1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý rủi ro trong hợp đồng tư vấn quản lý dự án trong điều kiện việt nam

152 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các câu trả lời bảng câu hỏi được phân tích bằng phương pháp phân tích nhân tố, kết quả xác định được 5 nhân tố phổ biến gây ra rủi ro trong hợp đồng tư vấn quản lý dự án, đó là “Quy địn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Chuyên ngành: Công Nghệ và Quản Lý Xây Dựng

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- -

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên : TRẦN LÊ NGUYÊN KHÁNH MSHV : 09080238

Ngày, tháng, năm sinh : 05 / 05 / 1985 Nơi sinh : Bình Định

Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VẦ QUẢN LÝ XÂY DỰNG Mã số : 60.58.90

I TÊN ĐỀ TÀI :

QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HỢP ĐỒNG TƯ VẤN QUẢN LÝ DỰ ÁN

TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG :

- Xác định các yếu tố rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA

- Đo lường khả năng xảy ra, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro trên và phân

tích tác động đến các bên liên quan

- Đánh giá thực trạng các giải pháp quản lý rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA trong điều kiện Việt Nam và đề xuất các giải pháp phù hợp

V HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGÔ QUANG TƯỜNG

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội đồng chuyên ngành thông qua

Tp.HCM, ngày 01 tháng 08 năm 2012

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM TRƯỞNG KHOA

BỘ MÔN ĐÀO TẠO

PGS.TS NGÔ QUANG TƯỜNG TS LƯƠNG ĐỨC LONG

Trang 3

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang i

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô giảng dạy chuyên ngành Công nghệ và Quản lý xây dựng, bộ môn Thi công và Quản lý xây dựng, trường Đại học Bách Khoa tp.HCM đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báu trong suốt quá trình học tập tại đây

Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến người thầy hướng dẫn luận văn của tôi

là GS.TS Ngô Quang Tường, trường Đại học Bách Khoa tp.HCM Thầy đã nhiệt tình theo sát chỉ bảo, tư vấn và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành luận văn này Kiến thức chuyên môn và sự tận tâm của thầy đối với sinh viên là một chuẩn mực mà tôi luôn ngưỡng mộ

Tôi biết ơn sâu sắc đến tất cả những người đã cho tôi sự trợ giúp trong việc có được các thông tin và dữ liệu liên quan đến nghiên cứu Cảm ơn đặc biệt đến các bạn của tôi cho sự sẵn sàng để điền vào các bảng câu hỏi nghiên cứu

Tôi rất biết ơn các đồng nghiệp của tôi, những người ủng hộ tôi trong việc phân phối và thu thập các bảng câu hỏi nghiên cứu Đó cũng là niềm vui của tôi để cảm ơn tất cả các chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn quản lý dự án, các đại diện của chủ đầu tư đã giúp tôi thực hiện luận án này bằng cách trả lời bảng câu hỏi

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, tôi biết ơn gia đình tôi, người đã đem lại cho tôi hỗ trợ vật chất và tinh thần trong suốt thời gian của tôi ở trường đại học

TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2012 Người thực hiện luận văn

Trần Lê Nguyên Khánh

Trang 4

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang ii

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN

Quản lý thực hiện hợp đồng trong hoạt động xây dựng đã được công nhận là một quá trình quản lý rất quan trọng để đạt được các mục tiêu của dự án Tuy nhiên, cho đến bây giờ hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào một số khía cạnh của quản lý hợp đồng hơn là chú ý đến các rủi ro bên trong hợp đồng Đối tượng chính của những nghiên cứu này thường là hợp đồng thi công xây dựng

Tư vấn quản lý dự án với vai trò thay mặt chủ đầu tư để quản lý dự án có ảnh hưởng rất lớn đến thành công của dự án Hợp đồng tư vấn quản lý dự án với những đặc thù về công việc chưa được quan tâm đúng mức về vấn đề quản lý rủi ro Hơn nữa cũng chưa

có một cách tiếp cận có hệ thống và toàn diện để xác định các rủi ro và phân tích các khả năng xảy ra và tác động của những rủi ro này được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây Do đó bài viết này nhằm mục đích xác định và phân tích các rủi ro, các quy trình quản lý rủi ro liên quan đến hợp đồng tư vấn quản lý dự án tại Việt Nam

Thông qua một nghiên cứu toàn diện về các tài liệu học thuật, xác định 48 yếu tố rủi

ro trong hợp đồng tư vấn quản lý dự án Một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi và phỏng vấn được thực hiện với các nhóm đối tượng được lựa chọn bao gồm chủ đầu tư, tư vấn quản lý dự án và các chuyên gia để thu thập dữ liệu Các câu trả lời bảng câu hỏi được phân tích bằng phương pháp phân tích nhân tố, kết quả xác định được 5 nhân tố phổ biến gây ra rủi ro trong hợp đồng tư vấn quản lý dự án, đó là “Quy định về phạm vi công việc, quyền và nghĩa vụ của tư vấn quản lý dự án”, “Quy định về nhân lực của tư vấn quản lý dự án và các vấn đề liên quan đến tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi chủ đầu tư”, “Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư”, “ Quy định về điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng” và “Quy định về điều chỉnh giá hợp đồng”

Trang 5

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang iii

ABSTRACT

Managing performance of contracts in construction activities has been recognised as

a very important management process in order to achieve the project objectives However, until now most research has focused on some aspects of contract management rather than having attention to risks in the contract.The primary objective

of these research is usually the construction contract

Role of project management on behalf of the client to manage projects has greatly influenced to the success of the project Project management contract with such specific works has not been properly concerned about risk management issue More than that a systematic and holistic approach to identify risks and analyse the likelihood of occurrence and impacts of these risks has not been used in previous research So that this paper aims to identify and analyse the risks, processes of risk management associated with the project management contract in Viet Nam

Through a comprehensive study of literature review, identified 48 risk factors in project management contract A questionnaire survey and interviews were carried out with selected respondents groups including client, consultant and expert to collect data The questionnaire responses were analyzed by component analysis method, which resulted in identification of 5 common factors causing risk in project management contract, they are “Regulations on the scope of work, rights and obligations of consultant”, “Regulations on human resources of consultant and regulations on suspension and termination of the contract by the client”, “Regulations on the rights and obligations of client”, “Regulations on adjustment of the contract duration” and

“Regulations on adjustment of the contract sum”

Trang 6

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang iv

LỜI CAM ĐOAN

Tôi, Trần Lê Nguyên Khánh, xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện Luận văn:

“Quản lý rủi ro trong hợp đồng tư vấn quản lý dự án trong điều kiện Việt Nam”, các số liệu thu thập và kết quả nghiên cứu được thể hiện hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ nghiên cứu nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nghiên cứu của mình

TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2012 Người thực hiện luận văn

Trần Lê Nguyên Khánh

Trang 7

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang v

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN ii

ABSTRACT iii

LỜI CAM ĐOAN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH ẢNH xi

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Giới thiệu chung về tình hình nền kinh tế Việt Nam 1

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu của nghiên cứu 4

1.4 Phạm vi của nghiên cứu 5

1.5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 7

2.1 Căn cứ pháp lý về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 7

2.1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình 8

2.1.2 Các hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 8

2.1.3 Nội dung của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 8

2.1.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của các bên liên quan 8

2.1.5 Năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn quản lý dự án 9

2.1.6 Lựa chọn nhà thầu tư vấn quản lý dự án .10

2.2 Căn cứ pháp lý về hợp đồng trong hoạt động xây dựng .12

2.2.1 Hợp đồng trong hoạt động xây dựng .12

2.2.2 Khung pháp lý của hợp đồng trong hoạt động xây dựng .12

2.2.3 Phân loại hợp đồng trong hoạt động xây dựng .13

2.3 Tổng quan về hợp đồng tư vấn quản lý dự án .14

2.3.1 Hợp đồng tư vấn quản lý dự án .14

Trang 8

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang vi

2.3.2 Hiệu lực và tính pháp lý của hợp đồng tư vấn quản lý dự án 14

2.3.3 Những nội dung chủ yếu của hợp đồng tư vấn quản lý dự án 15

2.4 Tổng quan về rủi ro trong hoạt động xây dựng .23

2.4.1 Định nghĩa rủi ro .23

2.4.2 Phân loại rủi ro .24

2.4.3 Bản chất của rủi ro .25

2.4.4 Phân biệt rủi ro và sự không chắc chắn 27

2.5 Tổng quan về quản lý rủi ro trong hoạt động xây dựng 27

2.5.1 Định nghĩa quản lý rủi ro .27

2.5.2 Quy trình quản lý rủi ro .29

2.5.3 Lập kế hoạch quản lý rủi ro .31

2.5.4 Xác định rủi ro .32

2.5.5 Bản ghi chú rủi ro 34

2.5.6 Đánh giá rủi ro .36

2.5.7 Giám sát và kiểm soát rủi ro .38

2.5.8 Lập kế hoạch ứng phó và giảm nhẹ rủi ro .39

2.5.9 Phân bổ rủi ro .42

2.5.10 Quản lý rủi ro thông qua hợp đồng tiêu chuẩn .45

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .49

3.1 Quy trình nghiên cứu .49

3.2 Xác định các yếu tố rủi ro trong hợp đồng tư vấn quản lý dự án .50

3.3 Bảng câu hỏi khảo sát và thu thập dữ liệu .56

3.3.1 Quy trình thiết kế bảng câu hỏi khảo sát và thu thập dữ liệu .56

3.3.2 Nguyên tắc thiết kế bảng câu hỏi khảo sát .57

3.3.3 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát .57

3.3.4 Thu thập dữ liệu .58

3.4 Phương pháp phân tích nhân tố .58

3.4.1 Khái niệm phương pháp phân tích nhân tố .58

3.4.2 Xác định kích thước mẫu .60

3.4.3 Kiểm định thang đo .61

3.4.4 Kiểm định trị trung bình tổng thể Mann-Whitney .63

Trang 9

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang vii

3.4.5 Kiểm định hệ số tương quan hạng Spearman .63

3.4.6 Phân tích ma trận tương quan và sự phù hợp của phân tích nhân tố .64

3.4.7 Mô hình nhân tố .64

3.4.8 Số lượng nhân tố được trích xuất .65

3.4.9 Xoay nhân tố .65

3.4.10 Đặt tên và giải thích các nhân tố .66

3.4.11 Tóm tắt .66

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU .68

4.1 Khảo sát thử nghiệm .68

4.1.1 Thống kê mô tả .68

4.1.2 Khảo sát thử nghiệm khả năng xảy ra .70

4.1.3 Khảo sát thử nghiệm mức độ ảnh hưởng .70

4.2 Khảo sát chính thức 71

4.2.1 Thống kê mô tả .71

4.2.2 Kiểm định thang đo .75

4.2.3 Kiểm định trị trung bình tổng thể .76

4.2.3 Xếp hạng các yếu tố rủi ro .78

4.3 Phân tích nhân tố .83

4.3.1 Xác định số biến đưa vào phân tích nhân tố 83

4.3.2 Kiểm định hệ số hệ số KMO và Bartlett's test .86

4.3.3 Số lượng nhân tố được trích xuất .86

4.3.4 Tương quan giữa các nhân tố và các biến .88

4.3.5 Kết quả phân tích nhân tố .90

4.3.6 Đánh giá kết quả .91

CHƯƠNG 5: TÌNH HUỐNG NGHIÊN CỨU .95

5.1 Tình huống nghiên cứu về rủi ro trong hợp đồng .95

5.1.1 Tình huống thứ nhất .95

5.1.2 Tình huống thứ hai .97

5.1.3 Tình huống thứ ba .99

5.1.4 Tình huống thứ tư 101

Trang 10

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang viii

5.1.5 Tình huống thứ năm 102

5.2 Tình huống nghiên cứu về quản lý rủi ro trong hợp đồng 103

5.3 Đề xuất giải pháp quản lý rủi ro trong hợp đồng phù hợp 104

5.3.1 Đề xuất chiến lược phát triển quy trình quản lý rủi ro trong tổ chức 104

5.3.2 Đề xuất quy trình quản lý rủi ro trong tổ chức 105

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 115

6.1 Kết luận 108

6.2 Khuyến nghị cho các bên liên quan 109

6.3 Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 1: HỆ SỐ ITEM-TOTAL CORRELATION 121

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MANN-WHITNEY 127

PHỤ LỤC 3: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 130

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 139

Trang 11

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang ix

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Vốn FDI năm 2011 theo hình thức đầu tư 1

Bảng 1.2: Top 5 ngành thu hút vốn FDI lớn nhất năm 2011 2

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp mã hóa 48 yếu tố rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA .53

Bảng 4.1: Đơn vị công tác của người trả lời khảo sát thử nghiệm .68

Bảng 4.2: Kinh nghiệm công tác của người trả lời khảo sát thử nghiệm .69

Bảng 4.3: Chức vụ công tác của người trả lời khảo sát thử nghiệm .69

Bảng 4.4: Hệ số Cronbach’s Anpha khảo sát thử nghiệm khả năng xảy ra .70

Bảng 4.5: Hệ số Cronbach’s Anpha khảo sát thử nghiệm mức độ ảnh hưởng .70

Bảng 4.6: Đơn vị công tác của người trả lời khảo sát .71

Bảng 4.7: Kinh nghiệm công tác của người trả lời khảo sát .72

Bảng 4.8: Chức vụ công tác của người trả lời khảo sát .72

Bảng 4.9: Lĩnh vực dự án lớn nhất tham gia QLDA của người trả lời khảo sát .73

Bảng 4.10: Quy mô dự án lớn nhất tham gia QLDA của người trả lời khảo sát .74

Bảng 4.11: Nguồn vốn dự án lớn nhất tham gia QLDA của người trả lời khảo sát .75

Bảng 4.12: Hệ số Cronbach’s Anpha khả năng xảy ra .75

Bảng 4.13: Hệ số Cronbach’s Anpha mức độ ảnh hưởng .76

Bảng 4.14: Kết quả kiểm định Mann-Whitney trị trung bình khả năng xảy ra .76

Bảng 4.15: Kết quả kiểm định Mann-Whitney trị trung bình mức độ ảnh hưởng .77

Bảng 4.16: Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm của chủ đầu tư .78

Bảng 4.17: Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm của tư vấn QLDA .79

Bảng 4.18: Xếp hạng các yếu tố rủi ro theo quan điểm của chung .80

Bảng 4.19: So sánh xếp hạng các yếu tố rủi ro giữa các nhóm .81

Bảng 4.20: Hệ số tương quan hạng Spearman các yếu tố rủi ro giữa các nhóm .83

Bảng 4.21: Ma trận đánh giá các yếu tố rủi ro .84

Bảng 4.22: Xếp hạng trạng thái các yếu tố rủi ro theo quan điểm của chung .84

Bảng 4.23: Hệ số KMO và Bartlett's Test .86

Bảng 4.24: Đại lượng Communalities .86

Bảng 4.25: Tổng phương sai được giải thích .87

Bảng 4.26: Ma trận nhân tố khi xoay .88

Trang 12

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang x Bảng 4.27: Ma trận nhân tố khi xoay tính lại .89 Bảng 4.28: Kết quả phân tích nhân tố 90

Trang 13

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang xi

DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 2.1: Trình tự giải quyết tranh chấp hợp đồng .22

Hình 2.2: Rủi ro, sự không chắc chắn và thông tin sẵn có cho sự kiện rủi ro .27

Hình 2.3: Quy trình phân tích và quản lý rủi ro dự án (PRAM) .30

Hình 2.4: Hệ thống quản lý rủi ro 31

Hình 2.5: Sự phát triển của bản ghi chú rủi ro .35

Hình 2.6: Xếp hạng các yếu tố rủi ro .36

Hình 2.7: Quy trình giảm nhẹ rủi ro .40

Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu .49

Hình 3.2: Sơ đồ quy trình thiết kế bảng câu hỏi khảo sát và thu thập dữ liệu .56

Hình 3.3: Sơ đồ thể hiện phương pháp phân tích nhân tố .60

Hình 4.1: Đơn vị công tác của người trả lời khảo sát thử nghiệm .68

Hình 4.2: Kinh nghiệm công tác của người trả lời khảo sát thử nghiệm .69

Hình 4.3: Chức vụ công tác của người trả lời khảo sát thử nghiệm .70

Hình 4.4: Đơn vị công tác của người trả lời khảo sát .71

Hình 4.5: Kinh nghiệm công tác của người trả lời khảo sát .72

Hình 4.6: Chức vụ công tác của người trả lời khảo sát .73

Hình 4.7: Lĩnh vực dự án lớn nhất tham gia QLDA của người trả lời khảo sát .73

Hình 4.8: Quy mô dự án lớn nhất tham gia QLDA của người trả lời khảo sát .74

Hình 4.9: Nguồn vốn dự án lớn nhất tham gia QLDA của người trả lời khảo sát .75

Hình 4.10: Đại lượng Eigenvalue .88

Hình 5.1: Mô hình quản lý chất lượng công tác tư vấn QLDA 103

Hình 5.2: Quy trình quản lý rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA đề xuất 107

Hình 5.3: Mô hình quản lý chất lượng công tác tư vấn QLDA đề xuất 107

Trang 14

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 1

CHƯƠNG 1:

MỞ ĐẦU

1.1 Giới thiệu chung về tình hình nền kinh tế Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2011 là 5,89%, thấp hơn so với mức 6,78% trong năm 2010 (Tổng cục Thống kê, 2012) nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn, cả nước tập trung ưu tiên hiệu quả đầu tư công, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và cải cách các cơ cấu khác nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế

vĩ mô Việt Nam thì đây là con số khá cao và hợp lý Nhóm ngành công nghiệp - sản xuất có tỷ trọng lớn nhất trong GDP và có tốc độ tăng thêm 6,8%, tỷ lệ này dù thấp hơn mức 7,7% của năm 2010 (Tổng cục Thống kê, 2012), nhưng cao hơn tốc độ chung, nên tiếp tục là động lực và đầu tàu của tăng trưởng kinh tế

Việt Nam là một nền kinh tế mở, có lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn Cho nên, khi nền kinh tế thế giới bị suy thoái thì Việt Nam cũng dễ bị tổn thương, tuy nhiên trong năm 2011, các quốc gia Đông Á đang là các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam Trong đó Hồng Kông là nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, Nhật Bản đứng vị trí thứ hai Như vậy, Việt Nam vẫn là điểm đích cho nguồn vốn FDI Thành phố Hồ Chí Minh với gần 3 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 20,4% tổng vốn đầu tư là

địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất, vẫn xứng đáng là mũi nhọn kinh tế cả nước (Bộ KH&ĐT, 2012)

Bảng 1.1: Vốn FDI năm 2011 theo hình thức đầu tư

(Nguồn: Bộ KH&ĐT, 2012)

Số dự

án cấp mới

Vốn đăng

ký cấp mới (triệu USD)

Số lượt

dự án tăng vốn

Vốn đăng ký tăng thêm (triệu USD)

Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm (triệu USD)

Vốn FDI đăng ký mới và đăng ký tăng thêm tại Việt Nam trong năm 2011đạt 14,7

tỷ USD, giảm tới 26% so với năm 2010 Trong đó, riêng vốn đăng ký mới đạt 11,6 tỷ

Trang 15

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 2

USD, giảm 35% Dù số vốn đăng ký giảm nhưng đã có những chuyển biến theo hướng tích cực, vốn FDI đăng ký trong năm 2011 tập trung 76,4% vào lĩnh vực công nghiệp

và xây dựng, cao hơn hẳn tỷ trọng 54,1% đầu tư vào lĩnh vực này năm 2010 (Bộ KH&ĐT, 2012)

Năm 2011, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn với 899 dự án cấp mới, trong tổng số 1091 dự án cấp mới, chiếm trên 82%, với vốn đăng ký cấp mới hơn 6,5 tỷ USD Tiếp đến là hình thức liên doanh với 186 dự án, chiếm 17%, với vốn đăng ký cấp mới gầnn 2,7 tỷ USD Đặc biệt hình thức BOT, BT, BTO chỉ duy nhất 1 dự

án nhưng đạt vốn đăng ký cấp mới trên 2,2 tỷ USD

Bảng 1.2: Top 5 ngành thu hút vốn FDI lớn nhất năm 2011

(Nguồn: Bộ KH&ĐT, 2012)

Số dự

án cấp mới

Vốn đăng

ký cấp mới (triệu USD)

Số lượt

dự án tăng vốn

Vốn đăng ký tăng thêm (triệu USD)

Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm (triệu USD)

so với năm 2010 (Bộ KH&ĐT, 2012)

So với 4-5 năm trước, thì dòng vốn FDI vào bất động sản đã giảm mạnh Cụ thể ở thời huy hoàng của bất động sản năm 2008, vốn FDI vào lĩnh vực này đạt mức cao nhất trên 23 tỷ USD Ngay cả trong thời gian bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu của năm ngoái, bất động sản cũng chiếm phần lớn vốn FDI, đạt khoảng 6,84 tỷ USD và trở thành lĩnh vực thu hút nhiều vốn FDI nhất trong năm 2010 Tuy nhiên, sang năm 2011 thì tình hình đã thay đổi hoàn toàn (Bộ KH&ĐT, 2012)

Theo các chuyên gia trong ngành, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc sụt giảm trên, trong đó có tác động của khó khăn kinh tế toàn cầu Mặt khác, cuộc khủng hoảng kinh

Trang 16

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 3

tế vừa qua có phần nguyên nhân từ đổ vỡ đầu tư – kinh doanh bất động sản, vẫn để lại một mối quan ngại chung trên thế giới Nhiều nhà đầu tư đã tỏ ra rất thận trọng khi quyết định đầu tư vào lĩnh vực bất động sản do triển vọng kinh tế không khả quan cũng như tình hình lạm phát và lãi suất tăng cao trong khi tính thanh khoản bị giới hạn do chính sách thắt chặt tín dụng của Nhà nước

Cũng trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam cũng đã đưa ra một số biện pháp thắt chặt và hạn chế dòng vốn tín dụng vào ngành phi sản xuất, trong đó lĩnh vực bất động sản được chú ý nhiều, dẫn đến cả nhà đầu tư và ngân hàng đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn và giải ngân Đồng thời lĩnh vực đầu tư bất động sản tại Việt Nam không còn màu mỡ như những năm trước do nguồn cung trên thị trường ngày càng nhiều và nhiều doanh nghiệp trong nước cũng tập trung 'rót' vốn vào lĩnh vực này với quy mô ngày càng lớn

Với những lí do trên càng làm nổi bật thực tế là trong thời gian qua tại một số thành phố lớn như TPHCM và Hà Nội, một số chủ đầu tư phải giảm giá bán căn hộ hoặc giảm tiền thuê mặt bằng ở các cao ốc văn phòng, nhiều dự án bị đình trệ và tạm dừng triển khai xây dựng do khó khăn trên hoặc do nhà đầu tư còn thăm dò thị trường hoặc thoái lui Theo một số công ty tư vấn bất động sản, thị trường văn phòng cho thuê, khách sạn… tại TPHCM và Hà Nội trong thời gian qua ít có dự án mới nào được khởi công trong khi các dự án đang thực hiện chủ yếu là do các nhà đầu tư cố gắng thực hiện các công trình dang dở của những năm trước

Trong bối cảnh suy thoái toàn cầu hiện nay, Việt Nam cũng không phải là một ngoại

lệ, thì con số 1,25 tỷ USD vốn FDI đầu tư vào ngành xây dựng có thể xem là con số đáng khích lệ cho sự phát triển của ngành xây dựng Việt Nam trong năm 2012

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu

Xây dựng là một lĩnh vực phức tạp, chi phí cao và nhiều rủi ro hình thành do những yêu cầu pháp lý, các vấn đề liên quan tới tài sản, đất quy hoạch, cấp phép, tuyển dụng lao động, khả năng thực hiện dự án, môi trường quản lý điều hành, hoạch định của Nhà nước và tính an toàn trong xây dựng Có thể nói xây dựng đồng nghĩa với rủi ro, có lẽ nhiều hơn bất kỳ ngành công nghiệp nào khác, với các rủi ro do tranh chấp, xung đột về lợi ích giữa bên mua dịch vụ xây dựng (tức là chủ đầu tư hoặc chủ sở hữu) và bên bán các dịch vụ này (tức là nhà thầu, bao gồm cả nhà thầu tư vấn QLDA, nhà thầu tư vấn

Trang 17

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 4

giám sát, nhà thầu xây lắp, nhà thầu cung ứng lắp đặt thiết bị…) Bên mua muốn nhận được giá trị tốt nhất cho kinh phí mà họ bỏ ra trong khi bên bán chỉ muốn sử dụng số tiền ít nhất trong các nghĩa vụ theo hợp đồng Thật không may, các nghĩa vụ này hiếm khi thể hiện đủ rõ ràng để tránh sự hiểu lầm

Dự án xây dựng nằm trong số các cấu trúc có mối quan hệ con người phức tạp nhất Yêu cầu về kỹ thuật và khả năng quản lý cấp cao cần phải có để đưa tầm nhìn của chủ đầu tư vào kế hoạch và các quy chuẩn kỹ thuật, sau đó là vào các kết cấu thật, điều này phù hợp với nhu cầu của cá nhân và cả cộng đồng Các rủi ro cứ tăng lên trong suốt thời gian thực hiện dự án xây dựng do sự chậm trễ, những thay đổi bất ngờ hoặc các công việc phát sinh, công việc khiếm khuyết, vượt chi phí, lỗi về thiết kế và các tai nạn, thông tin chậm trễ, các tài liệu hay điều khoản hợp đồng không đầy đủ hoặc thiếu sót, các trường hợp bất khả kháng…Khi đó, vai trò của tư vấn QLDA khi thay mặt chủ đầu

tư phối hợp các nguồn lực, kiểm soát các rủi ro để điều hành tốt dự án là rất lớn Nếu các ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa chủ đầu tư và tư vấn QLDA trong các thỏa thuận hợp đồng không rõ ràng hay đầy đủ thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công việc, hiệu quả QLDA và cả hiệu quả của dự án

Bất cứ ai cũng có thể làm gì đó để ngăn ngừa rủi ro xảy ra trong hợp đồng tư vấn QLDA? Quả là không dễ để đưa ra một câu trả lời đơn giản và thẳng thắn Tuy nhiên, chủ đầu tư và tư vấn QLDA là các bên tham gia chính bằng những thỏa thuận trong hợp đồng có thể tạo ra khá nhiều ảnh hưởng để giảm thiểu các nguy cơ rủi ro và quản lý rủi

ro, để chúng không xảy ra hoặc xảy ra nhưng đã lường trước, làm giảm hao phí các nguồn lực như thời gian và chi phí, giảm các tranh chấp hay các kiện tụng leo thang không cần thiết…

Với sự phát triển ngày càng tăng của các dự án xây dựng phức tạp và gấp rút, rủi ro trong các thỏa thuận hợp đồng tư vấn QLDA hầu như không thể tránh khỏi Những nhận thức về sự thiếu sót hay không đầy đủ trong các điều khoản của hợp đồng tư vấn QLDA, đồng thời là sự tăng chi phí, sự chậm trễ, các tranh cãi về trách nhiệm và các mối quan hệ đối đầu, đã đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về quản lý rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA, trước hết là tìm hiểu các yếu tố gây rủi ro

1.3 Mục tiêu của nghiên cứu

 Xác định các yếu tố rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA

Trang 18

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 5

 Đo lường khả năng xảy ra, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro trên và phân tích tác động đến các bên liên quan

 Đánh giá thực trạng các giải pháp quản lý rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA

trong điều kiện Việt Nam và đề xuất các giải pháp phù hợp

1.4 Phạm vi của nghiên cứu

Góc độ nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ xét ở góc độ chủ đầu tư thuê tư vấn QLDA từ

giai đoạn thực hiện dự án đến khi bàn giao công trình đưa vào khai thác sử dụng, đã có đầy đủ hồ sơ thiết kế, dự toán xây dựng công trình Việc thực hiện nghiên cứu này nhằm ngăn ngừa, hạn chế và giải quyết các rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA Để có cái nhìn toàn diện về vấn đề này và đồng thời tăng cường sự phối hợp, tăng hiệu quả trong QLDA của chủ đầu tư và tư vấn QLDA thì nghiên cứu sẽ phân tích dựa trên quan điểm của cả chủ đầu tư và tư vấn QLDA

Đối tượng khảo sát: Để việc thu thập dữ liệu được hiệu quả, tin cậy và nhanh

chóng, sát với đề tài nghiên cứu thì các đối tượng phù hợp cho việc khảo sát là: chủ đầu

tư, tư vấn QLDA và các chuyên gia, những người nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan có kinh nghiệm từ 5 năm trở lên

Không gian nghiên cứu: Với giới hạn về thời gian và kinh phí, đồng thời để phù

hợp với việc nghiên cứu các điều khoản trong hợp đồng tư vấn QLDA có tính chất phức tạp, đề tài chỉ thực hiện khảo sát đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng

và công nghiệp nhóm A và B, sử dụng vốn Nhà nước từ 30% trở lên và ít hơn 30% trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2004 đến hiện tại Vì đây là thời điểm Luật xây dựng được ban hành, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng công trình và hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam

1.5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu:

Đề tài chỉ xác định lại phương pháp thống kê phù hợp được sử dụng để đánh giá, xếp hạng và phân tích các yếu tố rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA nên ít có đóng góp về mặt học thuật

Việc nắm rõ các nội dung, điều khoản cơ bản của hợp đồng tư vấn QLDA, nhận dạng và đưa ra các giải pháp quản lý các yếu tố rủi ro trong hợp đồng này thật sự là hữu ích để nâng cao hiệu quả QLDA và có thể áp dụng cho tất cả các dự án xây dựng Sự hiểu biết về các yếu tố rủi ro trong hợp đồng tư vấn QLDA và cơ chế quản lý những rủi

Trang 19

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 6

ro này giúp ngăn chặn hoặc làm giảm đáng kể sự lãng phí không cần thiết của các nguồn lực như tiền bạc và thời gian khi rủi ro xảy ra

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn và cũng nhiều thách thức hiện nay, việc cạnh tranh giữa các công ty, các tổ chức tư vấn QLDA càng trở nên gay gắt, thì mối quan hệ hợp tác “thành công – thành công” đôi bên cùng có lợi giữa chủ đầu tư và tư vấn QLDA càng phải được xem trọng, giữ vững và phát triển dựa trên những nền tảng bền vững về

“uy tín, chất lượng” trong công việc, để trở thành những đối tác tin cậy cho việc phát triển lâu dài Kết quả trong nghiên cứu này sẽ giúp các bên liên quan trong ngành xây dựng các vấn đề sau:

 Nắm được các nội dung, điều khoản tiêu chuẩn của hợp đồng tư vấn QLDA

 Nhận diện các rủi ro để tránh và / hoặc giảm thiểu trong hợp đồng tư vấn QLDA

 Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong quản lý thực hiện hợp đồng tư vấn QLDA

Trang 20

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 7

CHƯƠNG 2:

TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Căn cứ pháp lý về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

2.1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình

Theo khoản 17 Điều 3 Luật Xây dựng (2003) thì “Dự án đầu tư xây dựng công trình” là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng

hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao

chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định

Theo khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng (2003) thì “Chủ đầu tư xây dựng công trình” là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư

xây dựng công trình

Điều 2 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình như sau:

 Theo quy mô và tính chất:

 Dự án quan trọng quốc gia

 Dự án nhóm A, B, C

Trong đó các dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp như: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, xây dựng khu nhà ở được phân loại theo tổng mức đầu

tư như sau:

 Dự án nhóm A: tổng mức đầu tư trên 1500 tỷ VNĐ

 Dự án nhóm B: tổng mức đầu tư từ 75 đến 1500 tỷ VNĐ

 Dự án nhóm C: tổng mức đầu tư dưới 75 tỷ VNĐ

Các dự án nhóm A, B được xem xét trong nghiên cứu này để phù hợp với phạm vi nghiên cứu là các dự án lớn và phức tạp

 Theo nguồn vốn đầu tư:

 Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước

 Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước

Trang 21

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 8

 Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước

 Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn

Trong nghiên cứu này sẽ xem xét các dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn để phù hợp với các văn bản pháp luật liên quan có quy định đối tượng áp dụng theo phần vốn đóng góp của Nhà nước như sau:

 Dự án sử dụng vốn Nhà nước từ 30% trở lên

 Dự án sử dụng vốn Nhà nước ít hơn 30%

2.1.2 Các hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Theo khoản 2 Điều 45 Luật Xây dựng (2003) thì“ Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình” (gọi tắt là QLDA) có 2 hình thức như sau:

 Chủ đầu tư xây dựng công trình trực tiếp quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

 Chủ đầu tư xây dựng công trình thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nếu không đủ điều kiện năng lực để tự thực hiện Đây là trường hợp xem xét trong nghiên cứu này

Chủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực ở trên đây được hiểu là không đủ về một hoặc nhiều vấn đề sau: không đủ trang thiết bị, không đủ về điều kiện làm việc, không

đủ về số người, không đủ về chuyên môn, không đủ về kinh nghiệm của cá nhân hoặc /

và tổ chức để phù hợp với quy mô và tính chất của dự án trong việc thực hiện quản lý

2.1.3 Nội dung của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

Theo khoản 1 Điều 45 Luật Xây dựng (2003) thì nội dung của “ Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình” bao gồm: quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ, an

toàn lao động và môi trường xây dựng

2.1.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của các bên liên quan

Theo Điều 35 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư và tư vấn QLDA trong trường hợp chủ đầu tư thuê tư vấn QLDA như sau:

 Chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kể từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng bảo

Trang 22

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 9

đảm tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và tuân thủ các quy định của pháp luật Chủ đầu tư có trách nhiệm lựa chọn và ký hợp đồng với tổ chức tư vấn QLDA có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý để giúp chủ đầu tư quản lý thực hiện dự án Chủ đầu tư có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn QLDA

và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của tư vấn QLDA trước pháp luật và người quyết định đầu tư

 Tư vấn QLDA thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thoả thuận trong hợp đồng

ký kết với chủ đầu tư Trong nghiên cứu này, chỉ xem xét hợp đồng giữa chủ đầu tư

và tư vấn QLDA từ giai đoạn thực hiện dự án đến khi bàn giao công trình đưa vào khai thác sử dụng, đã có đầy đủ hồ sơ thiết kế, dự toán xây dựng công trình Tư vấn QLDA chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng

Tư vấn QLDA được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký với chủ đầu tư

Có thể thấy nếu các cam kết, điều khoản trong hợp đồng giữa chủ đầu và tư vấn QLDA không được thỏa thuận đầy đủ hay thiếu sót trong quá trình thực hiện do năng lực của tư vấn QLDA hay do năng lực và sự thiếu kiểm tra theo dõi từ chủ đầu tư thì có thể ảnh hưởng đến các mục tiêu của dự án và khi đó cả hai bên đều có trách nhiệm Vì vậy sự hiểu biết rõ và quản lý tốt về hợp đồng tư vấn QLDA từ cả chủ đầu tư và tư vấn QLDA là đặc biệt quan trọng trong thành công của việc quản lý dự án nói riêng và của

cả dự án nói chung

2.1.5 Năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn quản lý dự án

Năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được xác định theo cấp bậc trên cơ sở năng lực hành nghề xây dựng của các cá nhân trong tổ chức, kinh nghiệm hoạt động xây dựng, khả năng tài chính, thiết bị và năng lực quản lý của tổ chức

Theo Điều 44 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP quy định năng lực của “Tổ chức tư vấn quản lý dự án”được phân thành 2 hạng, một trong các yêu cầu đó là:

 Hạng 1: phải có giám đốc tư vấn QLDA hạng 1 phù hợp loại dự án Được quản

lý dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C

Trang 23

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 10

 Hạng 2: phải có giám đốc tư vấn QLDA hạng 1 hoặc hạng 2 phù hợp loại dự án

Được quản lý dự án nhóm B, C

Theo Điều 43 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP quy định năng lực của “Giám đốc tư vấn quản lý dự án”được phân thành 2 hạng theo loại dự án Giám đốc tư vấn QLDA phải có trình độ đại học thuộc chuyên ngành xây dựng phù hợp với yêu cầu của dự án,

có chứng nhận nghiệp vụ về quản lý dự án Một trong các yêu cầu đó là:

 Hạng 1: phải có thời gian liên tục làm công tác thiết kế, thi công xây dựng tối

2.1.6 Lựa chọn nhà thầu tư vấn quản lý dự án

Các trường hợp lựa chọn nhà thầu tư vấn QLDA bao gồm:

 Đấu thầu rộng rãi, định tại Điều 18 Luật đấu thầu (2005): không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự, chủ đầu tư phải thông báo mời thầu rộng rãi và cung cấp

hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu thầu

 Đấu thầu hạn chế, quy định tại Điều 19 Luật đấu thầu (2005): phải mời tối thiểu

5 nhà thầu được xác định có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu Thực hiện đấu thầu hạn chế khi:

 Có yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn cho gói thầu

 Gói thầu có yêu cầu cao, đặc thù về kỹ thuật hoặc chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu

 Chỉ định thầu, quy định tại khoản 1 và 3 Điều 40 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP: khi giá gói thầu không quá 3 tỷ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển có sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên, dự án cải tạo sửa chữa lớn của doanh nghiệp nhà nước Một trong các điều kiện để áp dụng chỉ định thầu là thời gian thực hiện hợp đồng không quá 18 tháng

Các phương thức đấu thầu được quy định tại Điều 26 Luật đấu thầu (2005) gồm:

 Phương thức đấu thầu hai giai đoạn

Trang 24

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 11

 Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ

 Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ: đây là phương thức áp dụng đối với đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế để lựa chọn nhà thầu tư vấn QLDA Nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành hai lần, trong đó:

 Đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu có đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được

để đánh giá về mặt kỹ thuật Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá để so sánh, xếp hạng hồ

sơ dự thầu được thực hiện theo quy định sau đây:

 Đối với gói thầu dịch vụ tư vấn không yêu cầu kỹ thuật cao thì sử dụng thang điểm tổng hợp để xếp hạng hồ sơ dự thầu Trong đó yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật không được quy định thấp hơn 70% tổng số điểm về mặt kỹ thuật Trong thang điểm tổng hợp phải bảo đảm nguyên tắc tỷ trọng điểm về kỹ thuật không thấp hơn 70% tổng số điểm của thang điểm tổng hợp Hồ sơ dự thầu của nhà thầu có số điểm tổng hợp cao nhất được xếp thứ nhất

 Đối với gói thầu dịch vụ tư vấn có yêu cầu kỹ thuật cao thì yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật không được quy định thấp hơn 80% tổng số điểm về mặt kỹ thuật, nhà thầu có hồ sơ dự thầu đạt điểm kỹ thuật cao nhất được xếp thứ nhất để xem xét đề xuất về mặt tài chính

Có thể thấy trong hợp đồng tư vấn nói chung và hợp đồng tư vấn QLDA nói riêng, yêu cầu về mặt kỹ thuật quan trọng hơn nhiều so với yêu cầu về mặt tài chính Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế là công việc của tư vấn sử dụng chính là chất xám, kinh nghiệm quản lý, khác với nhà thầu thi công phải đảm bảo năng lực tài chính để thực hiện các công việc tốn nhiều chi phí Dẫn đến các tiêu chí quan trọng trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và hợp đồng tư vấn sau này sẽ nghiêng về mặt kỹ thuật, thể hiện qua các điều kiện, điều khoản về mặt kỹ thuật sẽ chi tiết, chặt chẽ và nhiều ràng buộc hơn,

Trang 25

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 12

như quy định về nhân lực của tư vấn QLDA, phạm vi công việc của tư vấn QLDA, đề cương QLDA, quyền và nghĩa vụ của tư vấn QLDA …

2.2 Căn cứ pháp lý về hợp đồng trong hoạt động xây dựng

2.2.1 Hợp đồng trong hoạt động xây dựng

Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 48/2010/NĐ-CP thì “Hợp đồng trong hoạt

động xây dựng” là “hợp đồng dân sự” được thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao

thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng

Luật Dân sự (2005) quy định “hợp đồng dân sự” là giao dịch dân sự nhằm xác lập

quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân hay tổ chức đủ năng lực pháp luật, đồng thời

còn quy định các khái niệm liên quan đến “hợp đồng dân sự” về năng lực pháp luật dân

sự, pháp nhân, đại diện, tài sản và quyền sở hữu

“Hợp đồng dân sự” khi xảy ra các tranh chấp liên quan đến kinh doanh, thương

mại, quyền sở hữu hay khi có yêu cầu về phân xử của Trọng tài kinh tế đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và các bên liên quan phải tuân theo các thủ tục tố tụng dân

sự bắt buộc, quy định tại Điều 25, 29, 30 Luật Tố tụng dân sự (2004)

2.2.2 Khung pháp lý của hợp đồng trong hoạt động xây dựng

Để quản lý hợp đồng trong hoạt động xây dựng ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm quy định, hướng dẫn việc soạn thảo, đàm phán và quản lý thực hiện hợp đồng Áp dụng cho các tổ chức, cá nhân liên quan đến hợp đồng trong hoạt động xây dựng thuộc các dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên trên lãnh thổ Việt Nam Đồng thời khuyến khích áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân liên quan đến hợp đồng trong hoạt động xây dựng thuộc các dự án sử dụng ít hơn 30% vốn nhà nước

để tăng tính chặt chẽ và đầy đủ trong các điều khoản hợp đồng, quản lý thực hiện hợp đồng dễ dàng và hiệu quả trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu và giải quyết các tranh chấp kiện tụng có thể xảy ra Các văn bản pháp luật được dùng làm căn cứ để ký kết hợp đồng trong hoạt động xây dựng đó là:

 Bộ Luật Xây Dựng của Việt Nam số 16/2003/QH11

 Bộ Luật Đấu Thầu của Việt Nam số 61/2005/QH11

 Bộ Luật Dân Sự của Việt Nam số 33/2005/QH11

Trang 26

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 13

 Nghị Định về Hợp đồng trong xây dựng của Chính Phủ số 48/2010/NĐ-CP

 Nghị Định về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của Chính Phủ số 12/2009/NĐ-CP

 Nghị Định về Sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 12/2009/NĐ-CP của Chính Phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình số 83/2009/NĐ-CP

 Nghị Định về Quản lý chất lượng công trình xây dựng của Chính Phủ số 209/2004/NĐ-CP

 Nghị Định về Sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 209/2004/NĐ-CP của Chính Phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng số 49/2008/NĐ-CP

 Nghị Định về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình của Chính Phủ số 112/2009/NĐ-CP

 Nghị Định về Hướng dẫn thi hành luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng của Chính Phủ số 85/2009/NĐ-CP

2.2.3 Phân loại hợp đồng trong hoạt động xây dựng

Theo Điều 3 Nghị định số 48/2010/NĐ-CP thì hợp đồng trong hoạt động xây dựng được phân loại như sau:

 Theo tính chất công việc:

 Hợp đồng tư vấn xây dựng

 Hợp đồng thi công xây dựng công trình

 Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ

 Hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng (viết tắt là EC)

 Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ (EP)

 Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng (PC)

 Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng (EPC)

 Hợp đồng chìa khóa trao tay (Turn Key)

Trong đó “Hợp đồng tư vấn xây dựng” là hợp đồng để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động xây dựng như lập quy hoạch, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết kế, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu, giám sát thi công xây dựng công trình và lắp đặt thiết bị, thẩm tra thiết

kế, dự toán và các hoạt động tư vấn khác

Trang 27

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 14

 Theo giá hợp đồng:

 Hợp đồng trọn gói

 Hợp đồng theo đơn giá cố định

 Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh

 Hợp đồng theo thời gian

 Hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm (%)

2.3 Tổng quan về hợp đồng tư vấn quản lý dự án

2.3.1 Hợp đồng tư vấn quản lý dự án

Theo phân loại hợp đồng trong hoạt động xây dựng, thì “Hợp đồng tư vấn quản lý

dự án” (gọi tắt là hợp đồng tư vấn QLDA) là hợp đồng tư vấn được ký kết giữa chủ

đầu tư và tư vấn QLDA để thực hiện việc tư vấn QLDA đầu tư xây dựng công trình Đây là loại hợp đồng được xem xét trong nghiên cứu này

Các vấn đề cốt lõi và các điều khoản, điều kiện chính của hợp đồng tư vấn QLDA sẽ được thể hiện thông qua việc phân tích Nghị Định 48/2010/NĐ-CP về Hợp đồng trong xây dựng

2.3.2 Hiệu lực và tính pháp lý của hợp đồng tư vấn quản lý dự án

Điều 6 Nghị định 48/2010/NĐ-CP quy định hiệu lực và tính pháp lý của hợp đồng trong hoạt động xây dựng

Hợp đồng tư vấn QLDA có hiệu lực khi đáp ứng các yêu cầu sau:

 Người tham gia ký kết phải có đủ năng lực hành vi dân sự

 Đáp ứng các nguyên tắc ký kết hợp đồng theo Điều 4 cùng Nghị định này

 Bên nhận thầu là tư vấn QLDA phải có đủ năng lực hoạt động và năng lực hành nghề theo quy định

 Hình thức hợp đồng bằng văn bản và được ký kết bởi người đại diện đúng thẩm quyền theo pháp luật của chủ đầu tư và tư vấn QLDA Nếu bên tham gia hợp đồng

là tổ chức thì phải ký tên và đóng dấu

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tư vấn QLDA là thời điểm ký kết hợp đồng (đóng dấu nếu có) và chủ đầu tư đã nhận được bảo đảm thực hiện hợp đồng của bên tư vấn QLDA (đối với hợp đồng có quy định về bảo đảm thực hiện hợp đồng) hoặc thời điểm khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng

Trang 28

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 15

Thời gian thực hiện hợp đồng tư vấn QLDA được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực đến ngày các bên hoàn thành nghĩa vụ theo quy định trong hợp đồng

Tính pháp lý của hợp đồng tư vấn QLDA:

 Hợp đồng tư vấn QLDA có hiệu lực là cơ sở pháp lý mà chủ đầu tư, tư vấn QLDA và các bên liên quan có nghĩa vụ thực hiện

 Hợp đồng tư vấn QLDA có hiệu lực là cơ sở để giải quyết tranh chấp giữa các bên Các tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng xây dựng sẽ được giải quyết trên cơ

sở các quy định của pháp luật có liên quan

 Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan kiểm soát, cấp phát, cho vay vốn, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và các cơ quan khác có liên quan phải căn cứ vào nội dung hợp đồng tư vấn QLDA có hiệu lực để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng

Có thể thấy hiệu lực của hợp đồng tư vấn QLDA là yếu tố quan trọng nhất, là yêu cầu bắt buộc ban đầu để hợp đồng có tính pháp lý Nếu hợp đồng không có hiệu lực hay hợp đồng bị vô hiệu thì không có căn cứ để các bên thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp, không có căn cứ để các cơ quan liên quan thực hiện các thủ tục liên quan đến tài chính

2.3.3 Những nội dung chủ yếu của hợp đồng tư vấn quản lý dự án

Hầu hết các tổ chức tư vấn QLDA đều có hệ thống quản lý chất lượng, trong đó có

bộ phận riêng chuyên quản lý các hợp đồng từ việc soạn thảo, đàm phán, ký kết đến việc quản lý thực hiện hợp đồng và thanh toán Vì vậy hợp đồng tư vấn QLDA thường

do bên tư vấn QLDA soạn thảo dựa trên kinh nghiệm chuyên môn và hồ sơ dự thầu của mình cùng với hồ sơ mời thầu của chủ đầu tư, tiến hành đàm phán với chủ đầu tư và thống nhất các nội dung, sau đó tiến hành ký kết hợp đồng Nội dung của hợp đồng tư vấn QLDA có thể chia thành 2 nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất bao gồm các điều khoản, điều kiện đặc trưng mà bất cứ hợp đồng xây dựng nào cũng phải có và không phân biệt về tính chất công việc như: thông tin chung của hợp đồng và các bên tham gia ký kết hợp đồng, các định nghĩa và diễn giải, luật – ngôn ngữ - loại tiền thanh toán, bảo đảm thực hiện hợp đổng, bảo mật thông tin,

Trang 29

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 16

bảo hiểm, bất khả kháng, khiếu nại và giải quyết tranh chấp hợp đồng, quyết toán, thanh

lý hợp đồng, các điều khoản chung khác

Nhóm thứ hai bao gồm các điều khoản, điều kiện có thể phân biệt với các hợp đồng xây dựng khác bởi ảnh hưởng của tính chất công việc tư vấn QLDA như: hồ sơ của hợp đồng và thứ tự yêu tiên, phạm vi công việc, giá hợp đồng – tạm ứng và thanh toán, thay đổi và điều chỉnh giá hợp đồng, tiến độ thực hiện công việc, trách nhiệm và nghĩa vụ của tư vấn QLDA, quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư, nhân lực của tư vấn QLDA, tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng, bồi thường và giới hạn trách nhiệm, bản quyền và quyền

sử dụng tài liệu, thưởng và phạt đợp đồng

2.3.3.1 Thông tin chung của hợp đồng và các bên tham gia ký hợp đồng

Thông tin chung: số hợp đồng, thông tin về dự án, về gói thầu …

Căn cứ để ký kết hợp đồng: các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản liên quan đến việc kí kết hợp đồng

Thông tin về các bên tham gia ký hợp đồng: tên giao dịch các bên, địa chỉ đăng ký kinh doanh, đại diện hợp pháp, số tài khoản, mã số thuế, giấy đăng ký kinh doanh …

2.3.3.2 Hồ sơ của hợp đồng và thứ tự ưu tiên

Hồ sơ hợp đồng là bộ phận không tách rời của hợp đồng, bao gồm các căn cứ ký kết hợp đồng, điều khoản và điều kiện của hợp đồng này và các tài liệu liên quan như: bảng tính chi phí tư vấn QLDA, đề cương QLDA được tách ra thành phụ lục để dễ quản lý

và hợp đồng chính ký kết sẽ ngắn gọn nhưng không thiếu những nội dung quan trọng Thứ tự ưu tiên của các tài liệu cấu thành hợp đồng do các bên tự thỏa thuận để xử lý các vấn đề không thống nhất phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng

2.3.3.3 Các định nghĩa và diễn giải

Các từ và cụm từ được định nghĩa và diễn giải để được hiểu thống nhất trong quá trình thiết lập và thực hiện hợp đồng, như: chủ đầu tư, tư vấn QLDA, dự án, công trình, hạng mục công trình, đại diện chủ đầu tư, đại diện tư vấn QLDA, hợp đồng, hồ sơ mời thầu của chủ đầu tư, hồ sơ dự thầu của tư vấn QLDA, bên, ngày, bất khả kháng, luật, văn bản chấp thuận, phụ lục hợp đồng, công việc…

2.3.3.4 Luật, ngôn ngữ, loại tiền thanh toán

Trang 30

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 17

Hợp đồng tư vấn QLDA chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật Việt Nam Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ODA, nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có những quy định khác thì thực hiện theo các quy định đó

Ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng là tiếng Việt và trường hợp hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và tiếng Anh

Loại tiền sử dụng trong thanh toán được quy định trong hợp đồng, thường phải phù hợp với đồng tiền mời thầu và chào thầu Có thể có nhiều loại tiền trong một hợp đồng

2.3.3.5 Mô tả phạm vi công việc

Hợp đồng tư vấn QLDA cần mô tả rõ khối lượng, nội dung, chất lượng và yêu cầu

kỹ thuật đối với công việc phải thực hiện, được xác định theo hồ sơ mời thầu của chủ đầu tư, hồ sơ dự thầu của nhà thầu tư vấn QLDA và biên bản đàm phán của hai bên, đồng thời phù hợp với các quy định pháp luật liên quan

Trong phạm vi nghiên cứu này, các công việc mà tư vấn QLDA phải thực hiện là:

 Quản lý thủ tục pháp lý: bao gồm rà soát các thủ tục pháp lý đã thực hiện trước khi ký hợp đồng và tổ chức thực hiện các thủ tục pháp lý chưa thực hiện, như kiểm tra điều kiện khởi công của công trình

 Quản lý thiết kế: bao gồm các thiết kế được duyệt và các thay đổi nếu có Thay đổi có thể do sự bất hợp lý trong các bước thiết kế và các thiết kế thành phần, hoặc

do sự thay đổi từ yêu cầu của chủ đầu tư

 Quản lý đấu thầu: là tổ chức lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu như thi công, giám sát, cung cấp thiết bị, bảo hiểm công trình, quan trắc biến dạng, kiểm định và chứng nhận chất lượng…

 Quản lý khối lượng, chất lượng, chi phí và tiến độ của các nhà thầu: trong đó bao gồm kiểm tra sự phù hợp năng lực của các nhà thầu, quản lý việc thực hiện hợp đồng của các nhà thầu

 Quản lý vật tư, vật liệu và thiết bị sử dụng cho công trình: bao gồm khối lượng, chất lượng, tiến độ cung cấp và các kiểm tra, thử nghiệm, kiểm định cần thiết

 Quản lý an toàn, phòng chống cháy nổ và vệ sinh môi trường công trình

 Quản lý mặt bằng, tổ chức công trường, các công việc liên quan đến tổ chức khởi công, khánh thành, tuyên truyền quảng cáo

Trang 31

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 18

 Quản lý công tác nghiệm thu, thanh toán, quyết toán hợp đồng; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình

 Quản lý công tác nghiệm thu hoàn thành, bàn giao hạng mục hay công trình để đưa vào sử dụng

 Quản lý công tác nghiệm thu bởi các cơ quan Nhà nước trước khi hạng mục hay toàn bộ công trình được đưa vào sử dụng, để được cấp các văn bản nghiệm thu, chấp thuận hệ thống kỹ thuật, công nghệ đủ điều kiện sử dụng theo Phụ lục 7 Thông tư 27/2009/TT-BXD như sau:

 “Văn bản nghiệm thu hệ thống PCCC” của cơ quan cảnh sát PCCC, quy

định tại Điều 18 Nghị định 35/2003/NĐ-CP

 “Giấy xác nhận đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án” của cơ quan phê duyệt báo cáo

đánh giá tác động môi trường, quy định tại Điều 24 Nghị định 29/2011/NĐ-CP

 Phải có phiếu “Kết quả kiểm định” các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu

nghiêm ngặt về an toàn lao động như: thiết bị nâng, thang máy, thang cuốn, thiết

bị áp lực … và gửi “Tờ khai đăng ký đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động” về Thanh tra lao động thuộc Sở LĐTBXH trước khi đưa đối

tượng vào sử dụng, quy định tại Phần II Thông tư 04/2008/TT-BTLĐTBXH

 Sử dụng các chất chống thấm thi công các hạng mục công trình cấp nước

 Văn bản chấp thuận đấu nối với những công trình kỹ thuật hạ tầng (cấp điện, cấp thoát nước, giao thông …)

 Văn bản kiểm tra hệ thống chống sét

 “Biên bản kiểm tra hoàn thành công trình xây dựng” giữa chủ đầu tư, tư

vấn thiết kế, nhà thầu xây dựng, tổ chức tư vấn giám sát (nếu có) Biên bản này chỉ có giá trị pháp lý khi có đủ các thành phần tham gia cùng xác nhận Biên bản này lập trước khi khai thác sử dụng và đăng ký quyền sở hữu công trình

 Quản lý việc thực hiện “Chứng nhận an toàn chịu lực và chứng nhận chất lượng phù hợp”: phải được thực hiện ngay từ khi khởi công công trình và bắt buộc

phải có giấy chứng nhận này trước khi hạng mục hay công trình được đưa vào sử dụng, quy định tại Điều 11 Thông tư 03/2011/TT-BXD

Trang 32

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 19

 Quản lý việc đề nghị cấp “Chứng nhận đủ điều kiện về PCCC”: bắt buộc phải

có giấy chứng nhận này trước khi hạng mục hay công trình được đưa vào sử dụng, quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định 35/2003/NĐ-CP

2.3.3.6 Giá hợp đồng, tạm ứng và thanh toán

Giá hợp đồng tư vấn QLDA (giá kí hợp đồng) là khoản chi phí bên chủ đầu tư cam kết trả cho bên tư vấn QLDA khi đã hoàn khối lượng công việc theo yêu cầu trong quy định của hợp đồng và những chi phí phát sinh do thay đổi và điều chỉnh giá hợp đồng Trong đó cần thể hiện các khoản thuế, phí, trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, phí có liên quan

Giá hợp đồng tư vấn QLDA gồm các loại: giá hợp đồng trọn gói, giá hợp đồng theo thời gian và giá hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm, được áp dụng như sau:

 Các dự án mà nhà nước góp vốn từ 30% trở lên áp dụng giá hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm dựa trên tính toán định mức chi phí QLDA, quy định tại Quyết định 957/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng năm 2009

 Các dự án của tư nhân và dự án mà nhà nước góp vốn dưới 30% thường áp dụng giá hợp đồng trọn gói và giá hợp đồng theo thời gian Cơ sở đưa ra giá này là dựa

trên “Bảng tính chi phí tư vấn QLDA” và thường diễn giải ở phụ lục của hợp

đồng Đây là hai hình thức giá đơn giản và được sử dụng phổ biến nhất trong các hợp đồng tư vấn QLDA

Tạm ứng hợp đồng tư vấn QLDA là khoản chi phí mà bên chủ đầu tư ứng trước cho bên tư vấn QLDA để triển khai thực hiện các công việc trong hợp đồng Việc tạm ứng tùy thuộc vào loại hợp đồng, phải được ghi trong hợp đồng về mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng, số lần tạm ứng và việc thu hồi tạm ứng Mức tạm ứng tối thiểu của hợp đồng

tư vấn QLDA là 25% và tối đa là 50% giá hợp đồng, quy định tại Điều 17 Nghị định 48/2010/NĐ-CP

Việc thanh toán hợp đồng tư vấn QLDA được thực hiện theo hình thức giá hợp đồng

đã được thỏa thuận trong hợp đồng Hợp đồng cần ghi rõ số lần, mức, giai đoạn, thời điểm, phương thức thanh toán và các điều kiện thanh toán cụ thể (hồ sơ thanh toán)

2.3.3.7 Bảo đảm thực hiện hợp đồng

Trang 33

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 20

Bảo đảm thực hiện hợp đồng tư vấn QLDA (nếu có) là việc tư vấn QLDA thực hiện một trong biện pháp: đặt cọc, ký quỹ, bảo lãnh để đảm bảo trách nhiệm thực hiện hợp đồng với chủ đầu tư Hợp đồng cần ghi rõ giá trị, hiệu lực, thời điểm và các điều kiện

để chủ đầu tư hoàn trả số tiền bảo lãnh cho tư vấn QLDA

Bao gồm bảo lãnh tạm ứng (nếu có) và bảo lãnh thực hiện hợp đồng (nếu có) của ngân hàng mà bên tư vấn QLDA có tài khoản hoạt động Giá trị bảo lãnh tạm ứng bằng với giá trị tạm ứng, giá trị bảo lãnh thực hiện hợp đồng tối đa bằng 10% giá hợp đồng, quy định tại Điều 16 Nghị định 48/2010/NĐ-CP

2.3.3.8 Thay đổi và điều chỉnh giá hợp đồng

Quy định những trường hợp được điều chỉnh giá, phương thức điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh và phải phù hợp với hồ sơ mời thầu, dự thầu và kết quả đàm phán hợp đồng Điều chỉnh giá trong hợp đồng tư vấn QLDA trong trường hợp: gia tăng phạm vi công việc theo yêu cầu của chủ đầu tư, kéo dài công việc vì lý do của chủ đầu tư hoặc các nhà thầu xây lắp, cung cấp, bất khả kháng và trượt giá

2.3.3.9 Tiến độ thực hiện hợp đồng

Quy định các mốc thời gian tiến hành, kết thúc công việc, các ngày nghỉ, ngày lễ và thời gian làm việc hằng ngày để đảm bảo tiến độ dự án, các tình huống kéo dài thời gian, trách nhiệm của các bên khi kéo dài thời gian và cách xử lý Bên tư vấn QLDA phải lập tiến độ công việc chi tiết của mình trình chủ đầu tư chấp thuận để thực hiện, dựa trên cơ sở thời gian cung cấp dịch vụ tư vấn QLDA đã thỏa thuận trong hợp đồng

2.3.3.10 Quyền và nghĩa vụ của tư vấn QLDA

Quy định về quyền và nghĩa vụ của bên tư vấn QLDA về người đại diện (ủy quyền - trách nhiệm), nhân lực chính, đề cương thực hiện công việc, việc nhượng lại, kế thừa hợp đồng, lợi ích hợp pháp của chủ đầu tư, công trình, sử dụng tài liệu thiết bị của chủ

đầu tư, báo cáo tiến độ, mua bảo hiểm nghề nghiệp

2.3.3.11 Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư

Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư về việc cung cấp cho tư vấn QLDA các thông tin, tài liệu, hợp đồng liên quan đến dự án, đảm bảo về thanh toán, hình thức thông tin, nhân lực của chủ đầu tư, hợp tác và tạo điều kiện cho tư vấn QLDA trong việc thực hiện hợp đồng

Trang 34

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 21

2.3.3.12 Nhân lực của tư vấn QLDA

Quy định về năng lực, nhân lực chính của tư vấn QLDA để đảm bảo thực hiện hợp đồng, trách nhiệm và nghĩa vụ các bên trong trường hợp thay đổi nhân lực của tư vấn QLDA Quy định về nhân lực thực hiện dự án của phía tư vấn QLDA là căn cứ quan

trọng để tính chi phí tư vấn QLDA trong giá hợp đồng

2.3.3.13 Tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng

Quy định các trường hợp, nguyên tắc, quy trình xử lý và trách nhiệm của các bên đối với việc tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng Như tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi chủ đầu tư, tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi tư vấn QLDA, thanh toán khi chấm dứt hợp đồng

2.3.3.14 Bồi thường và giới hạn trách nhiệm

Quy định các trường hợp, trách nhiệm của bên vi phạm phải bồi thường cho bên bị hại các thiệt hại do lỗi của mình gây ra, được quy do sự thiếu trách nhiệm, cố ý hoặc vi phạm hợp đồng bởi một trong hai bên chủ đầu tư hoặc tư vấn QLDA Trách nhiệm bồi thường các vi phạm này được quy định tại Điều 21 Nghị định 209/2004/NĐ-CP

2.3.3.15 Bản quyền và quyền sử dụng tài liệu

Quy định các cam kết, bản quyền và quyền sử dụng các tài liệu, hồ sơ, báo cáo thực

hiện bởi tư vấn QLDA của các bên

2.3.3.16 Bảo mật thông tin

Quy định phạm vi, trách nhiệm các bên liên quan đến việc bảo mật và sử dụng thông tin của dự án, thông tin mật của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, khi hoàn

tất cũng như khi chấm dứt hợp đồng

2.3.3.17 Bảo hiểm

Quy định về trách nhiệm của các bên trong việc mua bảo hiểm, gồm các nội dung chủ yếu: đối tượng bảo hiểm, mức bảo hiểm, thời gian bảo hiểm Chủ đầu tư phải mua bảo hiểm công trình, tư vấn QLDA phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

2.3.3.18 Bất khả kháng

Quy định các trường hợp bất khả kháng, xử lý bất khả kháng, quy trình xử lý bất khả kháng, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên, chấm dứt hợp đồng và thanh toán

2.3.3.19 Thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng

Trang 35

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 22

Việc thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng phải được quy định cụ thể trong hợp đồng, mức thưởng, phạt do các bên tự thỏa thuận và các biện pháp khắc phục khi vi phạm hợp đồng Mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm, quy định tại Điều 41 Nghị định 48/2010/NĐ-CP

2.3.3.20 Khiếu nại và giải quyết tranh chấp hợp đồng

Quy định về nguyên tắc khiếu nại, giải quyết tranh chấp hợp đồng và trình tự xử lý tranh chấp hợp đồng Điều 44 Nghị định 48/2010/NĐ-CP quy định các bước xử lý tranh chấp hợp đồng như sau:

Hình 2.1: Trình tự giải quyết tranh chấp hợp đồng

Thanh lý hợp đồng tư vấn QLDA là việc xác nhận kết thúc hợp đồng giữa chủ đầu

tư và tư vấn QLDA, các bên đã hoàn tất mọi vấn đề về quyền lợi và nghĩa vụ trong hợp đồng và không còn ràng buộc gì với nhau Điều 22 Nghị định 48/2010/NĐ-CP quy định hợp đồng được thanh lý trong các trường hợp sau:

 Các bên hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký

 Hợp đồng bị chấm dứt (hủy bỏ) theo quy định của pháp luật

2.3.3.23 Điều khoản chung

Thể hiện cam kết thực hiện đúng những điều đã quy định trong hợp đồng, số bản hợp đồng với phụ lục kèm theo được lập và lưu giữ, quy định về hiệu lực của hợp đồng

Trọng tài hoặc Tòa án Hòa giải

Thương lượng

Trang 36

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 23

nếu một quy định nào đó của hợp đồng là bất hợp pháp và không khả thi, thống nhất ngày hợp đồng bắt đầu có hiệu lực của hai bên

2.4 Tổng quan về rủi ro trong hoạt động xây dựng

2.4.1 Định nghĩa rủi ro

Dake (1992) xem xét các khái niệm về rủi ro từ một góc độ lịch sử Vào thế kỷ 17, rủi ro đã được định nghĩa là xác suất xảy ra của một sự kiện, với chú ý hướng đến là thiệt hại hoặc lợi ích mà sự kiện này sẽ nhận được nếu rủi ro xảy ra Khía cạnh thú vị của định nghĩa từ rất sớm này là lợi ích đã nhận được nhiều chú ý như những chú ý đến thiệt hại Đây là một quan điểm đã bị mất trong thế kỷ 20 và bây giờ là thế kỷ 21 Ở ý nghĩa phổ biến, thuật ngữ “rủi ro” chủ yếu mang ý nghĩa tiêu cực của sự thiệt hại hoặc tổn thất, đó thông thường là các kết quả tiêu cực hay bất lợi từ một sự kiện không chắc chắn Ví dụ, Fishburn (1984) gọi một sự kiện chắc chắn có hại là rủi ro, còn Statman và Tyebjee (1984) nhìn thấy rủi ro như là một xác suất cao của sự thất bại

Jaafari (1990) theo hướng khác, đã nhìn thấy rủi ro như là sự hiện diện của những hạn chế tiềm năng hoặc thực tế theo cách thức liên quan đến hiệu quả dự án, bằng cách gây ra thất bại một phần hoặc toàn bộ trong quá trình xây dựng và vận hành, hoặc tại thời điểm sử dụng dự án

Rủi ro đã được định nghĩa bởi Chapman và Ward (1997) như là sự hướng đến khả năng xảy ra của một thiệt hại hoặc lợi ích về kinh tế và tài chính, tác hại vật lý hoặc thương tích, hoặc chậm trễ, như là một hậu quả của sự không chắc chắn

Bằng sự so sánh như vậy, Young (1996) đã nhìn thấy rủi ro trong môi trường quản

lý dự án là bất kỳ sự kiện nào mà nó có thể ngăn chặn dự án được thực hiện như mong đợi của các bên liên quan như đã nêu trong các thoả thuận hoặc tuyên bố chung

Thông qua mô tả các khía cạnh khác nhau của rủi ro, Adametiz (2003) cho rằng rủi

ro có thể có ranh giới kinh tế từ việc bổ sung thêm chi phí do các công việc phát sinh,

và ranh giới chính trị / văn hóa từ việc không sẵn sàng thừa nhận rằng rủi ro tồn tại và phải được giảm nhẹ Để ngăn chặn áp lực về ngân sách, quản lý rủi ro và các hoạt động giảm nhẹ phải được đưa vào kế hoạch dự án từ rất sớm khi bắt đầu một dự án Dự án xây dựng liên quan đến rất nhiều điều không thể đoán trước và các quá trình phức tạp

Trang 37

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 24

2.4.2 Phân loại rủi ro

Phân loại rủi ro là một bước quan trọng trong quá trình quản lý rủi ro, vì nó là sự cố gắng để cấu trúc các rủi ro khác nhau ảnh hưởng đến một dự án xây dựng Smith (1999) cho rằng rủi ro của dự án có thể được phân loại theo một số cách khác nhau theo mức độ chi tiết hoặc quan điểm lựa chọn Để quản lý rủi ro một cách hiệu quả, nhiều cách tiếp cận đã được đề xuất trong các tài liệu phân loại rủi ro

Theo Smith (1999), tất cả rủi ro của dự án có thể được chia thành ba loại: (i) rủi ro

được biết đến, (ii) chưa biết được biết đến và (iii) chưa biết không rõ Sự khác biệt giữa các loại là khả năng giảm dự đoán hoặc thấy trước rủi ro Được biết đến là một đối tượng hoặc tình hình không có sự không chắc chắn Chưa biết là những điều chúng ta biết, nhưng chúng ta không biết chúng sẽ ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào Một điều chưa biết được biết đến là sự không chắc chắn được nhận dạng Một điều chưa biết không rõ chỉ đơn giản là một đối tượng hoặc tình hình mà sự tồn tại của nó vẫn chưa được gặp hay tưởng tượng Tính đến xác suất xảy ra và hậu quả của chúng trên các mục tiêu của dự án, những sự kiện có xác suất cao và tác động cao là vấn đề đối với quản lý rủi ro

PMI (2000) phân loại rủi ro theo (i) nội bộ hoặc (ii) bên ngoài Rủi ro nội bộ là những phát sinh trong phạm vi và tầm kiểm soát của nhóm dự án Hầu hết các rủi ro nội

bộ có thể được tham chiếu đến một tài liệu dự án cụ thể như tài liệu thiết kế, tiêu chuẩn

kỹ thuật và dự toán chi phí hoặc một tiến độ Rủi ro nội bộ thường căn cứ theo các đối tượng có đặc trưng luôn thay đổi Các rủi ro bên ngoài nói chung là các đối tượng bắt buộc đối với dự án từ các cơ sở vượt quá giới hạn của dự án Sự tương tác với các nhà quản lý là những rủi ro bên ngoài điển hình Kinh phí giới hạn và những hạn chế là các rủi ro khác phổ biến bên ngoài Rủi ro bên ngoài có xu hướng căn cứ các đối tượng có đặc trưng không thể đoán trước nhưng nhìn chung có thể dự đoán, theo quan điểm của Caltrans (2007)

Dias và Ioannou (1995) cho rằng có hai loại rủi ro (i) Một là các rủi ro thuần túy, tồn tại khi có khả năng thiệt hại tài chính, nhưng không có khả năng lợi nhuận tài chính (ví dụ: các thiệt hại vật chất) (ii) Hai là rủi ro dự đoán, liên quan đến khả năng của cả lợi nhuận và thiệt hại (ví dụ: rủi ro về tài chính và sản xuất)

Trang 38

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 25

2.4.3 Bản chất của rủi ro

Del Cano và de la Cruz (2002) cho rằng, trong khi rủi ro được thể hiện khá tốt trong các tài liệu khoa học, thì các thuật ngữ được áp dụng không nhất quán trong xây dựng, quản lý dự án, kỹ thuật, sức khỏe và an toàn, môi trường, kinh doanh và các ngành công nghiệp khác Rủi ro có thể được phân loại là mong muốn hoặc không mong muốn, tùy thuộc vào việc có xảy ra hoặc không xảy ra các sự kiện dẫn đến các rủi ro, những việc này được đặt dưới sự kiểm soát của những người phải đối mặt với rủi ro hoặc không Theo quan điểm triết học, Cvethovich và Earle (1992) xem rủi ro không thể hiện cho chất lượng vốn có của một thế giới vật chất nhưng là một đại diện của sự tương tác giữa vật chất và đặc điểm tâm lý xã hội với các đánh giá rủi ro liên quan đến phán quyết về những gì có giá trị

Kumamoto và Henley (1996) đã xác định các thuộc tính của rủi ro, đó là:

 Khả năng xảy ra

Cùng quan điểm trên, Carlsson (2005) cho rằng rủi ro được phân chia đến các “rủi

ro của dự án cụ thể” và “rủi ro toàn cầu” Các rủi ro của dự án cụ thể liên quan trực tiếp đến sự phát triển, thiết kế và hoạt động của cơ sở, như rủi ro kỹ thuật, rủi ro tài chính của dự án và rủi ro của tổ chức Ví dụ về các rủi ro toàn cầu là rủi ro chính trị, rủi ro môi trường, rủi ro bất khả kháng và quan hệ công chúng

Rutgers và Haley (1997) đưa ra một mô hình mới phân loại rủi ro dựa theo các giai đoạn của chúng trong một dự án:

 Rủi ro phát triển: các hoạt động kỹ thuật, thương mại / tài chính

 Tính kinh tế dự án, giấy phép / ủy quyền, can thiệp của bên thứ ba và chính trị thay đổi

Trang 39

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 26

 Rủi ro xây dựng: tiến độ, chi phí, hiệu quả, thay đổi thiết kế, sự leo thang lãi suất, hậu quả thiệt hại, bất khả kháng / rủi ro quốc gia, thay đổi tiền tệ

 Rủi ro hoạt động: thay đổi thị trường, thay đổi luật định, tình trạng bất ổn / đình công, thiên nhiên bất lợi, trách nhiệm của bên thứ ba

Carlsson (2005) cũng đã đưa ra một mô hình khác để phân loại rủi ro dựa theo thông tin có sẵn và hậu quả của chúng vào:

 Rủi ro xác định: rủi ro tương tự như hàng năm, ví dụ như số người bị tai nạn lao động tại nơi làm việc trong một khu vực rộng lớn

 Rủi ro ngẫu nhiên với những biến đổi lớn: rủi ro cho thấy độ lệch lớn từ năm này sang năm khác, ví dụ như số người bị tai nạn lao động tại nơi làm việc ở một khu vực nhỏ

 Rủi ro thảm họa: rủi ro với xác suất thấp và hậu quả lớn, được tập trung trong thời gian và không gian nhất định, ví dụ động đất và bão lụt

 Sự không chắc chắn: rủi ro với các hậu quả không rõ hoặc không thể đoán trước,

ví dụ như các vi phạm ảnh hưởng đến môi trường

Flanagan (2003) nêu ra một số cách tiếp cận khác nhau với rủi ro như sau:

 Cách tiếp cận bao phủ: cho phép tất cả các tình huống có thể xảy ra bằng cách thêm một phí bảo hiểm rủi ro lớn vào giá

 Cách tiếp cận bỏ qua: không quan tâm đến rủi ro và giả định tất cả mọi thứ sẽ ổn,

mà bằng cách nào đó bạn sẽ phải loay hoay vượt qua nó

 Cách tiếp cận trực quan: không tin tưởng tất cả các phân tích, chỉ tin tưởng vào trực giác và linh cảm

 Cách tiếp cận thế lực siêu nhiên: tập trung vào các rủi ro không thể kiểm soát và cho rằng có thể ép buộc mọi thứ vào kiểm soát, điều mà tất nhiên là không thể

Tuy nhiên, Flanagan (2003) cũng cho rằng thế giới xây dựng đang thay đổi Một cách tiếp cận dựa trên phân tích nhiều hơn là cần thiết trong một thế giới bao quanh bởi

sự không chắc chắn và phức tạp Ngành công nghiệp xây dựng đã sử dụng nhiều loại hợp đồng mới , phương pháp đầu tư mới, các thay đổi về an toàn, sức khỏe, môi trường

và luật lao động Chủ đầu tư trở nên đòi hỏi nhiều hơn, sáng suốt hơn, và ít sẵn sàng chấp nhận rủi ro Kết quả là có nhiều rủi ro mới hơn cho các tổ chức, đặc biệt là khi

Trang 40

HV: Trần Lê Nguyên Khánh Trang 27

thay đổi diễn ra quá nhanh và sự gia tăng của các vụ kiện tụng pháp lý Tổ chức phải tăng cường nhận thức về việc chấp nhận rủi ro, điều mà rất khó để quản lý và kiểm soát

2.4.4 Phân biệt rủi ro và sự không chắc chắn

Pouliquen (1970) khẳng định, phân tích rủi ro là một phương pháp để đối phó với sự không chắc chắn Tuy nhiên, rủi ro và sự không chắc chắn không phải là đồng nghĩa Frame (2003) giải thích sự khác biệt là khi đưa ra quyết định trong điều kiện rủi ro, chúng ta biết hoặc có thể ước tính phân bố xác suất của sự kiện rủi ro này, trong khi theo điều kiện của sự không chắc chắn, chúng ta không thể ước tính được phân bố xác suất Do đó, Frame (2003) phân biệt rủi ro và sự không chắc chắn theo thông tin sẵn có

Hình 2.2: Rủi ro, sự không chắc chắn và thông tin sẵn có cho sự kiện rủi ro

(Nguồn: Frame, 2003)

Raftery (1994) chỉ ra rằng rủi ro và sự không chắc chắn mô tả tình huống mà kết quả thực tế của một sự kiện hay hoạt động cụ thể có thể đi chệch khỏi các giá trị dự đoán hay dự báo Cũng theo đó, rủi ro tồn tại trong các dự án vì tính độc đáo và bản chất tạm thời của nó và có thể ảnh hưởng đến các nhà thầu chính và nhà thầu phụ của dự án, các

bên liên quan và chủ đầu tư theo nhiều cách khác nhau Leu et al (2001) chỉ ra rằng

trong quá trình thực hiện dự án, rất nhiều sự không chắc chắn biến động ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành dự án và các chi phí theo đó có thể phải điều chỉnh theo

2.5 Tổng quan về quản lý rủi ro trong hoạt động xây dựng

2.5.1 Định nghĩa quản lý rủi ro

Theo PMI (2004), quản lý rủi ro được xem như quá trình liên quan đến việc xác định, phân tích và ứng phó với sự không chắc chắn trong suốt vòng đời của dự án Nó bao gồm tối đa hóa các kết quả của sự kiện tích cực và tối thiểu hóa các hậu quả của các

sự kiện bất lợi

Shehu và Sommerville (2006) định nghĩa quản lý rủi ro là một quá trình kiểm soát

mức độ của rủi ro và giảm thiểu các tác động của nó Nummedal et al, (1996) định

nghĩa quản lý rủi ro như là một phương pháp tiếp cận có hệ thống để xác định, đánh giá

Thông tin hoàn hảo

Thiếu thông tin

hoàn toàn

Sự không

Ngày đăng: 29/01/2021, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w