1. Trang chủ
  2. » Ngữ Văn

đại học học huế

57 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 658,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu: Qua nghiên cứu SK của người Mnông trước và sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, luận án tìm hiểu các yếu tố thúc đẩy và cản trở nguồn lực sinh [r]

Trang 1

ĐẠI HỌC HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

PHẠM TRỌNG LƯỢNG

SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG DƯỚI TÁC ĐỘNG

CỦA THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế

Người hướng dẫn khoa học:

vào hồi: giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Trung tâm Học liệu Đại học Huế

- Thư viện Trường Đại học khoa học - Đại học Huế

- Thư viện Trường Đại học Tây Nguyên

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng các nhà máy thủy điện (NMTĐ) ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1970, đặc biệt là từ sau đổi mới (1986) đến nay Đây là kế hoạch chiến lược đảm bảo năng lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) đất nước Hàng trăm NMTĐ lớn nhỏ đã được xây dựng Các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách đã/đang nghiên cứu và đánh giá những tác động từ các công trình thủy điện (CTTĐ),

và vấn đề này tiếp tục được xem xét, cân nhắc có tiếp tục lập các dự án xây dựng nữa không hoặc tìm kiếm các nguồn năng lượng khác thay thế Tuy nhiên, để giải quyết hậu quả từ các dự

án đã được thực hiện, tìm ra các giải pháp tối ưu là thách thức đối với các nhà khoa học trong lúc cộng đồng người dân chịu ảnh hưởng từ hệ quả các CTTĐ vẫn gánh chịu hằng ngày Việc người dân thích ứng hoặc cố gắng để thích nghi với môi trường

và cuộc sống mới, cũng như những yếu tố nào giúp họ phục hồi, loại bỏ cản trở sự không ổn định, phát triển sinh kế (SK), cần có hướng tiếp cận thực tế, hiệu quả trên cơ sở lý thuyết phù hợp Sông Sêrêpôk được hợp thành bởi 2 phụ lưu sông Krông

Ana và Krông Nô Trên hệ thống sông Sêrêpôk chúng ta đã xây

dựng và vận hành 9 NMTĐ trong đó TĐ Buôn Tua Srah thuộc bậc thứ 2 Thủy điện (TĐ) Buôn Tua Srah là công trình ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, mà trước hết là người Mnông Một bộ phận chịu tác động trực tiếp phải tổ chức tái định cư (TĐC), bộ phận khác nằm trong vùng chịu ảnh hưởng Cả hai bộ phận dân cư nói trên đều chịu sự tác động và dẫn đến sự biến đổi của môi trường, văn hóa, SK, … Trong những biến đổi đó, biến đổi về lĩnh vực

SK thể hiện rất đa dạng và phức tạp Người Mnông là một trong

Trang 4

các cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn lợi từ rừng Từ khi CTTĐ Buôn Tua Srah được xây dựng, môi trường tự nhiên bị thu hẹp, nguồn lợi tự nhiên dần suy giảm Trong hoàn cảnh đó, người dân phải thay đổi SK để đảm bảo đời sống trong bối cảnh chính bản thân mình còn gặp rất nhiều khó khăn Sự thay đổi môi trường sống làm thay đổi các hoạt động SK gây ra những bất cập, khó khăn cho người dân tái định cư (TĐC) Ngoài ra một bộ phận cư dân Mnông còn lại sống tại khu vực ảnh hưởng chịu sự tác động mạnh mẽ từ CTTĐ Sự tác động của TĐ Buôn Tua Srah đã và đang trực tiếp làm thay đổi về nguồn lực tự nhiên, con người,

xã hội, tài chính, vật chất Chính những yếu tố trên dẫn đến SK

và sự thích ứng SK của người Mnông gặp rất nhiều khó khăn Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề

“Sinh kế của người Mnông dưới tác động của thủy điện Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận án tiến

sĩ dân tộc học của mình

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Qua nghiên cứu SK của người

Mnông trước và sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, luận án tìm hiểu các yếu tố thúc đẩy và cản trở nguồn lực sinh kế (NLSK) do thủy điện gây nên, đồng thời gợi ý các giải pháp phát triển SK phù hợp cho người Mnông khu TĐC và vùng tác động TĐ Buôn Tua Srah trong bối cảnh mới

Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa lí thuyết về SK;

nghiên cứu SK trước và sau khi xây dựng TĐ; thực trạng môi trường, tự nhiên, xã hội ; đánh giá những nguồn lực sinh kế (NLSK); nhận diện biến đổi SK và đề xuất các giải pháp phát triển SK cho người Mnông TĐC và vùng ảnh hưởng của TĐ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 5

Đối tượng và trọng tâm nghiên cứu của luận án là SK của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk Điểm nghiên cứu chính là 4 xã: Krông Nô, Nam Ka, Ea Rbin, Buôn Triết

4 Phương pháp nghiên cứu

Triển khai nghiên cứu SK của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu gồm: Điền dã dân tộc học, thu thập tư liệu thành văn, so sánh và đối chiếu, định tính và định lượng, phân tích và

tổng hợp và phương pháp liên ngành

5 Đóng góp của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống

về SK của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk Qua đó, chỉ ra những bất cập, hạn chế

và có những gợi ý chính sách cho phát triển sinh kế bền vững (SKBV) đối với người Mnông trong thời gian tới Bên cạnh giá tri khoa học và thực tiễn, luận án chứa đựng nguồn tư liệu thực địa có độ chân xác và cập nhật về tình hình đời sống, kinh tế, xã

hội; những vấn đề về NLSK của người Mnông hiện nay

6 Bố cục của luận án: Ngoài các phần: Mở đầu, Kết

luận và Phụ lục, luận án được cấu trúc thành 4 chương

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI, CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả ngoài và trong nước

Trang 6

1.1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả nước ngoài

Các công trình nghiên cứu SK của các tác giả nước ngoài rất đa dạng Tiêu biểu như Chambers, Robert (1969), Robert and J Morris (1973), F Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward, … và có nhiều cách tiếp cận khác nhau

Năm 1999, Cơ quan phát triển quốc tế vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung SKBV Trên cơ sở khung SK của DFID, IFAD đã phát triển sơ đồ mới về phân tích SK IFAD đặt người nghèo làm trung tâm khung SK

1.1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả trong nước

Ở Việt Nam, thuật ngữ “Sinh kế” bắt đầu được sử dụng trong các dự án liên kết với nước ngoài từ những năm 90 của thế

kỉ XX và đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như: trên lĩnh vực dân tộc học/nhân học có Ngô Văn Lệ, Ngô Phương Lan, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Sửu, …; trên lĩnh vực kinh tế có Trần Đức Viên, Bùi Đình Toái, Trần Thọ Đạt, …

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của cư dân thủy điện ở Việt Nam

1.1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về tái định cư thủy điện ở Việt Nam

Xây dựng NMTĐ có tác động lớn đến đời sống các dân tộc thiểu số Những nghiên cứu của Trần Văn Hà, Trần Văn Bình, Viện Dân tộc học, … chỉ ra rằng, vẫn còn tồn tại khoảng cách lớn giữa chính sách và thực tế Một số kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các NMTĐ lớn hay nhỏ thực tế đã làm cho điều kiện sống của cộng đồng dân cư khu vực ảnh hưởng, khu TĐC kém hơn so với trước khi di chuyển Đối tượng bị ảnh hưởng dễ

Trang 7

nhận thấy là dân tộc thiểu số và có tác động không nhỏ tới đời sống vật chất, xã hội, tinh thần, SK của bà con

1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của người dân tại khu tái định cư và vùng ảnh hưởng của các công trình thủy điện

Nghiên cứu về SK người dân khu TĐC có Phạm Minh Hạnh, Bùi Thị Bích Lan, Nguyễn Xuân Hồng, … Những nghiên cứu này cho chúng thấy được diện mạo SK người dân trong bối cảnh thay đổi môi trường sống, những nỗ lực tìm kiếm các nguồn SK tại nơi ở mới, đặc biệt là những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình tìm kiếm những NLSK đảm bảo cuộc sống

1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về người Mnông

Người Mnông được các nhà khoa học trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, như Albert - Marie Maurice,

G Condominas, Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Ngô Văn Lệ, Ngô Đức Thịnh,

1.1.4 Những kết quả luận án kế thừa từ các công trình đã công bố và các vấn đề đặt ra cần được giải quyết

Những công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến đề tài luận án khá phong phú, bao gồm các vấn đề về lý thuyết và cả trên phương diện thực tiễn Những kết quả nghiên cứu đó có ý nghĩa rất quan trọng, đã cung cấp nguồn tư liệu đa dạng, phong phú cho luận án, mặt khác còn gợi mở những vấn

đề lý luận - thực tiễn và cách thức tiếp cận để tham khảo, đối chứng trong quá trình nghiên cứu Luận án tiếp tục nghiên cứu,

hệ thống hóa lý thuyết SK, biến đối SK; SK người Mnông trước

và sau khi xây dựng TĐ; đánh giá những NLSK, nhận diện những biến đổi về SK của người Mnông và đề xuất một số giải pháp phát triển SKBV cho đồng bào Mnông dưới sự tác động của CTTĐ Buôn Tua Srah

Trang 8

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm

Khái niệm quan trọng trong luận án “Sinh kế là những hoạt động cần thiết mà cá nhân hay hộ gia đình phải thực hiện dựa trên các khả năng và nguồn lực sinh kế để kiếm sống và đạt được mục đích của mình” (DFID) Gắn với khái niệm SK là khái niệm “vốn/nguồn lực sinh kế” Hiện nay, khái niệm về các NLSK rất đa dạng Một điểm quan trọng nữa là SK không chỉ được tiếp cận ở trạng thái tĩnh mà còn được xem xét ở trạng thái biến đổi Ngoài những khái niệm trên, các khái niệm: Sinh kế bền vững, hoạt động mưu sinh, di dân, tái định cư, khu vực ảnh hưởng, phát triển bền vững cũng được dẫn rõ

1.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu

Lý thuyết Sinh thái nhân văn là một cách phân tích và giải thích về quan hệ tương hỗ giữa con người với môi trường thông qua các dòng vật chất, năng lượng và thông tin Sinh thái nhân văn được phát triển nhằm phục vụ việc nghiên cứu bản chất mối quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình tự tổ chức và cấu trúc hệ thống xã hội Trong nghiên cứu này, người Mnông được đặt ở trung tâm các mối quan hệ trong hệ sinh thái gồm tự nhiên, con người và các yếu tố ảnh hưởng trong việc điều chỉnh mối quan hệ qua lại giữa các bên liên quan

Luận án sử dụng lý thuyết SKBV để nghiên cứu về SK

của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah ở

huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk Theo đó, vốn SK hay nguồn lực SK

bao gồm những nguồn lực cụ thể, do con người tạo nên, sử dụng, cải thiện và phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu tồn tại

và phát triển của con người

1.2.3 Khung sinh kế được vận dụng trong luận án

Trang 9

Luận án sử dụng khung phân tích SK của DFID và IFAD làm căn cứ để phân tích các NLSK của người Mnông tại khu TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah, trong đó khung phân tích DFID là trọng tâm lý luận của luận án

1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Khái quát về huyện Lắk

Lắk là một huyện nghèo miền núi, nằm phía Nam dãy Trường Sơn, phía Đông Nam của tỉnh Đắk Lắk có địa hình địa mạo phức tạp Tổng diện tích tự nhiên là 1.256 km2, ranh giới hành chính: Bắc giáp huyện Krông Ana và Krông Bông, Đông giáp huyện Krông Bông - tỉnh Đắk Lắk, Tây giáp huyện Krông

Nô - tỉnh Đắk Nông và Nam giáp huyện Đam Rông và Lạc Dương - tỉnh Lâm Đồng Hiện Lắk có 22 dân tộc anh em sinh sống với dân số toàn huyện là 69.398 người, trong đó người Mnông có 8.217 hộ với 35.909 nhân khẩu chiếm hơn 50% dân

số toàn huyện Hiện nay, huyện Lắk có 1 thị trấn và 10 xã

1.3.2 Khái quát về Thủy điện Buôn Tua Srah

Ngày 22/6/2001, Thủ tướng Chính phủ kí quyết định số 95/2001/QĐ-TTG về phê duyệt Quy hoạch điện V (quy hoạch

TĐ bậc thang trên Sông Sêrêpôk) Ngày 23/06/2003, Bộ Công nghiệp kí quyết định 1470/QĐ-KHĐT tiến hành xây dựng TĐ Buôn Tua Srah CTTĐ Buôn Tua Srah được xây dựng trên sông Krông Nô - nhánh chính của sông Sêrêpôk, thuộc địa phận các

xã Nam Ka (huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Quảng Phú (huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông) Đây là công trình bậc thang thứ hai trong hệ thống 7 bậc thang trên Sông Sêrêpôk

1.3.3 Khái quát về tự nhiên và cư dân khu tái định

cư, vùng ảnh hưởng thủy điện Buôn Tua Srah

Tổ chức tái định canh định cư cho 317 hộ với 1.459 khẩu người Mnông; vùng chịu ảnh hưởng là 796 hộ và hơn 3.474

Trang 10

khẩu Như vậy, tổng số người Mnông ở huyện Lắk chịu tác động của TĐ Buôn Tua Srah là 1.113 hộ với 4.933 khẩu

Chương 2 SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG TRƯỚC KHI XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH,

2.1.2 Nguồn lực con người

Trước đây, trình độ học vấn của người Mnông thấp, hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe ở hầu hết các xã là rất khó khăn, đời sống tinh thần, cơ hội tiếp cận thông tin rất hạn chế Trong bối cảnh đó, nguồn lực con người rất khó có thể trở thành

là động lực cho sự phát triển

2.1.3 Nguồn lực xã hội

Có thể khẳng định, trước khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah quan hệ tộc người, quan hệ cộng đồng, quan hệ dòng họ, quan hệ tôn giáo trong cộng đồng người Mnông là rất tốt Đây được coi là điểm mạnh trong bối cảnh nguồn lực con người, nguồn lực tài chính còn yếu

2.1.4 Nguồn lực vật chất

Trước khi xây dựng TĐ Buon Tua Srah, nguồn lực đất đai của đồng bào tương đối dồi dào và là lợi thế cho đồng bào Mnông Tuy nhiên, hệ thống nhà ở, kho tàng, chuồng trại, trang

Trang 11

thiết bị và tiện nghi sinh hoat, các công trình cơ sở hạ tầng, chợ, nước sinh hoạt, lại có tình trạng rất kém và có ảnh hưởng lớn trong việ nâng cao năng lực hoạt động sản xuất

2.1.5 Nguồn lực tài chính

Năm ở một địa bàn nghèo nhất huyện, thu nhập chủ yếu dựa vào các hoạt động săn bắt, hái lượm, từ các sản phẩm nông lâm nghiệp, vì vậy nguồn lực tài chính của đồng bào giai đoạn trước khi xây dựng thủy điện rất yếu Nguồn thu nhập ổn định như tiền lương, lương hưu, trợ cấp thường xuyên, tiền gửi từ người thân…ở đồng bào rất hạn chế

2.2 Các hoạt động sinh kế của người Mnông trước khi xây dựng thủy điện

2.2.1 Khai thác nguồn lợi tự nhiên

Các hoạt động SK của người Mnông tương đối đa dạng

về loại hình Khai thác nguồn lợi tự nhiên góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào Lắk có diện tích rừng tương đối lớn và mang lại nhiều nguồn lợi tự nhiên Hái lượm, săn bắt, thu nhập từ rừng, sông, suối trước đây chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của gia đình, luôn đóng vai trò quan trọng trong SK của người Mnông

2.2.2 Canh tác nương rẫy

Nương rẫy là hoạt động kinh tế truyền thống của người Mnông Hiện nay, phương thức canh tác này dần được thay thế bằng phương thức canh tác hiện đại Các loại giống và cơ cấu cây trồng có thay đổi nhiều so với trước đây Tuy nhiên, nhiều tập quán truyền thống vẫn còn dễ nhận thấy khi đồng bào tổ chức sản xuất

2.2.3 Ruộng nước

Ngoài nương rẫy, người Mnông còn làm ruộng nước Nhìn chung công cụ lao động, quy trình canh tác còn phụ thuộc

Trang 12

vào tự nhiên, năng suất thấp Ngoài việc trồng lúa, để đảm bảo cuộc sống người Mnông còn trồng nhiều loại cây màu như ngô, khoai, đậu để đảm bảo lương thực trong năm

2.2.4 Chăn nuôi

Ngoài trồng trọt, chăn nuôi là một hoạt động SK có vai trò quan trọng Về gia súc, đồng bào chăn nuôi lợn, bò, trâu trong đó lợn là chủ yếu Khi thả trâu, bò họ thường đeo vào cổ một vài con trong đàn chiếc mõ theo dõi và tìm khi cần đến Do điều kiện thuận lợi nên việc nuôi gia cầm được đồng bào chú ý,

số lượng nhiều, chủ yếu là gà, vịt, ngan…

2.2.5 Nghề thủ công

Nghề thủ công được hình thành từ lâu, hoạt động nghề có tính thời vụ và thường được làm vào lúc rảnh rỗi Nhìn chung nghề thủ công của đồng bào khá phát triển về loại hình, chất lượng tốt, nhưng trình độ, kỷ thuật và tính thẩm mỹ không cao Hiện nay nghề thủ công đang bị mai một, bởi khó tiêu thụ, không cạnh tranh được với đồ nhựa và các loại đồ khác

2.2.6 Hoạt động buôn bán và trao đổi hàng hóa

Trong truyền thống, người Mnông không có hoạt động mua bán hàng hóa mà chỉ có hoạt động trao đổi sản vật Các sản phẩm săn bắt, hái lượm được sẽ trao đổi với những người có nhu cầu theo nguyên tắc “hàng đổi hàng”, không có tỷ giá Nguyên tắc trao đổi sản phẩm là thỏa thuận giữa hai bên

Chương 3 SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG TỪ KHI XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH,

HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

3.1 Biến đổi các nguồn lực sinh kế của người Mnông tái định cư và vùng chịu tác động thủy điện

Trang 13

3.1.1 Nguồn lực tự nhiên

Nguồn lực tự nhiên của đồng bào Mnông TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah gồm: diện tích đất sản xuất, đất rừng, tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Nguồn lực tự nhiên có vai trò rất quan trọng, là cơ sở, nền tảng cho các hoạt động SK Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, nghèo tài nguyên, giao thông không thuận lợi không chỉ cản trở sự kết nối người mà còn cản trở sự tiếp cận của người dân với các nguồn lực tự nhiên, gây khó khăn hơn cho việc tìm kiếm và phát triển

SK cho đồng bào Mnông vốn đã chịu nhiều thiệt thòi

3.1.2 Nguồn lực con người

Nguồn nhân lực được coi là yếu tố then chốt, có tính đột phá để xóa đói, giảm nghèo bền vững Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người sẽ tạo động lực cho sự phát triển ở cộng đồng người Mnông TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah Ngoài những yếu tố thuận lợi như lực lượng lao động dồi dào, tuổi bình quân lao động trẻ thì các yếu tố cản trở phát triển như tỷ lệ bỏ học, trình độ học vấn hạn chế; tỷ lệ được đào tạo nghề thấp; lao động chủ yếu tập trung trong lĩnh vực ông nghiệp, … đang là vấn đề đặt ra cần giải quyết

3.1.3 Nguồn lực xã hội

Đối với người Mnông ở vùng TĐ Buôn Tua Srah, việc thiết lập mạng lưới xã hội rất quan trọng để từ đó họ có được những cơ hội, lợi ích gắn bó với nhau trong việc theo đuổi những mục tiêu phát triển SK bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống Ngoài những yếu tố thuận lợi như mối quan hệ gia đình, dòng họ khá mạnh; phong tục tập quán lạc hậu được hạn chế, thì các yếu tố cản trở như thiếu kiến thức và kỹ năng làm việc; hoạt động của các đoàn thể xã hội không rõ ràng, kém

Trang 14

hiệu quả; các khóa bồi dưỡng, tập huấn hiệu quả thấp, … đang

là vấn đề mà người Mnông phải đối mặt

3.1.4 Về nguồn lực tài chính

Thực tế khảo sát ở cộng đồng người Mnông khu TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah cho thấy, bản thân họ gặp nhiều khó khăn về tài chính Muốn cải thiện được tình hình thì việc tăng đầu tư, mở rộng quy mô là một nhu cầu tất yếu Trong điều kiện hiện nay, khi khả năng tích luỹ của hộ nông dân rất thấp, sự hỗ trợ của nhà nước, các tổ chức ngày càng giảm thì việc vay vốn để đầu tư được coi là hành vi quan trọng để thoả mãn nhu cầu về mặt tài chính

3.1.5 Về nguồn lực vật chất

Người Mnông ở khu TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah, huyện Lắk được Nhà nước quan tâm đầu tư cải thiện CSHT, đất sản xuất tương đối dồi dào và có ý thức xây dựng cơ

sở vật chất Tuy nhiên, CSHT không đồng bộ, chất lượng tư liệu sản xuất kém đang là những nhân tố cản trở nguồn lực vật chất đến sự phát triển SK cho người Mnông tại khu TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah

3.2 Tác động của các nguồn lực sinh kế đến biến đổi sinh

kế người Mnông tái định cư và vùng chịu tác động thủy điện 3.2.1 Biến đổi trong hoạt động kinh tế

Từ góc độ kinh tế - xã hội, việc cấu trúc lại không gian sinh tồn là phá vỡ tính ổn định về không gian sống và tập quán canh tác của người Mnông Trong cơ cấu kinh tế của người Mnông TĐC, vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah hiện nay, đa số các lĩnh vực vẫn được bảo lưu, một số ngành nghề thay đổi, số khác biến mất, một số ngành nghề mới xuất hiện Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo kế sinh nhai theo hướng kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc tạo cơ hội chuyển đổi tập quán canh tác

Trang 15

3.2.2 Biến đổi về loại hình kinh tế

Biến đổi về trồng trọt: Hoạt động trồng trọt chuyển từ

canh tác tự nhiên làm nương rẫy sang trồng lúa, ngô, cây công nghiệp, … áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bước đầu tham gia vào nông nghiệp thị trường và những dạng hoạt động phi nông nghiệp Tuy nhiên, bản thân người Mnông vẫn phải đối mặt với nhiều nguy cơ mới nảy sinh từ khi xây dựng NMTĐ Buôn Tua Srah

Biến đổi trong chăn nuôi: Hiện nay, chăn nuôi trở thành

hoạt động kinh tế giúp nâng cao thu nhập Gia súc, gia cầm được người Mnông nuôi khá nhiều và bước đầu mang tính công nghiệp Chăn nuôi organic (chăn nuôi hữu cơ) đang được chú ý phát triển Phương pháp này phù hợp với thói quen chăn nuôi của đồng bào Rõ ràng so với truyền thống, tư duy và cách thức chăn nuôi hiện nay của người Mnông đã có sự thay đổi đáng kể

Biến đổi trong nghề thủ công: Trong những năm gần

đây nghề thủ công của đồng bào bị mai một nhiều Nguyên nhân là do quá trình xây dựng TĐ rừng bị mất, vùng nguyên liệu bị thu hẹp, các sản phẩm công nghiệp tràn ngập thị trường,

sự giao lưu tiếp xúc giữa các cộng đồng có điều kiện tiếp cận cái mới, có cơ hội chọn lựa cái phù hợp cho mình Chính vì vậy trang phục, các vật dụng đan lát là sản phẩm của các ngành

nghề truyền thống không còn được ưa chuộng

Biến đổi trong săn bắt, hái lượm: Việc xây dựng TĐ

Buôn Tua Srah đã lấy đi một phần không nhỏ diện tích rừng và môi trường sinh thái rừng huyện Lắk Hồ TĐ Buôn Tua Srah đã nhấn chìm nhiều cánh rừng tự nhiên với sự đa dạng sinh học cao Ngoài diện tích rừng bị thu hẹp, việc ngăn sông Krông Nô

đã làm thay đổi hệ sinh thái thủy sinh và có tác động không nhỏ đến loại hình SK săn bắt, hái lượm của người Mnông

Trang 16

Biến đổi trong trao đổi và buôn bán: Ngày nay kinh tế

thị trường phát triển, hoạt động buôn bán của đồng bào đã có sự thay đổi Việc đi chợ không chỉ để buôn bán, trao đổi hàng hóa

mà còn để tìm hiểu tin tức, nắm bắt thông tin thị trường, kinh nghiệm sản xuất Nhìn chung, kinh tế trao đổi buôn bán đã có bước phát triển Tuy nhiên trong loại hình kinh tế này, người Mnông đang thiếu một yếu tố quan trọng là “tư duy thương nghiệp - dịch vụ” Thiếu yếu tố này các hoạt động SK của họ vẫn còn đối diện với nhiều khó khăn do thiếu “tự chủ”

3.2.3 Biến đổi về mức sống

Biến đổi trong thu nhập: Thu nhập từ nông nghiệp chiếm

75%, chăn nuôi 20%, các hoạt động khác (khai thác thuỷ sản, khai thác lâm sản ngoài gỗ, kinh doanh tạp hóa - dịch vụ, làm thuê) là không đáng kể Qua phân tích thu nhập từ ngành nghề, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tác động của TĐ Buôn Tua Srah trong việc thay đổi cơ cấu thu nhập từ các hoạt động SK

Trong y tế: Có sự thay đổi lớn trong y tế, 91,58% trẻ em

trong độ tuổi được uống và tiêm phòng đầy đủ; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 22,3% 100% trẻ em được cấp thẻ BHYT; mức sinh giảm 0,54‰, tăng dân số tự nhiên 1,4%

Trong giáo dục: 100% xã có trường mầm non, 100%

thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo, 1 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 1; 4 trường tiểu học với 8 phân hiệu, 4 trường THCS và 2 trường THPT; huy động trẻ từ 3 đến 5 tuổi đến lớp đạt tỷ lệ 80,1%; huy động trẻ 6 tuổi vào lớp một đạt 100%; tỷ lệ học sinh bỏ học giảm xuống 0,49% năm 2017

3.2.4 Biến đổi về cảnh quan môi trường sống

Việc xây dựng TĐ Buôn Tua Srah đã làm mất đáng kể diện tích rừng, Hồ TĐ Buôn Tua Srah đã làm ngập 4253 ha đất

Có thay đổi lớn về tích lưu vực sông Krông Knô Về mặt thủy

Trang 17

văn, TĐ Buôn Tua Srah có diện tích khống chế là 2930 km2, diện tích lưu vực tính đến tuyến đập Buôn Tua Srah là 2930

km2 Sự thay đổi cảnh quan môi trường đã tác động đến các hoạt động SK của người Mnông Họ cho rằng môi trường tại địa phương đang bị xấu đi do chính các tác động của NMTĐ Buôn Tua Srah

3.3 Sinh kế thích ứng hiện nay của người Mnông tái định cư và vùng chịu tác động thủy điện

3.3.1 Trồng trọt

Việc thiếu đất, chất lượng đất xấu là vấn đề lớn nhất mà người Mnông phải đối mặt Sự hỗ trợ, tập huấn kỹ thuật, việc đầu tư máy móc góp phần sản xuất hiệu quả hơn Thực trạng trồng trọt đã bộc lộ khó khăn trong sản xuất và cuộc sống Chúng ta cần có các giải pháp để hoạt động trồng trọt mang lại thu nhập tốt và đời sống ổn định

3.3.2 Chăn nuôi

Chăn nuôi hiện là ngành có vai trò quan trọng đối với các

hộ TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah Mặc dù diện tích chăn thả bị thu hẹp nhưng nhờ được tập huấn kỹ thuật, xây dựng chuồng trại hợp lý nên chăn nuôi ngày càng được đồng bảo chú trọng Nuôi trâu bò cho bà con lợi nhuận cao tuy không thường xuyên nhưng khi bán trâu hoặc bò bà con có khoản tiền lớn tới vài chục triệu đồng

3.3.3 Sinh kế rừng

Việc xây dựng TĐ Buôn Tua Srah đã làm diện tích rừng

và môi trường sinh thái thay đổi SK rừng của người Mnông ở khu TĐC đã biến mất, các cư dân vùng ảnh hưởng bị hạn chế khai thác rừng nên các nguồn lợi từ rừng suy giảm rất nhiều

3.3.4 Sinh kế khác

Trang 18

Trong những năm gần đây nghề thủ công mai một nhiều Nguyên nhân là do quá trình xây dựng TĐ rừng bị mất, vùng nguyên liệu bị thu hẹp và hiếm, các sản phẩm công nghiệp tràn ngập thị trường, mẫu mã đa dạng Chính vì vậy, trang phục, vật dụng gia đình, … là sản phẩm của nghề truyền thống không còn được ưa chuộng

Chương 4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG

CHO NGƯỜI MNÔNG TÁI ĐỊNH CƯ VÀ VÙNG CHỊU TÁC ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH

HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

4.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cho sinh kế của người Mnông

Điểm mạnh: Về tự nhiên có: đất đai còn nhiều, diện tích

mặt nước lớn; Về xã hội có: nhiều tổ chức phối hợp, hỗ trợ; mối quan hệ xã hội mạnh Về con người: lực lượng lao động dồi dào, trẻ, khỏe; có tri thức bản địa phong phú; có ý thức đầu tư trang thiết bị sản xuất Về cơ cấu kinh tế có sự đa dạng trong đó nông nghiệp có vị trí quan trọng, chăn nuôi và một số ngành nghề khác có cơ hội phát triển

Điểm yếu: Hạn hán, thiếu nước, dịch bệnh; thiếu vốn sản

xuất; ngồn lực tự nhiên cạn kiệt; trình độ học vấn, chuyên môn, kiến thức, kĩ năng còn yếu

Cơ hội: Nhà nước và nhiều tổ chức quan, tâm hỗ trợ; có

nhiều cơ hội chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Thách thức: Sự biến động giá cả; thiệt hại do thiên tai,

dịch bệnh; xuất phát từ đặc điểm văn hóa; đặc tính và năng lực

của người Mnông

4.2 Phân tích tích sinh kế các ngành nghề của người Mnông

Trang 19

Hiện nay, hoạt động các ngành nghề của đồng bào Mnông TĐC và vùng ảnh hưởng Buôn Tua Srah tương đối đa dạng, như trồng cây công nghiệp, trồng lúa và màu, chăn nuôi, các hoạt động khai thác thuỷ sản, khai thác lâm sản ngoài gỗ, kinh doanh tạp hóa, dịch vụ…

4.3 Những gợi ý về giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người Mnông

4.3.1 Giải pháp cải thiện và phát triển các nguồn lực sinh kế

Đối với nguồn lực tự nhiên:

- Giao đủ đất cho đồng bào, hỗ trợ thêm đất để họ tổ chức

sản xuất hiệu quả, đảm bảo thu nhập

- Tích cực thực hiện chính sách trồng rừng và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn

- Hỗ trợ đồng bào chuyển sản xuất từ quảng canh sang

thâm canh nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên

- Quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên nước hợp lý, quan

tâm áp dụng các giải pháp sử dụng nước tiết kiệm

Đối với nguồn lực con người:

- Tổ chức đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

- Nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng đào tạo nghề, trình độ, kĩ năng, năng lực giữa người Mnông với cộng đồng khác

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên

chức, đặc biệt là đội ngũ cán bộ thôn, buôn

- Cần sửa đổi và tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên đào tạo học sinh, sinh viên người Mnông thông qua chính sách

tín dụng ưu đãi, học bổng, tuyển sinh

- Cần phát huy tốt vai trò tiền phong gương mẫu của các

vị già làng, trưởng bản, những người có uy tín, chức sắc trong

việc cải thiện năng lực nhận thức của đồng bào

Trang 20

Đối với nguồn lực xã hội:

- Phát huy truyền thống văn hóa, tinh thần đoàn kết tương trợ lẫn nhau, coi đây là nguồn lực quan trọng trong giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào

- Xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp nhằm tập

hợp, gắn kết đồng bào để cải thiện SK

- Nâng cấp CSHT, trường, chợ, thông tin, Internet để đồng bào tiếp cận các dịch vụ phục vụ phát triển SK

Đối với nguồn lực tài chính:

- Khuyến khích đồng bào chăm lo sản xuất, chi tiêu hợp

lý, có kế hoạch đầu tư phát triển

- Tìm kiếm, khuyến khích các tổ chức tín dụng tăng

cường cho vay vốn ưu đãi cho đồng bào

- Liên kết doanh nghiệp với đồng bào tạo ra chuỗi giá trị

từ sản xuất đến thị trường

Đối với nguồn lực vật chất:

- Xây dựng CSHT tố để tạo điều kiện phát triển

- Tập huấn sử dụng tài chính gia đình hợp lý, tập trung

mua sắm máy móc phục vụ sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp

Trang 21

- Hỗ trợ bà con tự sản xuất ra phân bón hữu cơ bằng các nguồn nguyên liệu tại chỗ, vừa cải tạo đất vừa giảm chi phí mua phân bón vô cơ

- Sử dụng giống cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, sinh thái và có giá trị cao

- Tổ chức các lớp tập huấn trồng trọt, chăn nuôi giúp người dân có kiến thức tốt hơn để đối phó với thiên tai, dịch bệnh

- Lắng nghe ý kiến đóng góp của các hộ, khuyến khích các sáng kiến về SK, sử dụng tri thức bản địa vào sản xuất

- Hỗ trợ hộ dân vay vốn để mua các trang thiết bị phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa

Đối với chăn nuôi:

- Hỗ trợ thêm đất làm chuồng trại va hỗ trợ xây dựng chuồng trại đảm bảo yêu cầu kĩ thuật, thân thiện với môi trường

- Tập huấn kiến thức và kĩ thuật chăn nuôi cho các hộ, đặc biệt là kĩ thuật phòng bệnh, lựa chọn con giống

- Ưu tiên phát triển đàn lợn và đàn gia cầm phù hợp với điều kiện, vốn ít, quay vòng nhanh

- Tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp như: cám gạo, bắp, … trộn với thân, lá ngô, khoai, … ủ thành thức ăn giảm chi phí và chủ động được nguồn thức ăn

- Nên có chính sách hỗ trợ đồng bào bảo hiểm nông nghiệp để đồng bào tự tin đầu tư sản xuất, tránh rủi ro

Đối với phát triển lâm nghiệp:

- Hiện tại huyện Lắk còn nhiều đất lâm nghiệp chưa có rừng Do vậy, cần đẩy mạnh việc rà soát, chuyển giao và cấp đất cho người Mnông trồng rừng để cải thiện SK

- Cần chia sẻ nguồn lực chăm sóc và quản lý rừng tự nhiên cho đồng bào Mnông

Trang 22

- Cần tiếp tục tập huấn các kiến thức cơ bản về trồng và chăm sóc rừng cho các hộ gia đình Hỗ trợ và hướng dẫn người Mnông trồng xen canh nhằm tăng giá trị sử dụng đất

- Cần hỗ trợ thông tin và cách tiếp cận để người dân có thể đăng ký mua cây giống, thực hiện kế hoạch khai thác đúng thời điểm nhằm nâng cao giá trị

- Đẩy mạnh việc tuyên truyền giúp người dân hiểu và nắm rõ chính sách hỗ trợ, ưu đãi của nhà nước về phát triển sản xuất nông lâm nghiệp

- Cần liên kết với các nhà máy, xí nghiệp, đơn vị sản xuất nhằm thu gom các loại sản phẩm Đảm bảo sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông – lâm nghiệp được thông suốt

- Hỗ trợ và vận động các hộ dân trồng rừng, thu gom và chế biến ở địa phương, thành lập các nhóm sản xuất ở cơ sở

- Hỗ trợ người trồng rừng ký kết với doanh nghiệp nhằm tận dụng nguồn vốn đầu tư, kỹ thuật và các giải pháp kinh doanh rừng trồng

- Đào tạo cho những người Mnông nòng cốt về các kỹ thuật nâng cao trong chăm sóc và khai thác rừng, sản xuất cây con, quản lý nhóm bao gồm cả quản lý tài chính nhóm

Đối với ngành nghề thủ công:

- Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển nghề thủ công Bước đầu lựa chọn và duy trì, phát triển một số sản phẩm có tiềm năng

- Tìm đầu ra cho sản phẩm thông qua con đường du lịch, xúc tiến thương mại, xúc tiến du lịch

- Thực hiện công nhận danh hiệu “Nghệ nhân nghề truyền thống” đối với những người giỏi nghề để khuyến khích

họ say mê và tâm huyết với nghề Thực hiện tốt chính sách đối

Trang 23

với nghệ nhân Đào tạo nghề cho lớp kế thừa, dạy nghề cho thế

Trang 24

KẾT LUẬN

1 Trước khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah, việc có nhiều rừng, sông, suối, đất đai màu mỡ, đang dạng về động thực vật là một lợi thế về nguồn lực tự nhiên của người Mnông Bên cạnh

đó đồng bào có mối quan hệ xã hội tốt được coi là điểm mạnh Tuy nhiên những nguồn lực khác như tài chính, vật chất, con người về cơ bản là yếu, khó trở thành động lực cho sự phát triển cho SK của đồng bào

2 Hoạt động kinh tế của đồng bào trước khi xây dựng

TĐ Buôn Tua Srah, còn khá phụ thuộc vào tự nhiên Săn bắt và hái lượm có vai trò lớn trong đời sống Trồng trọt là hoạt động kinh tế chủ đạo với các loại hình canh tác nương, rẫy, ruộng Chăn nuôi gia súc gia cầm với lối chăn thả tự nhiên, đơn giản, thiếu sự chăm sóc Phần đa đồng bào có cuộc sống khó khăn và đối mặt với nhiều vấn đề thách thức trong đời sống hàng ngày

3 Năm NLSK của người Mnông sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah đã có những thay đổi khác biệt so trước Nguồn lực bị ảnh hưởng lớn nhất là tự nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất phục vụ sản xuất nhằm đảm bảo sinh kế Diện tích đất sản xuất tại nơi TĐC thường có chất lượng thấp, nguồn nước khan hiếm dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao Riêng với người dân vùng chịu tác động TĐ, họ phải đối mặt với sự thay đổi về thời tiết, khí hậu và lịch hoạt động của NMTĐ Với bản tính chân thật, hiền lành, hòa đồng… của người Mnông, nguồn lực xã hội được coi là ít biến đổi nhất Nguồn lực con người, nguồn lực vật chất

và nguồn lực tài chính đều tăng mạnh

4 Các NLSK biến đổi đã tác động đến sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, loại hình kinh tế, mức sống và cảnh quan môi trường Cơ cấu kinh tế của đồng bào được chuyển từ khai thác các nguồn lợi tự nhiên, nông nghiệp, chăn nuôi, nghề thủ công,

Trang 25

trao đổi buôn bán sang nông nghiệp, chăn nuôi, trao đổi buôn bán, làm thuê, khai thác các nguồn lợi tư nhiên, nghề thủ công

Có sự chuyển biến trong loại hình kinh tế trồng trọt, chăn nuôi, trao đổi và buôn bán theo hướng thị trường; các loại hình khác như nghề thủ công, săn bắt hái lượm thì suy giảm nhan chóng Bên cạnh đó là sự thay đổi về mức sống ở các yếu tố thu nhập, giáo dục và y tế Cảnh quan môi trường tự nhiên sau khi xây dựng TĐ cũng thay đổi theo hướng kém hơn

5 Sau 14 kể từ khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah, SK của người Mnông đã có sự cải thiện đáng kể, có điều kiện để phát triển bền vững theo hướng thích ứng với bối cảnh mới Nhìn chung cuộc sống của người dân TĐC và vùng ảnh hưởng có xu hướng tốt hơn so với trước Tuy nhiên, cũng có một số vấn đề đang đặt ra trong việc đảm bảo sinh kế theo hướng bền vững Ngoài diện tích đất sản xuất bị thu hẹp, chất lượng đất có xu hướng giảm, hộ gia đình vẫn lệ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, mất nguồn thu từ rừng, nên đã phần nào hạn chế đến phát triển SKBV của đồng bào

6 Để giúp đồng bào có cuộc sống bền vững hơn sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah, bên cạnh những giải pháp nâng cao hiệu quả của năm NLSK trong đó chú trọng đến nguồn lực con người, nguồn lực tự nhiên Song song với đó là các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các loại hình sinh kế cũng cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả, phục vụ mục tiêu phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào

7 Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án, bằng mong muốn và tâm huyết với vấn đề nghiên cứu, tác giả nhận thấy một số hướng nghiên cứu có thể tiếp tục theo đuổi trong tương lai Cụ thể:

Trang 26

- Cần có một nghiên cứu sâu về năng lực tư duy kinh tế thị trường và hàng hóa đối với đồng bào Mnông TĐC và vùng tác động TĐ Buôn Tua Srah nói riêng, người Mnông nói chung

- Dưới góc độ Nhân học kinh tế, cần có nghiên cứu chuyên sâu về năng lực sử dụng tài chính trong trong các hoạt động sinh kế của đồng bào

- Dưới góc độ quản lý, cần có những nghiên cứu và tư vấn chính sách cho các cơ quan quản lý khi thực hiện công tác đền bù, phải có kế hoạch cung cấp kinh phí cho từng giai đoạn phù hợp với đề án, kế hoạch để đảm bảo đồng bào sử dụng nguồn tài chính một cách hiệu quả

- Dưới góc độ văn hoá, cần có những nghiên cứu thêm về biến đổi SK đã tác động đến những thay đổi trong hành vi văn hoá và lối sống của người Mnông như thế nào

- Dưới góc độ chính sách, hiện nay có quá nhiều chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ dẫn đến tình trạng chồng chéo, manh mún, thiếu tính hệ thống Một số chính sách không còn phù hợp nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung; nguồn tài chính bố trí thực hiện các chính sách nhỏ, không kịp thời; việc thực thi các chính sách chưa thật sự tốt Cần phải thay đổi cơ bản nội dung các chính sách theo hướng tích hợp chính sách, tập trung nguồn lực, giải quyết triệt để mục tiêu./

Trang 27

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

* Bài báo khoa học

1 Phạm Trọng Lượng (2019), “Nguồn vốn vật chất trong

sự phát triển sinh kế của người Mnông tại khu tái định cư và vùng tác động thủy điện Buôn Tua Srah, huyện Lắk, tỉnh Đắk

Lắk”, Tạp chí Dân tộc học, (ISSN 0866 - 7632), số 1 (211) -

2019 (tháng 3/2019), tr 43-52

2 Phạm Trọng Lượng (2018), “Biến đổi sinh kế của người Mnông ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk dưới tác động thủy điện Buôn

Tua Srah”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế - Chuyên san Khoa học

Xã hội và Nhân văn (ISSN 2588 - 1213), Tập 127, Số 6C, 2018, Tr

65–75; DOI: 10.26459/hueuni-jssh.v127i6C.4873, tr 65-75

3 Phạm Trọng Lượng (2018), “Các nhân tố thúc đẩy và cản trở nguồn lực con người tại khu tái định cư và vùng ảnh hưởng thủy điện Buôn Tua Srah”, Tạp chí khoa học và Công nghệ, Trường Đại học khoa học Huế (ISSN 2354 - 0850), Tập

hydroelectric power plant, Lak district, Dak Lak province”, Hue University Journal of Science: Social Sciences and Humanities

(ISSN 2588 - 1213), Vol 128, No.6B, 2019, Tr 27-38; DOI: 10.26459/hueuni-jssh.v128i6B.5014

Trang 28

* Báo cáo hội thảo:

1 PGS.TS Nguyễn Văn Manh, ThS Phạm Trọng Lượng (2017), “Tổng quan một số sách nghiên cứu các tộc người ở

Tây Nguyên”, Hội thảo khoa học “Kết quả các nghiên cứu về chính sách dân tộc ở khu vực duyên hải miền trung từ năm 1986 đến nay, những khoảng trống, lỗ hổng cần nghiên cứu thời gian tới” của Học viện Dân tộc Việt Nam tổ chức tại Huế ngày 31

tháng 8 năm 2017

2 Phạm Trọng Lượng (2016), “Sự tồn tại của quy ước thôn buôn, phác thảo từ nghiên cứu định tính (Trường hợp xã

Cư’Mta, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk)”, Hội thảo khoa học

“Nghiên cứu áp dụng quy ước thôn buôn trong quản lý xã hội nông thôn vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên”, Đại học Tây

Nguyên tháng 11 năm 2016, tr.34-42

3 Phạm Trọng Lượng (2017), “Tín ngưỡng vạn vật hữu

linh của người Ê đê và các biểu hiện qua luật tục Ê đê”, Hội thảo khoa học “Nghiên cứu luật tục, đề xuất giải pháp và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Ê đê trong thời kì đổi mới”, Đại

học Tây Nguyên tháng 6 năm 2017, tr 23-30

* Đề tài nghiên cứu:

1 Phạm Trọng Lượng (2018), “Sinh kế của người M’nông tại các buôn tái định cư thủy điện Buôn Tua Srah xã

Krông Nô, huyện Lắk”, Đề tài cấp cơ sở trường Đại học Tây Nguyên năm 2018, đã nghiệm thu

2 Phạm Trọng Lượng (2016), “Nghiên cứu áp dụng quy ước thôn buôn trong quản lý xã hội nông thôn vùng dân tộc

thiểu số Tây Nguyên”, Đề tài cấp Bộ, Mã số: B2015-15-27,

thành viên nghiên cứu, đã nghiệm thu

3 Phạm Trọng Lượng (2017), Nghiên cứu luật tục, đề xuất giải pháp và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Ê đê trong

Ngày đăng: 29/01/2021, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w