1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề pháp lý về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

94 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 821,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến với các Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, người có nhu cầu có thể được tư vấn, hỗ trợ về từng vấn đề cụ thể của mình gặp phải khi tham gia vào quan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHỬ THỊ KIM QUY

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, HỖ TRỢ HÔN NHÂN

VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60380108

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Phương Lan

HÀ NỘI – NĂM 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Thị Phương Lan

Tôi xin cam đoan rằng tất cả các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều

Trang 3

CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, HỖ TRỢ HÔN NHÂN

VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

7

1.1 Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 7

1.1.1 Khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố

nước ngoài

7

1.1.2 Yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài

8

1.1.3 Phân loại quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố

nước ngoài

12

1.2 Tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 15

1.2.1 Khái niệm hoạt động tư vấn, hỗ trợ và khái niệm tổ

chức tư vấn, hỗ trợ

15

1.2.2 Các phương thức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài

18

1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của trung tâm tư

vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

19

CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT

NAM VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, HỖ TRỢ

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

24

2.1 Nguyên tắc hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nước ngoài

24

2.2 Điều kiện thành lập trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân 28

Trang 4

và gia đình có yếu tố nước ngoài

2.3 Thủ tục đăng ký hoạt động và cấp lại giấy đăng ký hoạt

động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có

yếu tố nước ngoài

31

2.4 Thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động của Trung

tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

32

2.5 Chấm dứt hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn

nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

33

2.6 Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn

nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

34

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, HỖ

TRỢ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC

NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA HOẠT ĐỘNG NÀY

50

3.1 Thực trạng hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

50

3.1.1 Thực trạng chung của hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn

nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

50

3.1.2 Thực trạng hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ

hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

54

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao

chất lượng hoạt động tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình có

yếu tố nước ngoài

66

3.2.1 Đối với hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục

pháp luật về hôn nhân và gia đình và quan hệ hôn nhân và

67

Trang 5

gia đình có yếu tố nước ngoài

3.2.2 Đối với hoạt động hỗ trợ lẫn nhau giữa các quốc gia

khi thực hiện hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài

70

3.2.3 Đối với hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn

nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

71

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời sống xã hội mà đã ngày càng trở nên phổ biến Những gia đình

có những thành viên không cùng quốc tịch, sinh sống tại nhiều quốc gia khác nhau hoặc có tài sản nằm tại nhiều quốc gia không còn là hiện tượng cá biệt Cũng như mọi quan hệ xã hội khác, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cần được sự điều chỉnh của pháp luật Vì vậy, nghiên cứu các vấn

đề pháp lý liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là cần thiết

Thực tế cho thấy, công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài còn rất nhiều “bỡ ngỡ”, thiếu kiến thức pháp lý, thiếu kinh nghiệm ứng xử Điều này dẫn tới hệ quả là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bên cạnh việc mang lại những kết quả tốt đẹp đối với gia đình và xã hội, cũng mang lại không ít tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam Chính vì vậy, Nhà nước bằng pháp luật đã có một cơ chế để giúp đỡ, hỗ trợ cho công dân Việt Nam khi họ tham gia vào các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đó là quy định về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Kể từ đây, công dân Việt Nam không những được nâng cao nhận thức

về pháp luật hôn nhân và gia đình, về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau; mà khi có nhu cầu được tư vấn

và hỗ trợ về từng vấn đề cụ thể liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có thể tìm đến tổ chức có tên gọi là Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Trang 7

Đến với các Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, người có nhu cầu có thể được tư vấn, hỗ trợ về từng vấn đề cụ thể của mình gặp phải khi tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như: được giới thiệu người nước ngoài để kết hôn; được giúp đỡ chuẩn bị và hoàn tất hồ sơ đăng ký kết hôn; được giúp đỡ tìm hiểu về hoàn cảnh cá nhân, gia đình của bên kết hôn với mình; được trau dồi kiến thức về pháp luật, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, nhập cư của nước ngoài; Mặc dù, pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đã có những quy định tương đối cụ thể về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng trên thực tế, các hoạt động tư vấn, hỗ trợ này vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi, đặc biệt là hoạt động tư vấn, hỗ trợ của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa quan trọng nhằm tìm ra giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của Trung tâm

tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như nâng cao chất lượng các hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khác tại Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là một vấn đề không mới nhưng lại là vấn đề tương đối phức tạp, mang tính thời sự luôn được các quốc gia quan tâm Do đó, lĩnh vực này cũng được nhiều học giả tìm hiểu, nghiên cứu Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Nông Quốc

Bình, Nguyễn Hồng Bắc (Đồng chủ biên, 2011), Quan hệ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nước ngoài, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư Pháp,

Hà Nội; Nguyễn Thị Thu Phương (2015), Một số quy định của pháp luật Việt

Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ hội nhập, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;

Trang 8

Nguyễn Hồng Bắc (2015) “Những điểm mới của pháp luật Việt Nam điều

chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”, Luật học (5) tr 3

– 12; .Những nghiên cứu chuyên sâu này của các tác giả đã làm rõ được những vấn đề lý luận và thực tiễn về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Vấn đề quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu là vậy nhưng số lượng công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến vấn đề pháp lý về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam còn rất hiếm hoi Trong giai đoạn trước đây, khi mà hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp đó là hỗ trợ trong lĩnh vực kết hôn thì có một số đề tài nghiên cứu về Trung tâm hỗ trợ kết hôn có

yếu tố nước ngoài đã được công bố như: Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Quy

định của pháp luật về trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội; Nguyễn

Thị Lan Thu (2012), Quy định của pháp luật về trung tâm hỗ trợ kết hôn có

yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật

Hà Nội, Hà Nội;

Hiện nay, khi hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng là hỗ trợ trong tất cả các lĩnh vực của hôn nhân và gia đình như: kết hôn, ly hôn, quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ

và con, thì xét ở khía cạnh luận văn thạc sĩ luật học, vấn đề pháp lý về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam là đề tài rất mới mẻ, cần được khai thác

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 9

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

+ Đối với tổ chức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam: luận văn nghiên cứu về Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

+ Đối với hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam: luận văn nghiên cứu về một số hoạt động như: tuyên truyền phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình và quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; hoạt động hỗ trợ lẫn nhau giữa các quốc gia khi thực hiện hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; hoạt động tư vấn, hỗ trợ của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề pháp lý cơ bản về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Bên cạnh

đó, luận văn nêu lên thực trạng hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, đánh giá nguyên nhân của thực trạng này Trên cơ sở tìm hiểu quy định của pháp luật và thực trạng của hoạt động này trong thực tế, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Luận văn được xây dựng để trả lời cho ba câu hỏi chính:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về tổ chức và hoạt

động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài?

Thứ hai, thực trạng một số hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia

Trang 10

đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam diễn ra như thế nào?

Thứ ba, giải pháp nào có thể đưa ra để hoàn thiện quy định của pháp

luật cũng như nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài?

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Để có những thông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp, thông qua việc tham khảo các tài liệu đã được công bố

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Bên cạnh

đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, so sánh, tổng hợp, diễn giải

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trong bối cảnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài xuất hiện ngày càng phổ biến về số lượng và diễn biến ngày càng phức tạp về tính chất, luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống lý luận và thực tiễn

về một cơ chế mà Nhà nước Việt Nam ban hành với mục đích giúp đỡ, hỗ trợ cho công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài Cơ chế đó là tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Luận văn nghiên cứu những vấn đề pháp lý về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đối chiếu các quy định của pháp luật với thực tiễn của hoạt động này trong đời sống xã hội Trên cơ

sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,

Trang 11

nội dung của Luận văn được gồm 03 chương:

- Chương 1: Những vấn đề pháp lý cơ bản về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

- Chương 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

- Chương 3: Thực trạng hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, HỖ TRỢ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Quan hệ hôn nhân và gia đình là quan hệ xã hội tồn tại một cách khách quan Đó là những quan hệ gắn bó giữa cá nhân với cá nhân trong gia đình và ứng xử đời thường giữa họ là sự quan tâm, nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc lẫn nhau1

Thông thường, quan hệ hôn nhân và gia đình xuất hiện trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia Tuy nhiên, hiện nay, do sự phát triển của các mối giao lưu dân sự quốc tế nên tập hợp những người tạo nên gia đình trong xã hội hiện đại không chỉ bó hẹp giữa các thành viên có cùng quốc tịch và cùng nơi

cư trú mà còn được mở rộng giữa các thành viên có quốc tịch hoặc nơi cư trú khác nhau Điều đó có nghĩa là quan hệ hôn nhân và gia đình đã vượt ra khỏi biên giới mỗi quốc gia và mang những yếu tố nước ngoài rõ nét Chính vì vậy, việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

đã trở thành một yêu cầu quan trọng, nhằm làm ổn định và phát triển các giao lưu dân sự quốc tế, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các nước có liên quan Nhận thức được vấn đề này, trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ lâu chế định hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã là một trong những chế định quan trọng của Tư pháp quốc tế Việt Nam

Kế thừa quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình năm

1

Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, TP Hồ Chí Minh, tr 7

Trang 13

2014 đã khái quát khái niệm “quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước

ngoài” tại khoản 25 Điều 3, cụ thể như sau: “Quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan

hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”

Như vậy, có thể hiểu quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài gồm:

- Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

- Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam

- Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa người Việt Nam với nhau mà có

ít nhất một bên định cư ở nước ngoài

- Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ

2

Bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình Đại học Luật Hà Nội (2015), Hướng dẫn học tập và tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Lao Động, Hà Nội, tr 176

Trang 14

sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình đó cũng như trong việc tư vấn, hỗ trợ cho người dân để quyền và lợi ích hợp pháp của họ không bị xâm phạm Trước đây, yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình

2000 Hiện nay, yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình được thể hiện tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể như sau:

Thứ nhất, ít nhất một bên chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia

đình là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người nước ngoài theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Quốc tịch

2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Quốc tịch) là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam Như vậy, theo định nghĩa này, người nước ngoài bao gồm:

- Người có quốc tịch nước ngoài (là người có quốc tịch một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam3)

- Người không quốc tịch (là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài4)

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều

3 Luật Quốc tịch là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài

Trước đây, khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 không quy định chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng chủ thể này lại được quy định tại khoản 4 Điều 100 Điều này gây ra cách hiểu không nhất quán về chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã khắc phục nhược điểm này bằng cách quy định rõ

Trang 15

ràng về các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như trên

Thứ hai, khách thể của quan hệ hôn nhân và gia đình đó ở nước ngoài

Khách thể của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có thể là tài sản, quyền tài sản Tài sản với tính chất là khách thể của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là tài sản ở nước ngoài Trong trường hợp này chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình (các thành viên trong gia đình) đều là công dân Việt Nam và cùng cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và

họ có tài sản ở nước ngoài

Bên cạnh tài sản và quyền tài sản thì quyền nhân thân giữa các thành viên trong gia đình cũng là khách thể của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Thứ ba, căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia

đình đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài

Căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật là sự kiện pháp lý Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định về sự kiện pháp

lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại điểm c khoản 14 Điều 8 cụ thể như sau: sự kiện pháp lý trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là sự kiện theo pháp luật nước ngoài Quy định như vậy là “chưa chính xác và hợp lý, không bao quát được các trường hợp phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài”5 Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã có quy định một cách đầy đủ hơn.Theo đó, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài phải là sự kiện pháp lý phát sinh tại nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài

5

Nguyễn Hồng Bắc (2015) “Những điểm mới của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nước ngoài”, Luật học (5) tr 3 – 12

Trang 16

Sự kiện pháp lý có thể là sự biến pháp lý hoặc hành vi pháp lý… phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm:

- Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ như: trường hợp các bên kết hôn có cùng quốc tịch nhưng việc kết hôn được tiến hành ở nước ngoài (nước

mà các bên không mang quốc tịch) Trong trường hợp này hành vi kết hôn đã làm phát sinh quan hệ vợ chồng có yếu tố nước ngoài giữa các chủ thể kết hôn Trong trường hợp khác, khi một đứa trẻ được sinh ra tại nước ngoài thì

sự biến pháp lý này làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con có yếu tố nước ngoài giữa cha mẹ và đứa trẻ

- Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ như trường hợp tòa án nước ngoài có quyết định cho phép vợ chồng ly thân (khi vợ chồng cư trú ở nước ngoài) là sự kiện pháp lý không khiến quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chấm dứt nhưng khiến quan hệ về nhân thân và tài sản của vợ chồng thay đổi

- Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thông thường là sự kiện ly hôn Trong trường hợp này hành vi ly hôn khiến cho quan hệ vợ chồng giữa các bên chủ thể chấm dứt Trong trường hợp khác khi một bên vợ hoặc chồng chết thì sự biến pháp lý này sẽ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng

Trong thực tế, một sự kiện pháp lý xảy ra có thể không chỉ làm phát sinh, làm thay đổi hoặc làm chấm dứt một quan hệ hôn nhân và gia đình nhất định mà nó có thể vừa làm chấm dứt quan hệ này và vừa làm phát sinh một quan hệ khác, điển hình là sự kiện nhận nuôi con nuôi Khi sự kiện nhận nuôi con nuôi xảy ra, quan hệ cha mẹ và con giữa cha mẹ đẻ và con đẻ có thể chấm dứt nhưng nó lại làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Trang 17

1.1.3 Phân loại quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Giống như quan hệ hôn nhân và gia đình thông thường, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm:

 Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

thì: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy

định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Kết hôn là thủ tục

pháp lý bắt buộc để xác lập quan hệ vợ chồng

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật nước ta, chưa có định nghĩa cụ thể về kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng căn cứ vào khái niệm kết hôn và khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì có thể hiểu: kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau mà ít nhất một bên nam, nữ là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc hai bên nam, nữ đều là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Dựa trên các điều kiện chính trị, kinh tế, phong tục tập quán khác nhau

mà pháp luật các nước khác nhau đưa ra các quy định không giống nhau cho việc xác định tính hợp pháp của việc kết hôn Thông thường, để xác định một hôn nhân có hợp pháp hay không, pháp luật các nước dựa vào hai tiêu chí pháp lý chủ yếu đó là điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn

 Quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài

Quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ được xác lập trên cơ sở của việc kết hôn phù hợp với quy định của pháp luật Hiện nay, trong các văn bản pháp luật nước ta, chưa có định nghĩa cụ thể về quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài Nhưng căn cứ vào khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 18

có thể hiểu: Quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài là quan hệ giữa

vợ và chồng mà ít nhất một bên vợ chồng là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ giữa vợ và chồng đều là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Quan hệ vợ chồng bao gồm hai nhóm quan hệ là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng là quan hệ được hình thành trên cơ sở những chế định pháp luật gắn liền với nhân thân của các bên chủ thể như tên gọi, quốc tịch, uy tín, danh dự, nhân phẩm của các bên, đồng thời

nó cũng xuất phát từ tình cảm của các bên trong quan hệ vợ chồng như tình yêu và trách nhiệm của mỗi bên trong quan hệ vợ chồng Quan hệ tài sản giữa

vợ chồng là quan hệ liên quan đến lợi ích vật chất của các bên vợ chồng đối với tài sản Để đảm bảo quyền lợi vật chất của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân, pháp luật của tất cả các nước đều quy định điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng

Nội dung cụ thể của quy định về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ chồng có sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật của các nước tùy theo chế độ chính trị, chế độ kinh tế và phong tục, tập quán của mỗi nước

 Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nếu như kết hôn là cơ sở để hình thành một quan hệ vợ chồng dựa trên

sự tự nguyện của các bên chủ thể thì ly hôn là sự tự nguyện của ít nhất một bên vợ hoặc chồng làm cơ sở để chấm dứt quan hệ vợ chồng Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ vào ý chí tự nguyện này để xem xét cho phép

vợ chồng ly hôn

Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 thì “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Ở Việt Nam cũng như đại đa số các nước

Trang 19

trên thế giới thì cơ sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ vợ chồng bằng việc ly hôn là một bản án của tòa án có thẩm quyền Tuy nhiên, “ở một số nước như Đài Loan, Nhật Bản, trong trường hợp nếu vợ chồng thuận tình ly hôn thì có thể tới cơ quan công chứng, hộ tịch để làm thủ tục công nhận sự thuận tình ly hôn của họ”6 Như vậy, ở các nước này việc ly hôn có thể được thực hiện bằng một thủ tục hành chính do cơ quan có thẩm quyền thực hiện

 Quan hệ giữa cha, mẹ và con có yếu tố nước ngoài

Quan hệ giữa cha, mẹ và con phát sinh dựa trên hai sự kiện pháp lý đó

là sự kiện sinh đẻ và sự kiện nhận nuôi con nuôi Nếu như quan hệ giữa cha,

mẹ đẻ và con đẻ là quan hệ gia đình huyết thống được hình thành một cách tự nhiên thì quan hệ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi là quan hệ được hình thành

do quyết định của cơ quan có thẩm quyền dựa trên cơ sở ý chí của cha, mẹ nuôi và con nuôi

Quan hệ giữa cha, mẹ và con có yếu tố nước ngoài phát sinh khi một bên tham gia quan hệ giữa cha, mẹ và con là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài (ví dụ như: cha, mẹ là công dân Việt Nam có con là công dân nước ngoài hoặc đang định cư ở nước ngoài ) Ngoài ra, quan

hệ giữa cha, mẹ và con có yếu tố nước ngoài còn phát sinh khi cha, mẹ, con

có cùng quốc tịch nhưng sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ giữa cha, mẹ và con xảy ra ở nước ngoài (ví dụ như: cha, mẹ cấp dưỡng cho con ở nước ngoài…) hoặc tài sản liên quan đến quan hệ giữa họ ở nước ngoài (ví dụ như: cha, mẹ, con đều là công dân Việt Nam nhưng tranh chấp với nhau về tài sản ở Nhật Bản…)

 Quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 thì: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài

6

Nông Quốc Bình, Nguyễn Hồng Bắc (Đồng chủ biên, 2011), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr.35

Trang 20

sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình

mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể về cấp dưỡng

có yếu tố nước ngoài, nhưng căn cứ vào định nghĩa cấp dưỡng có thể hiểu: Cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình trên lãnh thổ một quốc gia hoặc cùng sống trên lãnh thổ một quốc gia nhưng người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng khác quốc tịch mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động

và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu

1.2 Tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Khái niệm hoạt động tư vấn, hỗ trợ và khái niệm tổ chức tư vấn, hỗ trợ

1.2.1.1 Khái niệm hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Theo từ điển tiếng việt, tư vấn có nghĩa là “góp ý về những vấn đề được hỏi đến”, hỗ trợ có nghĩa là “thực hiện những hành vi để giúp đỡ lẫn nhau” Trong mối quan hệ thông thường giữa con người với nhau, việc góp ý, giúp

đỡ là tùy thuộc vào khả năng của người góp ý, người giúp đỡ trên cơ sở sự tự nguyện của họ

Con người trong xã hội hiện đại không thể không có sự tương tác qua lại với cộng đồng Vì thế, hoạt động tư vấn, hỗ trợ lẫn nhau ngày càng được khuyến khích thực hiện Hoạt động tư vấn, hỗ trợ có thể được thực hiện trên danh nghĩa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, trên cơ sở tự nguyện

Trang 21

xuất phát từ tình cảm hoặc hướng tới mục đích có đi có lại Hoạt động tư vấn,

hỗ trợ có thể thực hiện trên danh nghĩa của tổ chức đối với tổ chức hoặc đối với cá nhân trên cơ sở hợp đồng và hướng tới mục đích lợi nhuận Bên cạnh

đó, hoạt động tư vấn, hỗ trợ cũng có thể được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, tổ chức do nhà nước thành lập Các cơ quan, tổ chức tư vấn này hoạt động trên cơ sở quản lý điều hành của nhà nước hướng tới mục đích hỗ trợ người dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nước mình, vì mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội

Nhà nước thực hiện nhiều hoạt động tư vấn, hỗ trợ khác nhau đối với công dân của mình, trong đó có hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài Với vai trò là chủ thể đặc biệt trong quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng, Nhà nước bằng pháp luật một mặt thành lập các tổ chức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để tư vấn, hỗ trợ cho người dân, mặt khác Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm cho các tổ chức này hoạt động một cách hợp pháp và có hiệu quả

Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm chính thức

về hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên có thể hiểu: hoạt động tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình là hoạt động của nhà nước, tổ chức, cá nhân nhằm giúp đỡ cho công dân Việt Nam, người nước ngoài có nhu cầu khi tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật

Nội dung của hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài rất đa dạng, có thể là việc tư vấn, giải đáp những thắc mắc xung quanh các vấn đề như kết hôn, ly hôn hay nhận nuôi con nuôi…có yếu tố nước ngoài Việc tư vấn, hỗ trợ có thể là tư vấn, hỗ trợ về pháp luật, tư vấn về tâm lý, hay tư vấn về xã hội, đất nước, con người…Các hoạt động kể trên đều

Trang 22

hướng tới mục đích đó là giúp đỡ các chủ thể tham gia vào quan hệ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài hiểu biết về những thông tin, nội dung cần thiết khi tham gia quan hệ xã hội này để phòng tránh được những rủi ro và bảo vệ được quyền lợi ích hợp pháp của họ

1.2.1.2 Tổ chức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ xã hội hết sức phức tạp bởi sự khác nhau về quốc tịch, ngôn ngữ, phong tục, tập quán…của các bên chủ thể tham gia Sự khác biệt này không chỉ đơn thuần mang đến nhiều khó khăn, bất lợi cho các bên chủ thể mà nó còn tạo ra nguy

cơ lớn trong việc quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm Chính vì lý do đó, việc thành lập tổ chức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài là nhu cầu bức thiết của xã hội với mục đích tạo ra một địa chỉ tin cậy cho công dân Việt Nam và người nước ngoài có nhu cầu được

tư vấn, hỗ trợ tìm đến để được tư vấn, hỗ trợ về pháp luật cũng như về các vấn

đề khác có liên quan

Ở Việt Nam, tổ chức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thành lập với tên gọi là “Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài xuất hiện khi Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ - CP ngày 28 tháng 3 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây viết tắt là Nghị định số 24/2013/NĐ – CP) Và sau đó, khái niệm này được tiếp tục ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Hiện nay, không có định nghĩa chính thức về Trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn

Trang 23

thi hành có thể hiểu: Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, được Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam thành lập khi đáp ứng được điều kiện thành lập theo quy định của pháp luật, để thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật

và hỗ trợ cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình và các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội

1.2.2 Các phương thức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có thể được thực hiện thông qua các trung tâm tư vấn, hỗ trợ, mà người trực tiếp thực hiện hoạt động tư vấn, hỗ trợ này là tư vấn viên Ngoài ra, trên thực tế, hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài còn được thực hiện phổ biến thông qua các văn phòng luật, công ty luật, người tư vấn trong trường hợp này là luật sư Tuy nhiên, mục đích của hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình được thực hiện bởi các văn phòng luật, công ty luật

là lợi nhuận Mục đích này là không giống với mục đích hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Các trung tâm

tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài do Hội liên hiệp phụ

nữ thành lập hoạt động dựa trên nguyên tắc phi lợi nhuận Như đã nói ở phần

mở đầu, nội dung luận văn chỉ đề cập đến hoạt động tư vấn, hỗ trợ phi lợi nhuận của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài mà không đề cập đến hoạt động tư vấn, hỗ trợ hướng tới mục đích là lợi nhuận của các tổ chức khác

Trong thực tế hiện nay, các trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thực hiện hoạt động tư vấn, hỗ trợ với nhiều phương thức khác nhau như: tư vấn, hỗ trợ trực tiếp; tư vấn, hỗ trợ gián tiếp (qua điện thoại, qua các công cụ internet…), tư vấn, hỗ trợ cộng đồng

Trang 24

- Tư vấn, hỗ trợ trực tiếp được hiểu là phương thức tư vấn, hỗ trợ mà người tư vấn trực tiếp nói chuyện với người có nhu cầu tư vấn, hỗ trợ để nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của họ và đưa ra những góp ý hoặc những hỗ trợ khác cho họ nếu cần

- Tư vấn, hỗ trợ gián tiếp là phương thức tư vấn, hỗ trợ mà người tư vấn và người có nhu cầu tư vấn, hỗ trợ không trực tiếp nói chuyện với nhau

mà việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và đưa ra những góp ý, lời khuyên thông qua trao đổi bằng điện thoại, thư điện tử hoặc thư tay…

- Tư vấn, hỗ trợ cộng đồng có thể hiểu là phương thức tư vấn, hỗ trợ thông qua việc tổ chức các hội thảo, chương trình, hoặc phổ biến, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, đại chúng Hình thức tư vấn, hỗ trợ này hướng tới nhiều đối tượng chứ không chỉ hướng tới một đối tượng cụ thể như hai hình thức tư vấn trên

Trên thực tế, hình thức tư vấn, hỗ trợ trực tiếp được sử dụng phổ biến hơn cả Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, khi người có nhu cầu tư vấn, hỗ trợ không có điều kiện để trực tiếp đến các trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài thì hình thức tư vấn, hỗ trợ gián tiếp là phù hợp và có hiệu quả Bên cạnh đó, hình thức tư vấn, hỗ trợ cộng đồng cũng đem lại nhiều hiệu quả khi nó giúp nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cho nhiều đối tượng trong xã hội

1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ra đời trên cơ sở quy định của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP Tuy nhiên, tiền thân của nó là Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì đã hình thành từ năm 2002 khi mà Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm

2002 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn

Trang 25

nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây viết tắt là: Nghị định số 68/2002/NĐ-CP) có hiệu lực pháp luật

Thời điểm đó, xuất phát từ việc mở rộng giao lưu quốc tế, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng xuất hiện Theo thời gian, số lượng quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài gia tăng nhanh chóng Những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã mang đến nhiều kết quả tốt đẹp mà điển hình là sự giao thoa về văn hóa, truyền thống và phong tục tập quán giữa các quốc gia Nhưng bên cạnh đó, những cuộc hôn nhân không đúng mục đích, không xuất phát từ tình yêu cũng không phải là hiếm gặp Không những thế, một số Trung tâm môi giới hôn nhân thời điểm đó vì mục đích lợi nhuận còn đi ngược lại lợi ích của công dân được hỗ trợ

Đứng trước thực trạng đó, pháp luật Việt Nam đã thành lập một tổ chức

để hỗ trợ cho công dân Việt Nam khi họ có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài đó là Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài Việc thành lập các trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài nhằm giảm bớt những tác động tiêu cực do kết hôn có yếu tố nước ngoài mang lại và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam đặc biệt là phụ nữ Việt Nam

Quy định về trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài được thể hiện cụ thể trong Nghị định số 68/2002/NĐ – CP (có hiệu lực từ ngày 02/01/2003) Nghị định quy định nghiêm cấm hoạt động kinh doanh dịch vụ môi giới kết hôn hoặc lợi dụng việc hỗ trợ kết hôn để mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác Nghị định cũng quy định chỉ có các Trung tâm hỗ trợ kết hôn trực thuộc Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh mới được phép hoạt động hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài, còn các tổ chức và cá nhân khác hoạt động kinh doanh dịch vụ môi giới kết hôn đều là bất hợp pháp

Trang 26

Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài ra đời với mục đích tư vấn, giúp đỡ, hỗ trợ công dân Việt Nam tìm hiểu thủ tục pháp lý khi có nhu cầu kết hôn có yếu tố nước ngoài nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích của công dân Việt Nam đặc biệt là phụ nữ khi kết hôn với người nước ngoài Sự ra đời của Trung tâm hỗ trợ kết hôn đã tạo địa chỉ tin cậy cho phụ

nữ Việt Nam có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài đến để được tư vấn, hướng dẫn về điều kiện, thủ tục pháp lý trước khi kết hôn Đến đây, phụ nữ Việt Nam được giới thiệu, tìm hiểu các phong tục, tập quán và pháp luật nước

có đối tượng mình sẽ kết hôn Được trang bị những kiến thức cần thiết trong cuộc sống gia đình, giúp phụ nữ Việt Nam có thể khéo léo và chủ động trong ứng xử, giao tiếp sau khi kết hôn

Sau khi Nghị định số 68/2002/NĐ – CP được thay thế bởi Nghị định số 24/2013/NĐ-CP thì một số Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài đã chuyển đổi mô hình tổ chức và tên gọi theo quy định của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP, một số khác vẫn hoạt động với tên gọi Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Đến khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực pháp luật, đặc biệt là khi Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài (sau đây viết tắt là Nghị định số 126/2014/NĐ – CP) có

hiệu lực thì ngày càng nhiều các Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài đã chuyển đổi thành Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Hiện nay, Nghị định số 126/2014/NĐ – CP đã được sửa đổi một phần nội dung bởi Nghị định số 123/2015/NĐ – CP ngày 15/11/2015 của Chính Phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Tuy nhiên, những quy định của Nghị định số 126/2014/NĐ –

Trang 27

CP về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài vẫn còn giữ nguyên hiệu lực

Như vậy, pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành thừa nhận sự tồn tại đồng thời của hai hệ thống trung tâm là: Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài và Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài Việc thừa nhận sự tồn tại và hoạt động của hai hệ thống trung tâm trên thể hiện Nhà nước ta đã và đang khuyến khích hoạt động của các Trung tâm

tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ của người dân Thông qua đó, hạn chế những hoạt động lợi dụng hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để xâm phạm đến quyền và lợi ích của công dân Việt Nam

Trang 28

đi sâu tìm hiểu và làm rõ quy định của pháp luật về Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong chương tiếp theo

Trang 29

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, HỖ TRỢ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU

TỐ NƯỚC NGOÀI

Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thể hiện tại Nghị định số 126/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi nghị định số 123/2015/NĐ –

CP) sau đây viết tắt là “Nghị định 126/2014/NĐ – CP sửa đổi” Quy định

trong các văn bản này thể hiện nguyên tắc chung của hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và tập trung điều chỉnh về tổ chức

và hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, cụ thể như sau:

2.1 Nguyên tắc hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và

gia đình có yếu tố nước ngoài

Nguyên tắc hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được ghi nhận cụ thể tại Điều 52 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP sửa đổi Theo đó, hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phải đảm bảo:

Thứ nhất, nguyên tắc phi lợi nhuận, góp phần làm lành mạnh hóa quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, thuần phong mỹ tục của dân tộc Quan hệ hôn nhân và gia đình là quan hệ được thiết lập trên cơ sở tình cảm của hai bên nam và nữ, xuất phát từ tình yêu và hướng tới mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững Do đó, quan hệ này không thể bị chi phối bởi yếu tố lợi nhuận hoặc vì mục đích kinh tế Hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thể hiện tính nhân văn của nhà nước trong bảo vệ công dân của mình khi họ tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình

Trang 30

với người nước ngoài Chính vì vậy, hoạt động này cũng phải được thực hiện trên cơ sở của nguyên tắc phi lợi nhuận

Hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài không mang tính lợi nhuận Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn cho phép

Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài “được

nhận thù lao để trang trải chi phí hoạt động và được thanh toán chi phí thực

tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khi thực hiện hoạt động của mình vẫn được phép thu phí tư vấn nhưng những khoản thu này chỉ nhằm mục đích trang trải chi phí hoạt động như tiền tàu xe, tiền lưu trú và các chi phí thực tế hợp lý khác Kinh phí hoạt động của Trung tâm cũng như cơ sở vật chất, tiền công cho người thực hiện hoạt động này do Ngân sách Nhà nước chi trả

Không những thế, hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài phải góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân và gia đình, hạn chế thực trạng lợi dụng quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để kiếm lời dẫn đến hệ quả là những rủi ro xảy ra đối với công dân Việt Nam, đặc biệt là với phụ nữ như: kết hôn lừa dối, giả mạo; buôn bán người, bóc lột sức lao động…Từ đó, giúp cho quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài phù hợp với nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam và thuần phong mỹ tục của dân tộc như: nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng…

Thứ hai, các bên kết hôn có quyền được tư vấn, hỗ trợ về hôn nhân và

gia đình có yếu tố nước ngoài Việc tư vấn, hỗ trợ không phụ thuộc vào quốc tịch, nơi cư trú của người có yêu cầu

7

Xem điểm i khoản 1 Điều 55 Nghị định 126/2014/NĐ – CP sửa đổi

Trang 31

Nguyên tắc này thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của Nhà nước Việt Nam khi ghi nhận quyền được tư vấn, hỗ trợ của các bên kết hôn Theo đó, các bên kết hôn, không kể nam hay nữ đều có quyền được tư vấn, hỗ trợ Trung tâm

tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài luôn sẵn sàng chia

sẻ tâm tư, nguyện vọng với các bên kết hôn, đưa ra những lời khuyên đúng đắn, hướng dẫn, tư vấn pháp luật nhằm giúp các bên kết hôn lựa chọn được cách xử sự và hành động phù hợp, đúng quy định của pháp luật và đảm bảo được quyền lợi cho họ

Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng quy định việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình không phụ thuộc vào quốc tịch hoặc nơi cư trú của người có yêu cầu Điều đó có nghĩa là chỉ cần các bên kết hôn có yêu cầu thì

dù họ mang quốc tịch nào (quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch nước ngoài), cư trú ở đâu (trên lãnh thổ Việt Nam hay ngoài lãnh thổ Việt Nam) cũng đều có quyền được tư vấn, hỗ trợ Nguyên tắc này được biểu hiện cụ thể ở các quyền hạn mà pháp luật Việt Nam trao cho Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như: quyền tư vấn, giúp đỡ người nước ngoài tìm hiểu về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam8, quyền giới thiệu người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam để kết hôn khi công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài có nhu cầu giới thiệu9…

Thứ ba, nghiêm cấm lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác

Với ý nghĩa tốt đẹp, hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được Nhà nước khuyến khích thực hiện Tuy nhiên, trên

Trang 32

thực tế, do sức mạnh của đồng tiền, nhiều tổ chức, cá nhân đã lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để mua bán người, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động…

Nạn nhân chủ yếu của những hành vi này là phụ nữ, điều này là không thể phủ nhận Việt Nam đã và đang là điểm nóng của tội phạm mua bán phụ

nữ Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, trong xã hội hiện nay, không chỉ có phụ nữ mới là nạn nhân của tình trạng này Theo phóng sự của Đài truyền hình Việt Nam, từ năm 2011 – 2015, trên cả nước đã phát hiện trên 8.200 vụ xâm hại trẻ em với hơn 10.000 nạn nhân Trong đó, số vụ xâm hại tình dục chiếm tới 65% và có chiều hướng gia tăng xâm hại tình dục trẻ em nam Con

số này phần nào cho thấy trẻ em nam đang dần trở thành đối tượng bị tấn công10 và cần được bảo vệ

Nhận thức được vấn đề này, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và nghị

định hướng dẫn thi hành số 126/2014/NĐ – CP có quy định “Nghiêm cấm lợi

dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác” (khoản 3 Điều 52) Quy định này thể hiện rõ, đối tượng được

Nhà nước và pháp luật bảo vệ khỏi nạn mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục … không chỉ là phụ nữ và trẻ em nữ như quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành11 mà

cả nam giới và trẻ em nam cũng được Nhà nước và pháp luật bảo vệ

Trang 33

2.2 Điều kiện thành lập trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì chỉ có Hội Liên hiệp phụ nữ

có quyền quyết định thành lập Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài Trước khi hoạt động, trung tâm phải làm thủ tục đăng

ký với Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở Trên cơ sở xem xét hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp sẽ quyết định cấp hoặc từ chối cấp đăng ký hoạt động cho Trung Tâm

Để được thành lập, Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phải đáp ứng được các điều kiện được quy định tại Điều 53 Nghị định số 126/2014/NĐ – CP sửa đổi Cụ thể như sau:

Thứ nhất, trung tâm phải có quy chế hoạt động bảo đảm nguyên tắc

quy định tại Điều 52 của Nghị định số 126/2014/NĐ – CP sửa đổi được Hội Liên hiệp phụ nữ phê duyệt

Bất cứ một tổ chức nào cũng đều có quy chế hoạt động của riêng mình, Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng vậy Khi thành lập, trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cần dự kiến trước quy chế hoạt động này Quy chế hoạt động của mỗi trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khác nhau

là không giống nhau Tuy nhiên, dù khác nhau như thế nào thì quy chế hoạt động của mỗi trung tâm cũng cần đảm bảo các nguyên tắc chung của hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình đã được pháp luật quy định, đó là: nguyên tắc phi lợi nhuận; nguyên tắc các bên kết hôn đều có quyền được tư vấn, hỗ trợ, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú và nguyên tắc không lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác…

Trang 34

Thứ hai, trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước

ngoài cần có địa điểm, trang thiết bị, nhân lực cần thiết bảo đảm hoạt động của Trung tâm

Trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như các tổ chức, pháp nhân khác, để hoạt động được cần phải đảm bảo điều kiện về địa điểm, trang thiết bị và nhân lực

- Về địa điểm hoạt động của Trung tâm phải bảo đảm về diện tích, tiện

nghi làm việc, phù hợp với thực tiễn của từng địa phương Địa điểm này phải đảm bảo về diện tích phục vụ cho hoạt động của Trung tâm, là nơi thuận tiện cho người có nhu cầu tư vấn dễ dàng tìm đến Không những thế, trung tâm phải có trang thiết bị cần thiết, tiện nghi làm việc để phục vụ cho hoạt động của trung tâm như: máy tính, bàn ghế, phương tiện đi lại…

- Trung tâm cần có nhân lực cần thiết để đảm bảo hoạt động của Trung tâm Nhân lực là phần không thể thiếu đảm bảo cho hoạt động của Trung tâm Nguồn nhân lực cho hoạt động của Trung tâm phải đảm bảo về cả số lượng và chất lượng để có thể đáp ứng được nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ của người dân

Về số lượng, Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cần có một lượng nhân lực đảm bảo cho hoạt động tư vấn, hỗ trợ của Trung tâm Thực tiễn cho thấy, các Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cần có tư vấn viên chuyên trách và các cộng tác

viên Các cộng tác viên này có thể làm việc thường xuyên cho trung tâm hoặc

làm từng việc cụ thể

Về chất lượng đội ngũ nhân lực làm việc trong các Trung tâm tư vấn,

hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phải là những người có trình độ học vấn nhất định, có kiến thức pháp luật, có kinh nghiệm công tác, hiểu biết các kiến thức về văn hóa – xã hội của các nước trên thế giới…để việc tư vấn, hỗ trợ đạt hiệu quả cao nhất

Trang 35

Bên cạnh những yêu cầu về trình độ học vấn và hiểu biết xã hội, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo, phi lợi nhuận của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì những cán bộ làm việc trong các trung tâm phải làm việc với tinh thần nhân ái, không bị chi phối bởi yếu tố kinh tế, nhiệt tình, có tâm huyết với các hoạt động xã hội Bởi lẽ, những người đến với trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thông thường là chị em phụ nữ có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài, họ thường xuất thân từ những vùng nông thôn, điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp Họ đến với trung tâm mong được giúp đỡ vì vậy những cán bộ làm việc ở đây cũng phải có tinh thần tận tình, không màng lợi ích vật chất để giúp đỡ họ

Thứ ba, người dự kiến đứng đầu Trung tâm là người không có tiền án

Người đứng đầu trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài, đóng vai trò lãnh đạo, quản lý và điều hành mọi hoạt động của trung tâm, do đó, người này cần đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định Cụ thể là: trong trường hợp dự kiến người đứng đầu trung tâm, người này phải là người có nhân thân tốt, không có tiền án

Bên cạnh việc có nhân thân tốt, người đứng đầu trung tâm cũng cần thỏa mãn các điều kiện khác về chuyên môn nghiệp vụ như: trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác trong các lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa - xã hội, pháp luật phù hợp với lĩnh vực thực hiện tư vấn, hỗ trợ Như đã phân tích trên đây, đối với người chỉ thực hiện hoạt động tư vấn, hỗ trợ của trung tâm, những điều kiện về trình độ, chuyên môn trên đã là cần thiết để đảm bảo công việc, tư vấn, hỗ trợ có hiệu quả Còn đối với người đứng đầu Trung tâm, điều kiện này càng cần thiết hơn nữa để không những công việc tư vấn, hỗ trợ có hiệu quả

mà hoạt động quản lý, điều hành hoạt động của trung tâm cũng đảm bảo được chất lượng

Trang 36

2.3 Thủ tục đăng ký hoạt động và cấp lại giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài:

Điều 54 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP sửa đổi đã quy định cụ thể về thủ tục đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài Theo đó, Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài sau khi có quyết định thành lập, phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp, nơi đặt trụ sở của Trung tâm Thủ tục này trải qua các bước như sau:

Bước 1: Lập hồ sơ đăng ký hoạt động

Hồ sơ đăng ký hoạt động gồm các giấy tờ sau:

+ Tờ khai đăng ký hoạt động theo mẫu quy định12;

+ Bản sao Quyết định thành lập Trung tâm;

+ Giấy tờ chứng minh địa điểm đặt trụ sở của Trung tâm;

+ Phiếu lý lịch tư pháp của người dự kiến đứng đầu Trung tâm được cấp chưa quá 03 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ;

+ Bản sao quy chế hoạt động13

Bước 2: Nộp hồ sơ đăng ký

Hồ sơ đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ kết hôn có yếu

tố nước ngoài được nộp tại Sở Tư Pháp – nơi đặt trụ sở của Trung tâm Cán

bộ tiếp nhận hồ sơ sẽ kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ và viết giấy hẹn ngày nhận kết quả

Bước 3: Chấp nhận hoặc từ chối cấp Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm

Trang 37

Sau khi thẩm định hồ sơ đăng ký của Trung tâm, Sở Tư pháp có thể chấp nhận hoặc từ chối cấp Giấy đăng ký hoạt động

Trường hợp, chấp nhận cấp giấy đăng ký hoạt động thì trong thời hạn

05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp giấy đăng

ký hoạt động theo mẫu quy định cho Trung tâm14

Trường hợp từ chối cấp giấy đăng ký hoạt động thì Sở Tư pháp thông báo bằng văn bản cho Trung tâm, trong đó nêu rõ lý do từ chối

2.4 Thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Trong quá trình hoạt động, Trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có thể đề nghị Sở Tư pháp nơi cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của Trung tâm xác nhận việc thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động của Trung Tâm Thủ tục thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm được quy định cụ thể tại Điều 56 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP sửa đổi như sau:

Trường hợp thứ nhất, thay đổi về tên gọi, địa điểm đặt trụ sở của

Trung tâm

Trong trường hợp này, Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài phải có văn bản đề nghị ghi chú thay đổi, kèm theo giấy đăng ký hoạt động gửi Sở Tư pháp, nơi đăng ký hoạt động

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị ghi chú thay đổi của Trung tâm, Sở Tư pháp sẽ xác nhận nội dung thay đổi vào giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm

Trường hợp thứ hai, thay đổi người đứng đầu Trung tâm hoặc thay đổi

nội dung hoạt động của Trung tâm

14

Xem Phụ lục 2

Trang 38

Trong trường hợp này, Trung tâm phải có văn bản gửi Sở Tư pháp, nơi đăng ký hoạt động của Trung tâm, trong đó nêu rõ mục đích, nội dung, lý do thay đổi, kèm theo giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm Nếu thay đổi người đứng đầu Trung tâm thì còn phải có Phiếu lý lịch tư pháp của người dự kiến thay thế được cấp chưa quá 03 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ

Sở Tư pháp có thể chấp nhận hoặc từ chối đề nghị của Trung tâm Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu chấp nhận đề nghị của Trung tâm, Sở Tư pháp sẽ xác nhận nội dung thay đổi vào giấy đăng ký hoạt động Nếu từ chối đề nghị của Trung tâm thì Sở Tư pháp sẽ thông báo bằng văn bản cho Hội Liên hiệp phụ nữ và nêu rõ lý do

Trong cả hai trường hợp thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động kể trên, Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài hoặc Hội liên hiệp phụ nữ đã thành lập trung tâm phải có văn bản đề nghị gửi sở

Tư pháp nơi đăng ký hoạt động của Trung tâm, việc trung tâm tự ý thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động mà không có văn bản đề nghị gửi cơ quan có thẩm quyền là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 29 Nghị định số 110/2013/NĐ – CP của Chính phủ ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã; đã được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định số 67/2015/NĐ –

CP của Chính Phủ ngày 14/8/2015 (sau đây viết tắt là Nghị định số 110/2013/NĐ – CP)

2.5 Chấm dứt hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài

Việc chấm dứt hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 57 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP sửa đổi Theo đó, Trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài chấm dứt hoạt động trong trường hợp “Hội liên

Trang 39

hiệp phụ nữ quyết định giải thể Trung tâm” hoặc “Trung tâm bị tước quyền sử dụng giấy đăng ký hoạt động theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

Trong trường hợp Trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài giải thể theo quyết định của cơ quan chủ quản là Hội liên hiệp phụ nữ thì Hội Liên hiệp phụ nữ phải có văn bản thông báo về việc chấm dứt hoạt động của Trung tâm gửi Sở Tư pháp, nơi Trung tâm đăng ký hoạt động, chậm nhất 30 ngày trước ngày chấm dứt hoạt động của Trung tâm Sau khi có quyết định giải thể của Hội liên hiệp phụ nữ, Trung tâm phải nộp lại giấy đăng ký hoạt động cho Sở Tư pháp, nơi đã đăng ký hoạt động

Trong trường hợp Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài chấm dứt hoạt động vì bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy đăng ký hoạt động thì Cơ quan có thẩm quyền phải gửi cho Hội Liên hiệp phụ nữ quyết định tước quyền sử dụng giấy đăng ký hoạt động chậm nhất 30 ngày trước ngày Trung tâm bị buộc chấm dứt hoạt động Trước ngày chấm dứt hoạt động, Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bị giải thể hoặc bị buộc chấm dứt hoạt động có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ (nếu có) với tổ chức, cá nhân có liên quan và giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc chấm dứt hoạt động Đồng thời, Trung tâm phải báo cáo bằng văn bản gửi Hội Liên hiệp phụ nữ và

Sở Tư pháp, nơi đăng ký hoạt động

2.6 Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là

tổ chức có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Trong quá trình hoạt động, Trung tâm có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 55 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP sửa đổi bao gồm:

Trang 40

2.6.1 Quyền của Trung tâm

Thứ nhất, trung tâm tư vấn những vấn đề liên quan đến hôn nhân và

gia đình có yếu tố nước ngoài cho công dân Việt Nam theo hướng dẫn của Hội Liên hiệp Phụ nữ

Mục đích của Nhà nước khi cho phép Hội liên hiệp phụ nữ thành lập các trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là để trợ giúp cho công dân Việt Nam trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; để nâng cao tầm hiểu biết của người dân, giúp người dân có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do đó, quyền hạn cơ bản cần được nhắc tới đầu tiên của trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài là quyền tư vấn những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, việc tư vấn của trung tâm không được thực hiện một cách tùy tiện mà phải thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là cơ quan chủ quản của trung tâm

tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên hiển nhiên, trong quá trình hoạt động tư vấn của mình, trung tâm phải thực hiện theo hướng dẫn của Hội Liên hiệp phụ nữ

Thứ hai, trung tâm bồi dưỡng cho công dân Việt Nam về ngôn ngữ,

văn hóa, phong tục tập quán, pháp luật về hôn nhân và gia đình, về nhập cư của nước mà người yêu cầu dự định kết hôn với công dân nước đó

Không chỉ tư vấn những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cho công dân Việt Nam, pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam còn trao cho trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài quyền tổ chức các lớp bồi dưỡng cho công dân Việt Nam khi

họ có yêu cầu Theo đó, trung tâm sẽ tổ chức các lớp bồi dưỡng cho công dân Việt Nam về các vấn đề cần thiết nhất khi công dân Việt Nam có dự định kết hôn với người nước ngoài như: ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, pháp

Ngày đăng: 20/03/2018, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w