1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình hình thành phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến việt nam thế kỉ x – XV

76 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc lựa chọn vấn đề “Quá trình hình thành phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ X – XV” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau: Về khoa học:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN, HOÀN CHỈNH CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM THẾ KỈ X – XV

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, tháng 5 năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN, HOÀN CHỈNH CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM THẾ KỈ X – XV

Nhóm ngành: Lịch sử Việt Nam Cổ trung đại

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Trần Thị Phượng

Sơn La, tháng 5 năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ThS Trần Thị Phượng, người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Tôi xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong tổ Lịch sử Việt Nam, khoa Sử - Địa, Trường Đại Học Tây Bắc lời cảm ơn chân thành vì đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thư viện tỉnh Sơn La, Thư viện Trường Đại Học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập tư liệu, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này

Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của quý thầy giáo,

cô giáo và bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, 1tháng 5 năm 2018

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 4

5 Đóng góp của khóa luận 4

6 Bố cục đề tài 4

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ X – XV 5

1.1 Tình hình chính trị 5

1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 7

1.3 Tình hình văn hóa – giáo dục 11

Tiểu kết chương 1 14

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, HOÀN CHỈNH CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM THẾ KỈ X – XV 15

2.1 Quá trình hình thành của chế độ phong kiến thế kỉ X 15

2.1.1 Tổ chức bộ máy nhà nước 15

2.1.3 Quân đội 18

2.1.4 Tôn giáo – xã hội 19

2.2 Quá trình phát triển của chế độ phong kiến thế kỉ XI – XIV 20

2.2.1 Tổ chức bộ máy nhà nước 20

2.2.2 Luật pháp 23

2.2.3 Quân đội 25

2.2.4 Tôn giáo – xã hội 27

2.3 Quá trình hoàn thiện của chế độ phong kiến thế kỉ XV (thời Lê sơ) 28

2.3.1 Bộ máy nhà nước 29

2.3.2 Luật pháp 31

2.3.3 Quân đội 32

2.3.4 Tôn giáo – xã hội 33

Tiểu kết chương 2 35

Trang 5

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN, HOÀN CHỈNH CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT

NAM THẾ KỈ X – XV 36

3.1 Chế độ phong kiến Việt Nam hình thành, phát triển, hoàn chỉnh muộn hơn so với phương Tây và các nước trong khu vực 36

3.2 Việt Nam không có chế độ phong kiến điển hình, hay nói cách khác không có những đặc trưng nổi bật của chế độ phong kiến 39

3.3 Chế độ phong kiến Việt Nam không có mốc mở đầu hay kết thúc quá trình hình thành một cách rõ ràng, thống nhất 42

3.4 Quá trình hình, thành phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam bị cản trở bởi 2 yếu tố: làng xã và ngoại xâm 44

3.5 Sự hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam vào thế kỉ XV có nhiều tác động đến đời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực 48

Tiểu kết chương 3 58

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chế độ phong kiến là một trong những hình thái kinh tế - xã hội trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, nó có trước chủ nghĩa tư bản và xuất hiện ngay sau chế độ chiếm hữu nô lệ Chế độ phong kiến được xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất phong kiến và thượng tầng kiến trúc Nhà nước phong kiến Trong đó giai cấp quý tộc, địa chủ chiếm hữu đất đai, bóc lột nông dân, bằng hình thức phát canh thu tô, chúng nắm toàn bộ chính quyền và thống trị toàn xã hội Chế độ phong kiến được hình thành sớm nhất ở Trung Quốc, khi nhà Tần thống trị (thế kỉ III – II TCN), đây là quốc gia có chế độ phong kiến điển hình nhất ở phương Đông Ở châu Âu, chế độ phong kiến được hình thành trong khoảng thế kỉ III khi đế quốc Rôma khủng hoảng, suy vong

Trong từng quốc gia, từng khu vực, chế độ phong kiến lại mang những đặc điểm riêng phù hợp với đặc trưng trong sự phát triển nội tại của mỗi khu vực, mỗi quốc gia Tại phương Tây (châu Âu), đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến là kinh tế lãnh địa, giai cấp lãnh chúa và nông nô, hệ thống đẳng cấp dựa trên quan hệ lãnh chúa - chư hầu, tình trạng cát cứ kéo dài Tại phương Đông, kinh tế địa chủ và quan hệ địa chủ - nông dân lĩnh canh không phát triển, chế độ địa chủ tập quyền ra đời sớm và tồn tại lâu dài, bên cạnh sở hữu tư nhân còn có sở hữu nhà nước về ruộng đất, kinh tế địa chủ với quan hệ địa chủ - tá điền chiếm ưu thế

Xét đến chế độ phong kiến ở Việt Nam, còn rất nhiều vấn đề cần làm rõ Việt Nam có hay không chế độ phong kiến? Nếu có chế độ phong kiến xuất hiện từ bao giờ? Khi nào Việt Nam xác lập một chế độ phong kiến hoàn chỉnh? Những vấn đề này luôn nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước

Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Quá trình hình thành phát triển, hoàn chỉnh của chế độ

phong kiến Việt Nam thế kỉ X – XV” làm khóa luận tốt nghiệp Đại học với mong muốn

góp phần làm rõ sự hình thành, phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam trên cơ sở sự hoàn chỉnh kiến trúc thượng tầng của nó

Việc lựa chọn vấn đề “Quá trình hình thành phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong

kiến Việt Nam thế kỉ X – XV” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:

Về khoa học:

+ Góp phần làm rõ quá trình hình thành phát triển và hoàn chỉnh của nhà nước phong kiến Đại Việt trong giai đoạn thế kỉ X –XV với việc xác lập thể chế chính trị quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền cao độ

Trang 7

+ Làm rõ những biến đổi chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật của Đại Việt trong giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV

+ Làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thể chế chính trị Việt Nam thời trung đại, đặc biệt là các vương triều Lý, Trần, Hồ, Lê sơ

+ Đặt nền móng cho việc nghiên cứu kinh tế - xã hội, văn hóa – giáo dục Việt Nam qua các thời kì lịch sử

Quá trình hình thành phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam thế

kỉ X – XV đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Cho đến nay, ở mỗi góc độ, khía cạnh khác nhau đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, trong

đó có thể kể đến các công trình quan trọng sau:

GS Văn Tạo (chủ biên) trong cuốn “Sử học và hiện thực tập II – Mười cuộc cải

cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam”, Nxb KHXH, Hà Nội (2000) đã viết về các

cuộc cải cách đổi mới trong xã hội Việt Nam thời trung đại: Công cuộc đổi mới của Lý Công Uẩn, cải cách của Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông đã đề cập đến bộ máy nhà nước Đại Việt thế kỉ X – XV

Cuốn “Lê Thánh Tông – vị vua anh minh, nhà cách tân vĩ đại” của Luật sư Lê

Đức Tiết, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2007 là công trình khái quát toàn bộ sự nghiệp của Lê Thánh Tông, với nội dung nghiên cứu những cải cách về chính trị, pháp lý, quân sự của vua Lê Thánh Tông… đã làm cho kỉ cương phép nước nghiêm minh, vua trở thành người quyền lực nhất, đứng đầu cả nước, kéo làng xã, ruộng đất vào đội ngũ phục vụ cho lợi ích của nhà vua bằng những biện pháp hết sức khéo léo

Thể chế chính trị của các triều đại phong kiến Việt Nam đã được đề cập trong

cuốn “Thể chế chính trị Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám dưới góc nhìn hiện

đại” của Lưu Văn An, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2008 Đây là tài

Trang 8

liệu quan trọng để tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của thể chế chính trị, luật pháp qua các triều đại

Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê) của Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2013 là bộ

luật chính thống và quan trọng nhất của nhà Lê đã khái quát tình hình Đại Việt thời Lê

sơ, quy định cụ thể về các luật lệ, quy định của nhà nước đối với địa phương trong các lĩnh vực để thấy được sự quản lý chặt chẽ của nhà nước trung ương với các cơ quan nhỏ bé nhất là làng xã, củng cố hơn vị trí của nhà vua, quý tộc và quan lại

Tất cả các công trình trên là nguồn tài liệu tham khảo quý báu để tôi thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Quá trình hình thành, phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam thế

kỉ X – XV

3.2 Phạm vi đề tài

- Giới hạn thời gian: Với đề tài Quá trình hình thành phát triển, hoàn chỉnh của

chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ X – XV được giới hạn trong phạm vi thời gian từ thế

kỷ X – XV, tương ứng với thời kì độc lập tự chủ đến vương triều Lê sơ

- Giới hạn không gian: Với đề tài Quá trình hình thành phát triển, hoàn chỉnh

của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ X – XV được giới hạn trong phạm vi không

gian toàn bộ lãnh thổ Đại Việt bao gồm 13 đạo, kéo dài đến Quảng Nam (tương ứng tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam ngày nay)

- Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung làm rõ quá trình hình thành, phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam trên khía cạnh kiến trúc thượng tầng nhà nước phong kiến hay nói cách khác là quá trình xác lập và hoàn chỉnh tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền trên những khía cạnh chính trị, xã hội, luật pháp và quân đội

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ quá trình nhà nước hình thành, phát triển và hoàn chỉnh của nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỉ X – XV Đồng thời đưa ra những nhận xét, đánh giá về quá trình này cũng như tác động, ảnh hưởng của nó đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận tác giả đã sử dụng chủ yếu các phương pháp: Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp liên ngành, phương pháp so sánh…

4.2 Nguồn tài liệu

Cơ sở tài liệu của đề tài là nguồn tài liệu chính thống bao gồm sử liệu chính thống của các triều đại, các hệ thống giáo trình, sách tham khảo, các tác phẩm công trình nghiên cứu của các tác giả được công bố ở các nhà xuất bản, tạp chí Đây là nguồn tài liệu quan trọng, là cơ sở để xây dựng nghiên cứu đề tài này, cung cấp những kiến thức để tôi hoàn thành đề tài

5 Đóng góp của khóa luận

Thứ nhất, thông qua việc tìm hiểu về quá trình hình thành phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ X – XV đề tài góp phần làm rõ những biến đổi

về chính trị, văn hóa, xã hội Đại Việt thế kỉ X – XV

Thứ hai, khóa lậu sẽ làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu thể chế chính trị - xã hội Việt Nam thời trung đại, đặc biệt dưới các vương triều Lý, Trần, Hồ, Lê sơ

Thứ ba, kết quả nghiên cứu sẽ đặt nền móng cho việc nghiên cứu thể chế chính trị của nhà nước qua các thời kì lịch sử

Thứ tư, kết quả nghiên cứu sẽ trở thành nguồn tư liệu để giảng dạy, học tập trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, các trường Phổ thông

Thứ năm, khóa luận sẽ bổ sung nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu làm đề tài, khóa luận chuyên sâu về Lịch sử Việt Nam cổ trung đại

Thứ sáu, trong quá trình học tập sinh viên có thể sử dụng làm tài liệu học tập để nghiên cứu về chính trị, xã hội, pháp luật Việt Nam qua các thời kì

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận được kết cấu làm 3 chương:

Chương 1: Bối cảnh xã hội Đại Việt thế kỉ X – XV

Chương 2: Quá trình hình thành, phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ X – XV

Chương 3: Một số nhận xét, đánh giá về quá trình hình thành, phát triển, hoàn chỉnh của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ X – XV

Trang 10

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ X – XV

1.1 Tình hình chính trị

Trong thế kỷ X là sự nối tiếp lên nắm quyền của các vương triều: Khúc, Dương,

Ngô, Đinh - Tiền Lê Đây được coi như một “thế kỷ bản lề” vì nó đã chấm dứt một

nghìn năm Bắc thuộc, mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên độc lập tự chủ, xây dựng một nhà nước quân chủ của người Việt, khác hoàn toàn với phong kiến phương Bắc để khẳng định quyền tự chủ của mình, khẳng định quyền thống trị của các dòng họ cầm quyền Tuy đã thiết lập được thể chế chính trị riêng song bộ máy nhà nước của các vương triều này còn đơn giản, sơ khai, các cơ quan, chức quan chưa rõ ràng Năm 905, chính quyền tự chủ của họ Khúc bước đầu được xác lập Cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc đã thắng lợi Sau khi giành thắng lợi họ Khúc đã bắt tay vào thực hiện cải cách về mọi mặt để xây dựng chính quyền, một nhà nước theo mô hình quân chủ chuyên chế Nhà nước này gồm hai bộ phận chính, đó là: chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Mặc dù chưa

có quốc hiệu, đế hiệu, chưa lập kinh đô song nhà nước này có cơ sở xã hội vững vàng hơn so với giai đoạn trước

Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã chấm dứt nền đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, mở ra thời kỳ tự chủ lâu dài cho nhân dân

ta Sau chiến thắng này, Ngô Quyền đã xây dựng triều đình mới, bộ máy nhà nước các chức quan văn, quan võ, có quy định nghi lễ, phẩm phục và các nhà nước sau đó cũng tuân thủ nghiêm ngặt các quy định này Tuy nhiên, tổ chức bộ máy nhà nước của nhà nhà Ngô còn sơ khai, đơn giản nên sự quản lí xã hội còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ Đặc biệt là ở các địa phương, tổ chức công xã nông thôn vẫn còn tình trạng phân tán

Sau khi dẹp “loạn 12 sứ quân”, năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt đô

ở Hoa Lư (Ninh Bình) Tuy nhiên đến năm 979, cha con Đinh Tiên Hoàng – Đinh Liễn

bị giết hại Con trai nhỏ mới 6 tuổi là Đinh Toàn lên ngôi vua Nhân cơ hội này, nhà Tống đem quân sang xâm lược nước ta Thể theo ý nguyện của quần thần, thái hậu Dương Vân Nga truyền ngôi cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn Lên ngôi vua, Lê Hoàn lãnh đạo nhân dân chiến đấu chống lại sự xâm lược của quân Tống Khi Lê Hoàn mất, các con tranh giành ngôi vua và Lê Long Đĩnh lên nắm quyền Sự ăn chơi, trác tán của Lê Long Đĩnh đã khiến cho nhà Tiền Lê suy yếu (980 – 1009)

Trang 11

Năm 1009, nhà Lý lên nắm quyền thay nhà Tiền Lê là sự tất yếu của lịch sử Sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn cho dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (1010) và đã xây dựng bộ máy chính quyền tập trung vào tay Vua, với thể chế chính trị nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền – nhà nước mà các triều đại Đinh – Tiền Lê đã xây dựng Bộ máy này có nhiều điểm giống so với bộ máy của nhà Tống nhưng đơn giản, gọn nhẹ hơn và mang nhiều yếu tố của người Việt

Nếu như các vương triều Ngô, Đinh, Tiền – Lê chế độ cai trị thiên về quân sự thì triều Lý do ảnh hưởng của Phật giáo đã đặt chế độ cai trị thiên về dân sự Đây là nhà nước có bộ máy chính quyền chặt chẽ nhất từ trước đến thời điểm bấy giờ, chính quyền từ trung ương đến địa phương bắt đầu được thiết chặt Đứng đầu nhà nước là vua, vua nắm mọi quyền hành từ chính quyền đến thần quyền, quyết định cả chức sắc tôn giáo Cũng vì quyền lực tập trung vào tay vua quá nhiều mà các quan lại triều Lý tuy có chức sắc và nhiệm vụ riêng nhưng cũng chỉ được góp ý với vua và ít được giao công việc cụ thể và quan trọng Với việc thiết lập bộ máy chính quyền ở địa phương thì nhà vua đã mở rộng phạm vi quyền lực của mình và “với tay” tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống

Cuối thế kỷ XII, nhà Lý bước vào thời kỳ suy yếu, nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề, thiên tai xảy ra liên miên điều này đã khiến nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân bùng nổ Trước tình hình ấy thì các thế lực phong kiến địa phương nổi dậy, đất nước lâm vào khủng hoảng trầm trọng Trong đó, họ Trần là mạnh nhất Đến năm 1226, họ Trần đã khống chế được chính quyền và lập nên nhà Trần (1226 – 1400) Để củng cố vương quyền, thời kì đầu nhà Trần đã thực hiện nền chuyên chính – dân chủ dòng họ Tất cả các chức vị quan trọng trong bộ máy chính quyền đều do tôn thất Trần nắm giữ

So với triều Lý, thể chế chính trị triều Trần được tổ chức với quy mô và trình độ cao hơn, chặt chẽ hơn, sự phân cấp rõ ràng hơn Bộ máy nhà nước gồm ba khối: các quan đại thần, các bộ, các cơ quan chuyên môn Để tăng cường pháp lý cho các cơ

quan, nhà Trần ban hành bộ luật Quốc triều thông chế Theo đó, bộ máy quan lại được

quy định rõ ràng và chặt chẽ về trách nhiệm, quyền hành của từng cấp cơ quan, từng chức vụ cụ thể, đảm bảo được sự lãnh đạo thống nhất của nhà vua, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của từng cá nhân trong công việc điều hành [1, Tr.80]

Trang 12

Cuối triều Trần mô hình thể chế chính trị quân chủ quý tộc bị lỏng lẻo và quyền lực đang nghiêng về phía thân vương, quý tộc Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đã giương cao tư tưởng Nho giáo, thiết lập thế chế quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Quyền lực tập trung vào tay vua một cách tuyệt đối và không phân chia Cũng giống nhà Trần, nhà Hồ tiếp tục thể chế chính trị “lưỡng đầu chế” gồm Thái thượng hoàng và vua Ở các địa phương, các đơn vị hành chính là do quý tộc Hồ nắm giữ nhằm hạn chế việc các quý tộc Trần và các lực lượng ủng hộ Trần nổi dậy

Tuy thời gian tồn tại của nhà Hồ chỉ có 7 (1400 – 1407) năm song Hồ Quý Ly cũng

đã đưa ra những điều luật nghiêm khắc như: đồ hình, lưu hình, tử hình… Những người có công nhà Hồ cũng ban thưởng tước, tiền bạc, rượu để khuyến khích họ

Sự lên ngôi của nhà Lê sơ mang đặc trưng cơ bản khác biệt so với các vương triều trước đó Đây là vương triều được thiết lập trong cuộc khởi nghĩa toàn dân, thành phần tham gia rộng rãi khiến cho nhà Lê không thể thiết lập được chế độ quân chủ quý tộc mà phải để các dòng họ khác nhau cùng tham gia hệ thống chính trị, thiết lập nền chính trị đa tộc thay cho đơn tộc trước kia Thể chế chính trị của nhà Lê đó là chuyên chế trung ương tập quyền Quyền lực vẫn tập trung vào tay vua và vua nắm mọi quyền hành Bộ máy chính quyền được củng cố từ trung ương

đến địa phương và nhà nước đã với tay được đến các làng xã “Thể chế chính trị

thời Lê sơ được tổ chức giống như một sơ đồ hình trôn ốc – rất nhiều tầng nấc nhưng tất cả đều tập trung đến điểm cuối cùng là nhà vua” [1, Tr.120]

Mục đích cuối cùng của bộ máy nhà nước triều Lê sơ là củng cố, phát triển chế

độ phong kiến Việt Nam đi đến đỉnh cao, tập trung cao độ quyền lực vào tay nhà vua theo nguyên tắc “tôn quân quyền” và tăng hiệu lực của bộ máy quan liêu, nâng cao hiệu quả quyền lực của hoàng đế Bộ luật Hồng Đức là đỉnh cao của tư tưởng pháp quyền, là sự kết hợp pháp trị với đức trị trong đạo trị quốc an dân Chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu đã được xác lập từ thời Lý – Trần – Hồ đã được thể hiện rõ hơn

ở thời Lê Sơ

Trang 13

Đông và nô lệ ở phương Tây, nông nô hóa hoàn toàn của những người sản xuất trực tiếp Từ đó, tạo ra mối quan hệ giữa người sản xuất trực tiếp với ruộng đất và người chủ sở hữu ruộng đất Mối quan hệ này trong xã hội phong kiến thường thông qua một

tổ chức đó là làng xã

Thế kỉ X nước ta là một nước thuần nông nghiệp Những năm dưới thời họ Khúc,

họ Ngô, do tác động của các cuộc chiến tranh hoặc tranh chấp nội bộ, nhà nước không

có điều kiện xây dựng một nền kinh tế độc lập Thời Đinh, Tiền Lê đã đặt lệ phân cấp đất cho người có công Thời kì này nhà nước chưa đủ sức mạnh để can thiệp vào làng

xã, mà chỉ thông qua làng xã để thu tô thuế Vì ruộng đất nằm trong tay làng xã nền nhà nước phong kiến muốn quản lý được ruộng đất trong xã hội thì phải can thiệp,

“với tay” được đến các làng xã

Cùng với sự phát triển kinh thế thì xã hội lúc này cũng đã phân hóa Số lượng quý tộc, địa chủ tăng nhanh do tư hữu được ruộng đất Thời Đinh - Tiền Lê, thủ công nghiệp tiếp tục được mở mang, vì vậy tầng lớp thợ thủ công cũng ngày càng nhiều Đa

số nông dân là những người dân tự do, cày ruộng công làng xã, có quyền lợi gắn bó với làng nước Dưới thời Đinh - Tiền Lê, sống trong điều kiện hoà bình, xã hội ổn định, nông dân đã phát triển sản xuất, vừa để sống họ vừa có thóc lúa nộp thuế cho nhà nước hay các quan chức, chủ ấp Đời sống của nông dân ổn định Nô tì là tầng lớp dưới của xã hội

Thời Lý – Trần nhân dân ra sức xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Trong thế

kỉ XI – XVI nền kinh tế chủ yếu của nước ta vẫn là nông nghiệp Nhờ các chính sách khuyến khích nông nghiệp mà kinh tế lúc đó phát triển rõ rệt Mùa màng tươi tốt, nhân dân đủ ăn, đủ mặc khiến cho nhà thơ Bùi Tông Quán đã từng ca ngợi:

Đứng mãi nào hay ngày đã tận, Khắp đồng lúa tốt tựa mây xanh

Ruộng đất thuộc quyền sở hữu và chiếm hữu tư nhân thời Lý - Trần bao gồm ruộng đất của nông dân tự canh Bộ phận ruộng đất này tạo nên khu vực kinh tế tiểu nông, nhưng luôn luôn đứng trước nguy cơ bị thu hẹp do bị địa chủ chấp chiếm Bộ phận ruộng đất thuộc quyền tư hữu của địa chủ gọi là điền trang Tình hình ruộng đất

và quan hệ bóc lột trong các bộ phận ruộng đất thời Lý - Trần có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến tình hình kinh tế nông nghiệp và cũng là cơ sở chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, chính trị đương thời

Trang 14

Ngoài ra triều đình còn chú trọng việc trị thủy, đắp đê, nhất là vùng châu thổ sông Hồng Năm 1077, Lý Nhân Tông ra lệnh đắp đê sông Như Nguyệt dài 67.380 bộ Các công trình thủy lợi tiêu biểu thời Lý là việc đào sông Đản Nãi (Thanh Hóa) năm 1029, đào kênh Lãm (Ninh Bình) năm 1051, khơi sâu sông Lãnh Kinh năm 1089 và sông Tô Lịch năm 1192 Năm 1248, nhà Trần tổ chức việc đắp

đê trên một quy mô khá lớn ở nhiều lộ, phủ, ở ven biển đắp đê ngăn nước mặn… Nhờ có những biện pháp và chính sách khuyến nông tích cực nói trên, nền kinh tế nông nghiệp dưới thời Lý - Trần nói chung khá phát triển, nhiều năm được mùa lớn, đời sống nhân dân ổn định, trên cơ sở đó thủ công nghiệp và thương nghiệp đều

có bước phát triển hơn thời trước

Trong xã hội Lý – Trần, nông dân là giai cấp chủ yếu Tầng lớp quý tộc cũng tăng nhanh về số lượng Tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ ngày càng đông đảo trong xã hội Nguồn sống của các quý tộc là dựa vào tô thuế, lao dịch của nông dân Chế độ đẳng cấp được phân biệt rõ ràng Tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội là nô tì

Tình hình kinh tế - xã hội cuối Trần rất bất ổn, đất đai chủ yếu nằm trong tay tầng lớp quý tộc Số lượng nông nô, nô tì ngày càng tăng do các điền trang, thái ấp của quý tộc Trần càng mở rộng Nạn trộm cướp nổi lên, tình hình xã hội rối ren Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đã tiến hành cải cách để ổn định xã hội, khẳng định quyền lực tối cao của nhà vua

Đầu thế kỉ XV, cuộc xâm lược đô hộ của nhà Minh đã khiến cho nền sản xuất bị tàn phá nghiêm trọng, ruộng đất bị bỏ hoang ở khắp nơi ảnh hưởng đến việc sở hữu công của làng xã và nhà nước Bên cạnh đó, quân Minh còn chiếm đất để xây thành, biến một số vùng làm đồn điền cày cấy Các tướng giặc Minh ra sức cướp đoạt ruộng đất của nhân dân rồi xin cấp lính để cày Trong quá trình khởi nghĩa chống xâm lược, một số tướng sĩ của nghĩa quân Lam Sơn đã dùng uy thế của mình để cướp đoạt ruộng đất của nông dân biến thành của tư Không những thế những người có thế lực ở địa phương nhân tình hình chiến tranh loạn lạc cướp đoạt ruộng đất của nông dân hoặc người li tán Điều này đã làm cho diện tích ruộng đất công ngày càng giảm, nhưng nông nô, nô tì lại tăng lên

Vào buổi đầu Lê sơ, ruộng đất của nhà nước vẫn chiếm một địa vị quan trọng với diện tích lớn Nhà Lê sơ tiến hành các chính sách để xác lập quyền sở hữu công của nhà nước, tăng cường việc quản lý làng xã… Về nguyên tắc ruộng đất công thuộc

Trang 15

quyền sở hữu tối cao của nhà vua, làng xã không có quyền bán, chuyển nhượng Nay làng xã trở thành người quản lý ruộng đất cho nhà nước Cuối thế kỉ XV, Lê Thánh Tông tiến hành cải cách nhằm phân chia lại ruộng đất, thể hiện sức mạnh của nhà nước đối với nền kinh tế Nhà Lê kêu gọi dân phiêu tán về quê làm ruộng, đặt ra một số chức quan chuyên lo về nông nghiệp như Khuyến nông sứ, Hà đê sứ, Đồn điền sứ và định lại chính sách chia ruộng đất công làng xã gọi là phép quân điền; cấm giết trâu bò bừa bãi cấm điều động dân phu trong mùa cấy gặt Nhà Lê còn đẩy mạnh việc lập đồn điền và khẩn hoang nhằm khai thác những vùng đất mới Nhờ những chính sách tích cực, nông nghiệp đã đảm bảo tương đối đời sống nhân dân trong nước Trọng nông là chính sách quan trọng hàng đầu của nhà Lê sơ và đã đạt được kết quả tốt

Nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển Các ngành nghề thủ công truyền thống ở các làng xã như kéo tơ, dệt lụa, đan lát, làm nón, đúc đồng, rèn sắt, làm đồ gốm ngày càng phát triển Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời Đông Kinh là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công nhất Các công xưởng do nhà nước quản lý gọi

là Cục Bách tác sản xuất đồ dùng cho nhà vua, vũ khí, đóng thuyền, đúc tiền đồng ;

các nghề khai mỏ đồng, sắt, vàng được đẩy mạnh

Triều đình khuyến khích lập chợ mới, họp chợ, ban hành những điều luật cụ thể quy định việc thành lập chợ và họp chợ Việc buôn bán với nước ngoài được duy trì Thuyền bè các nước láng giềng qua lại buôn bán ở một số cửa khẩu như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Hội Thống (Hà Tĩnh) và một số địa điểm ở Lạng Sơn, Tuyên Quang được kiểm soát chặt chẽ Các sản phẩm sành sứ, vải lụa, lâm sản quý là những thứ hàng được thương nhân nước ngoài ưa chuộng Tuy nhiên, cùng với thủ công nghiệp, thương mại vẫn bị nhà nước ức chế Thời nhà Lê chính quyền dùng chính sách

bế quan tỏa cảng Nhà Lê hạn chế ngoại thương hơn cả nhà Lý, nhà Trần Các tàu ngoại quốc tới buôn bán đều phải đậu ở Vân Đồn Dân buôn muốn đi buôn bán thì phải có giấy phép, về cũng phải có giấy phép Quan lại vô cớ tới Vân Đồn, dân chúng

tự tiện đón tàu vào buôn bán cũng đều bị xử tội [2, Tr.332]

Địa chủ phong kiến và nông dân là hai giai cấp chủ yếu dưới thời Lê sơ Giai cấp địa chủ lại chia thành hai tầng lớp: địa chủ quý tộc, quan chức trung, cao cấp và địa chủ thường Nông dân chiếm đại đa số dân cư, sống trong làng xã, bao gồm nông dân tư hữu,

tá điền và nông nô Nô tì vẫn là một tầng lớp đáng kể

Trang 16

1.3 Tình hình văn hóa – giáo dục

* Văn hóa

Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, nước ta chịu ảnh hưởng nhiều về văn hóa Hán Tuy nhiên với ý thức dân tộc, nhân dân ta đã biết tiếp nhận và “Việt hóa” những yếu tố tích cực của nền văn hóa Trung Hoa Đến năm 905, cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa

Dụ đã giành được thắng lợi về căn bản, kết thúc thời kì đô hộ hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc Chính quyền họ Khúc ra sức xây dựng chính quyền độc lập

tự chủ và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Bước vào thế kỉ X, Phật giáo chính là dòng văn hóa ảnh hưởng chính đến xã hội Việt Nam Giai đoạn này Phật giáo được coi là quốc giáo vào có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến thể chế chính chính của các triều đại phong kiến Thời Lý – Trần, bên cạnh tín ngưỡng dân gian còn tồn tại ba tôn giáo là Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo Đến thời Lý Cao Tông, nhà Lý chính thức tổ chức các kỳ thi Tam giáo Việc thi cử bằng

tam giáo phản ánh tam giáo đồng nguyên vào thời Lý Các nhà nước Lý – Trần đã chủ

trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như tín ngưỡng dân gian, Phật, Đạo, Nho Thời Lý – Trần, có rất nhiều vị sư tăng nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị - xã hội Có thể kể đến các nhà sư như Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Thông, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Giác Hải, Pháp Loa Huyền Quang Hầu hết các vua Lý (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Thần Tông, Anh Tông) và nhiều vua Trần (Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông) đều sùng Phật, sai dựng chùa tháp, tô tượng đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật… Như năm 1031, vua Lý xuống chiếu phát tiền, thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 chỗ Nhiều quý tộc tôn thất đã quy Phật như Hoàng hậu Ỷ Lan, Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung Khắp nơi, nhiều chùa chiền đã được xây dựng như các chùa Diên Hựu (Một Cột), Phật Tích, Long Đội, Báo Thiên, Bối Khê, Thái Lạc, Phổ Minh, cụm quần thể chùa tháp ở Yên Tử Phần lớn các công trình này đã được nhà nước quan tâm và giúp đỡ Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo đạo Phật

Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc dưới một phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế, vì vậy, trong hơn 10 thế kỷ, nó vẫn chỉ là một lớp váng mỏng đọng lại trong tầng lớp ưu tú, ảnh hưởng xã hội rất nhỏ bé Đến thời Lý – Trần, nó đã trở thành một nhu cầu tư tưởng thiết yếu cho việc xây dựng một thiết chế

Trang 17

quân chủ tập quyền theo mô hình Đông Á Trung Hoa, cũng như những nguyên lý cơ bản của phép trị nước, trong đó một biện pháp chiến lược là chế độ khoa cử Do vậy, các nhà vua sùng Phật thời Lý – Trần vẫn cần đến Nho giáo để tổ chức, quản lý xã hội Sau khi lên thay nhà Trần, Hồ Quý Ly tiến hành cải cách trên tất cả các lĩnh vực nhằm khắc phục kinh tế, chính trị và xã hội Trong đó có lĩnh vực văn hóa, Hồ Quý Ly muốn đưa Nho giáo trở thành quốc giáo nên đã đưa ra nhiều biện pháp khác nhau như: đưa ra chính sách hạn chế Phật giáo, không ưu đãi tăng ni, phật tử và phát triển Phật giáo như thời Trần Ngoài ra Hồ Quý Ly còn ra sách Minh Đạo bày tỏ quan điểm của mình về Nho giáo và hạ thấp vai trò của Khổng Tử

Sự xâm lược của nhà Minh đã làm gián đoạn quá trình Nho giáo vươn lên trong

xã hội Tuy nhiên, vương triều Lê sơ đã tiếp nối quá trình đó Ngay sau khi lên ngôi,

Lê Thánh Tông đã đưa Nho giáo trở thành quốc giáo Mọi thành phần trong xã hội có học đều được tham gia thi cử, đỗ đạt thì đều được làm quan phụng sự triều đình Sau cải cách của Lê Thánh Tông, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng độc tôn trong xã hội phong kiến Các triều vua Lê vẫn cho tu bổ, sửa sang lại các chùa chiền bị hư hỏng, nhưng hạn chế việc xây chùa

* Giáo dục

Cách thức tuyển dụng quan lại của một nhà nước phong kiến ngoài tuyển dụng quan lại theo dòng dõi (tập ấm nhiệm tử) thì khoa cử chính là một hình thức thi cử với mong muốn xây dựng một bộ máy quan lại vững mạnh Thế kỉ X, tầng lớp giữ vai trò trí thức trong xã hội là các nhà sư, họ là người duy nhất trong xã hội biết đọc và biết viết Nhà sư trở thành người thầy dạy học và nhà chùa trở thành lớp học cho quần chúng nhân dân

Sang thế kỉ XI, nhà Lý xuất hiện tầng lớp trí thức Nho học đảm nhận việc giáo dục trong xã hội Năm 1070, nhà Lý cho xây Văn Miếu thờ Chu Công Khổng Tử Mở Quốc Tử Giám làm nơi dạy học cho con vua, con em hàng ngũ quý tộc quan lại Với

sự kiện này Nho giáo chính thức du nhập vào nước ta Năm 1075, vua Lý Nhân Tông cho mở kì thi đầu tiên và Lê Văn Thịnh đỗ đầu được dạy học và giữ chức Thái sư Việc mở khoa thi Nho học đầu tiên đánh dấu việc nhà Lý chính thức tuyển quan lại Nho học cho triều đình bên cạnh một lực lượng quan lại đông đảo xuất thân từ Phật giáo đã có

Trang 18

Tiếp nối nhà Lý, sau khi nắm được chính quyền, nhà Trần tiến hành tổ chức kì thi đầu tiên vào năm 1232 Năm 1247, nhà Trần đặt lệ Tam Khôi để khuyến khích việc học tập trong cả nước và 7 năm mở khoa thi một lần Nhà Trần cũng tổ chức thi tuyển chọn quan lại thông qua hình thức tập ấm, nhiệm tử Bên cạnh trường học do nhà nước

mở ra thì ở các địa phương cũng đã xuất hiện các trường tư

Nhà Hồ cũng rất quan tâm đến giáo dục Nhà nước tiến hành cải cách giáo dục,

mở rộng học hành ra các địa phương, cải cách thi cử, đặt kỳ thi Hương ở địa phương

và thi Hội ở kinh thành, quy định 3 năm thi một lần, đưa toán pháp vào thi cử [1, Tr.85] Nhà Hồ rất coi trọng Nho học, điều này được minh chứng khi Hồ quý Ly đã trọng dụng lấy quan lại đã thi đỗ từ các triều đại trước vào bộ máy quan liêu

Nhà Lê khuyến khích việc học hành thi cử, tổ chức nhiều khoa thi để tuyển chọn nhân tài vào bộ máy nhà nước Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế phát triển Nho giáo được tôn làm quốc giáo và chi phối mọi mặt xã hội [1, Tr.93] Như vậy, đến thời Lê

sơ, ta có thể thấy giáo dục rất được quan tâm Phật giáo và Đạo giáo đã bị hạn chế, thay vào đó là sự lên ngôi của Nho giáo Giáo dục Nho học chính thức vươn lên, khẳng định vị trí của mình trước giáo dục Phật giáo rất phổ biến ở các giai đoạn trước

Trang 19

Tiểu kết chương 1

Từ thế kỉ X – XV, xã hội Đại Việt có nhiều biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục Tất cả các triều đại ở giai đoạn này đều muốn xây dựng một thể chế chính trị chuyên chế trung ương tập quyền, một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, mang sắc nét của người Việt và một nền giáo dục phát triển, đào tạo ra đội ngũ quan lại đủ đức đủ tài bảo vệ quyền lợi cho chính quyền trung ương Các triều đại đều cố gắng xây dựng một bộ máy hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương, cố gắng “với tay” đến các làng xã Điều này càng rõ nét hơn khi trải qua từng triều đại thì bộ máy nhà nước càng hoàn chỉnh hơn và đến thế kỉ XV, nhà Lê sơ đã đạt đến đỉnh cao của chế độ phong kiến Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, HOÀN CHỈNH CỦA

CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM THẾ KỈ X – XV

2.1 Quá trình hình thành của chế độ phong kiến thế kỉ X

2.1.1 Tổ chức bộ máy nhà nước

Quá trình hình thành của chế độ phong kiến bắt đầu được ghi nhận từ thế kỉ X, khi chính quyền tự chủ của Khúc Hạo được xác lập Thế kỉ X là thế kỉ tồn tại của các vương triều Khúc, Dương, Ngô, Đinh – Tiền Lê Tuy thời gian tồn tại ngắn song các vương triều này cũng đã xây dựng được tổ chức bộ máy theo xu hướng tập quyền mang màu sắc riêng của người Việt

Đầu tiên là chính quyền tự chủ của họ Khúc Sau cải cách của Khúc Hạo, một nhà nước thống nhất trung ương đến địa phương được xây dựng, gồm 5 đơn vị hành chính: lộ, phủ, châu, giáp, xã Bên cạnh việc đổi hương thành giáp thì Khúc Hạo còn đặt tên các giáp mới Cụ thể là đặt thêm 150 giáp mới, cộng với các giáp đã có trước đây thì thành 314 giáp (thời chính quyền đô hộ nhà Đường nước ta có 159 hương) Nếu như chính quyền đô hộ chưa bao giờ với tay được đến các xã thì chính quyền họ Khúc ở mỗi

xã có xã quan, gồm chánh lệnh trưởng và tá lệnh trưởng Mỗi giáp gồm khoảng gần 10

xã lại “định ra hộ tịch”, lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán Đây là biện pháp quản lý cụ thể nhằm nắm vững dân số và thông hiểu nhân dân hơn Điều này đã thể hiện xu hướng độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất quốc gia

Những đơn vị hành chính cấp cơ sở được xây dựng trên các tiền đề về kinh tế

- xã hội vốn có trước đó của công xã nông thôn để quản lý chính quyền trung ương

và các cấp địa phương nhằm xây dựng một đất nước độc lập, tự chủ Mặc dù chính quyền này vẫn chưa thoát ly được khỏi những dáng dấp của phương Bắc

So với bộ máy cai trị Giao Châu từ nhà Đường đến Hậu Lương là “nắm từ trên xuống”, thấp nhất là với tay được đến cấp “hương” chứ không thể nắm tới cấp “xã” Nay họ Khúc – một chính quyền dân tộc, dựa vào dân, phải sát dân, phải “nắm từ dưới lên”, nắm từ cơ sở cấp “xã” [10, Tr.42]

Sang đến nhà Ngô, sau khi lên ngôi Ngô Quyền xưng Vương, không còn sử dụng chức danh Tiết độ sứ do phong kiến phương Bắc áp đặt Ông tổ chức bộ máy quân chủ đầu tiên có chức quan văn, võ và quy định về các nghi lễ và trang phục cho các bá quan văn võ Cùng với việc xưng Vương và đặt các chức quan, Ngô Quyền còn phong

Trang 21

con gái của Dương Đình Nghệ làm Hoàng hậu Tất cả điều này đã làm cơ sở, tiền đề cho các đời vua sau thực hiện để xây dựng chính quyền Tuy tổ chức chính quyền còn

sơ khai, song nó đã thể hiện được đây là một nhà nước độc lập, tự chủ như lời nhận

xét của nhà sử học Ngô Sĩ Liên ở thế kỉ XV: “Tiền Ngô Vương nổi lên không chỉ có

công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương” [8, Tr.198]

Ở các cấp cơ sở như châu, huyện thời Ngô vẫn giữ nguyên như thời họ Khúc Các làng xã vẫn là cơ sở thấp nhất

Năm 968, sau khi dẹp “loạn 12 sứ quân”, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt

tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình) Khi Ngô Quyền xưng Vương, ngôi Vương lúc ấy chỉ tương đương với người đứng đầu những nước chư hầu của Trung Quốc Với sự kiện Đinh Tiên Hoàng xưng hoàng đế, đất nước ta mới thực độc lập và bình đẳng với Trung Quốc Đến thời nhà Đinh, đã bắt đầu quy định cấp bậc

văn võ và tăng đạo, có một số chức quan: định quốc công (quan đầu triều, tương đương tể tướng), đô hộ phủ sĩ sư (trông coi việc xét xử trên cả nước), thập đạo tướng quân (tổng tư lệnh quân đội), tăng thống (sư đứng đầu Phật giáo cả nước), tăng lục (cao tăng trông coi

Phật giáo cả nước)…

Lê Hoàn lên làm vua năm 980, (Lê Đại Hành Hoàng đế) vẫn giữ nguyên tổ chức

bộ máy chính quyền ở triều Đinh Đứng đầu nhà nước là Hoàng đế, nắm mọi quyền hành cả về dân sự và quân sự Triều Tiền Lê có thêm nhiều chức quan mới hơn so với

triều Đinh và mô phỏng rõ nét hơn quan chế triều Tống ví dụ: tổng quản (như tể tướng), thái sư (quan văn, cố vấn của nhà vua), thái úy (quan võ), đô chỉ huy sứ (quan võ) Đại tổng quản quân dân sự (phỏng theo quan quân sự nhà Đường) là quan đầu triều, phụ trách dân sự kiêm luôn cả quân sự; thái sư là quan văn đại thần, cố vấn cao cấp của nhà vua; thái úy là quan võ dưới chức tổng quản; nha nội đô chỉ huy sứ là

chức quan võ

Như vậy, tổ chức bộ máy của nhà Đinh – Tiền Lê chủ yếu vẫn thành hai ngạch văn - võ, cũng đã có sự phân công công việc, nhiệm vụ cho từng chức quan trong các lĩnh vực, đặc biệt có cả trong việc quản lý tôn giáo

Về chính quyền địa phương, nhà Đinh chia đất nước thành 10 đạo hành chính, gắn với 10 đạo quân, dưới đạo là cấp cơ sở - cấp giáp, đứng đầu là quản giáp, phó tri giáp; dưới giáp là cấp xã, đứng đầu là chánh lệnh trưởng và tá lệnh trưởng Năm 1002, Lê Hoàn

Trang 22

đổi 10 đạo thành lộ, dưới có phủ, châu Các lộ, châu đều có quản giáp thứ sử, trấn tướng, trông coi Để bảo về quyền lực của dòng họ, vua đã cử các Hoàng tử đi trấn trị các địa phương và phong tước cho họ

[1,Tr 19] Tuy nhiên, chính quyền trung ương chưa “với tay” đến được tất cả các vùng Đặc biệt, ở các vùng cao, miền núi, vùng đồng bằng xa xôi, nhà nước vẫn chưa quản lý được mà là do các thủ lĩnh địa phương quản lý theo truyền thống tự quản của công xã nông thôn

Như vậy, ta có thể thấy, thể chế chính trị các triều Khúc, Ngô, Đinh, Tiền Lê thể hiện xu hướng trung ương tập quyền, quyền lực tập trung vào tay vua nhưng tổ chức

bộ máy nhà nước còn đơn giản, ở các địa phương vẫn còn những thế lực cát cứ Các hoạt động của nhà nước chưa được thể chế hóa, việc lựa chọn quan lại chưa có chế độ

rõ ràng, nhưng nó đã thể hiện một bước tiến quan trọng trên con đường khẳng định nền độc lập dân tộc Đây cũng là bước quá độ để chuyển sang một thời kì phát triển ổn định của chế độ phong kiến ở nước ta

Có thể khái quát sơ đồ tổ chức chính quyền địa phương các đời như sau:

2.1.2 Luật pháp

Thế kỉ X là giai đoạn hình thành của chế độ phong kiến nên chưa có luật pháp chính thức thành văn, chính quyền nhà nước còn sơ khai và làng xã còn mang tính tự trị cao Điều này cho thấy quá trình phong kiến hóa đã có những điểm phát triển nhất định song cũng có những điểm chưa phát triển và cần khắc phục Luật pháp là công cụ bảo vệ quyền lợi, quyền lực tối cao của nhà nước

Dưới vương triều họ Khúc, chủ yếu tập trung sức lực cho việc quân sự, chống lại quân xâm lược bên ngoài và bình định loạn lạc bên trong đất nước, nên chưa có luật pháp thành văn, nhưng trong thời kỳ này, nhân dân cũng đã ý thức được vai trò quan trọng của luật pháp tới đời sống xã hội, ổn định chính trị - xã hội của đất nước Sang đến thời Ngô, luật pháp thành văn đã xuất hiện, nhưng chưa nhiều Ngay sau khi xưng vương năm 939, Ngô Quyền đã xây dựng chính quyền mới và quy định nghi lễ, phẩm

phục… của triều đình và lập ra Hoàng hậu, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa xuân,

Trang 23

vua bắt đầu xưng Vương, lập Dương thị làm Hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi, phẩm phục” [8, Tr.102, 103]

Thời Đinh – Tiền Lê, nhà nước cũng quan tâm đến luật pháp và kỉ cương, an ninh của quốc gia, dân tộc Triều đình chủ yếu dùng uy lực để răn đe và chế ngự nhân dân, nhằm củng cố quyền lực của nhà nước

Theo sử cũ chép về nhà Đinh: “Vua (chỉ Đinh Tiên Hoàng) muốn dùng uy thế chế

ngự thiên hạ, bèn đặt vạc dầu lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: người nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm” [16, Tr.113] Có thể thấy, thời kỳ này đã có nhưng quy định xử

sự chung trong quan hệ xã hội và được thể hiện qua những phép tắc, luật lệ do nhà nước đặt ra Như vậy, đất nước vừa thoát khỏi ách thống trị của giặc ngoại xâm, nên nhà nước phải thực hiện các luật lệ, quy định để răn đe những kẻ không phục tùng và

có ý định làm phản

Sang thời Tiền Lê, nhà vua thường tùy tiện xét xử Vua Lê đặt ra hình phạt bằng roi vọt để áp dụng cho tội, lỗi nhỏ cũng giết đi hoặc đánh từ 100 đến 200 roi, bọn giúp

việc ai hỏi có điều gì trái cũng đánh 30 hay 50 roi [19, Tr.113] Trong Đại Việt sử ký

toàn thư còn chép: “Vua tính hiếu sát, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ tranh quấn vào người mà đốt để cho lửa cháy gần hết, hoặc sai kép hát người nước Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn, dao cùn xẻo từng mảnh, để không được chết một cách nhanh chóng Người ấy đâu đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: Nó không quen chịu chết” [8, Tr.231] Các biện pháp hình phạt của Lê Long Đĩnh cũng

rất bất nhân, lấy hành động giết người làm thú vui: bắt người có tội trèo lên cây cao rồi chặt gốc để ngã chết, hay bắt người nhốt trong cũi, thả ven biển chờ nước triều lên ngập cũi làm sặc nước mà chết

Tóm lại trong thế kỷ X, pháp luật thành văn đã manh nha được hình thành song chưa được hệ thống hóa Vì nhà nước mang đậm màu sắc thủ lĩnh quân sự nên ít nhiều

đã ảnh hưởng đến luật pháp thời kì này Tuy nhà nước tùy tiện trong các quy định, xét

xử nhưng nó hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ khi vừa mới thoát khỏi 1000 năm Bắc thuộc và nằm trong thế kỷ bản lề của dân tộc

2.1.3 Quân đội

Ở nhà Ngô, trong cơ cấu chính quyền đã xuất hiện một tổ chức quân sự riêng đó

là tổ chức quân đội đầu tiên của quốc gia độc lập tự chủ sau trận đánh cuối cùng toàn thắng, trong cuộc đọ sức kéo dài hơn một ngàn năm giữa dân tộc ta với thế lực xâm

Trang 24

lược phương Bắc Quân đội triều Ngô tuy tổ chức còn đơn sơ, biên chế chưa được phân định rõ rệt chủ yếu là từ những đạo quân riêng lẻ của các hào trưởng hợp thành, nhưng qua chiến trận Bạch Đằng chúng ta biết rằng, Ngô Quyền đã có một lực lượng quân sự đông đảo, trong đó có cả quân bộ và quân thuỷ, đặc biệt họ rất giỏi thuỷ chiến Nhà Đinh – Tiền Lê rất chú trọng xây dựng quân đội Nhà Đinh – Tiền Lê thực

hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, quân lính chính quy luân phiên về cày ruộng, chỉ

để lại một bộ phận thường trực, khi có chiến tranh sẽ huy động tất cả chiến đấu Chính sách này đã đảm bảo nhà nước vừa có quân đội thường trực, vừa có thể tự sản xuất

lương thực phục vụ hàng ngày Năm 974, Đinh Tiên Hoàng định ngạch quân 10 đạo,

mỗi đạo có 10 quân, mỗi quân có 10 lữ, mỗi lữ có 10 tốt, mỗi tốt có 10 ngũ, mỗi ngũ

có 10 người Như vậy, tổng số quân có tới 100 vạn người [24, Tr.28] Còn thời Tiền

Lê, cho điểm dân đinh làm lính Chính sách “ngụ binh ư nông” là một chính sách phù hợp với hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ, chế độ “toàn dân là binh” được hình thành

từ thế kỉ này là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, được gìn giữ và phát huy đến các giai đoạn về sau Năm 974, nhà Đinh quy định trang bị cho quân đội Binh lính được trang bị quần áo, mũ da, vũ khí có cung nỏ, giáo mác, lao, gậy… Thủy quân có nhiều thuyền chiến, trang bị đầy đủ Thời Lê Đại Hành đặt quân túc vệ, đầu thích 3 chữ

“Thiên tử quân”, chia tướng hiệu làm hai ban [20, Tr.28] Điều này chứng tỏ, quân đội

thời Đinh – Tiền Lê đã có bước phát triển, quy củ hơn so với thời đại trước

2.1.4 Tôn giáo – xã hội

Mặc dù trong thời thuộc Đường, Nho giáo được tiếp tục truyền bá, các tầng lớp hào trưởng người Việt trưởng thành lên một bước qua tiếp thu văn hóa Trung Hoa, tuy nhiên Nho giáo vẫn chưa phát triển mạnh ở Giao Châu Đến thế kỉ X, Nho giáo vẫn tiếp tục được truyền bá vào Việt Nam như sự minh chứng tiếp tục phát triển hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến thống trị Tầng lớp nho sĩ không có vai vế trong bộ máy chính quyền của các triều đại thời kỳ này

Xã hội thời kì này tương đối ổn định, không có quá nhiều biến động tuy nhiên tiềm ẩn bên trong là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị - đại diện cho quý tộc phong kiến với giai cấp nông dân công xã Do lấy Phật giáo là quốc giáo nên ở nhà Đinh –

Tiền Lê, các nhà sư có vai trò rất quan trọng Trong bộ máy nhà nước có các chức

tăng thống, tăng lục…, nhà sư được tham dự triều chính với tư cách là cố vấn cao cấp Bản thân nhà vua và các quan lại cũng mang tư tưởng Phật giáo vào giải quyết công việc quốc gia [1, Tr.50] Bộ phận trí thức tôn giáo hay trí thức Phật giáo là bộ phận

Trang 25

nắm phần hồn của xã hội Song chúng ta có thể thấy Nho giáo vẫn không hề bị loại trừ, các nho sĩ người Việt vẫn đảm nhận việc truyền bá và đẩy mạnh Nho giáo vào nước ta nhất là các thế kỉ về sau

2.2 Quá trình phát triển của chế độ phong kiến thế kỉ XI – XIV

2.2.1 Tổ chức bộ máy nhà nước

Thế kỉ XI – XIV là thời gian tồn tại của ba triều đại: Lý – Trần – Hồ Sự ra đời của ba vương triều này chính là sự tiếp nối cho quá trình xác lập của chế độ phong kiến đã hình thành từ thế kỉ X Đây là giai đoạn mà chế độ phong kiến được củng cố

và phát triển hơn, điều này thể hiện rõ qua tổ chức bộ máy nhà nước được xây dựng chặt chẽ hơn so với thế kỉ X

Suốt hơn hai thế kỉ, nhà Lý đã thành lập và củng cố một nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền từ trung ương đến địa phương Đứng đầu nhà nước là vua, nguyên tắc chung là cha truyền con nối Vua có quyền lực tuyệt đối cả về tư pháp, lập pháp và hành pháp Từ đời vua Lý Cao Tông, vua là người duy nhất trong cả nước được mặc áo màu vàng, áo thêu rồng, trâm cài tóc bằng vàng Trang phục đặc biệt là biểu hiện sự uy nghiêm và vị trí độc tôn của nhà vua [1, Tr.56] Giúp vua trị nước là một bộ máy quan lại gồm nhiều cấp bậc khác nhau Dưới vua là tể tướng, đứng đầu các quan lại đại thần trong triều đình Hệ thống quan lại chia thành hai ban: ban văn và ban võ, có quy

định kiểu áo, mũ khác nhau Ban văn có tam thái (thái sư, thái phó, thái bảo), tam thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo); ban võ có thái úy, thiếu úy, bình chương sự Dưới bậc đại

thần bên văn có thượng thư, tả hữu tham tri, tả hữu gián nghị đại phu, trung thư thị lang,

bộ thị lang, phủ sĩ sư, điện học sĩ, hàn lâm học sĩ…; bên võ có đô thống, nguyên soái, tổng quản, khu mật sứ, thượng tướng, đại tướng, đô tướng, chỉ huy sứ…

Đặc biệt thời Lý đã có cơ quan chuyên trách xử án, giám sát hình ngục là Bộ Hình và Thẩm hình viện Ngoài ra, trong tổ chức bộ máy còn có các cơ quan chuyên môn, quản lý các lĩnh vực khác nhau: các đài, viện, giám, phủ Đó là: Hàn lâm viện – soạn thảo chiếu, biểu cho nhà vua; Quốc tử giám – đào tạo nho sĩ và trông coi Văn Miếu; Viên ngoại lang – đảm nhiệm công việc trong các đoàn cống sứ…

Hệ thống tăng quan là tổ chức độc đáo của triều Lý Đây không phải là tổ chức hành đạo mà là những người giúp vua quản lý các tăng đồ về mặt hành chính, trên thực tế thì đây chính là những người bảo về cho quyền lợi của Phật giáo Những tăng

sĩ có đạo cao, học vấn uyên bác được nhà vua tôn trọng, coi như thầy thì được phong

là quốc sư (như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Không Lộ…) [16, Tr.126] Hành khiển là chức quan dành cho các hoạn quan giữ vai trò quan trọng về chính sự

Trang 26

Dưới thời Lý, chính quyền địa phương được chia thành 24 phủ - lộ - châu, đứng đầu là tri phủ, đứng đầu lộ là phán phủ (thông phán), đứng đầu châu là tri châu Dưới phủ (lộ, châu) là huyện trại, đứng đầu là huyện lệnh

Đến nhà Trần tiếp tục củng cố thể chế chính trị quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Vua đứng đầu nhà nước, thay trời trị dân, vua là thiên tử tức là con trời, có quyền lực tuyệt đối và toàn diện Nhà Trần mở ra một tổ chức triều đình mới, thực hiện chế độ hai vua, đây là thể chế chính trị lưỡng đầu chế Đứng đầu triều đình là Thái thượng hoàng Thái thượng hoàng có triều đình riêng, hệ thống quan lại riêng và quyền hành vô cùng lớn đó là lựa chọn Hoàng tử để truyền ngôi và phế truất những ông vua không đủ tài năng đức độ Thái thượng hoàng sẽ lui về Thiên Trường (Nam Định) thời gian đầu hay đi tu ở Yên Tử (Quảng Ninh) Vua có quyền lực lớn nhưng bị hạn chế độ hai vua Điều này làm cho loại trừ đi nguy cơ vua bị thích sát khi chưa có người thay thế ngay hay sẽ lựa chọn được những ông vua đức độ, tài năng để quản lý đất nước Tuy nhiên chế độ hai vua lại làm cho mức độ tập trung quyền lực vào trong tay vua là rất thấp Nhà Trần thực hiện chế độ hôn nhân đồng tộc – nền chuyên chính dòng họ - chế độ tông tử duy thành và vì vậy tất cả quan lại từ trung ương đến địa phương đều do dòng họ Trần nắm giữ hết, các dòng họ khác không được tham gia đặc biệt là 50 năm đầu

Về tổ chức bộ máy trung ương, nhà Trần đặt thêm nhiều chức quan mới và các

cơ quan chuyên trách Hệ thống quan lại được phân định rõ hai ngạch văn, võ hình thành ba khối:

Thứ nhất, các quan đại thần: bên cạnh tam thái (thái sư, thái phó, thái bảo), tam thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo) nhà Trần còn đặt thêm tam tư (tư đồ, tư

mã, tư không) Đứng đầu triều là tể tướng – thân vương giúp vua điều hành công

việc hàng ngày trong triều đình Nhà Trần còn đặt ra các chức quan mới: tướng quân, đại hành khiển, tham tri Đứng đầu hàng quan võ là: thái úy, thiếu úy, bình chương quân quốc trọng sư

Thứ hai, lục bộ (bộ Lại, bộ Lễ, bộ Hộ, bộ Binh, bộ Hình, bộ Công) quản lý các lĩnh vực: tổ chức bộ máy hành chính, ngoại giao, tín ngưỡng, kinh tế, quân sự, luật pháp Đứng đầu bộ là Thượng thư, cấp dưới có thị lang, lang trung

Thứ ba, các cơ quan chuyên môn: Hàn lâm viện, Quốc tử giám, Quốc học viện, Giảng võ đường, Quốc sử viện, Thái y viện, Tôn nhân phủ, Ngự sử đài, Thẩm hình viện, Tam ty viện, Bình bạc ty

Trang 27

Ngoài ra nhà Trần vẫn duy trì hệ thống tăng quan: quốc sư, tăng thống, tăng lực, tăng chính…

Ở địa phương, triều Trần có ba cấp là lộ - phủ (châu) – hương (xã) Lộ chia thành các phủ (miền xuôi) hoặc châu (miền núi), đứng đầu lộ là An phủ sứ, An phủ phó

sứ và Thông phán Đứng đầu phủ là trấn phủ sứ và trấn phó sứ; đứng đầu phủ là thông phán, thiêm phán Phủ, châu chia thành các hương, xã Năm 1297, Nhân Tông đổi giáp thành hương, ở trung du và miền núi gọi là sách, động Đứng đầu xã

là xã chính, giúp việc có xã xử, xã giám Người đứng đầu xã lớn (liên xã) còn gọi là đại tư xã, đứng đầu xã nhỏ là tiểu tư xã, là quan ngũ phẩm, lục phẩm trở lên, do nhà vua bổ nhiệm [1, Tr.75-76]

Nhìn chung, đây là một thể chế quân chủ tập quyền, chủ yếu dựa trên tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần Tổ chức chính quyền không ngừng được củng cố và kiện toàn với sự chuyên môn hóa cao hơn so với nhà Lý Bộ máy này có sự mô phỏng quan chế nhà Tống và nhà Nguyên nhưng đã xây dựng một hệ thống quan chức mang dấu

ấn riêng có sự khác biệt cả về Đại Việt trước đó với cả Trung Quốc

Nhà Hồ kế thừa bộ máy nhà Trần, vua là trung tâm của triều đình, nắm quyền

hành tuyệt đối Thể chế “lưỡng đầu chế” vẫn được duy trì, nhưng vai trò Thái thượng

hoàng của Hồ Quý Ly mạnh mẽ hơn

Bộ máy quan lại nhà Hồ căn bản vẫn giống so với nhà Trần, bao gồm, các cơ quan đại thần, các bộ, các cơ quan chuyên môn (quán, các, sảnh, cục, đài, viện, giám, ty…)

Chức tể tướng được Hồ Quý Ly đổi tên từ đồng bình chương sự thành tả, hữu tướng quốc

thay vua chỉ huy mọi hoạt động của quan lại và trông coi mọi việc Bên cạnh các cơ quan

đã có từ trước, Hồ Quý Ly lập ra một số cơ quan mới như: đăng văn triều chính, phong quốc giám, đại lý tự, quảng tế thự… Trong đó quảng tế thự là cơ quan trông coi việc y tế, chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh cho dân Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, nhà nước đặt ra cơ quan y tế chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng [6, Tr.286]

Để quản lý các cơ sở ở địa phương, Hồ Quý Ly xây dựng chặt chẽ từ trên xuống bao gồm: lộ (trấn), phủ, châu, huyện, xã Nhà Hồ còn đặt lệ cử quan ở Tam quan và Nội nhân đi về các địa phương thăm hỏi nhân dân và xem xét tình hình làm việc của các quan lại để lấy cơ sở thăng hoặc giáng chức Tuy thời gian tồn tại ngắn ngủi chỉ 7 năm (1400 – 1407) nhưng nhà Hồ đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình chuyển từ chế độ quân chủ quý tộc tôn thất Trần sang chế độ quân chủ quan liêu Thể hiện một bước phát triển của quá trình xác lập chế độ phong kiến ở Việt Nam

Trang 28

2.2.2 Luật pháp

Dưới thời Lý đã có bộ luật hành văn đầu tiên và được áp dụng thống nhất trong

cả nước, đó là bộ Hình thư Pháp luật mang tính giai cấp rõ rệt, bảo vệ tuyệt đối tính

mệnh và an toàn của nhà vua Năm 1150, Lý Anh Tông đã hạ lệnh: “Cấm bọn hoạn

quan không được tự tiện vào trong cung, ai phạm thì bị tội chết Nếu canh giữ không cẩn thận để người khác vào trong cung cũng bị tội như thế” [8, Tr.414]

Để bảo vệ quyền lợi chủ yếu của nhà nước phong kiến còn có những điều luật bảo vệ nguồn thu nhập của nhà nước như đưa ra các quy định về thể lệ thu thuế Ngoài

ra pháp luật còn bảo vệ dân đinh vì đây là sức lao động chủ yếu mà nhà nước dùng trong bắt lính và đi lao dịch Trên cơ sở các quy định về lễ nghi, phẩm phục của nhà Ngô, thì nhà Lý cũng phát triển những quy định này lên cao để thể hiện sự phân biệt đẳng cấp giữa quan lại và dân thường Nô tì là tầng lớp thấp kém nhất không được pháp luật bảo vệ

Pháp luật nhà Lý cũng phản ánh sự xuất hiện của chế độ tư hữu ruộng đất Năm

1142, Lý Anh Tông xuống chiếu “Những người cầm đợ ruộng đất trong vòng 20 năm

thì cho phép chuộc lại; việc tranh chấp ruộng đất thì trong vòng 5 năm hay 10 năm còn được tâu kiện, ai có ruộng đất bỏ hoang bị người khác cày cấy, trồng trọt trong vòng một năm thì được kiện mà nhận, quá hạn ấy thì cấm, làm trái thì xử 80 trượng Những người bán đoạn ruộng hoang hay ruộng thục đã có văn khế rồi thì không được chuộc lại nữa, ai làm trái bị phạt đánh 80 trượng” [10, Tr.485]

Pháp luật thời Lý nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nước trung ương tập quyền, của giai cấp thống trị, trước hết là của nhà vua Củng cố chế độ đẳng cấp, hạn chế

sự bành trướng thế lực của bọn quan liêu quý tộc, bảo vệ nguồn bóc lột của nhà nước Đối với tội thập ác, đặc biệt tội chống đối lại nhà Lý thì bị hình phạt rất nặng, tàn khốc như bị xẻo thịt, róc xương ở chợ, bị tùng xẻo, chặt chân, tay

Sự ra đời của bộ luật Hình thư là một bước tiến quan trọng trong việc quản lý đất nước của nhà Lý Tuy trong quá trình thực thi chưa đạt được hiệu quả cao song so với các triều đại trước nó đã thể hiện được bước tiến lớn của Đại Việt thế kỉ XI Nó khẳng định một sự phát triển tiếp theo của chế độ phong kiến là chính quyền trung ương ngày càng được củng cố với hệ thống pháp luật hoàn chỉnh vệ chính quyền phong kiến trung ương tập quyền

Trang 29

Nhà Trần, hệ thống luật pháp được củng cố và phát triển, thể hiện rõ tinh thần trọng luật trong quá trình cai trị Để đưa đất nước vào một khuôn khổ chung thì cần phải thiết lập một thể chế chính trị mang tính pháp lý cao Năm 1230, Trần Thái Tông

ban hành bộ “Quốc triều thông chế” (20 quyển) quy định những nguyên tắc cơ bản của

thể chế chính trị và chế độ phân chia đẳng cấp Điều này đã một phần nào đó khẳng định quyền lực tối cao của nhà vua và tính tập quyền chuyên chế của nhà nước Pháp luật bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của vua, hoàng tộc và hoàng gia Họ hàng nhà Trần phạm tội bị xử nhẹ hơn Nô tì không có quyền kết hôn với dân thường và quý tộc Nhà Trần lại xuống chiếu bắt gia nô của vương hầu, công chúa phải thích chữ mang hàm hiệu của chủ, nếu không sẽ bị coi là cướp, nhẹ bị sung làm quan nô, nặng sẽ bị tù [24, Tr.79] Điều này đã một phần nào đó khẳng định quyền lực tối cao của nhà vua và tính tập quyền chuyên chế của nhà nước

Luật của nhà Trần về nội dung cũng giống luật của nhà Lý, bảo vệ địa vị và quyền lợi kinh tế của vua quan, quý tộc, củng cố quyền lực của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, đặc biệt của nhà vua Đối với tội thập ác, đặc biệt tội phản nghịch, phản quốc bị xử rất nặng Hình phạt nhà Trần rất tàn khốc, kẻ ăn trộm và kẻ trốn tránh thì bị chặt ngón chân, giao cho người (sự chủ) được thoả ý (xử trị) hoặc cho voi giầy chết

Pháp luật thời Trần xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản, nhất là ruộng đất

Để bảo vệ và khuyến khích nghề nông, nhà Trần theo lệ nhà Lý, cấm giết trâu bò bừa bãi nếu giết sẽ nộp 3 con trâu hoặc bò và đánh 80 trượng, nếu người nhìn thấy mà không tố cáo lên vua sẽ phạt 1 con trâu hoặc bò và đánh 100 trượng tội che dấu Một

số bộ luật có những điểm độc đáo, sáng tạo như cách thức lăn dấu vân tay vào văn tự, giấy tờ; cấm ăn mặc, nói tiếng như phương Bắc, Chiêm Thành, Lào…[1, Tr.83] Pháp luật Lý – Trần bảo vệ quyền lợi của vua và tầng lớp quý tộc quan lại Điều này càng đẩy mạnh quá trình xác lập chế độ phong kiến Việt Nam

Với chính sách coi trọng pháp trị, nhà Hồ ban hành bộ “Đại Ngu quan chế hình

luật” góp phần củng cố uy quyền của nhà nước trung ương tập quyền Luật pháp nhà

Hồ chặt chẽ trong từng quy phạm pháp luật, đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 30

2.2.3 Quân đội

Tổ chức quân đội nhà Lý cũng rất chặt chẽ Quân đội thời Lý có hai loại: Cấm quân và quân ở các địa phương Cấm quân (hay cấm binh) có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành, quân ở các địa phương gọi là lộ quân hay sương quân

Năm 1028, sau loạn ba vương, Lý Thái Tông cho tăng cường lực lượng cấm quân

để bảo vệ thành, nên đã đặt “10 vệ điện tiền cấm quân: Quảng Thánh, Quảng Vũ, Ngự

Long, Bổng Nhật, Trừng Hải Mỗi về đều chia ra tả hữu trực, đi quanh để bảo vệ bên trong cấm thành, cộng là 10 vệ” [10, Tr.361] Năm 1119, Lý Nhân Tông lại cho duyệt

sáu binh tào Vũ Tiệp, Vũ Lâm,… người nào mạnh khỏe cho làm hỏa đầu ở các đội quân Ngọc Giai, Hưng Thánh, Bổng Nhật, Quang Thành, Vũ Đô, Ngự Long [10, Tr.445] Quân đội nhà Lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ kinh thành Thăng Long và sự an toàn của nhà vua cũng như của Hoàng tộc Trong các cuộc biến loạn, các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, quân triều đình cũng đóng vai trò hết sức quan trọng Chiến cuộc kháng chiến chống Tống do Lý Thường Kiệt lãnh đạo 1075 –

1077 đã chứng minh điều đó

Bên cạnh lực lượng cấm quân là lực lượng quân đội ở các châu, lộ Ngoài ra, còn có lực lượng dân binh là hương binh ở đông đồng và thổ binh ở miền núi Trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, các lực lượng này cũng được động viên để chiến đấu

Nhà Lý tiếp tục thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” rất hiệu quả Quân lính

được chia luân phiên, một lực lượng thường trực, phần còn lại về làm ruộng và cứ thế luân phiên nhau

Quân đội nhà Lý chủ yếu được chia làm hai loại: quân bộ và quân thủy Phiên chế và tổ chức quân đội của thời Lý được chia thành đô và vệ Những chính sách của nhà Lý đã xây dựng được một quân đội hùng mạnh Lực lượng này đã góp phần quan trọng trong bảo vệ và phòng thủ đất nước cũng như giữ vững an ninh và ổn định trật tự xã hội

Quân đội nhà Trần được tăng cường hơn so với nhà Lý Quân lính nhà Trần được huấn luyện tốt và đây thực sự là quân đội mạnh và thiện chiến nhất Các loại quân gồm: Cấm quân bảo vệ kinh thành và quân các lộ Ngoài ra còn có lực lượng quân của các quý tộc gọi là vương hầu, gia đồng

Năm 1239, Trần Thái Tông hạ chiếu tuyển trai tráng làm binh lính, chia làm ba bậc thượng, trung, hạ Nhà Trần đặc biệt chú ý đến cấm quân, gọi là quân túc vệ Phiên

Trang 31

chế cấm quân chặt chẽ hơn Bộ phận này có 8 quân, đứng đầu mỗi quân là một Đại tướng quân Mỗi quân có 30 đô chỉ huy đô có Chánh phó đại đội Mỗi đô có 5 ngũ, chỉ huy ngũ là đầu ngũ Như vậy số cấm quân ngày thường có khoảng 20.000 quân đóng ở Thăng Long, Tức Mặc và một số địa phương quan trọng [24, Tr.78] Cấm quân là lực lượng chủ lực bảo vệ kinh thành Thăng Long, Mặc Tức là nòng cốt để chống giặc ngoại xâm

Thời Trần, ngoài cấm quân và lộ quân là bộ phận do nhà nước tổ chức và chỉ huy, các vương hầu được phép có quân đội riêng Đây chính là lực lượng chủ chốt trong ba lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên xâm lược, trong đó Trần Quốc Tuấn đóng vai trò rất quan trọng Cũng giống nhà Đinh – Tiền Lê và nhà Lý, nhà Trần

cũng thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” đây là chính sách kết hợp giữa kinh tế

và quân sự, giữa nông nghiệp và tổ chức vũ trang

Trần Quốc Tuấn còn biên soạn 2 bộ Vạn Kiếp tông bí truyền thư và Binh thư diệu

lí yếu lược đây là bộ sách giáo khoa quân sự tổng kết từ thực tiễn lịch sử chiến đấu bảo

vệ độc lập dân tộc, đồng thời tham khảo lí luận quân sự Trung Hoa cổ Năm 1253, Trần Thái Tông lập giảng võ đường để giảng binh pháp cho quan võ và thành trường quân sự cao cấp đào tạo võ quan

Có thể nói, quân sự nhà Trần thực sự là một đội quân hùng mạnh, minh chứng là đã chiến thắng quân Mông Nguyên – đội quân được coi là mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ

Sau khi lên nắm quyền, Hồ Quý Ly đã đặt lại binh chế, chỉnh đốn quân đội, tổ

chức lại quân túc vệ, đặt thêm hiệu quân và tăng cường kỉ luật quân đội Quân đội được biên chế thành các quân, đô, vệ, đứng đầu có Đại tướng, Đô tướng và Phó đô tướng quân Các đơn vị đặt các chức Đại đội trưởng, Đại đội phó, Đô đốc, Đô thống, Tổng quản Cấm quân có 20 vệ; quân thường trực sắp xếp thành nhiều quân, mỗi quân gồm nhiều vệ, mỗi vệ có 18 đội, mỗi đội 18 người Hồ Quý Ly cũng tiến hành làm sổ hộ tịch để kiểm kê dân số toàn quốc, ghi tên lên tất cả con trai từ 2 tuổi trở lên, cấm ẩn lậu dân đinh nhằm tăng cường quân số với ý đồ xây dựng đạo quân một triệu người [24, Tr.104]

Nhà Hồ chủ trương cải tiến vũ khí và trang thiết bị quân sự như mở xưởng rèn đúc vũ khí, tuyển các thợ giỏi vào các quan xưởng nhờ vậy mà Hồ Nguyên Trừng đã phát minh ra súng thần cơ là loại đại bác đầu tiên của nước ta Ngoài ra còn chế tạo ra các loại pháo nhỏ, súng bắn bằng đạn ghém, đạn lửa

Trang 32

Hồ Quý Ly chủ trương xây dựng hệ thống phòng thủ quốc gia với nhiều công trình kĩ thuật quân sự khá lớn, như thành Tây Đô, thành Đa Bang với công trình phòng thủ có quy mô lớn dài gần 400km, kéo dài từ núi Tản Viên đến sông Thái Bình [24, Tr.104]

2.2.4 Tôn giáo – xã hội

Nho giáo tiếp tục phát triển dưới thời Lý - Trần như một đòn bẩy để thúc đẩy quá trình phong kiến hóa của nước ta Đặc biệt với việc xây dựng Văn Miếu, Quốc Tử Giám đã góp phần truyền bá Nho giáo trong giới học thức cả nước với những tư tưởng trung quân ái quốc phục vụ cho giai cấp thống trị Đến thời Lý Cao Tông, nhà Lý chính thức tổ chức các kỳ thi tam giáo, trong đó Nho giáo là hệ tư tưởng để quản lý xã hội Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu Năm 1075 mở khoa thi Nho học đầu

tiên với tên gọi “Thi minh kinh bác học” và “Nho học tam trường”, chính thức khai

sinh cho lịch sử thi cử Nho giáo lâu dài ở Việt Nam Từ đây, con em quý tộc họ Lý chính thức được đào tạo chủ yếu theo Nho giáo Cũng từ đây, nền đại học Việt Nam được khai sinh Năm 1156, nhà Lý cho lập miếu riêng thờ Khổng Tử (trước đó, Văn

Miếu thờ chung cả Chu Công và Khổng Tử) Điều đó thể hiện “khuynh hướng muốn

dựng Nho giáo thành một giáo lý độc tôn, đem Khổng Tử từ bậc tử (thầy) như các Chư

Tử lên bậc Thánh Khổng vậy” Với việc tổ chức khoa cử, nhà Lý đã mở đầu cho lịch

sử khoa cử Việt Nam kéo dài hơn 800 năm, qua đây tuyển chọn những nhân tài cho bộ máy nhà nước, nêu cao vị trí Nho học, thúc đẩy việc truyền bá và phát triển Nho học Tuy vậy, ở thời Lý, việc học tập và thi cử chưa được tổ chức thường xuyên và chưa có quy chế rõ ràng [3, Tr.1]

Với tư cách là hệ tư tưởng của giai cấp có tinh thần dân tộc và có tính chất tiến

bộ, Nho giáo thời Lý - Trần chứa đựng trong lòng nó nhiều yếu tố tích cực Tư tưởng

“tôn quân” trong Nho giáo thời kỳ này được đề ra là để củng cố quân quyền, kéo dài

sự tồn tại của vương triều Lý, Trần, nhưng đồng thời nó cũng gắn quyền lợi của nhà vua với trách nhiệm của vua trước nhân dân Chính sự song hành ấy khiến cho hệ tư tưởng Nho giáo thời Lý - Trần chứa đựng những giá trị lý luận đúng đắn, không chỉ có tác dụng củng cố quyền lực của giai cấp phong kiến thống trị đương thời mà còn có tác dụng xây dựng, phát triển bộ máy nhà nước phong kiến vững mạnh để đứng vững Việc phát triển của Nho giáo như một đòn bẩy làm cho quá trình phong kiến hóa diễn

ra nhanh hơn khi nó có một hệ tư tưởng vững chắc làm nòng cốt

Trang 33

Nho giáo thời nhà Hồ phát triển làm giảm đi sự phát triển của Phật giáo, Nho giáo chính là hệ tư tưởng thống trị của phong kiến Việt Nam Việc phát triển Nho giáo

sẽ làm cho quá trình phong kiến hóa diễn ra nhanh hơn Nho giáo là hệ tư tưởng giúp cho giai cấp thống trị củng cố quyền lực của mình và buộc nhân dân phải phục tùng và nghe theo tư tưởng “trung quân ái quốc” của Nho giáo

Xã hội hình thành nên những mối quan hệ đặc trưng: Nhà nước – nông dân, quý tộc – nông dân, địa chủ - nông dân, nhà chùa – nông dân Đặc biệt là mối quan hệ giữa nông dân với địa chủ ngày càng mật thiết khi mà địa chủ ngày càng có nhiều ruộng đất trong khi ruộng đất của nông dân ngày càng giảm Tính tự trị của làng xã vẫn còn cao, pháp luật gần như không ảnh hưởng đến tập tục của làng xã Trong xã hội hình thành

quan niệm “phép vua thua lệ làng” cho thấy nhân dân coi lệ làng cũng quan trọng

không kém phép nước

Năm 1401, nhà Hồ ban hành chính sách hạn nô: “chiếu theo phẩm tước, bậc mà

được sử dụng một số lượng gia nô theo quy định của Nhà nước Số gia nô quá quy định phải nộp cho Nhà nước Mỗi gia nô thừa ra được Nhà nước trả cho 5 quan tiền Người nào sử dụng gia nô phải xuất trình chúc thư ba đời Gia nô người ngoại quốc thì không có hạn lệ Các gia nô đều phải thích vào trán để đánh dấu Gia nô của Nhà nước thì thích kiểu hỏa châu (ngọc sang có tia sáng tỏa ra như tia lửa), hoặc sung vào quân Điện tiền; gia nô của công chúa thì thích kiểu dương đường (cây dương, cây đường); của Đại Vương thích vòng đỏ; của quan nhất, nhị phẩm thích vòng (khuyên) đen; của quan tam phẩm trở xuống thích hai khuyên đen” [11, Tr.77] Đây

là chính sách nhằm giải phóng nô lệ, làm giảm số nông nô làm việc trong các gia đình quan lại, quý tộc đem xung công cho triều đình Chính sách hạn điền và hạn nô không thể tách rời nhau nhằm ngăn chặn quá trình nông nô hóa đang phát triển trong

xã hội Tuy nhiên, chính sách hạn nô chỉ hạn chế nô tì chứ không nhằm giải phóng

nô tì, nô tì xung công trở thành quan nô Đây là một đòn tấn công vào quý tộc Trần, địa chủ và thế lực Phật giáo

2.3 Quá trình hoàn thiện của chế độ phong kiến thế kỉ XV (thời Lê sơ)

Đây là thế kỉ khẳng định sự hoàn thiện của chế độ phong kiến Việt Nam, chế độ phong kiến được hoàn chỉnh hơn so với các triều đại trước Bộ máy nhà nước Lê sơ nhất là sau cải cách Lê Thánh Tông đã đánh dấu một mốc quan trọng dẫn đến sự hoàn chỉnh của thể chế quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền cao độ ở Việt Nam

Trang 34

2.3.1 Bộ máy nhà nước

So với các triều đại trước thì bộ máy nhà nước của Lê sơ hoàn chỉnh hơn rất nhiều Thời kì đầu (1428 – 1459), về cơ bản bộ máy Lê sơ vẫn giống thời Lý - Trần nhưng ngày càng được hoàn thiện hơn Đứng đầu nhà nước vẫn là vua, giúp việc cho vua là chức tả, hữu Tướng quốc kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự, rồi đến chức Tam thái, Tam thiếu, Tam tư Dưới tả hữu Tướng quốc là các cơ quan văn, võ Ban văn có chức Đại hành khiển đứng đầu, phụ trách chung mọi việc Đại hành kiển đứng đầu hai bộ: Bộ Lại và Bộ Lễ Bên cạnh đó có các cơ quan chuyên trách như: Khu mật viện, Hàn lâm viện, Ngũ hình viện, Ngự sử đài, Quốc tử giám, Quốc sử viện, Nội thị sảnh, các quán, cục, ty Ban võ đứng đầu là Đại tổng quản, gồm các tổng chỉ huy quân đội thường trực

Ở địa phương, Lê Lợi bắt đầu xây dựng một hệ thống chính quyền, phân chia khu vực hành chính vùng Bắc Bộ, lập ra 4 đạo: Đông đạo, Bắc đạo, Tây đạo, Nam đạo và lập thêm đạo Hải Tây ở vùng Trung Bộ Đứng đầu mỗi đạo là hành khiển và có tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo Dưới đạo là lộ, hoặc phủ, hoặc trấn (ở miền núi) Đứng đầu lộ, phủ, trấn là các chức an phủ sứ, tri phủ, trấn phủ sứ Dưới lộ (trấn, phủ)

là cấp châu Dưới châu là cấp huyện, đứng đầu là tuần sát, sau gọi là chuyển vận sứ

Đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã: đại xã, trung xã và tiểu xã do các xã quan đứng đầu Điều này chứng tỏ nhà nước đã với tay đến các làng xã song vẫn chưa đủ để “phép vua” có thể thắng được “lệ làng” Các làng xã vẫn chủ yếu theo chế độ tự trị, sự can thiệp của nhà nước chỉ ở một mức độ nào đó

Nhìn chung, bộ máy tổ chức của Lê Lợi vẫn còn sơ sài và chủ yếu là xây dựng theo mô hình nhà nước đã có trước đó của nhà Lý – Trần, tuy nhiên thì mức độ tập trung quyền lực vào tay chính quyền trung ương đã cao hơn các triều đại trước

Khi Lê Thánh Tông lên ngôi (1460), để khắc phục các hạn chế của bộ máy hành chính và củng cố quyền lực tập trung vào tay của chính quyền trung ương thì ông đã tiến hành cải cách Lê Thánh Tông đã bỏ bớt những chức vụ trung gian dẫn đến lộng quyền như: Tướng quốc, Bộc xạ, Đại hành khiển… và đặt lại 6 Bộ: Lại, Hộ, Lễ, Hình, Công, Binh Việc bỏ bớt các chức vụ trung gian làm cho nhà nước trung ương với cánh tay quyền lực của mình tới các làng xã, bắt làng xã tuân thủ các quy định mà nhà nước đặt ra Từ đó nhà vua sẽ nắm mọi quyền hành và trực tiếp điều khiển mọi công việc của nhà nước

Trang 35

Chính quyền trung ương được thiết lập gồm có 7 khối cơ quan:

Một là, các cơ quan đầu triều: nhà vua bỏ chức tể tướng và đại hành khiển, các chức tam tư chỉ giữ lại tam thái, tam thiếu, thái úy và thiếu úy

Hai là, các cơ quan văn phòng, tư vấn: Hàn lâm viện, Đông các viện, Trung thư giám, Hoàng môn tỉnh, Bí thư giám

Ba là, lục bộ: 6 cơ quan trọng yếu của triều đình, do vua trực tiếp chỉ đạo, giúp vua quản lý các lĩnh vực của xã hội: Lại, Hộ, Lễ, Hình, Công, Binh Đứng đầu là quan trung lang, chức phó là viên ngoại lang

Bốn là, lục tự: được lập ra năm 1466, để làm những công việc mà lục bộ không làm hết Đây là cơ quan trực thuộc vua, tương đương với lục bộ và lục khoa Đứng đầu lục tự là tự khanh, chức phó là thiếu khanh Bao gồm: Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự

Năm là, lục khoa: là cơ quan chuyên giám sát lục bộ và giám sát theo hàng ngang Bên cạnh đó, lục khoa còn giúp việc cho Ngự sử đài, giám sát quan lại ở cấp ty,

hỗ trợ cho vua trong việc chính sự Đứng đầu lục khoa có hai cấp: đô cấp sự trung và cấp sự trung Lục khoa đã được thành lập từ thời Nghi Dân, sau được Lê Thánh Tông đổi lại tên, gồm: Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Công khoa Sáu là, các cơ quan chuyên môn: các cơ quan này đã có từ trước và đến thời Lê Thánh Tông được củng cố và hoàn thiện hơn

Bảy là, các cơ quan phụ trách nông nghiệp Sở đồn điền: chuyên quản lý và trông coi các đồn điền, đứng đầu là đồn điền sở sứ Sở tầm tang: trông coi việc trồng dâu nuôi tằm, đứng đầu là tầm tang sở sứ Sở thực thái, chuyên trông coi việc hoa màu, đứng đầu là thực thái sở sứ Sở mục điền: trông coi việc chăn nuôi súc vật, đứng đầu là mục điền sở sứ

Ở chính quyền địa phương, Lê Thánh Tông rất chú trọng việc xây dựng chính quyền địa phương Cả nước chia thành 13 đạo thừa tuyên với các cơ quan hành chính thống nhất Mỗi đạo đều có 3 ti trông coi các mặt dân sự, quân sự, an ninh Dưới đạo

là các phủ, đứng đầu là tri phủ; huyện, châu là tri huyện, tri châu như cũ Người đứng đầu xã là Xã trưởng, do dân bầu Năm 1498, đã quy định rõ quy mô lớn, nhỏ để quản

lý “Định lệnh tách xã, xã nào có đủ 500 hộ rồi mà số hộ dư ra lại được 100 trở lên

có thể thành một xã nhỏ nữa thì phải báo rồi xếp loại tâu lên để xếp thành xã khác cho thêm rộng bản đồ [9, Tr.511]

Trang 36

Các cấp xã cũng được nhà nước quy định để chia thành các xã lớn, vừa và nhỏ:

“Xã lớn gồm 500 hộ trở lên có 5 xã trưởng; xã vừa gồm 300 hộ trở lên, có 4 xã trưởng; xã nhỏ gồm 100 hộ trở lên, có 2 xã trưởng” Việc bầu ra xã trưởng cũng được

quy định rõ ràng: “Lấy hạng giám sinh, sinh đồ tuổi trở lên, không vướng việc quân,

những hạng đó người nào biết chữ, có hạnh kiểm nên làm xã trưởng của xã ấy để tiện làm việc” [22, Tr.151]

Đây là mốc lịch sử đánh dấu cuộc cải cách về chính quyền địa phương một cách toàn diện nhất Nhờ vậy mà triều đình đã can thiệp sâu vào cấp cơ sở, hạn chế được tính tự trị của làng xã và quyền lực đã tập trung vào tay chính quyền trung ương hơn

Bộ máy nhà nước của Lê Thánh Tông được thiết lập theo thể chế quân chủ tập quyền quan liêu, thể hiện rõ tính chuyên chế, đảm bảo quyền lực tối cao của nhà vua Nhà nước đã quản lý được cấp nhỏ nhất trong hệ thống chính quyền, giữa các cơ quan có hệ thống giám sát theo hàng ngang, nhiệm vụ của các cơ quan được quy định rõ ràng, không chồng chéo nhau Đặc biệt rất coi trọng việc thanh tra, giám sát Lần đầu tiên với tay đến các cấp làng xã, lập xã quan, lập hương ước Điều đó khẳng định chế độ phong kiến đã hoàn chỉnh, xác lập ở Việt Nam

2.3.2 Luật pháp

Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) là bộ luật đầy tiến bộ và sáng tạo, thể hiện

rõ sự hoàn chỉnh của chế độ phong kiến ở nước ta Nếu như pháp luật Lý – Trần còn sơ sài và chỉ bảo vệ quyền lực của nhà vua thì bộ luật Hồng Đức đã thể hiện được tính nhân dân Đây là bộ luật được đánh giá cao, vượt trội hẳn so với pháp luật thời kì trước, đảm bảo được quyền lực của nhà vua nhưng cũng không làm giảm đi tính nhân văn

Luật Hồng Đức bảo vệ quyền lực tối cao của nhà vua và những hoàng thân quý tộc mang tính chuyên chế

Tám điều được nghị xét giảm tội (Bát nghị)

1 Nghị thân, là họ tôn thất từ hàng đản miếu trở lên; họ hàng thái hậu từ hàng phải để tang ty ma; họ hoàng hậu từ tiểu công trở lên

2 Nghị cố, là những người cố cựu

3 Nghị hiền, những người có đức hạnh lớn

4 Nghị năng, là những người có tài năng lớn

5 Nghị công, là những người có công huân lớn

Trang 37

6 Nghị quý, là những quan viên có chức sự từ tam phẩm trở lên, những quan viên tản chức hay có tước từ nhị phẩm trở lên

7 Nghị cần, là những người cần cù chăm chỉ

8 Nghị tân, là con cháu các triều trước [26, Tr.43-44]

Hay “Những người thuộc về nghị thân mà phạm tội thì họ tôn thất, họ hoàng hậu

đều được miễn những tội đánh roi, đánh trượng, thích mặt; họ hoàng hậu thì được chuộc bằng tiền” [26, Tr.45] Ta có thể thấy họ hàng thân thích của hoàng tộc khi

phạm tội đều được giảm án Bộ luật này thể hiện rõ những điều khoản để bảo về quyền lực của chính quyền trung ương

Bộ luật Hồng Đức còn bảo vệ trật tự trong xã hội với những quy định về đạo đức

mà con người cần phải có trong xã hội phong kiến Không những thế, bộ luật này còn

có những điều khoản bảo vệ người phụ nữ Đây được coi là điểm tiến bộ của bộ luật khi mà Lê sơ là nhà nước phong kiến chuyên chế mang tư tưởng Nho giáo Có một số tội danh, nếu người phạm tội là phụ nữ thì được giảm nhẹ, như việc xử lý tội ăn trộm,

ăn cướp: "Ăn trộm mà có cầm khí giới thì phải khép vào tội ăn cướp; nếu giết người thì bị

khép vào tội giết người Đàn bà được giảm tội" [26, Tr.194] Bộ luật Hồng Đức xử rất

nặng đối với những trường hợp xâm phạm thân thể người phụ nữ: Nếu làm người đàn bà

bị thương thì bị xử tội nặng hơn tội đánh người bị thương một bậc Nếu làm người đàn bà

bị chết thì điền sản kẻ phạm tội phải trả cho nhà người bị chết [26, Tr.183]

Bản thân Luật Hồng Đức là học tập luật pháp của nhà Minh nhưng có nhiều điểm tiến bộ hơn hẳn Nhà Lê sơ đã với tay đến “lệ làng” một cách sâu sắc và hiệu quả nhất so với các triều đại trước Lệ làng được biểu hiện qua truyền miệng hoặc hương ước làng xã Nhà nước không ngăn cấm việc lập khoán ước nhưng việc này không được trái pháp luật

Từ đó nhà nước biến hương ước trở thành bản cụ thể hóa pháp luật nhà nước

Việc phát triển bộ luật Hồng Đức là đỉnh cao của của pháp luật Đại Việt Bộ luật Hồng Đức là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý xã hội Nó nói lên đây chính là thời kì chế độ phong kiến đạt đến đỉnh cao của sự phát triển

2.3.3 Quân đội

Dưới thời Lê Thánh Tông, quân đội chia thành các vệ, mỗi vệ chia thành các sở hoặc ty, sở có 400 người, ty có 100 người Sở chia thành đội, mỗi đội có 20 người Về phân bổ lực lượng, quân đội chia ra làm hai loại: Quân cấm vệ (Thân binh) và Ngoại

binh Quân cấm vệ có nhiệm vụ bảo vệ Kinh thành, đứng đầu là đô kiểm điểm Quân

Trang 38

cấm vệ chia thành nhiều vệ, đứng đầu vệ là tổng tri Ngoại binh có nhiệm vụ trấn giữ các đạo, mỗi đạo có đô ty, đứng đầu là đô tổng binh sứ Mỗi đô ty có một số vệ đứng đầu vệ là chỉ huy sứ Mỗi vệ chia thành 5 sở thiên hộ, mỗi sở thiên hộ chia thành 10 sở

nhất bách hộ Việc tuyển lính thực hiện cùng với điều tra nhân khẩu, lập hộ tịch [1, Tr.109-110]

Quân đội nhà Lê sơ còn có Ngũ phủ quân, đây là cơ quan trực tiếp quản lý một

số vệ, sở quân trực thuộc, đồng thời giúp vua quản lý sổ sách, quân số của một số đạo

Đứng đầu mỗi Phủ quân là tả, hữu đô đốc

Nhà vua nắm quyền thống lĩnh quân đội để bảo vệ vững chắc vương triều, là tổng

chỉ huy quân đội và đứng đầu hàng quan võ, đây là việc mà bình thường thái úy nắm

giữ Lê Thánh Tông chủ động điều động quân đội khi có chiến tranh và các cuộc nổi loạn, phản động Hoạt động của các quan võ và cơ quan quân sự chịu sự giám sát của nhiều cơ quan khác, các cơ quan không được giữ quá nhiều quyền lực Bộ Hình, Ngũ phủ quân và các tướng lĩnh khác bị phân lập quyền hành và ràng buộc lẫn nhau Vì vậy, quân sự của nhà vua được tăng cường và chủ trương tản quyền được thực hiện

2.3.4 Tôn giáo – xã hội

Giai cấp phong kiến ở thế kỉ XV lấy Nho giáo làm cơ sở cho hệ tư tưởng và đạo đức, để củng cố trật tự xã hội và giữa vững địa vị của mình Lê Thánh Tông ban “24 điều giáo huấn” giao cho các xã trưởng hàng năm giáo dục nhân dân [24, Tr.167] Trong giáo dục và thi cử, Nho giáo chiếm nội dung chủ yếu Để tôn vinh Nho học, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ, những người đỗ từ năm 1442 tại nhà Thái học Nho giáo thời Lê sơ áp dụng theo kiểu nhà Tống, còn gọi là Tống Nho Năm 1467, ông

đặt ra chức Ngũ Kinh bác sĩ, tức là chọn người giỏi giao cho nhiệm vụ nghiên cứu

chuyên sâu về Ngũ Kinh để giảng cho học trò, truyền bá Nho giáo trong xã hội Bản thân Thánh Tông cũng có học vấn khá cao về Nho học, ông thường cùng các quan lại bàn về Nho giáo trong lúc rỗi rãi Ông đề cao "tam cương": quân thần, phụ tử, phu phụ (vua tôi, cha con, vợ chồng) và chữ "hiếu", ít bàn về phạm trù "nhân nghĩa” [25, Tr.347] Với việc nâng Nho giáo làm quốc giáo đã thể hiện rõ ràng sự hoàn chỉnh của chế độ phong kiến thời Lê sơ Đó là sự thắng thế của một hệ tư tưởng làm nòng cốt cho giai cấp thống trị Việc này đã làm cho chính quyền phong kiến ngày càng tập trung quyền lực vào tay mình và nhân dân thì ngày càng phụ thuộc vào nhà nước

Ngày đăng: 07/08/2018, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w