm bảo tính thống nhất của cả hệthống về chất lượng và giá cả hoặc xuất phát từ lợi ích của người tiêu dùng, nhằm đảmbảo cho họ được sử dụng hàng hóa, dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá thành thấpnhất trên toàn hệ thống mà BNQ có thể “đề xuất” giá bán cho các BNHQ Tuy nhiên,điều khoản này cũng có khả năng vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh

Thứ hai, lả điều khoản về phân chia khu vực kinh doanh, khách hảng Trong hoạtđộng NQTM, các cơ sở trong cùng hệ thống nhượng quyền sẽ cùng sử dụng một tênthương mại để cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Trong khi đó với sự độc lậpcủa mỗi cơ sở sẽ làm cho các cửa hàng này phải cạnh tranh với nhau để phát triển Vìvậy, để cân bằng lợi ích cho các BNHQ đồng thời đảm bảo hiệu quả lợi ích kinh doanhcủa hệ thống, BNQ thường quyết định số lượng cửa hàng nhượng quyền trên một khuvực địa lý nhất định nhằm phân chia khu vực kinh doanh, khu vực khách hàng

Trang 21

11 Hằng Nga Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Nxb Tổng hợp Thành

Phố Hồ Chí Minh, Năm 2009 trang 54

Mỗi BNHQ điều tuân thủ sự phân chia thị truờng theo quyết định của BNQ cụthể:

Một là, quy định về phân chia lãnh thổ, thể hiện ở “điều khoản về địa điển bánhàng” Quy định này cấm BNHQ bán hàng ngoài phạm vi của mình Họp đồng NQTM

có thể quy định rằng BNHQ chỉ được khai thác hệ thống NQTM tại một cơ sở duy nhất,

nghĩa là BNHQ có nghĩa vụ:

- Bán sản phẩm theo quy định của họp đồng tại một địa điểm xác định đồng thờitrang trí cửa hàng theo hướng dẫn của BNQ

- Không cạnh tranh với BNQ và các BNHQ khác trong mạng lưới NQTM

- Không dịch chuyển hàng hóa được cung cấp từ điểm bán hàng này sang điểmbán hàng khác (đối với kiểu nhượng quyền phân phối)

Hai là, quy định về phân chia khách hàng được thể hiện như sau:

+ Họp đồng NQTM có thể quy định về nghĩa vụ cơ bản của BNQ đối với BNHQ,

theo đó đảm bảo việc không tranh giành khách hàng của BNHQ và ngược lại Mặc dùtrong hoạt động NQTM, BNHQ sẽ kinh doanh với tên gọi, nhãn hiệu đồng bộ với BNQcũng như với các BNHQ khác, tuy nhiên hoạt động kinh doanh luôn chứa đựng nhiềurủi ro, đặc biệt là nguy cơ phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh mạnh hơn mình Vìvậy, để đảm bảo lợi ích của mình, BNHQ thường yêu cầu BNQ ký họp đồng NQTMđộc quyền Theo đó trong một phạm vi, khu vực địa lý nhất định BNQ chỉ được nhượng

quyền thưong mại của mình cho một BNHQ duy nhất và BNHQ có quyền tự do khaithác “quyền thưong mại”11

+ BNHQ có nghĩa vụ chỉ bán hàng cho người sử dụng cuối cùng hoặc BNHQkhác Quy định này cấm BNHQ bán lại hàng mang nhãn hiệu của BNHQ cho các nhàbán lẻ không phải là thành viên của hệ thống nhượng quyền thương mại Trên thực tế,

có thể chấp nhận được quy định này vì lý do càn phải giữ uy tín cho sản phẩm và dịch

vụ cuả cả hệ thống NQTM

Việc quy định về phân chia thị trường và hạn chế cạnh tranh giữa các thành viêntrong hệ thống NQTM Tuy vậy, để xác định xem điều khoản này có ảnh hưởng tiêucực đến môi trường cạnh tranh hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau củatừng việc cụ thể

Trang 22

Thứ ba, điều khoản hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, muabán hàng hóa, dịch vụ Trong nhượng quyền, để thu được lợi nhuận tối đa cũng như đểthực hiện chiến lược kinh doanh, BNQ và BNHQ có thể thỏa thuận về khối lượng hànghóa, dịch vụ được sản xuất phân phối như:

+ Ấn định thời gian sản xuất, cung ứng sản phẩm của hệ thống nhượng quyềnnhằm hạn chế số lượng sản phẩm được sản xuất và cung ứng ra thị trường

+ Thống nhất về sản lượng hàng hóa sản xuất hoặc cung ứng cho thị trường giữaBNQ vói các BNHQ trong cùng hệ thống

+ Ắn lượng hàng hóa cung cấp của BNQ đối với các BNHQ

Thông thường, khối lượng hàng hóa được ấn định sẽ thấp hơn so với nhu cầu củathị trường nhằm tạo thành sự khan hiếm ảo trên thị trường làm mất cân bằng cung cầu

để đẩy giá thành cao nhằm mục đích hưởng lợi Tuy nhiên, cũng không loại trừ khảnăng BNQ ấn định khối lượng, số lượng hàng hóa, dịch vụ cung ứng nhằm đảm bảo sựcân bằng giữa các BNHQ và để họp lý hóa hoạt động kinh doanh

Thứ tư, Điều khoản về duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới nhượngquyền (bán hàng có ràng buộc) Trong họp đồng NQTM (thường là trong lĩnh vực ănuống, nhà hàng) thông thường sẽ có điều khoản này Theo đó để duy trì tính đặc trưng

và uy tín của mạng lưới nhượng quyền; một mặt BNQ có trách nhiệm cung cấp choBNHQ bí quyết và kỹ thuật chế biến, nấu nướng thậm chí cả nghĩa vụ mua nguyên liệu

từ BNQ hoặc từ bên thứ ba do BNQ chỉ định Việc đặt ra các tiêu chuẩn đối với hànghóa, dịch vụ là đối tượng của họp đồng nhượng quyền nhìn chung, là có lợi cho ngườitiêu dùng và có thể làm cho thị trường hoạt động một cách hiệu quả hơn Nó giúp chongười tiêu dùng có nhiều thông tin, giúp họ đưa ra các quyết định chính xác hơn về sảnphẩm mà họ dự định mua đồng thời các tiêu chuẩn đó làm cho cung cầu thị trường cânbằng nhanh hơn và lợi ích của công nghệ mới được sử dụng hiệu quả hơn nhưng điều

đó cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng gia nhập thị trường của các chủ thể không được chỉđịnh bởi BNQ

Thứ năm, điều khoản về phân phối độc quyền Đối với nhượng quyền thươngmại, đặc biệt là đối với nhượng quyền phân phối thì BNHQ phải tuyệt đối trung thành

và tôn trọng lợi ích của BNQ, trong hoạt động kinh doanh, BNHQ không được phépthực hiện các hành vi nhằm cố ý mang lại lợi ích cho bên thứ ba hoặc cho đối thủ cạnhtranh của BNQ do đó BNHQ có nghĩa vụ:

+ Chỉ được bán hàng hóa do BNQ cung cấp hoặc bên thứ ba do BNQ chỉ địnhtrong trường họp BNQ không có hàng để cung cấp

Trang 23

+ Hạn chế kinh doanh một loại hàng hóa được ghi rõ trừ khi hàng hóa đó đượcBNQ cung cấp hoặc bên thứ ba do BNQ chỉ định.

+ Cấm BNHQ bán lại hàng không mang nhãn hiệu của BNQ

Thực tế thì các quy định này là càn thiết, bắt buộc đối với hoạt động nhượngquyền vì không thể chấp nhận các cửa hàng mang cùng một thương hiệu, tên thươngmại mà cung cấp các sản phẩm, dịch vụ khác nhau Trừ các trường họp ngoại lệ khi chủthương hiệu cho phép bổ sung một số sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu đặc thùcủa địa phương, nhưng việc cho phép bổ sung các sản phẩm khác cũng phải được thựchiện thống nhất cho tất cả các cửa hàng nhận quyền trong cùng một khu vực địa lý.Thứ sáu, điều khoản về nghĩa vụ không cạnh tranh Khi đồng ý cho phép BNHQkinh doanh dưới tên gọi và tiêu chuẩn chung thì sẽ dẫn đến một hệ quả là BNHQ có khả

năng trở thành đối thủ cạnh tranh của BNQ khi họp đồng nhượng quyền chấm dứt Dovậy, để đảm bảo quyền lợi của mình vả loại bỏ rủi ro đó từ hoạt động nhượng quyềnthương mại thì BNQ sẽ yêu cầu BNHQ cam kết không được cạnh tranh với mình hoặcvới BNHQ khác trong cùng hệ thống Theo đó BNHQ có nghĩa vụ:

+ Không tham gia dù trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất kỳ hoạt động kinh doanhnào giống với việc kinh doanh nhượng quyền hoặc cạnh tranh với việc kinh doanhnhượng quyền trong thời gian thực hiện họp đồng nhượng quyền và một khoản thờigian sau khi kết thúc hoặc chấm dứt họp đồng;

+ Sau khi kết thúc hoặc chấm dứt họp đồng nhượng quyền không chiêu dụ kháchhàng cũ hoặc khách của cơ sở kinh doanh nhượng quyền hoặc tìm mọi cách lôi kéo bất

kỳ khách hàng từ BNQ hoặc bất kỳ BNHQ nào của BNQ

+ Buộc mỗi người lao động khi vào lảm việc phải ký một cam kết không cạnhtranh trước khi họ bắt đầu công việc theo mẫu của BNQ;

+ Sau khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền không được tuyểndụng hay chảo mời bất kỳ người nào tại thời điểm đó hoặc vảo bất kỳ thời điểm nàotrong vòng hai năm tiếp theo đó đã được tuyển dụng bởi bên nhượng quyền hoặc bênnhận quyền khác của hệ thống nhượng quyền

Thứ bảy, điều khoản về hạn chế quảng cáo Việc quảng cáo ngoài phạm vi kinhdoanh của BNHQ có thể dẫn đến việc dịch chuyển khách hàng Nhất là đối với kiểuNQTM dịch vụ Thí vụ: trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn, nếu BNHQ quảng cáo chokhách hàng của mình bằng tấm bảng quảng cáo lớn đặt trcn đường cao tốc từ sân bay

về thành phố, thì sẽ thu hút khách hàng của các BNHQ khác Có nghĩa là khi BNQ có

Trang 24

nhiều BNHQ trong đó có một trong những BNHQ sẽ quảng cáo khách sạn của mình đểthu hút khách hàng về phía mình bằng cách cố ý đạt tấm bảng quảng cáo ngay trungtâm đuờng vào thành phố thì sẽ làm cho những khách hàng ở xa mới đến và nhữngkhác du lịch chú ý tới để họ có một cho nghĩ tốt và vô tình sẽ thu hút đuợc khách hàngcủa cửa hàng nhận quyền khác trong cùng hệ thống nhuợng quyền nhung ở địa chỉkhác Do đó, BNQ phải kiểm soát hoạt động quảng cáo của BNHQ bằng các quy định:+ BNHQ không đuợc phép quảng cáo nếu chua đuợc sự đồng ý của BNQ.

+ Hoạt động quảng cáo sẽ do BNQ thực hiện, BNHQ phải có nghĩa vụ trả chi phícho việc quảng cáo

+ Không được quảng cáo về địa điểm bán hàng

Qui định về điều này Luật thương mại 2005 ghi nhận “bên nhượng quyền cóquyền tổ chức quảng cáo cho hệ thống NQTM và mạng lưới NQTM” (khoản 2 điều286)

Các điều khoản liên quan đến hạn chế cạnh tranh nêu trên là yếu tố đặc trưngtruyền thống của họp đồng NQTM Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu sự cạnh tranh giữacác thành viên của hệ thống nhượng có quan trọng bằng sự cạnh tranh với các đối thủcạnh tranh khác trên thị trường hay không, nói cách khác thì các điều khoản này có ảnhhưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh hay không Vì vậy, điều quan trọng là phảixác định được giới hạn họp pháp hoặc vi phạm pháp luật đối với các điều khoản trênnhằm tạo điều kiện phát triển cho hoạt động NQTM đồng thời vẫn không làm ảnhhưởng đến mội trường cạnh tranh

Tuy nhiên thì hoạt động NQTM vẫn ảnh hưởng đối với môi trường cạnh tranh.Trong họp đồng nhượng quyền thương mại, để giành được sự cân bằng về quyền lợi,các bên trong họp đồng thường được ghi nhận các thỏa thuận chung để kiểm soát hành

vi của nhau BNQ chỉ có thể an tâm nhượng quyền khi bên nhận quyền chấp nhậnnhững hạn chế nhất định (như hạn chế về lãnh thổ, về khách hàng, không bán các sảnphẩm cùng loại của đối thủ cạnh ừanh của bên nhượng quyền ), và ngược lại bênnhượng quyền chỉ thật sự quyết tâm đầu tư, mua quyền thương mại khi có sự đảm bảo

về việc độc quyền phân phối, bán sản phẩm trong một địa bàn địa lý nhất định từ phíabên nhượng quyền Với việc ghi nhận các điều kiện ràng buộc như vậy, với các điềukiện đó, trên thực tế hoạt động nhượng quyền thương mại có thể gây hạn chế cạnhtranh, làm sai lệch nhu cầu của thị trường

Thứ nhất, với việc ký họp đồng nhượng quyền thương mại độc quyền, mả theo

đó ở phạm vi, khu vực địa lý nhất định, một thị trường xác định, bên nhượng quyền chỉ

Trang 25

được nhượng quyền cho một bên nhận quyền duy nhất đồng thời bên nhận quyền chỉđược cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong khu vực địa lý đó Nếu nhìn ở từng quan hệnhượng quyền riêng thì quy định đó được xem là nghĩa vụ của các bên, nhưng xét trongmối quan hệ với các chủ thể nhận quyền khác ừong cùng hệ thống, bằng sự chỉ địnhmỗi chủ thể phụ trách một khu vực thị trường đã làm cho từng doanh nghiêp có được vịtrí độc quyền trong khu vực đó, cho nên điều khoản này sẽ hạn chế các doanh nghiệpgia nhập vào thị trường ở những khu vực đã được phân chia cụ thể, đồng thời điều đó sẽ

hạn chế khả năng lựa chọn nhà cung ứng sản phẩm, hàng hóa của người tiêu dùng trongmột khu vực địa lý nhất định và hệ qủa là có thể gây hạn chế cạnh tranh

Thứ hai, với điều khoản nhằm duy trì đặc trưng của hệ thống nhượng quyền (điều

khoản bán kèm ràng buộc) sẽ hạn chế quyền lựa chọn nguồn cung ứng hàng hóa củabên nhận quyền, đồng thời có thể làm tăng chi phí sản xuất của bên nhận quyền Bêncạnh đó, với điều khoản này họp đồng nhượng quyền thương mại có thể tạo ra rào cảnnhằm ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc pháttriển kinh doanh bằng cách thống nhất từ chối mua hàng hoặc bán hàng cho các bên thứ

ba nếu nhận thấy việc mua, bán hàng hóa với bên thứ ba có khả năng gây ra những thiệthại đối với “quyền thương mại” mà các bên đang khai thác Mặt khác, việc các bên thỏa

thuận chỉ mua hàng hóa hoặc nguyên vật liệu từ bên nhượng quyền hoặc bên thứ bađược xác định trước sẽ ngăn cản sự tham gia của các chủ thể khác tham gia thị trường

mà không quan tâm tới điều kiện mua hàng, chất lượng hàng hóa mà bên thứ ba này cóthể cung cấp

Thứ ba, thông qua hoạt động nhượng quyền các bên đã tạo ra các hạn chế dọc(Vertical restraint) Có nghĩa là khi tham gia vào hoạt động NQTM thì bên nhượngquyền sẽ phân phối lưu thông hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho chính các bên nhậnquyền của mình kinh doanh trên thị trường và bên nhận quyền không càn phải lấynguyên liệu, hàng hóa từ những doanh nghiệp khác ngoài hệ thống, nhằm tạo dựng chocác bên vị trí thống lĩnh trên thị trường Việc lạm dụng điều đó sẽ dẫn đến hệ quả là lợiích của người tiêu dùng sẽ bị xâm phạm

Thứ tư, với mục đích bảo vệ uy tín và thương hiệu, bên nhượng quyền thườngbuộc bên nhận quyền chấp nhận một số hạn chế nhất định Chính điều đó sẽ tạo ra ràocản, ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới đặc biệt là doanhnghiệp vừa và nhỏ

Trang 26

12 Hằng Nga Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Nxb tổng hợp Thành Phố Hồ Chí minh, năm 2009- trang 62

biệt này mà các bên trong quan hệ nhượng quyền đều yêu cầu bên còn lại thực hiện các

thỏa thuận mang dáng dấp của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Đây chính là yếu tố chủyếu mà dựa vào đó pháp luật một số nước cho rằng quan hệ nhượng quyền thưong mạiphải được điều chỉnh bằng pháp luật cạnh tranh12 Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

trong họp đồng nhượng quyền thương mại nêu trên đã tao ra mối quan hệ giữa phápluật cạnh trạnh và pháp luật nhượng quyền thương mại

Trang 27

CHƯƠNG2 NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI DƯỚI GÓC Độ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SÓ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2.1. Nhượng quyền thương mại dưóỉ góc độ pháp luật cạnh tranh của một sổ nước

trên thế giói

2.1.1. Nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh của liên

minh Châu Ầu EU

Nhượng quyền thương mại (NQTM) là hoạt động thương mại phát triển với tốc

độ cao trên thế giới hiện nay, được sử dụng trong hơn 60 lĩnh vực kinh doanh khácnhau, từ kinh doanh thực phẩm, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ thuê xe, giải trí đến cácdịch vụ giáo dục, y tế NQTM giúp cho BNQ mở rộng hệ thống kinh doanh, sử dụngkhả năng của các đối tác địa phương để phát triển thị trường mới mà không cần phảiđầu tư vốn Đối với BNHQ, NQTM giúp cho BNHQ sử dụng thương hiệu, kinh nghiệm

đã được phát triển cũng như sự trợ giúp, huấn luyện từ BNQ Tuy nhiên, NQTM cũng

có nhược điểm nhất định NQTM có thể khiến cho BNQ chịu những tổn thất do mấtquyền kiểm soát đối với BNHQ, mất uy tín của thương hiệu và rủi ro của cái gọi là

“ngư ông đắc lợi” từ BNHQ và đối thủ cạnh tranh không trung thực, không lành mạnh

Và mặc dù NQTM cho phép BNHQ có những tự chủ tương đối, nhưng BNHQ vẫn phảichịu những ràng buộc, hạn chế nhất định hên quan đến hoạt động kinh doanh, cạnhtranh, hay chuyển giao doanh nghiệp từ bên chuyển quyền

Xuất phát từ bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý của hoạt động nhượngquyền thương mại (NQTM), họp đồng NQTM cũng giống như các loại họp đồng thôngthường khác, là sự thoả thuận của các bên trong quan hệ NQTM về những vấn đề chínhtrong nội dung của quan hệ nảy Đây chính lả cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ của cácbên trong hoạt động nhượng quyền và cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽphát sinh trong quá trình các bên thực hiện họp đồng

Cộng hoà Pháp cũng không ban hành một luật riêng cho hoạt động NQTM ởđây, các án lệ, các quy định của Hiệp hội NQTM Pháp được coi là luật lệ chính điều

Trang 28

13 Graham and Trotman, Commercial Agency and Distribution Agreements, Lavvs and practice in the Member States of the European Community, Association Internationale des Jeunes Avocats, page 203,204,205.

Pháp và một cá nhân với tư cách là bên nhận quyền Sau này, nghĩa là sau thời điểm có

phán quyết của Toà án về vụ Pronuptia vào năm 1986, hầu hết các vụ tranh chấp liênquan đến hợp đồng NQTM đều được các Toà án ở Pháp và trong khối Cộng đồngchung châu Âu xem xét dưới góc độ của án lệ Pronuptia Khi giải quyết tranh chấp đốivới Pronuptia, Toà Phúc thẩm Paris đã lần đầu tiên công nhận hiệu lực của họp đồngNQTM với tính chất không phải một dạng họp đồng phân phối sản phẩm mà là họpđồng theo đó, một bên có thể mở rộng mạng lưới, kiếm tìm lợi nhuận mà không cầnđầu tư bằng tiền của chính chính mình13 Như vậy, ở Pháp, đây là lần đầu tiên họp đồng

NQTM được nhìn nhận đúng với bản chất của nó Có thể nói, hầu hết những khái niệm

về họp đồng NQTM ra đời sau này ở một số nước châu Âu đều dựa trên những đặcđiểm chính mà các chủ thể của án lệ Pronuptia đã thoả thuận Một thực tế là, khôngphải quốc gia nào cũng có khái niệm riêng biệt để nhận biết họp đồng NQTM Tuynhiên, bằng cách này hay cách khác, loại hợp đồng này vẫn được phân biệt với các loạihọp đồng khác như họp đồng li-xăng hay họp đồng đại lý phân phối sản phẩm

Qua đó, cho ta thấy nội dung của họp đồng nhượng quyền thương mại của liênminh Châu Âu EU là một tập họp các thoả thuận của các bên chủ thể, trong đó các bên

phải đề cập đến ít nhất một số vấn đề chủ yếu liên quan đển: thứ nhất, sự chuyển giao

các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ từ bên nhượng quyền sang bên

nhận quyền nhằm khai thác thu lợi nhuận; thứ hai, sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong suốt quá trình thực hiện họp đồng; thứ ba, nghĩa vụ tài chính

cũng như các nghĩa vụ đối ứng khác của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền

Với khái niệm này, họp đồng NQTM đã thể hiện được đúng bản chất pháp lý của hoạtđộng NQTM, giúp cho công chúng có thể dễ dàng phân biệt được loại họp đồng thươngmại đặc biệt này với một số loại hợp đồng khác có cùng một hoặc một số tính chất nhấtđịnh Tuy nhiên đối với họp đồng NQTM cũng có một số ràng buộc nhất định Đối vớiBNQ để bảo vệ uy tín thương hiệu của mình và để hạn chế rủi ro do đó BNQ thườngbuộc BNHQ phải chấp nhận những hạn chế cạnh tranh nhất định như giới hạn về địađiểm kinh doanh, nghĩa vụ không cạnh tranh với BNQ, hạn chế về giá về khách hàng,buộc BNHQ phải mua các nguyên vật liệu đầu vào từ BNHQ hay bên thứ ba được chỉđịnh Ngược lại, BNHQ có thể buộc BNQ phải chuyển giao quyền thương mại độcquyền cho mình Những quy định hạn chế cạnh tranh như vậy trong NQTM trong mộtchừng mực nhất định có thể bị lạm dụng bởi các bên, nhất là bởi BNQ, và có thể viphạm pháp luật cạnh tranh (PLCT) ở Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) cho đến nay đã

Trang 29

14 ECJ, Case 161/84, Pronuptia de Paris GmbH V Pronuptia de Paris Irmgard Schillgallis, 28/1/1986, [1986]ECR

16 Hiệp ước thành lập ccộng đồng Châu Âu có hiêu lực ngày 1.1.1958

có nhiều tranh chấp liên quan đến NQTM ừên cơ sở PLCT Mặc dù pháp luật về

NQTM ở các quốc gia này đã phát triển và luôn đuợc hoàn thiện, nhung các bên có liênquan vẫn sử dụng các quy định của PLCT để chống lại những hành vi hạn chế cạnhtranh trong NQTM, chống lại hành vi lạm quyền của BNQ và cơ quan nhà nuớc cóthẩm quyền về cạnh tranh thậm chí vẫn ban hành các quy định về việc áp dụng PLCTtrong hoạt động NQTM

Cho đến nay, án lệ Pronuptia14, là vụ việc liên quan đến NQTM đầu tiên và duynhất mà Tòa án Tu pháp Châu Âu (ECJ) xem xét duới góc độ PLCT Trong vụ việcnày, BNHQ (bà Schillgallis) và BNQ (Pronuptia de Paris) đã giao kết 3 hợp đồngNQTM, theo đó BNHQ đuợc mở 3 cửa hàng bán áo cuới, áo dạ hội và các sản phẩmliên quan mang thuơng hiệu Pronuptia de Paris tại 3 thành phố của nuớc Đức Theo quyđịnh của hợp đồng, BNHQ có quyền độc quyền trong 3 thành phố này, tức BNQ khôngđuợc tụ mình hay cho phép bên thứ ba mở cửa hàng mang thuơng hiệu Pronuptia deParis, hay bán sản phẩm của Pronuptia cho bên thứ ba trong phạm vi 3 thành phố trên

Đổi lại BNHQ chỉ có quyền bán sản phẩm áo cuới, áo dạ hội vả sử dụng thuơng hiệuPronuptia de Paris tại 3 cửa hàng đã đuợc xác định; phải mua khoảng 80% áo cuới vàsản phẩm liên quan từ BNQ, và chỉ đuợc mua số còn lại từ các nhà cung cung đã đuợcBNQ chấp nhận truớc; phải xem xét các khuyến nghị về giá mà BNQ đề xuất tuy điều

đó không ảnh huởng đến quyền tự ấn định giá của BNHQ; không đuợc phép có cáchoạt động cạnh tranh với bất kỳ cửa hàng mang thuơng hiệu Pronuptia de Paris khác;

phải chấp nhận một số giới hạn về quảng cáo.15

Trong quá trình thực hiện họp đồng NQTM, BNHQ không trả phí duy trì (tiềnbản quyền) nên bị BNQ khởi kiện Nhung BNHQ đã đua ra lập luận cho rằng các quyđịnh nêu trên là hạn chế cạnh tranh, vi phạm Điều 81 Hiệp định thành lập Cộng đồngChâu Âu (TEC)16 Do đó, các họp đồng NQTM này bị vô hiệu theo quy định của Điều

81 TEC, và BNHQ không phải trả phí duy trì chua thanh toán

ECJ dựa trên bản chất của NQTM cho rằng BNQ khi cho phép BNHQ sử dụngthuơng hiệu, bí quyết kinh doanh vả những trợ giúp càn thiết khác để mở cửa hàngNQTM luôn cần phải đề phòng rủi ro, tránh truờng họp các bí quyết kinh doanh và sự

Trang 30

17 Pronuptia, tlđd, đoạn 16

18 OECD (1993), Competitionpolicy and Vertical rẻtaint ữanchise, Paris forthcom-ing Ínl993, ừ 151

trợ giúp đó lại làm lợi cho đối thủ cạnh tranh (dù chỉ là gián tiếp) Do đó, nghĩa vụkhông cạnh tranh của BNHQ với BNQ là càn thiết, không vi phạm Điều 81 TEC

Qua vụ việc trên cho chúng ta thấy đuợc quy định của pháp luật Châu Âu vềnhuợng quyền thuong mại duới góc độ của pháp luật cạnh tranh nhu: Chấp nhận cáchạn chế cạnh tranh trong họp đồng NQTM Thứ nhất, cấm BNHQ mở cửa hàng giốnghay tuơng tụ ở trong khu vực mà BNHQ đó có thể cạnh tranh với một thảnh viên kháctrong hệ thống các cửa hàng NQTM trong suốt thời gian có hiệu lực của họp đồngNQTM và trong một khoảng thời gian họp lý sau khi họp đồng kết thúc Thứ hai, cấmBNHQ chuyển giao cửa hàng NQTM của mình cho một bên thứ ba khác mà không có

sự đồng ý trước của BNQ17 Trong họp đồng NQTM, BNHQ trong suốt thời gian họpđồng có hiệu lực thì BNHQ không được quyền mở cửa hàng trong phạm vi, khu vực mà

ở đó có một của hàng khác trong hệ thống và một khoảng thời gian họp lý sau khi kếtthúc hợp đồng (theo các án lệ tại Châu Âu, thông thường thời hạn đó là 5 năm kể từ khihọp đồng kết thúc) thì điều đó sẽ không gây cản trở BNHQ thành lập cơ sở kinh doanhtương tự như cửa hảng nhận quyền18 Do vậy tòa án cho rằng điều khoản đó họp lýnhằm bảo vệ hệ thống nhượng quyền Và như vậy thì cũng không có hiện tượng tranhgiành khách hàng của nhau trong cùng một hệ thống điều đó sẽ làm ảnh hưởng đến uytín của thuơng hiệu Và còn một điều khoản là không cho phép BNHQ khi đang kinhdoanh mà chuyển giao cửa hàng NQTM của mình cho một bên thứ ba khác mà không

có sự đồng ý trước của BNQ Điều đó sẽ làm cho BNQ không kiểm soát được các cửahàng trong hệ thống và không đảm bảo được uy tín Bởi vì khi mà BNHQ chuyển giaocửa hàng cho người khác, nếu như cửa hàng đó không thực hiện đúng theo BNQ như:

về nguyên liệu, về giá, khác hàng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hệ thống nhượng quyền

Bên cạnh đó, BNQ cần phải áp dụng các biện pháp để bảo vệ uy tín và bản sắccủa các cửa hàng mang thương hiệu của mình, cũng như để xây dựng và đảm bảo tínhthống nhất hình ảnh của toàn hệ thống NQTM Vì vậy các biện pháp càn thiết để đạtcác mục đích nêu trên không phải là các hạn chế cạnh tranh theo quy định của Điều 81TEC Cụ thể, ECJ chấp nhận các điều khoản trong họp đồng NQTM quy định BNHQphải có nghĩa vụ:

- Áp dụng phương thức kinh doanh đã được phát triển bởi BNQ và sử dụng các

bí quyết kinh doanh mà BNQ cung cấp;

Trang 31

- Bán sản phẩm theo quy định của họp đồng tại địa điểm đã được xác định; trang

trí cửa hàng theo hướng dẫn của BNHQ

- Không được chuyển cửa hàng sang địa điểm mới, không được chuyển giaoquyền và nghĩa vụ trong họp đồng cho bên thứ ba mà không có sự đồng ý trước củaBNQ

- Chỉ được bán sản phẩm cung cấp bởi BNQ hay cung cấp bởi bên thứ ba đượcBNQ đồng ý trước (tuy nhiên quy định như vậy không được phép ngăn cản BNHQ muasản phẩm bán bởi BNHQ khác để bán lại)

- Phải được BNQ chấp thuận đối với các hoạt động quảng cáo (nội dung quảngcáo)

Tuy nhiên ECJ chấp nhận các điều khoản trên trong họp đồng NQTM là không

vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng cũng nhấn mạnh rằng, các hành vi vượt quá mứccần thiết để bảo vệ bí quyết kinh doanh của BNQ và duy trì uy tín, bản sắc của hệ thốngNQTM có thể gây hạn chế cạnh tranh, vi phạm Điều 81TEC, nhất là các điều khoảnliên quan đến phân chia thị trường, ấn định giá, hạn chế số lượng bán của BNHQ.Nhưng để đi đến kết luận đó thì càn phải xem xét tổng thể bối cảnh kinh tế của hạn chếcạnh tranh đó Có nghĩa là nếu cho các hành vi đó có thể gây hạn chế cạnh tranh thì cầnphải xem xét các hạn chế đó có ảnh hưởng đến nền kinh tế, nó có làm cho bối cảnh kinh

tế không phát triển bị độc quyền, không cho các cửa hàng khác tham gia Hay tạo điềukiện thuận lợi hơn, có nhiều đối thủ cạnh tranh sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp sángtạo hơn, linh hoạt hơn và từ đó có nhiều lĩnh vực khác cùng phát triển Nếu những điềukhoản đó vi phạm Điều 81TEC, nhưng thỏa mãn 4 điều kiện quy định tại Điều 81, thìchúng vẫn được miễn trừ

Trên cơ sở phán quyết của ECJ trong án lệ này, ủy ban Châu Âu đã ban hành 5quyết định miễn trừ áp dụng Điều 81 TEC cho các hạn chế cạnh tranh trong họp đồngNQTM liên quan đến độc quyền về khu vực kinh doanh, nghĩa vụ không cạnh tranh củaBNHQ, giới hạn về khách hàng Đặc biệt, ủy ban Châu Âu cũng đã ban hành Nghịđịnh số 4087/88 về việc áp dụng Điều 81 TEC đối với họp đồng NQTM, theo đó một

số hạn chế cạnh tranh trong họp đồng NQTM được tự động miễn trừ

Đến cuối năm 1999, đầu năm 2000, trên cơ sở “cải cách” PLCT của EU, ủy banChâu Âu đã ban hành Nghị định số 2790/1999 về việc áp dụng Điều 81 TEC đối vớicác thỏa thuận theo chiều dọc, và Hướng dẫn đối với Nghị định này để điều chỉnh cáchọp đồng NQTM Theo đó, nếu thị phàn trên thị trường liên quan của BNQ không vượtquá 30%, vả họp đồng NQTM không có các điều khoản hạn chế cạnh tranh nghiêm

Trang 32

19 Nghị định số 2790/1999 ban hành năm 1999

trọng, đặc biệt là hạn chế quyền tự định giá bán của BNHQ (trừ trường họp quy địnhgiá tối đa hay đưa ra khuyến cáo về giá) thì hợp đồng NQTM đó sẽ không vi phạmĐiều 81 hoặc sẽ được miễn trừ tự động Nếu họp đồng NQTM không tự động đượcmiễn trừ theo Nghị định số 2790/1999, họp đồng đó sẽ được xem xét trên cơ sở phântích bối cảnh kinh tế của nó, nhằm đánh giá tổng thể ảnh hưởng khuyến khích cạnhtranh và ảnh hưởng hạn chế cạnh tranh Đặc biệt, Hướng dẫn của ủy ban Châu Âu chophép thời hạn của nghĩa vụ không cạnh tranh trong họp đồng NQTM dài hơn (nhưngkhông quá thời hạn hiệu lực của họp đồng NQTM) nếu nghĩa vụ đó là càn thiết để duytrì bản sắc và uy tín của hệ thống NQTM, mặc dù Nghị định số 2790/1999 quy định nếuthời hạn của nghĩa vụ không cạnh tranh trong thỏa thuận theo chiều dọc nói chung vượtquá 5 năm thì thỏa thuận đó không được miễn trừ chung theo Nghị định này19

Như vậy theo nghị định 2790/1999 thì một họp đồng NQTM sẽ được tự độngmiễn trừ khi thị phàn trên thị trường liên quan của BNQ không vượt quá 30%, và họpđồng NQTM không có các điều khoản hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng, đặc biệt là hạnchế quyền tự định giá bán của BNHQ (trừ trường họp quy định giá tối đa hay đưa rakhuyến cáo về giá) thì họp đồng NQTM đó sẽ không vi phạm Điều 81 hoặc sẽ đượcmiễn trừ tự động Nếu họp đồng NQTM không tự động được miễn trừ theo Nghị định

số 2790/1999, họp đồng đó sẽ được xem xét trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế của

nó, nhằm đánh giá tổng thể ảnh hưởng khuyến khích cạnh tranh và ảnh hưởng hạn chếcạnh tranh Thị phần trcn thị trường hên quan của BNQ không vượt quá 30%, ví dụ: chỉ

có một doanh nghiệp nào đó kinh doanh hàng hóa là vải để phục vụ cho may mặc, haymột doanh nghiệp, công ty kinh doanh mặc hàng điện tử mà có thị phàn chiếm 30%trên thị trường liên quan cạnh tranh với một vài công ty khác nữa cùng kinh doanh điện

tử nhưng chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ trên thị trường Do đó các doanh nghiệp độcquyền này sẽ dùng sức mạnh của mình để bốc lột khách hàng, còn các doanh nghiệpthống lĩnh thì sẽ loại bỏ các doanh nghiệp còn lại để được độc quyền bằng cách hạ giáhoặc tăng giá mua trong một khoản thời gian dài đủ để có thể làm cho các doanh nghiệp

khác phá sản Những hành vi này thường làm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạmdụng vị trí độc quyền Xét trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế của nó, nhằm đánh giátổng thể ảnh hưởng khuyến khích cạnh tranh và ảnh hưởng hạn chế cạnh là: khuyếnkhích cạnh tranh là làm cho môi trường cạnh tranh phát triển hơn, tạo điều kiện cho nềnkinh tế phát triển Ảnh hưởng hạn chế cạnh tranh là làm giảm cạnh tranh là việc cạnh

Trang 33

tranh trên thị trường đang tồn tại và phát triển mạnh nhưng có một số doanh nghiệpngồi lại với nhau để bàn bạc làm cho số lượng doanh nghiệp cạnh tranh giảm bớt Vídụ: như có 50 doanh nghiệp đối đầu nhau để tồn tại trên thị trường sau khi ngồi lại bànbạc thì chỉ còn 20 doanh nghiệp đối đầu nhau, còn 30 doanh nghiệp còn lại có thể thỏathuận với nhau về giá, thị trường tiêu thụ, nguyên liệu w sẽ ảnh hưởng đến môitrường cạnh tranh, làm cho sức cạnh tranh của các doanh nghiệp bị giảm, không cònlinh hoạt và sáng tạo nữa.

Vì vậy, đối với Liên minh Châu Âu thì để xem xét các thỏa thuận trong họpđồng nhượng quyền thương mại có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không, thìcàn phải xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau; một là xem những hạn chế đó có rơi vàotrường họp được chấp nhận trong họp theo quy định là không vi phạm pháp luật cạnhtranh hay không, hai là xét xem chúng có rơi vào trường họp được tự động miễn trừtheo Nghị định số 2790/1999, nếu những hạn chế rơi vào trường hợp được miễn trừ thìhọp đồng đó sẽ được xem xét trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế của nó, nhằm đánhgiá tổng thể ảnh hưởng khuyến khích cạnh tranh và ảnh hưởng hạn chế cạnh tranh Rồimới kết luận chúng có vi phạm pháp luật cạnh tranh

2.1.2. Nhượng quyền thương mại dưói góc độ của pháp luật cạnh tranh ở Mỹ

Một trong những nguyên tắc cơ bản của PLCT của Mỹ là một hành vi hạnchế cạnh tranh chỉ bị cấm khi nó hạn chế thương mại một cách bất họp lý Vì vậy, cáchành vi hạn chế cạnh tranh thường phải được xem xét trên nguyên tắc lập luận họp lý,tức phải được phân tích một cách toàn diện trên cơ sở bối cảnh kinh tế của chúng Cácảnh hưởng khuyến khích cạnh tranh và các ảnh hưởng hạn chế cạnh tranh của một hành

vi hạn chế cạnh tranh phải được phân tích, đánh giá chi tiết, kỹ lưỡng nhằm xác địnhxem hạn chế cạnh tranh đó về bản chất có tác dụng khuyến khích cạnh tranh hay thực

sự ngăn cản cạnh tranh

Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh khi áp dụng nguyên tắc lập luận họp lý nhằmphân tích các khía cạnh kinh tế của một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các phân tíchkinh tế nhu vậy thường rất phức tạp, kéo dài, nhiều lúc không đem lại kết quả, và tạonên sự không chắc chắn cho các doanh nghiệp, vì họ không biết các thỏa thuận có xuhướng hạn chế cạnh tranh của họ có vi phạm PLCT hay không Vì vậy, Tòa án Tối cao(TATC) Mỹ đã khẳng định, nếu một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thỏa mãn hai điềukiện: một là, có các ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh tranh, và hai là, không có các tácdụng thúc đẩy cạnh tranh để bù lại, tức không có sự biện minh họp lý về tính hiệu quả

Trang 34

20 Continental T.v Inc V GTE Sylvania, 433 u.s 36,40 & 50-59 (1977).

của hành vi, thì thỏa thuận đó mặc nhiên vi phạm PLCT mà không càn phải tiến hànhcác phân tích toàn diện theo nguyên tắc lập luận họp lý

Trong án lệ Sylvania20, TATC Mỹ đã xem xét một quy định trong họp đồngNQTM cấm BNHQ bán sản phẩm của BNQ ngoài khu vực đã thống nhất truớc có phải

là một hạn chế thương mại bất họp lý vi phạm PLCT (Điều 1 Đạo luật Sherman) haykhông Tòa án này cho rằng, những hạn chế cạnh tranh như vậy làm giảm cạnh tranhđối với một thương hiệu nhất định của một loại sản phẩm (trong án lệ này là cạnh tranhgiữa các BNHQ từ Sylvania - BNQ), nhưng trên thực tế có thể thúc đẩy cạnh tranhgiữa các thương hiệu khác nhau của cùng một loại sản phẩm (trong án lệ này là cạnhtranh giữa các BNQ với nhau, tức giữa Sylvania và các đối thủ của nó) Cơ chế thịtrường luôn tồn tại những khiếm khuyết như ảnh hưởng “ngư ông đắc lợi”, tức một haymột số doanh nghiệp (như BNQ) phải mất nhiều chi phí đầu tư ban đầu để cải tiến, sángtạo, quảng cáo, thiết lập thị trường, xây dựng thương hiệu ; trong khi một số doanhnghiệp (như BNHQ hoặc các đối thủ cạnh tranh của BNQ) chỉ “ăn theo”, không tốncác chi phí đầu tư ban đầu, có thể hưởng lợi từ sự đầu tư của doanh nghiệp khác(BNQ) Điều này khiến cho các doanh nghiệp đầu tư ban đầu (BNQ) phải chia xẻ lợinhuận và dẫn đến không có động lực để tiến hành đầu tư tiên phong ban đầu Vì vậy,trong hoạt động NQTM, BNQ chỉ có thể an tâm nhượng quyền khi các BNHQ chấpnhận những hạn chế nhất định (như hạn chế nhất định về lãnh thổ, về khách hàng,không bán các sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh của BNQ ), và ngược lạiBNHQ chỉ có thể thực sự quyết tâm đầu tư, mua quyền thương mại khi có được sự bảođảm về việc độc quyền phân phối, bán sản phẩm trong một địa bàn địa lý nhất định từphía BNQ Với những hạn chế về cạnh tranh như vậy, BNHQ mới có thể tạo chổ đứngcho mình trên thị trường, hay BNQ mới có thể duy trì và phát triển hoạt động NQTMcủa mình, qua đó góp phàn thúc đẩy cạnh tranh giữa các bên nhượng quyền của mộtloại sản phẩm Điều này khiến giá trị khuyến khích cạnh tranh về tổng thể lớn hơn ảnhhưởng hạn chế cạnh tranh giữa các BNHQ của một thương hiệu nhất định

Qua vụ việc trên cho ta thấy được những quy định trong họp đồng NQTM dướigóc độ pháp luật cạnh tranh ở Mỹ như sau: Trong họp đồng NQTM nếu BNQ muốn antâm nhượng quyền thì buộc BNHQ phải chịu một số hạn chế nhất định như: Hạn chếnhất định về lãnh thổ, về khách hàng, không bán các sản phẩm cùng loại của các đối thủ

cạnh tranh của BNQ Và ngược lại BNHQ chỉ mua quyền thương mại khi được BNQbảo đảm về việc độc quyền phân phối, bán sản phẩm trong một địa bàn địa lý nhất định

Ngày đăng: 22/12/2015, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w