1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Bai suu tam tu lieu ve cac danh nhan thoi Ly

38 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sưu Tầm Tư Liệu Về Các Danh Nhân Thời Lý
Tác giả Dương Trúc Quỳnh, Lê Nguyễn Huyền Như, Nguyễn Hương Trà
Trường học Lịch sử
Thể loại Đề bài
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 439,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử thần đời Hậu Lê Ngô Sĩ Liên viết về Lý Thánh Tông: "V ua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ [r]

Trang 2

Lý Thường Kiệt

Lý Thái Tông Công chúa Lý Ngọc Kiều Lý Nhân Tông

Năm 1049, vua Lý Thái Tông cho dựngchùa Diên Hựu, tức chùa Một Cột.

Trang 3

1 Lý Thái Tổ

Lý Thái Tổ sinh ngày 8 tháng 3 năm

974, Từ Sơn, lộ Bắc Giang, Đại Cồ Việt

Mất ngày 31 tháng 3 năm 1028 ( 54 tuổi)

tại Điện Long An, Thăng Long, Đại Cồ

Việt Lễ an táng tại Thọ Lăng Tên thật là

Lý Công Uẩn Sách Đại Việt sử lược và Đại

Việt sử ký toàn thư đều chép Lý Công Uẩn

người ở Cổ Pháp, Bắc Giang (nay thuộc Thị

xã Từ Sơn, Bắc Ninh), mẹ họ Phạm Tuy

nhiên, tên cha ông không được chép rõ

Sách Đại Việt sử lược cũng chép ông có

một người anh và một người em

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép anh ông sau được phong làm

Vũ Uy vương và một người chú (được phong Vũ Đạo vương) Lúc 3 tuổi, bà

mẹ Lý Công Uẩn ẵm ông đến nhà Lý Khánh Văn, Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi, từ nhỏ đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường Lúc còn nhỏ

đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy, khen rằng: Đứa bé này

không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ Lớn lên, không chăm việc sản nghiệp, chỉ học

kinh sử qua loa, khẳng khái có chí lớn

Theo sách Việt sử tiêu án: Mẹ Lý Công Uẩn năm 20 tuổi nghèo hèn không có chồng, nương tựa người lão Sa môn ở chùa Ứng Thiên, làm việc thổi nấu, khi lửa tắt và bà đương ngủ lơ mơ, lão Sa môn ngẫu nhiên chạm phải, giật mình trở dậy rồi có thai mà sinh ra Về sau, Lý Công Uẩn nương nhờ cửa Phật, Khánh Vân nuôi lớn, Vạn Hạnh dạy dỗ

Lý Công Uẩn lớn lên thời Lê Hoàn, ông theo giúp hoàng tử Lê Long Việt

Theo "Ngọc phả các vua triều Lê" ở Hà Nam và tư liệu tại các di tích

ở cố đô Hoa Lư - Ninh Bình, Lý Công Uẩn hàng năm theo thiền sư Vạn Hạnh vào hầu vua Lê Đại Hành ở thành Hoa Lư Ông được vua yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự Lê Hoàn lại gả con gái cả là công chúa Lê Thị Phất Ngân, sinh ra Lý Phật Mã và đặc phong cho Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở thành Hoa Lư Dần dần, Công Uẩn thăng lên chức Điện tiền chỉ huy sứ Chính nhờ vậy mà về sau, Lý Công Uẩn đã đem ngôi vua về cho

họ Lý Ông lên ngôi hoàng đế ngày 21 tháng 11 năm 1009 đặt niên

hiệu là Thuận Thiên, nghĩa là "theo ý trời" Ông phong cha là Hiển Khánh vương, mẹ là Minh Đức Thái hậu, chú là Vũ Đạo vương, anh ruột là Vũ Uy vương, em ruột là Dực Thánh vương Ông lập sáu hoàng hậu, con trưởng ông là Lý Phật Mã được phong Khai Thiên vương, lập làm Thái tử Các con trai khác của ông cũng được phong vương Đồng thời, con gái lớn của ông

là An Quốc công chúa Lý Thiềm Hoa được gả cho Đào Cam Mộc Đào Cam

Trang 4

Mộc cũng được phong Nghĩa Tín hầu, còn những người khác vẫn giữ chức

cũ Một người con gái khác là Lĩnh Nam công chúa là Lý Bảo Hòa được

gả cho động chủ Giáp Thừa Quý

Thành Hoa Lư vốn là kinh đô dưới 2 triều đại Đinh - Tiền Lê, nằm tại một thung lũng chật hẹp nhưng dễ phòng thủ ở phía nam vùng thượng

du của Đồng bằng sông Hồng Lúc lên ngôi, Lý Thái Tổ cho rằng "Hoa Lư

thành thì hẹp, đất thì thấp", muốn dời đô về Đại La (nay là Hà Nội), tức

thành Tống Bình đời Đường - nơi mà Cao Biền sau khi đuổi quân Nam Chiếu đã xây dựng lại phủ trị của An Nam đô hộ phủ Nhà vua ra chiếu rằng:

Xưa kia nhà Thương đến vua Bàn Canh đã năm lần thiên đô, nhà Chu đến đời Thành Vương đã ba lần thiên đô, không phải là theo ý

riêng một mình, là nghĩ đến kế muôn năm về sau Nhà Đinh và Lê không theo lối cũ của Thương, Chu, cứ để kinh đô ở mãi nơi này, trẫm rất đau lòng Duy có thành Đại La ở giữa khu vực của trời đất, có cái thế long,

hổ vững bền, địa thế rộng và bằng phẳng, đất thì cao mà sáng sủa, rõ

là khu vực phồn thịnh Đã xét khắp đất Việt, chỉ có nơi ấy là thắng địa,

là nơi đô hội thật là kinh đô của muôn đời sau.

-  Chiếu dời đô -

Sử chép rằng các quan đều nhất trí với nhà vua: "Bệ hạ vì thiên hạ

lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo".

Tháng 7 năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) thì khởi sự dời đô Khi thuyền mới đến đậu ở dưới thành, thấy có con rồng vàng hiện ra, nhân thế đặt tên là Thăng Long, liền lập nhiều cung điện, cộng 13 sở, xây thành lũy, sửa sang phủ khố; thăng châu Cổ Pháp làm phủ Thiên Đức, Bắc Gianggọi là Thiên Đức Giang, thành Hoa Lư gọi là phủ Tràng An, trong phủ Thiên Đức lập ra tám ngôi chùa, đều có lập bia ghi chép công đức

Việc dời đô ra Thăng Long của nhà vua đã chứng tỏ một tầm nhìn chiến lược sâu rộng trong việc xây dựng một sự nghiệp lâu dài, phản ánh thế đi lên của vương triều và đất nước với biểu tượng rồng bay Ngoài ra đích thân nhà vua tổ chức xây dựng kinh thành, cung điện, lập phố xá Lý Thái Tổ vì xuất thân từ chùa chiền, nên sau khi lên ngôi vua rất trọng đãi những người đi tu, xuất vàng bạc của triều đình dựng nên nhiều chùa tháp, đền miếu; nhà vua từng sai quan là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Tàu lấy Kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng Thời vua Lý Thái

Tổ,Đại Tống và Đại Việt có mối quan hệ hòa bình Nhà vua hết lòng chăm

lo phát triển văn hóa dân tộc, kiện toàn bộ máy nhà nước, đặt nền móng cho một triều đại tồn tại vẻ vang trên 200 năm

Trang 5

Theo Đại Việt sử lược, năm 1028 (tức năm Thuận Thiên thứ 19), sức khỏe Lý Thái Tổ đã không được tốt, thường xuyên đau yếu Ngày 31 tháng 3 năm ấy, Thái Tổ qua đời ở điện Long An, ở ngôi 19 năm, hưởng thọ 54 tuổi.

Khi Lý Thái Tổ vừa qua đời, việc tế táng lại chưa hoàn tất, thì ba vương gia Vũ Đức vương, Đông Chinh vương và Dực Thánh vương cùng quân sĩ vây hãm thành, nhằm mục đích cướp ngôi Thái tử Lý Phật Mã[28] Thái tử đem quân vào thành, quyết một trận với 3 vương

Khi quân của Thái tử và quân các vương đối trận, thì Võ vệ tướng quân Lê

Phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào Vũ Đức vương mà bảo rằng: "Các người dòm ngó ngôi

cao, khi dễ tự quân, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này!" Nói xong chạy xông vào chém Vũ Đức vương ở trận tiền Quân

các vương trông thấy sợ hãi bỏ chạy cả Dực Thánh vương và Đông Chinh vương cũng phải chạy trốn, về sau xin ra hàng, được tha cả Thái tử Lý Phật Mã lên nối ngôi, tức

là Lý Thái Tông

Lý Thái Tông kế vị, táng Lý Công Uẩn ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức, truy

tôn miếu hiệu là Thái Tổ, thụy hiệu là Thần Vũ hoàng đế.

Gia quyến

Cha: Hiển Khánh vương.

 Mẹ: Minh Đức thái hậu Phạm Thị Ngà

 Anh em:

1. Vũ Uy vương

1. Dực Thánh vương (Có sách ghi là con trai)

2 Hậu phi:

- Lê Thị Phất Ngân (Linh Hiển Hoàng thái hậu)

- Tá Quốc hoàng hậu

- Lập Nguyên hoàng hậu

 Con cái: Ít nhất 8 hoàng tử, 13 công chúa

1. Khai Thiên vương Lý Phật Mã, năm 1009 phong Hoàng thái tử Mẹ là Linh Hiển hoàng thái hậu

2. Khai Quốc vương Lý Bồ, phong năm 1013, ở phủ Trường Yên

3. Đông Chinh vương Lý Lực, phong năm 1018

4. Vũ Đức vương Lý Nhật Quang, còn có tên Lý Hoảng Theo Việt Điện U Linh

tập, mẹ là Linh Hiển hoàng thái hậu.

5. Công chúa An Quốc, gả cho Đào Cam Mộc

Trang 6

Về mẹ của vua, trong chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển

II, Kỷ Nhà Lý, mục Lý Thái Tông, đoạn mở đầu viết:

"Mẹ là hoàng hậu họ Lê, sinh vua vào ngày 26 tháng 6 năm Canh Tý, niên hiệu Ứng Thiên năm thứ 7 [1000] thời Lê, ở phủ Trường Yên".

Về sau, các nhà nghiên cứu lịch sử dựa theo các thần tích, thần phả hán nôm ở khu vực cố đô Hoa Lư khẳng định mẹ Lý Phật Mã là Lê Thị Phất Ngân, con gái Lê Đại Hành và Dương Vân Nga Như vậy, ông chính

là cháu ngoại của Lê Đại Hành và Dương Vân Nga

Ông sinh ngày 26 tháng 6 âm lịch năm Canh Tý, niên hiệu Ứng Thiên thứ 7 thời Tiền Lê (tức 29 tháng 7 năm 1000) ở chùa Duyên

Ninh trong kinh đô Hoa Lư Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi ông mới sinh, ở phủ Trường Yên có con trâu của nhà dân tự nhiên thay sừng khác, người có trâu ấy cho là điềm không lành, lấy làm lo ngại Có người giỏi

chiêm nghiệm đi qua nhà người ấy cười mà nói rằng: "Đó là điềm đổi mới

thôi, can dự gì đến nhà anh" thì người ấy mới hết lo Tương truyền thuở

nhỏ ông đã có 7 nốt ruồi sau gáy như chòm sao thất tinh ( sao Bắc Đẩu)

Khi còn nhỏ, cùng bọn trẻ con chơi đùa, có thể sai bảo được chúng, bắt chúng đi dàn hầu trước sau và hai bên như nghi vệ các quan theo hầu

thiên tử Thái Tổ thấy thế vui lòng, nhân nói đùa rằng: Con nhà tướng nên

bắt chước việc quân, cần gì phải kẻ rước người hầu? , ông tuy còn ít tuổi

nhưng trả lời ngay rằng: Kẻ rước người hầu thì có xa lạ gì với con nhà

tướng? Nếu xa lạ thì sao ngôi vị không ở mãi họ Đinh mà lại về họ Lê, đều do mệnh trời thôi Thái Tổ kinh lạ, từ đấy càng yêu quý hơn.

Năm 1010, khi ông lên 10 tuổi thì triều đình Nhà Lý dời kinh đô

từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội ngày nay)

Năm 13 tuổi (1012), ông được lập làm Đông cung Thái tử, lại được

phong hiệu là Khai Thiên vương, lập phủ ở ngoài nội cung để được làm

quen với các quan lại và dân chúng Trong thời gian làm Thái tử, ông nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và đều lập được công

Năm 1019, ông được trao quyền nguyên soái, cầm quân vào nam đánh Chiêm Thành Khi đại quân vượt biển, đến núi Long Tỵ,

có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự, ông đi đến đỡ lấy rồng rồi rồng tan biến mất, người đời cho là điềm may

Năm 1023, ông cầm quân đi đánh Phong châu Năm 1025, ông đi đánh Diễn châu, lập được công lao hiển hách, Thái Tổ hoàng đế rất hài lòng

Trang 7

Năm 1027, ông lên phía bắc đánh châu Thất Nguyên ( Lạng Sơn) Cùng năm ấy, ông ban áo ngự cho một đạo sĩ tên Trần Tuệ Long ở Nam

Đế quán, đêm ngày đó có ánh sáng vàng hiện lên khắp quán, Tuệ Long hoảng hồn dậy thì thấy rồng vàng ở trên mắc áo Người đời cho rằng đấy

là mệnh trời, đến đây đều thấy phù hợp cả Thái tử nổi tiếng khắp kinh thành, bản tính nhân từ, sáng suốt dĩnh ngộ, thông hiểu đại lược văn võ, còn như lục nghệ lễ nhạc, ngự xạ, thư số không môn gì là không tinh thông am tường

Lý Thái Tông là người có thiên tư đĩnh ngộ, thông lục nghệ, tinh thao lược, gặp lúc trong nước có nhiều giặc giã (Tam vương chi loạn), nhưng ông đã quen việc dùng binh, cho nên ông thường thân chinh đi đánhđông dẹp bắc

Thời bấy giờ hoàng đế không đặt quan tiết trấn; phàm việc binh việcdân ở các châu, là đều giao cả cho người châu mục Còn ở mạn thượng du thì có người tù trưởng quản lĩnh Cũng vì quyền những người ấy to quá, cho nên thường hay có sự phản nghịch Lại có những nước lân bang

như Chiêm Thành và Ai Lao (Lào) thường hay sang quấy nhiễu, bởi vậy cho nên sự đánh dẹp thời Lý Thái Tông rất nhiều

Tháng 6, năm 1029, rồng hiện lên ở nền điện Càn Nguyên Đế nói

với tả hữu rằng: "Trẫm phá điện ấy, sang phẳng nền rồi mà rồng thần còn

hiện Có lẽ đó là đất tốt, đức lớn hưng thịnh, ở chỗ chính giữa trời đất chăng ?" Bèn sai Hữu ty mở rộng quy mô, nhắm lại phương hướng mà

làm lại, đổi tên là điện Thiên An Bên tả dựng điện Tuyên Đức, bên hữu dựng điện Diên Phúc, thềm trước điện gọi là Long Trì Phía đông thềm rồng đặt điện Văn Minh, phía tây đặt điện Quang Vũ, hai bên tả hữu thềm rồng đặtlầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên Bốn xung quanh thềm rồng đều có hành lang để tụ họp các quan và sáu quân túc vệ

Phía trước làm điện Phụng Thiên, trên điện dựng lầu Chính

Dương làm nơi trông coi tính toán giờ khắc, phía sau làm điện Trường Xuân, trên điện dựng gác Long Đồ làm nơi nghỉ ngơi du ngoạn Bên ngoàiđắp một lần thành bao quanh gọi là Long Thành Năm 1030, Thái Tông lạisai làm điện Thiên Khánh ở trước điện Trường Xuân để làm chỗ nghe chính sự Điện làm kiểu bát giác, trước sau đều bắc cầu Phượng Hoàng

Thái Tông hoàng đế tuy phải đánh dẹp liên miên, nhưng cũng không

bỏ bê việc chính trị trong nước Đặc biệt, ông tỏ ra là vị Hoàng đế có lòngthương dân Hễ năm nào đói kém hoặc đi đánh giặc về, lại giảm thuếcho dân trong hai ba năm

Tháng 2 năm 1038, Thái Tông hoàng đế thân hành ra cửa Bồ Hải để tiến hành lễ cày ruộng Tịch điền Ông tế Thần Nông, tế xong tự mình cầm

cày xuống ruộng Các quan can rằng:"Đó là việc của nông phu, bệ hạ việc

Trang 8

gì phải làm thế ?" Thái Tông đáp rằng:"Trẫm không tự cày cấy thì lấy gì

mà có xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ noi theo?" Nói xong Đế đẩy cày ba

lần mới thôi

Năm 1040, Thái Tông hoàng đế ra lệnh lấy hết gấm vóc hàng nước Tống trong cung ra may áo ban cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên thì áo bào gấm, từ cửu phẩm trở lên thì áo bào vóc Thái Tông phát hết gấm vóc

và dạy cho cung nữ dệt được gấm vóc Từ đó trong cung chuyên dùng hàng tự dệt, không dùng hàng của nước Tống nữa

Thái Tông hoàng đế còn chủ trương sửa lại luật pháp, định các

bậc hình phạt, các cách tra hỏi Kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả,

vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết, ngay lúc bấy giờ thì không bị tội Những người từ 70 tuổi trở lên, 80 tuổi trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những người ốm yếu cho đến các thân thuộc Đế từ hạng Đại công trở lên phạm tội thì cho chuộc bằng tiền, nếu phạm tội thập ác thì không được theo lệ này

Xuống chiếu về việc phú thuế của trăm họ, cho phép người thu,

ngoài 10 phần phải nộp quan được lấy thêm một phần nữa, gọi là " hoành

đầu" Lấy quá thì xử theo tội ăn trộm, trăm họ có người tố cáo được tha

phú dịch cho cả nhà trong 3 năm, người ở kinh thành mà cáo giác thì thưởng cho bằng hiện vật thu được Nếu quản giáp, chủ đô và người thu thuế thông đồng nhau thu quá lệ, tuy xảy ra đã lâu, nhưng có người tố cáo thì quản giáp, chủ đô và người thu thuế cũng phải tội như nhau

Năm 1042, Thái Tông hoàng đế ban Hình thư Trước kia, việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng Đế lấy làm thương xót, sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hìnhthư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ

ràng, cho nên mới đổi niên hiệu là Minh Đạo và đúc tiền Minh Đạo

Bộ Luật Hình thư năm 1042 được xem là bộ luật đầu tiên tronglịch sử ViệtNam

Năm 1043, tháng 8, xuống chiếu rằng kẻ nào đem bán hoàng nam trong dân gian làm gia nô cho người ta, đã bán rồi thì đánh 100 trượng, thích vào mặt 20 chữ, chưa bán mà đã làm việc cho người thì cũng đáng trượng như thế, thích vào mặt 10 chữ; người nào biết chuyện mà cũng muathì xử giảm một bậc Xuống chiếu rằng quân sĩ bỏ trốn quá 1 năm xử

100 trượng, thích vào mặt 50 chữ, chưa đến 1 năm thì xử theo mức tội nhẹ, kẻ nào quay lại thì cho về chỗ cũ Quân sĩ không theo xa giá cũng xử trượng như thế và thích vào mặt 10 chữ

Trang 9

Tháng 7 năm Giáp Ngọ 1054, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo năm thứ

6, theo chiếu của Thái Tông hoàng đế, Hoàng thái tử Lý Nhật Tôn được phép coi chầu nghe chính sự

Tháng 9, ngày Mậu Dần, sức khoẻ của Hoàng đế không được tốt Sang mùa đông, vào tháng 10, ngày mồng một (tức 3 tháng 11 năm 1054), Hoàng đế băng hà tại điện Trường Xuân, sau 27 năm trị quốc, thọ 54 tuổi Miếu hiệu là Thái Tông, thụy hiệu là "Khai Thiên Thống Vận Tôn Đạo Quý Đức Thánh Văn Quảng Vũ Sùng Nhân Thượng Thiện Chính Lý Dân An Thần Phù Long Hiện Thể Nguyên Ngự Cực Ức Tuế Công Cao ỨngChân Bảo Lịch Thông Huyền Chí Áo Hưng Long Đại Địch Thông Minh TừHiếu Hoàng Đế"

Năm 1049, tháng 10, Thái Tông hoàng đế khởi đầu cho việc xây dựng chùa Diên Hựu

Tương truyền, Hoàng đế nằm mơ thấy Phật bà Quan Âm ngồi trên toà sen dắt ông lên toà Sau đó, Đế kể lại chuyện đó với bầy tôi; và cho dựng cột đá, làm toà sen đặt lên như đã thấy trong mộng, theo lời khuyên của nhà sư Thiền Tuệ Cột toà sen đó trở thành ngôi chùa, khi đó có tên

là chùa Diên Hựu với nghĩa là "phúc lành dài lâu" hay "Phước bền dài

lâu"

Hằng năm cứ đến ngày 8 tháng 4 Âm lịch, Thái Tông hoàng đế lại tới chùa làm lễ tắm Phật Các nhà sư và nhân dân khắp Kinh thành Thăng Long cùng dự lễ Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, Đế đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui của một ngày hội lớn

Lý Thái Tông cùng với các vua triều Lý được thờ ở khu di tích đền

Đô, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Vùng đất cố đô Hoa Lư vốn là nơi sinh trưởng và gắn bó với tuổi thơ 10 năm của Lý Thái Tông trước khi kinh

đô Đại Cồ Việt được dời về Thăng Long nên tại đây còn nhiều di tích liên quan trực tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp của vị vua này Quanh khu

vực cửa Thần Phù (Ninh Bình) có nhiều di tích thờ Lê Đại Hành cùng phốithờ Lý Thái Tông, là 2 vị vua đã xây dựng hệ thống phòng tuyến quân sự tại khu vực này đó là các đình Quảng Công, đình Từ Đường, đền Thượng Ngọc Lâm, đền Vua Lê Đại Hành ở 3 xã Yên Thái, Yên Lâm và Lai

Thành Có ý kiến cho rằng, Lý Thái Tông do từng có tuổi thơ 10 năm gắn

bó với vùng đất cố đô Hoa Lư trước khi về với Thăng Long nên sau này xây chùa Một Cột, đền Đồng Cổ, đền thờ Phạm Cự Lượng ở Thăng Long; đào kênh Lẫm, đầm Lẫm ở cửa Thần Phù (Ninh Bình) và thực hiện nghi lễcày ruộng tịch điền đều noi theo truyền thống từ thời ông ngoại của mình

là vua Lê Đại Hành

Trang 10

Tháng 7 năm Giáp Ngọ 1054, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo năm thứ

6, theo chiếu của Thái Tông hoàng đế, Hoàng thái tử Lý Nhật Tôn được phép coi chầu nghe chính sự

Tháng 9, ngày Mậu Dần, sức khoẻ của Hoàng đế không được tốt Sang mùa đông, vào tháng 10, ngày mồng một (tức 3 tháng 11 năm 1054), Hoàng đế băng hà tại điện Trường Xuân, sau 27 năm trị quốc, thọ 54 tuổi Miếu hiệu là Thái Tông , thụy hiệu là "Khai Thiên Thống Vận Tôn Đạo Quý Đức Thánh Văn Quảng Vũ Sùng Nhân Thượng Thiện Chính Lý Dân An Thần Phù Long Hiện Thể Nguyên Ngự Cực Ức Tuế Công Cao ỨngChân Bảo Lịch Thông Huyền Chí Áo Hưng Long Đại Địch Thông Minh TừHiếu Hoàng Đế"

Trước linh cữu, Hoàng thái tử Lý Nhật Tôn kế thừa hoàng vị, tức

1. Linh Cảm hoàng hậu Mai thị

2 Vương hoàng hậu

3 Đinh hoàng hậu

4 Thiên Cảm hoàng hậu

Một số hoàng hậu không rõ tên, tổng cộng 8 người

Hậu duệ: Thái Tông có hai người con trai trước đó đều yểu mệnh,

Nhật Tôn là con trai thứ 3.

1. Hoàng thái tử Lý Nhật Tôn , tức Thánh Tông Thánh Thần hoàng

đế mẹ là Linh Cảm hoàng hậu.

2. Phụng Càn vương Lý Nhật Trung , năm 1035 được sắc phong

3. Bình Dương công chúa , năm 1029, gả cho châu mục Lạng

châu là Thân Thiệu Thái

4. Trường Ninh công chúa , tháng 8, năm 1036, gả cho châu

mục Thượng Oai là Hà Thiện Lãm

5. Kim Thành công chúa , tháng 3, năm 1036, gả cho châu mục Phongchâu là Lê Thuận Tông

3 Lý Thánh Tông

Lý Thánh Tông (30 tháng 3 năm 1023 – 1 tháng 2 năm 1072), là

vị hoàng đế thứ ba của hoàng triều Lý nước Đại Việt, trị vì từ tháng 11

Trang 11

năm 1054 đến khi qua đời Ông tên thật là Lý Nhật Tôn, là con trưởng

của Lý Thái Tông và Kim Thiên hoàng hậu họ Mai Ông sinh ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi, niên hiệu Thuận Thiên thứ 14 (tức ngày 30 tháng

3 năm 1023) tại cung Long Đức, vào cuối thời Lý Thái Tổ Tháng 5 âm lịch năm 1028, ngay sau khi lên ngôi, Lý Thái Tông sách phong Lý Nhật Tôn làm Thái tử

Theo sách Đại Việt sử lược, thái tử Nhật Tôn sớm trở nên "tinh thông kinh truyện, hiểu âm luật, lại càng giỏi về võ lược" Tháng 8 âm lịch

năm 1033, Lý Thái Tông phong ông tước Khai Hoàng Vương và dựng

cung Long Đức làm nơi ở cho ông Ông đã sớm được tiếp xúc với dân chúng, nên hiểu được nỗi khổ của dân và thông thạo nhiều việc Trong thời kỳ cầm quyền của mình, Lý Thánh Tông đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, khoan giảm hình phạt, đồng thời bảo trợ Phật giáo và Nho giáo Ông còn xây dựng quân đội Đại Việt hùng mạnh, thực hiện chính sách đối ngoại cứng rắn với Đại Tống và mở đất về ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (nay là một phần thuộc Quảng Bình và Quảng Trị, Bắc Trung Bộ Việt Nam) sau thắng lợi trong cuộc chiến tranh Việt-Chiêm (1069) Sử

thần đời Hậu Lê Ngô Sĩ Liên viết về Lý Thánh Tông: "Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt"

Tháng 2 âm lịch năm 1037, ông được Thái Tông phong làm Đại nguyên soái, cùng cha đi dẹp quân nổi dậy ở Lâm Tây và giành được chiếnthắng Tháng 2 âm lịch năm 1039, Lý Thái Tông thân chinh đi đánh Nùng Tồn Phúc ở mạn tây bắc Thái tử Nhật Tôn mới 17 tuổi được cử làm giám quốc, coi sóc kinh thành và việc triều chính

Ngày 1 tháng 4 âm lịch năm 1040, ông lại được Lý Thái Tông giao quyền xét xử các vụ kiện tụng trong nước, lập cơ quan ở điện Quảng Vũ

Sử thần đời Lê sơ Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư chỉ trích quyết định này của Thái Tông

Chức việc của thái tử, ngoài việc thăm hỏi hầu cơm vua ra, khi ở lạigiữ nước thì gọi là Giám quốc, khi đem quân đi thì gọi là Phủ quân, có thế

mà thôi, chưa nghe thấy sai xử kiện bao giờ Phàm xử kiện là việc của Hữu ty Thái Tông sai Khai Hoàng Vương làm việc đó không phải là chức phận của thái tử, lại lấy điện Quảng Vũ làm nơi Vương xử kiện là không đúng chỗ

Mùa đông năm 1042, cư dân châu Văn (nay thuộc Lạng Sơn) làm binh biến Ngày 1 tháng 10 âm lịch năm đó, Thái Tông phong Nhật Tôn làm Đô thống Đại nguyên soái, chỉ huy quân đội đi trấn áp Đến ngày 1 tháng 3 âm lịch năm 1043, ông lại được cử làm Đô thống Đại nguyên soái

đi dẹp loạn ở châu Ái (nay thuộc Thanh Hoá) Đại Việt Sử lược chép

Trang 12

rằng, "Thánh Tông đánh dẹp giặc giã, tới đâu cũng đều đánh thắng được cả".

Cuối năm 1043, Lý Thái Tông thấy Chiêm Thành đã 16 năm không chịu sang cống, bèn quyết ý chinh phạt phương Nam Mùa xuân năm 1044,Thái Tông tự làm tướng đi đánh Chiêm Thành, giao cho thái tử Nhật Tôn làm Lưu thủ kinh sư Trên mặt trận, quân Việt thắng to ở sông Ngũ Bồ, giết chết chúa Chiêm là Sạ Đẩu, chiếm quốc đô Phật Thệ trong một thời gian rồi về nước

Tháng 7 âm lịch năm 1054, thấy mình già yếu, Thái Tông cho phép Thái tử Nhật Tôn ra coi chầu nghe chính sự Đến ngày 1 tháng 10 âm lịch (3 tháng 11 dương lịch) năm 1054, Lý Thái Tông qua đời.[ 1 2 ] Lý Nhật

Tông lên nối ngôi, tức hoàng đế Lý Thánh Tông, lấy niên hiệu đầu là

Long Thụy Thái Bình Ông lập 8 hoàng hậu, và tôn mẹ là Mai thị làm LinhCảm thái hậu

Ngay sau khi lên ngôi, năm 1054 Lý Thánh Tông đã đổi tên nước

từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt Quốc hiệu này kéo dài 346 năm cho tới khi nhà Hồ đổi thành Đại Ngu (1400), sau đó được nhà Lê khôi phục năm

1428, và tồn tại đến đầu thời nhà Nguyễn

Lý Thánh Tông được sử cũ mô tả là một hoàng đế nhân đức Đại Việt Sử lược ghi lại, trong mùa đông năm 1055, Thánh Tông từng nói với các quan hầu cận:

"Ta ở trong cung sâu, sưởi là than, mặc áo hồ cừu mà còn lạnh như thế này, huống chi những kẻ ở trong tù, khốn khổ vì trói buộc, phải trái chưa phân minh mà quần áo không đủ, thân thể không có gì che, nên mỗi khi bị cơn gió lạnh khắc nghiệt thì há không chết được người vô tội hay sao! Ta vô cùng thương xót"

Tiếp đó, ông sai quan Hữu ty cấp mền, chiếu trong kho cho tù nhân,

và yêu cầu cung cấp cho người tù hai bữa ăn đầy đủ mỗi ngày Cùng năm

đó, Thánh Tông truyền lệnh giảm một nửa tô thuế cho dân cả nước

Lý Thánh Tông còn chủ trương giảm các hình phạt trong nước Theo Đại Việt Sử lược, một trong những hành động đầu tiên của ông sau khi lên ngôi là sai đốt các công cụ tra tấn Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng chép, vào tháng 6 âm lịch năm 1065, khi đang ngự ở điện Thiên Khánh ở xét án, nhà vua chỉ vào Động Thiên công chúa đứng cạnh ông và tuyên bố:

"Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi".

Đến năm 1070, ông cho phép những người chịu hình phạt đánh roi (trượng hình) được nộp tiền để giảm tội Ngoài ra, vào năm 1067, nhà vua

Trang 13

đã định ra chế độ lương bổng hàng năm cho quan Đô hộ phủ sĩ sư (người đứng đầu cơ quan tư pháp cả nước) và các cai ngục: theo đó, hai Đô hộ phủ sĩ sư Ngụy Trọng Hòa, Đặng Thể Tư mỗi người hưởng 50 quan tiền,

200 bó lúa và các loại cá muối; ngục lại mỗi người nhận 20 quan tiền và

100 bó lúa Chính sách này giúp nâng cao tinh thần thanh liêm của các quan hình án

Tiếp nối hai vua trước, Lý Thánh Tông rất chú trọng sản xuất nông nghiệp Tháng 10 âm lịch năm 1056, nhà vua ban bố Chiếu khuyến

nông Ông cũng đi đến nhiều nơi để xem nông dân gặt lúa Khi sản xuất gặp khó khăn (như vào tháng 4 âm lịch năm 1070), nhà vua ông đem tiền, thóc và lụa trong kho phát cho dân nghèo

Tháng 8 âm lịch năm 1059, Lý Thánh Tông bắt đầu áp dụng kiểu mẫu triều phục cho bá quan Tại điện Thủy Tinh, ông đã ban phát mũ cánhchuồn (hay mũ phốc đầu) và hia cho quan viên; từ đây có lệ quan lại vào chầu phải đội mũ cánh chùa và mang hia

Về quân sự, Lý Thánh Tông chia quân chính quy làm 8 hiệu quân, đặt tên là Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thần Điện, Phủng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược và Vạn Tiệp Mỗi hiệu quân có 4 bộ gồm Tả, Hữu, Tiền và Hậu, hợp lại là 100 đội có kỵ binh, cung thủ và lính bắn đá Còn phiên binh (quân các vùng sâu xa) thì được phiên chế thành các đội

riêng Mô hình quân đội của Lý Thánh Tông đã đạt được trình độ cao đến mức một võ quan Đại Tống là Thái Diên Khánh phải áp dụng, và

được Tống Thần Tông khen ngợi

Lý Thánh Tông còn là một tín đồ Phật giáo mộ đạo Ông đã cho xâyrất nhiều chùa tháp, trong đó có chùa Thiên Phúc, Thiên Thọ - nơi hoàng gia nhà Trần sau này thường lễ Phật Ông còn dựng các tượng Đế Thích, Phạm Thiên bằng vàng và đúc chuông đồng lớn Đặc biệt, trong khuôn viên chùa Súng Khánh, nhà vua sai dựng Bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên (gọi tắt là Tháp Báo Thiên) vào năm 1056 Ngôi tháp này có 12 tầng và cao 20 chục trượng (chừng 70m) Đây được xem là một trong An Nam tứ đại khí, tức 4 kỳ quan của Đại Việt thời Lý-Trần Lý Thánh Tông còn là một thiền sư-cư sĩ, được coi là vị tổ thứ hai của Thiền phái Thảo Đường – một trong ba dòng thiền chính tại Đại Việt thời đó Theo giáo sư Hoàng

Xuân Hãn trong sách Lý Thường Kiệt: lịch-sử ngoại-giao triều Lý , các

biểu hiện thương dân của Thánh Tông xuất phát từ sự thấm nhuần tinh thần từ bi của Phật pháp, chứ không phải từ động cơ tuyên truyền chính trị Bên cạnh đó, ông rất chú trọng mở màng Nho học Mùa thu năm 1070, nhà vua đã xây dựng Văn miếu và tạc tượng thờ Chu Công, Khổng

Tử cùng 4 học trò xuất sắc Ông cũng cho vẽ tranh thờ 72 môn sinh của Khổng Tử và sai tế lễ bốn mùa

Trang 14

Dưới thời Lý Thánh Tông, xã hội Đại Việt tương đối ổn định Bên cạnh đó, một số cuộc binh biến đã xảy ra tại động Sa Đãng (1061), năm huyện Ái Châu và Giang Long (1061), động Sa Ma - nay thuộc Hòa

Bình(tháng 10 âm lịch năm 1064) và châu Mang Quán - Lạng Sơn (tháng 7

âm lịch năm 1065) Lý Thánh Tông đã tự mình cầm quân đánh bại các cuộc nổi dậy này Lý Thánh Tông có người vợ thứ là Nguyên phi Ỷ

Lan cũng nổi tiếng có tài trị nước Nhà vua muộn con, không có thái tử giám quốc như các đời trước khi đi chinh chiến nhưng việc chính sự được yên ổn nhờ tay Nguyên phi Ỷ Lan

Sau các cuộc quấy phá của Nùng Trí Cao vào Trung Hoa, quan hệ Đại Tống-Đại Việt trở nên căng thẳng Tri châu Ung là Tiêu Chú đã

thuyết phục hoàng đế Tống chuẩn bị tấn công Đại Việt Lý Thánh Tông đãnắm được tình hình này, và thoạt tiên ông chọn cách ứng xử mềm

dẻo Tháng 4 âm lịch năm 1057, ông sai Mai Nguyên Thanh mang thú lạ sang dâng cống cho Tống, và bảo rằng đây là " kỳ lân" Nghe lời khuyên của Tư Mã Quang, hoàng đế Tống Nhân Tông từ chối không nhận Sau đó Tiêu Chú lại cho quân khiêu khích dọc theo biên giới

Tháng 3 âm lịch năm 1059, Lý Thánh Tông sai quân tướng từ miền đông bắc đánh phá đất Tống Về sự kiện này, Toàn thư chỉ chép quan

quân "đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc" Nhưng học giả Hoàng Xuân Hãn viện dẫn các sách sử của

Tống cho biết quân Đại Việt đã chiếm các động Cổ Vạn, Tư Lẩm và

Chiêm Lăng, giết quan Tống là Lý Duy Tân, đồng thời bắt giữ nhiều quân,dân và vật nuôi Tống Nhân Tông và các quan lộ Quảng Tây phải ra dụ cấm Tiêu Chú gây sự với Đại Việt, rồi Thánh Tông mới rút quân về

Cũng vào năm 1059, một số quân, dân Đại Việt đã lánh sang châu Tây Bình của Tống Họ được chỉ huy quân sự Tây Bình là Vi Huệ Chính bao che Thánh Tông sai châu mục Lạng Châu là Thân Thiệu Thái mang quân sang bắt lại Từ động Giáp (Đại Việt), Thân Thiệu Thái tiến quân vào huyện Như Ngao (Tây Bình) và giao chiến với quân Tống do Tống Sĩ Nghiêu chỉ huy Sau trận đánh này, Thân Thiệu Thái rút quân về nước; Tống Sĩ Nghiêu phản công đánh vào động Giáp nhưng bị quân Đại Việt đập tan Đến năm 1060, Thánh Tông lại sai Thân Thiệu Thái tấn công đất Tống, giết chết Tống Sĩ Nghiêu cùng 4 tướng thuộc hạ Quân Tống ở Tây Bình chống cự không nổi Từ châu Tây Bình, quân Đại Việt tiến tới châu Ung và tấn công trại Vĩnh Bình Quân Tống lại thua; quân Đại Việt bắt được chỉ huy sứ Dương Bảo Tài cùng nhiều quân dân Vua Tống sai Thị lang Bộ lại Dư Tĩnh tung quân lộ Quảng Nam Tây phản kích nhưng không thành công

Sau các trận đánh trên biên giới, nhà Tống sa thải các quan lại hiếu chiến như Tiêu Cố, Tiêu Chú, đồng thời cử Dư Tĩnh sang điều đình với

Trang 15

Đại Việt Lý Thánh Tông cử Phí Gia Hậu đi hoà đàm, đối đãi với Dư Tĩnh rất hậu nhưng cương quyết không trả Dương Bảo Tài và quân dân bị bắt.

Ngày Canh Dần tháng 1 năm Nhâm Tý (tức ngày 1 tháng

2 năm 1072), vua Lý Nhật Tôn qua đời ở điện Hội Tiên, trị vì được 17

năm, hưởng thọ 49 tuổi Triều đình dâng miếu hiệu là Thánh Tông, thụy hiệulà Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh

Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần Hoàng đế và an táng ở Thọ

Lăng (phủ Thiên Đức)

Thái tử Lý Càn Đức lên ngôi trước linh cữu Thánh Tông, tức Lý Nhân Tông Nhà vua mới 7 tuổi nên chỉ định mẹ đích là Thượng Dương thái hậu, mẹ đẻ là Ỷ Lan nguyên phi cùng thái sư Lý Đạo Thành trông coi chính sự

Gia quyến

Cha: Lý Thái Tông (Lý Phật Mã)

Mẹ: Kim Thiên hoàng thái hậu Mai thị

Hậu phi:

- 8 hoàng hậu,[ 4 ] trong đó có Thượng Dương Hoàng hậu

- Nguyên phi Ỷ Lan

Con cái:

- Hoàng thái tử Lý Càn Đức (vua Lý Nhân Tông)

- Minh Nhân vương (Lý Càn Quyết), em trai ruột của Lý Nhân Tông

- Công chúa Động Thiên

- Công chúa Thiên Thành

- Công chúa Ngọc Kiều (con nuôi)

4 Lý Nhân Tông

Lý Nhân Tông (22 tháng 2 năm 1066 – 15 tháng 1 năm 1128) là

vị hoàng đế thứ tư của nhà Lý trong lịch sử Việt Nam Ông trị vì Đại Việt từ năm1072 đến năm 1128, tổng cộng 55 năm

Trang 16

Ông tên thật là Càn Đức, là con trai đầu lòng của Lý Thánh Tông

Năm 1072, Thánh Tông qua đời, thái tử Càn Đức 7 tuổi lên ngôi tức vua Nhân Tông Mẹ đích của Nhân Tông là thái hậu Thượng Dương cùng thái

sư Lý Đạo Thành phụ chính Sau này, Nhân Tông nghe lời mẹ ruột là thái phi Linh Nhân, bắt thái hậu Thượng Dương chôn theo vua Thánh Tông Từđây thái hậu Linh Nhân và thái úy Lý Thường Kiệt nắm việc triều chính; hai người này biếm Lý Đạo Thành vào miền Nam 1 thời gian rồi phục chức Thái hậu Linh Nhân cùng các tể thần Lý Thường Kiệt, Lý Đạo

Thành có ảnh hưởng lớn tới việc nước ngay cả khi Nhân Tông trưởng thành

Dưới thời trị vì của Nhân Tông, nước Việt phồn vinh, "dân được giàu đông" Ông rất quan tâm đến nông nghiệp-thủy lợi, đã cho đắp đê ở nhiều nơi và mở rông luật cấm giết trâu Thời Nhân Tông còn nổi bật với việc tổ chức khoa thi Nho học đầu tiên của Đại Việt (1075) và xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám (1076) Phật giáo cũng phát triển; nhà vua và

mẹ là Linh Nhân đều là những Phật tử mộ đạo, đã cho xây nhiều chùa tháp

và khuyến khích việc hành đạo của các thiền sư Về đối ngoại, năm

1075 đế quốc Tống dòm ngó Đại Việt, Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đi đánh, liên tiếp phá tan quân Tống ở 3 châu Ung, Khâm, Liêm (đất Tống)

và sông Như Nguyệt (đất Việt) Sau năm 1077, giữa Việt và Tống không còn cuộc chiến lớn nào Trong khi đó các nước Chiêm Thành, Chân

Lạp thần phục Đại Việt, thường gửi sứ sang cống

Tuy ở ngôi lâu năm, Lý Nhân Tông không có con trai để nối dõi Ông nhận nuôi một người cháu là Lý Dương Hoán rồi lập làm thái tử Đó

là Lý Thần Tông, làm vua trong vòng 11 năm sau khi Nhân Tông mất

Ông có tên húy Lý Càn Đức, là con trai trưởng của Lý Thánh

Tông và phu nhân Ỷ Lan Ông sinh giờ Hợi ngày 25 tháng 1 năm Bính Ngọ (22 tháng 2 dương lịch) (1066) tại cung Động Tiên, kinh đô Thăng Long Vua Lý Thánh Tông vốn hiếm muộn con trai, đến năm 43 tuổi mới sinh được Càn Đức Nhà vua rất vui mừng; chỉ một ngày sau khi hoàng tử sinh ra, Thánh Tông lập Càn Đức làm hoàng thái tử, đổi niên hiệu thành Long Chương Thiên Tự, đại xá thiên hạ và phong Ỷ Lan làm thần phi

Tháng 8 âm lịch năm 1070, Lý Thánh Tông lập Văn miếu, xây

tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối (4 học trò xuất sắc của Khổng PhuTử), và vẽ tranh Thất thập nhị hiền (72 học trò của Khổng Phu Tử) để hương khói bốn mùa Nhà vua cho thái tử Càn Đức học tại đây

Cuốn sử Đại Việt sử lược, được biên soạn vào thời Trần, có mô tả

ngoại hình của Nhân Tông Càn Đức: "Ngài là người có xương trán nổi lên như mắt trời, ấy là dáng mặt của bậc Thiên Tử và tay thì buông dài quá đầu gối".

Trang 17

Tháng 1 âm lịch năm 1072, Lý Thánh Tông mất tại điện Hội Tiên Thái tử Càn Đức 7 tuổi lên ngôi trước linh cữu, tức vua Lý Nhân Tông Ông lấy niên hiệu Thái Ninh, tôn chính cung của vua cha là Thượng

Dương hoàng hậu làm thái hậu nhiếp chính, cùng với thái sư Lý Đạo Thành cai quản quốc gia Ông cũng phong mẹ ruột là Ỷ Lan làm hoàng thái phi Tháng 4 âm lịch năm 1073, Lý Nhân Tông phong người thuộc hàng Đại Liêu Ban là Lý Thường Kiệt làm Kiểm hiệu Thái úy

Năm 1073, vua Nhân Tông phế truất thái hậu Thượng Dương Theo các sách Đại Việt sử lược và Đại Việt Sử ký Toàn thư, thái phi Ỷ Lan bất

mãn vì không được tham gia trị nước, nên đã phàn nàn với Nhân Tông: "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác được

hưởng thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?" Nghe lời mẹ, Nhân Tông ra lệnh bắt

giam thái hậu Thượng Dương, rồi chôn sống Thượng Dương cùng 76 cung nhân vào lăng Thánh Tông Thái sư Lý Đạo Thành cũng bị giáng làm Tả gián nghị đại phu, trấn thủ châu Nghệ An Sử thần đời Lê sơ Ngô Sĩ

Liên nhận xét trong Toàn thư

Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân là người sùng Phật, sao lại đến nỗi giết đích thái hậu, hãm hại người vô tội, tàn nhẫn đến thế ư?

Vì ghen là thường tình của đàn bà, huống chi lại mẹ đẻ mà không được dựchính sự Linh Nhân dẫu là người hiền cũng không thể nhẫn nại được, chonên phải kêu với vua Bấy giờ vua còn trẻ thơ, chỉ biết chiều lòng mẹ là thích, mà không biết là lỗi to Thái sư Lý Đạo Thành phải ra trấn bên ngoài, biết đâu chẳng vì can gián việc ấy?

Tuy nhiên, sử gia thế kỷ 20 Hoàng Xuân Hãn trong sách Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý phỏng đoán trong triều

đình đã có sự xung đột giữa một phe là thái hậu Thượng Dương và thái

sư Lý Đạo Thành, phe kia là thái phi Ỷ Lan và thái úy Lý Thường Kiệt

Tuy các sử không đâu chép, nhưng trong việc khuynh đảo dương thái hậu, chắc Thường-Kiệt có một phần trách nhiệm Sử chỉ đổ lỗi cho Ỷ-Lan xui con, và cho Nhân-tông, vì nhỏ tuổi, nghe lời mẹ Nhưng thật ra, vua mới tám tuổi; Thượng-dương lại cầm quyền Nếu không có một đại thần, cầm quân đội trong tay, giúp, thì làm sao ép được Thái-hậu

Thượng-tự tử ? Còn Lý Đạo-Thành, theo như lời bàn của Ngô Sĩ-Liên (TT), chắc

đã phản kháng việc ấy, nên mới bị biếm ra Nghệ An, và mới ôm hận, mang theo thần vị vua Thánh-tông để thờ Đạo-Thành làm thế để tỏ lòng uất ức

Sau khi thái hậu Thượng Dương chết, Nhân Tông tôn mẹ đẻ là Ỷ Lanlàm thái hậu nhiếp chính, hiệu là Linh Nhân hoàng thái hậu.[ 1 ] Linh Nhân cùng thái úy Lý Thường Kiệt cai quản quốc gia.[ 6 ] Mùa xuân năm 1074, triều đình phục chức Lý Đạo Thành làm Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Lý Đạo Thành làm tể tướng đến khi mất năm 1081

Trang 18

Khi Nhân Tông lên ngôi, nhà Tống muốn nhân lúc vua Lý còn nhỏ

để mang quân đánh chiếm Nhờ vào khả năng quân sự của Lý Thường

Kiệt, nước Đại Việt đã đứng vững trong cuộc chiến với quân đội nhà

Tống

Năm 1075, ngay khi nhà Tống đang tập kết lực lượng ở Ung

Châu chuẩn bị tiến sang, Lý Thường Kiệt chủ động mang quân đánh sang đất Tống trước Sang đầu năm 1076, quân Lý hạ thành Ung châu Năm

Bính Thìn (1076), nhà Tống cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược Đại Việt Quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của Phụ quốc thái úy

Lý Thường Kiệt đã đánh bại được đội quân nhà Tống tại trận tuyến

trên sông Như Nguyệt Năm 1077, Quách Quỳ chấp nhận cho Đại Việt

giảng hòa và rút quân trở về

Bấy giờ, Nhân Tông đã có tuổi mà vẫn không có con trai để nối dõi,

dù trong cung nhà vua có đến hàng nghìn cung tần mỹ nữ và Hoàng hậu, Hoàng phi Dân gian đồn đại rằng, do Thái hậu làm việc thất đức nên đây

là quả báo Thái hậu nhiều lần xây chùa chiền để tạo ơn đức, cầu siêu lỗi lầm và cũng cầu tự cho Nhân Tông có con trai nhưng mọi sự vẫn không như mong đợi Đến tháng 10, năm 1117, Thái hậu từ trần rồi mà Nhân

Tông vẫn không có hi vọng về huyết mạch duy trì, bèn viết chiếu ban ra

trong hoàng tộc, nói rằng: Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có con

nối, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Vậy nên trẫm nuôi con trai của các công hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng, chọn người nào giỏi thì lập làm Thái tử Bấy giờ con Sùng

Hiền hầu là Lý Dương Hoán mới lên 2 tuổi mà thông minh lanh lợi, Nhân Tông rất yêu và bèn lập làm Hoàng thái tử

Tháng Chạp năm Đinh Mùi, Nhân Tông ốm nặng Ông gọi các đại thần Lưu Khánh Đàm và Lê Bá Ngọc vào giao việc giúp thái tử Lý Dương Hoán Về việc tang lễ, ông dặn:

"Trẫm nghe phàm các loài sinh vật không loài nào không chết

Chết là số lớn của trời đất, lẽ đương nhiên của mọi vật Thế mà

người đời không ai là không thích sống mà ghét chết Chôn cất hậu làm mất cơ nghiệp, để tang lâu làm tổn tính mệnh, trẫm không cho là phải Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi

chết đi lại khiến cho thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm

ăn uống, bỏ cúng tế, làm cho lỗi ta thêm nặng, thiên hạ sẽ bảo ta là người thế nào! Trẫm xót phận tuổi thơ phải nối ngôi báu, ở trên các vương hầu, lúc nào cũng nghiêm kính sợ hãi Đã 56 năm nay, nhờ

anh linh của tổ tông, được hoàng thiên phù hộ, bốn biển yên lành,

biên thùy ít biến, chết mà được xếp sau các bậc tiên quân là may rồi, còn phải thương khóc làm gì? Trẫm từ khi đi xem gặt lúa đến giờ,

Trang 19

bỗng bị ốm, bệnh kéo dài, sợ không kịp nói đến việc nối ngôi Mà Hoàng thái tử Dương Hoán tuổi đã tròn một kỷ, có nhiều đại đội, thông minh thành thật, trung nghiêm kính cẩn, có thể theo phép cũ của trẫm mà lên ngôi Hoàng đế Nay kẻ ấu thơ chịu mệnh trời, nối thân ta truyền nhgiệp của ta, làm cho rộng lớn thêm công nghiệp đời trước Nhưng cũng phải nhờ quan dân các ngươi một lòng giúp rập mới được Này Bá Ngọc, ngươi thật có khí lượng của người già cả, nên sửa sang giáo mác, để phòng việc không ngờ, chớ làm sai mệnh, trẫm dù nhắm mắt cũng không di hận Việc tang thì chỉ 3 ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc; việc chôn thì nên theo Hán Văn Đế, cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên để ta hầu bên cạnh tiên đế"

Ngày Đinh Mão (tức 15 tháng 1 năm 1128), nhà vua mất ở điện VĩnhQuang, ở ngôi 56 năm, thọ 63 tuổi Ông được tôn miếu hiệu là Nhân

Tông , thụy hiệu là Hiếu Thiên Thể Đạo Thánh Văn Thần Vũ Sùng

Nhân Ý Nghĩa Hiếu Từ Thuần Thành Minh Hiếu Hoàng Đế

Nội vũ vệ Lê Bá Ngọc tuyên đọc chiếu chỉ và giúp vua nhỏ tuổi trị nước, cùng với các đại thần Dương Anh Nhĩ, Mâu Du Đô Thái tử Lý Dương Hoán lên nối ngôi, tức là Lý Thần Tông

Gia quyến

Cha: Lý Thánh Tông Lý Nhật Tôn

Mẹ: Linh Nhân hoàng hậu Lê thị

Hậu phi:

1. Lan Anh hoàng hậu

2. Khâm Thiên hoàng hậu

3. Chấn Bảo hoàng hậu

quân sự, nhà chính trị thời nhà Lý nước Đại

Việt, làm quan qua 3 triều vua Lý Thái

Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông

Ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm

Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung,

Liêm nước Tống (1075-1076), rồi đánh

bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống

do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy (1077)

Ông đã làm tể tướng hai lần dưới thời Lý

Nhân Tông và là một trong 3 người phụ

chính khi vua này còn nhỏ tuổi Năm

2013, Bộ Văn hóa, Thể và Du lịch liệt ông

vào trong những 14 vị anh hùng dân tộc tiêu

biểu nhất trong lịch sử Việt Nam

Ngày đăng: 22/12/2021, 15:15

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w