1. Trang chủ
  2. » Vật lý

Bài giảng nguyên lý thống kê

117 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đó nghĩa là thống kê học sử dụng các con số về quy mô, kết cấu, quan hệ tỷ lệ, quan hệ so sánh, trình độ phát triển, trình độ phổ biến của hiện tượng để phản ánh, biểu thị b[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2018

THS NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG THS TRẦN HOÀNG LONG, THS VÕ THỊ HẢI HIỀN

CN PHẠM THỊ TRÀ MY

NGUY£N Lý THèNG K£

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA THỐNG KÊ HỌC 3

1.1 Tổng quan quá trình hình thành và phát triển của thống kê học 3

1.2 Khái niệm và đối tượng nghiên cứu của thống kê học 4

1.2.1 Khái niệm về thống kê học 4

1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê học 5

1.3 Cơ sở phương pháp luận và lý luận của thống kê học 7

1.3.1 Cơ sở phương pháp luận của môn học 7

1.3.2 Cơ sở lý luận của môn học 7

1.4 Các giai đoạn của quá trình nghiên cứu thống kê 7

1.5 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê 8

1.5.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể 8

1.5.2 Tiêu thức thống kê 10

1.5.3 Chỉ tiêu thống kê 11

1.5.4 Thang đo trong thống kê 12

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 14

Chương 2.ĐIỀU TRA THỐNG KÊ 15

2.1 Khái niệm, ý nghĩa, yêu cầu của điều tra thống kê 15

2.1.1 Khái niệm, ý nghĩa 15

2.1.2 Các yêu cầu cơ bản của điều tra thống kê 16

2.2 Các hình thức của điều tra thống kê 17

2.2.1 Báo cáo thống kê định kỳ 18

2.2.2 Điều tra chuyên môn 18

2.3 Các loại điều tra thống kê 19

2.3.1 Theo tính chất liên tục, hệ thống của cuộc điều tra 19

2.3.2 Theo phạm vi tổng thể tiến hành điều tra 20

2.4 Phương pháp thu thập thông tin trong điều tra thống kê 22

2.4.1 Phương pháp thu thập trực tiếp 22

2.4.2 Phương pháp thu thập gián tiếp 22

2.5 Sai số trong điều tra thống kê 25

Trang 5

2.5.1 Sai số do đăng ký, ghi chép 26

2.5.2 Sai số do tính chất đại biểu 26

2.5.3 Biện pháp hạn chế sai số 26

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 28

Chương 3.TỔNG HỢP THỐNG KÊ 29

3.1 Khái niệm, ý nghĩa và yêu cầu của tổng hợp thống kê 29

3.1.1 Khái niệm tổng hợp thống kê 29

3.1.2 Ý nghĩa của tổng hợp thống kê 30

3.1.3 Yêu cầu của tổng hợp thống kê 30

3.2 Kế hoạch tổng hợp thống kê 31

3.2.1 Xác định mục đích tổng hợp thống kê 31

3.2.2 Xác định nội dung (tiêu thức) tổng hợp thống kê 31

3.2.3 Kiểm tra tài liệu đưa vào tổng hợp thống kê 31

3.2.4 Xác định phương pháp tổng hợp thống kê 32

3.2.5 Tổ chức kỹ thuật tổng hợp thống kê 32

3.3 Phương pháp tổng hợp bằng phân tổ thống kê 32

3.3.1 Khái niệm, ý nghĩa phân tổ thống kê, nhiệm vụ phân tổ thống kê 32

3.3.2 Tiêu thức phân tổ và xác định số lượng tổ 35

3.3.3 Chỉ tiêu giải thích 38

3.3.4 Dãy số phân phối 39

3.4 Các chỉ tiêu tổng hợp thống kê 40

3.4.1 Chỉ tiêu số tuyệt đối thống kê 40

3.4.2 Chỉ tiêu số tương đối thống kê 41

3.4.3 Chỉ tiêu số bình quân thống kê 44

3.5 Các chỉ tiêu đánh giá độ biến thiên của tiêu thức 53

3.5.1 Khái niệm, ý nghĩa của chỉ tiêu đánh giá độ biến thiên tiêu thức 53

3.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá độ biến thiên của tiêu thức 54

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 59

Chương 4.PHÂN TÍCH VÀ DỰ ĐOÁN THỐNG KÊ 60

4.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích, dự đoán thống kê 60

4.1.1 Khái niệm 60

4.1.2 Ý nghĩa 60

4.1.3 Nhiệm vụ 60

Trang 6

4.1.4 Yêu cầu 62

4.2 Nội dung chủ yếu của phân tích và dự đoán thống kê 63

4.3 Các phương pháp phân tích chủ yếu trong phân tích thống kê 63

4.3.1 Phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian 63

4.3.2 Phương pháp hồi quy và tương quan 80

4.3.3 Phương pháp chỉ số 86

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 95

Chương 5.ĐIỀU TRA CHỌN MẪU 96

5.1 Khái niệm và ý nghĩa của điều tra chọn mẫu 96

5.1.1 Khái niệm chọn mẫu 96

5.1.2 Ý nghĩa điều tra chọn mẫu 96

5.2 Điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 97

5.2.1 Những vấn đề lý luận trong điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 97

5.2.2 Các phương pháp tổ chức điều tra chọn mẫu thường dùng trong thống kê 102 5.2.3 Điều tra chọn mẫu nhỏ và điều tra chọn mẫu thời điểm 106

5.3 Điều tra chọn mẫu phi ngẫu nhiên 107

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 8

Nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và học tập những lý luận cơ bản, tạo điều kiện cho các em dễ dàng tiếp cận các môn học tiếp theo về thống kê của sinh viên kế toán và các ngành kinh tế khác của Trường Đại học Lâm Nghiệp, nhóm giảng viên bộ môn Tài chính kế toán tổ chức biên soạn bài giảng Nguyên

lý thống kê

Bài giảng Nguyên lý thống kê tập thể tác giả Bộ môn Tài chính kế toán, biên soạn bao gồm:

- Cử nhân Phạm Thị Trà My biên soạn chương 1, chương 2;

- Thạc sĩ Trần Hoàng Long biên soạn chương 3;

- Thạc sĩ Võ Thị Hải Hiền biên soạn chương 4;

- Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Hương biên soạn chương 5

Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã cố gắng kết hợp cơ sở lý luận gắn liền với thực tiễn để đảm bảo tính thời sự và khoa học Tuy nhiên, không tránh khỏi những hạn chế còn gặp phải Do vậy, tập thể tác giả kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để lần xuất bản tới Bài giảng được hoàn thiện hơn

Trang 10

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA

THỐNG KÊ HỌC 1.1 Tổng quan quá trình hình thành và phát triển của thống kê học

Thống kê học ra đời, phát triển từ nhu cầu thực tiễn của xã hội và là một trong những môn khoa học xã hội lịch sử lâu dài nhất Đó là một quá trình phát triển không ngừng từ đơn giản đến phức tạp, được đúc rút dần thành lý luận và ngày nay đã trở thành một môn khoa học độc lập

Trong lịch sử, những ý tưởng và phương pháp thống kê phát triển cũng với

sự phát triển nhu cầu xã hội về thu thập và sử dụng thông tin cho các mục đích khác nhau Ngay từ thời cổ đại, con người đã biết chú ý tới việc đăng ký, ghi chép và tính toán số người trong bộ tộc, số súc vật, số người có thể huy động phục vụ các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, số người được tham gia ăn chia phân phối của cải thu được Mặc dù việc ghi chép còn rất giản đơn với phạm vi hẹp, nhưng đó chính là những cơ sở thực tiễn ban đầu của thống kê học Trong

xã hội phong kiến, hầu hết các quốc gia ở châu Á, châu Âu đều tổ chức việc đăng ký, kê khai về số dân, về ruộng đất, tài sản với phạm vi rộng hơn, có tính chất thống kê rõ hơn Tuy nhiên, các đăng ký này còn mang tính tự phát, thiếu khoa học Thống kê đã có một bước phát triển quan trọng, nhưng vẫn chưa thực

sụ hình thành một môn khoa học độc lập

Sự ra đời phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu lý luận cũng như phương pháp thu thập, tính toán và phân tích về mặt lượng các hiện tượng kinh tế - xã hội Năm

1660, nhà kinh tế học người Đức H Conhring (1606 - 1681) đã giảng về phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa vào các số liệu điều tra cụ thể Năm

1682, William Petty (1623 - 1687) nhà kinh tế học người Anh đã xuất bản cuốn:

“Số học chính trị” Đây là tác phẩm có tính phân tích thống kê đầu tiên, trong đó tác giả nghiên cứu các hiện tượng xã hội bằng cách tổng hợp và so sánh các con

số Kar Mark đã gọi William Petty là người sáng lập ra môn thống kê học Năm

1750, giáo sư người Đức G.Achenwall (1710 - 1772) lần đầu dùng danh từ

“Statistick” để chỉ phương pháp nghiên cứu nói trên và quan niệm đó là môn học so sánh các nước khác nhau về mọi mặt qua các số liệu thu thập được

Trang 11

Những thành tựu của khoa học tự nhiên trong thế kỉ XVIII, đặc biệt sự ra đời của lý thuyết xác suất và thống kê toán đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thống kê học Kể từ đó, thống kê có sự phát triển rất mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện, gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà toán học - thống kê học nổi tiếng, như:

M V Lomonoxop (Nga, 1711 - 1765); A Quetelet (Bỉ, 1796 - 1874); Laplace (Pháp, 1749 - 1827); I-Fisher W M Pearsons, W Far (Anh, 1807 - 1883)

Kể từ khi ra đời, thống kê ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống

xã hội Thông qua việc phát hiện, phản ánh những quy luật về lượng của hiện tượng, các con số thống kê giúp cho việc kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, kế hoạch và định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai Ngày nay, thống kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội ngắn hạn và dài hạn Đồng thời, các con số thống kê cũng là những cơ

sở quan trọng nhất để đánh giá tình hình thực hiện các kế hoạch, chiến lược và các chính sách đó Trên giác độ quản lý vi mô, thống kê không những có vai trò đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, mà còn phải xây dựng, cung cấp các phương pháp phân tích đánh giá về mặt lượng các hoạt động kinh tế - xã hội của các tổ chức, đơn vị

1.2 Khái niệm và đối tượng nghiên cứu của thống kê học

1.2.1 Khái niệm về thống kê học

Thống kê học là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập,

xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện nhất định

Thống kê không phải là khoa học nghiên cứu một phương pháp nào đó mà là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp được sử dụng để thu thập, xử lý và phân tích các con số Những phương pháp này giúp chúng ta tìm ra những ý nghĩa thực tiễn ẩn đằng sau những con số đó, làm cơ sở cho việc ra các quyết định

Các con số mà thống kê học nghiên cứu không chỉ đơn thuần là các con số

số học đơn giản mà là các con số được gắn với những hiện tượng kinh tế xã hội

cụ thể thông qua việc phân tích các con số để tìm hiểu bản chất và tính quy luật của các hiện tượng đó

Trang 12

Để có thể tìm hiểu được bản chất và tính quy luật của hiện tượng kinh tế xã hội nếu chúng ra chỉ nghiên cứu một số ít các hiện tượng thì rất khó để chúng ta

có thể hiểu ra được bản chất và tính quy luật của hiện tượng Một hiện tượng cá biệt, trong quá trình vận động và phát triển chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó có cả nhân tố tất nhiên và nhân tố ngẫu nhiên nên dưới sự tác động của nhiều yếu tố làm cho các hiện tượng cá biệt rất khác nhau Do đó, nếu chỉ nghiên cứu trên một số ít hiện tượng thì rất khó có thể rút ra bản chất chung của hiện tượng Vì vậy, thống kê học đòi hỏi nghiên cứu những hiện tượng số lớn Các hiện tượng kinh tế xã hội luôn luôn biến động theo thời gian và không gian Vì vậy, cùng một hiện tượng kinh tế xã hội nhưng được đặt ở những thời gian và không gian khác nhau thì hiện tượng đó cũng có những biểu hiện khác nhau Ví dụ: Giá gạo của tháng này so với tháng trước có sự khác nhau, giá gạo tại Hà Nội có thể khác so với tỉnh khác Vì vậy, thống kê học nghiên cứu những hiện tượng xã hội trong những điều kiện thời gian và không gian cụ thể

1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê học

Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thống kê học cho thấy: Thống kê học là một môn khoa học xã hội Tuy nhiên, khác với các môn khoa học xã hội khác, thống kê học không trực tiếp nghiên cứu mặt chất của hiện tượng, mà nó chỉ phản ánh bản chất tính quy luật của hiện tượng thông qua các con số, các biểu hiện về lượng của hiện tượng Điều này đó nghĩa là thống kê học sử dụng các con số về quy mô, kết cấu, quan hệ tỷ lệ, quan hệ so sánh, trình

độ phát triển, trình độ phổ biến của hiện tượng để phản ánh, biểu thị bản chất, tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Như vậy, các con số thống kê không phải chung chung, trừu tượng, mà bao giờ cũng chứa đựng một nội dung kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, giúp ta nhận thức được bản chất và quy luật của hiện tượng nghiên cứu

Theo quan điểm của triết học, chất và lượng là hai mặt không thể tách rời của mọi sự vật, hiện tượng, giữa chúng luôn tồn tại mối liên hệ biện chứng với nhau Trong mối quan hệ đó, sự thay đổi về lượng quyết định sự biến đổi về chất Quy luật lượng - chất của triết học đã chỉ rõ: Mỗi lượng cụ thể đều gắn với một chất nhất định, khi lượng thay đổi và tích lũy đến một chừng mực thì chất thay đổi theo Vì vậy, nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng sẽ giúp cho việc nhận thức bản chất của hiện tượng Có thể đánh giá thành tích sản xuất của

Trang 13

doanh nghiệp qua các con số thống kê về tổng số sản phẩm làm ra, giá trị sản xuất đạt được, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất, giá thành đơn vị sản phẩm, năng suất lao động và thu nhập của người công nhân

Tuy nhiên, để có thể phản ánh được bản chất và tính quy luật phát triển của hiện tượng, các con số thống kê phải được tập hợp, thu thập trên một số lớn các hiện tượng cá biệt Thống kê học coi tổng thể các hiện tượng cá biệt như một thể hoàn chỉnh và lấy đó làm đối tượng nghiên cứu

Mặt lượng của hiện tượng cá biệt thường chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có cả những yếu tố tất yếu và ngẫu nhiên Mức độ và chiều hướng tác động của từng yếu tố này trên mỗi hiện tượng cá biệt rất khác nhau Nếu chỉ thu thập số liệu trên một số ít hiện tượng thì khó có thể rút ra bản chất chung của hiện tượng, mà nhiều khi người ta chỉ tìm thấy những yếu tố ngẫu nhiên, không bản chất Ngược lại, khi nghiên cứu trên một số lớn các hiện tượng cá biệt, các yếu tố ngẫu nhiên sẽ bù trừ, triệt tiêu nhau và khi đó bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng mới được bộc lộ rõ

Hiện tượng số lớn trong thống kê được hiểu là một tập hợp hiện tượng cá biệt đủ để bù trừ, triệt tiêu tác động của các yếu tố ngẫu nhiên Giữa hiện tượng số lớn (tổng thể) và các hiện tượng cá biệt (đơn vị tổng thể) luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng Muốn nghiên cứu tổng thể, phải dựa trên cơ sở nghiên cứu từng đơn

vị tổng thể Mặt khác, trong quá trình phát triển không ngừng của xã hội, luôn nảy sinh những hiện tượng cá biệt mới, những điển hình tiên tiến hoặc lạc hậu Sự nghiên cứu các hiện tượng cá biệt này sẽ giúp cho sự nhận thức bản chất của hiện tượng đầy đủ, toàn diện sâu sắc hơn Vì vậy, trong thống kê, người ta thường kết hợp nghiên cứu hiện tượng số lớn với nghiên cứu hiện tượng cá biệt

Đối tượng nghiên cứu của thống kê học bao giờ cũng tồn tại trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Trong điều kiện lịch sử khác nhau, các đặc điểm về chất và biểu hiện về lượng của hiện tượng cũng khác nhau, nhất là với các hiện tượng kinh tế - xã hội Chẳng hạn, trình độ hiện đại hóa, một trong những yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động của công nhân, lại rất khác nhau giữa doanh nghiệp Ngay trong cùng một đơn vị, cũng lại có thể khác nhau giữa các giai đoạn, các thời kỳ Thậm chí, giữa các bộ phận trong cùng một đơn vị, nhiều khi cũng tồn tại những khác biệt đáng kể Vì vậy, các con số về năng suất lao động của người công nhân trong từng doanh nghiệp, từng thời kỳ khác nhau cũng có ý

Trang 14

nghĩa khác nhau Như vậy, khi sử dụng các số liệu thống kê phải luôn gắn nó trong điều kiện thời gian, địa điểm cụ thể của hiện tượng mà số liệu phản ánh

Từ các phân tích trên, có thể rút ra kết luận: Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng số lớn, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể

1.3 Cơ sở phương pháp luận và lý luận của thống kê học

1.3.1 Cơ sở phương pháp luận của môn học

Cơ sở phương pháp luận của Thống kê học chủ nghĩa duy vật biện chứng Thống kê luôn biểu hiện mặt lượng của hiện tượng kinh tế xã hội, thông qua mặt lượng nói lên mặt chất Thống kê lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở lý luận, điều đó được thể hiện trên các phương diện sau:

- Phải phân tích và đánh giá quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong trạng thái động;

- Xem xét các mặt, các hoạt động, các quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong mối quan hệ biện chứng, quan hệ nhân quả;

- Xây dựng các phương pháp đo lường, các chỉ tiêu và các công thức tính toán mang tính hệ thống, logic

1.3.2 Cơ sở lý luận của môn học

Cơ sở lý luận của môn học là các học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác Lênin và kinh tế thị trường Các môn khoa học này trang bị cho các nhà thống

kê hiểu nội dung kinh tế của các chỉ tiêu thống kê một cách sâu sắc

Ngoài ra, thống kê còn là công cụ phục vụ công tác quản lý Vì vậy, phải lấy đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước làm cơ sở lý luận

1.4 Các giai đoạn của quá trình nghiên cứu thống kê

Quá trình nghiên cứu thống kê trải qua 3 giai đoạn có quan hệ chặt chẽ, mật

thiết với nhau: Giai đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau Kết quả và chất lượng dữ liệu thống kê đạt được ở giai đoạn trước là cơ sở đảm bảo cho kết quả

và chất lượng ở giai đoạn sau

Giai đoạn ghi chép và thu thập tài liệu thống kê bao gồm số liệu và thông tin tình hình về hiện tượng kinh tế xã hội cần nghiên cứu Phương pháp sử dụng thu thập tài liệu thống kê trong giai đoạn này là phương pháp điều tra thống kê - phương pháp quan sát số lớn Giai đoạn này được gọi là giai đoạn điều tra thống kê

Trang 15

Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn tổng hợp trình bày kết quả điều tra thu thập được Tổng hợp tài liệu điều tra là thực hiện kiểm tra trài liệu điều tra, phân loại, sắp xếp tài liệu điều tra thành các tổ, nhóm theo yêu cầu mục đích, phân tích Phương pháp cơ bản sử dụng tổng hợp tài liệu điều tra là phương pháp phân tổ thống kê

Giai đoạn phân tích và dự báo thống kê Nhiệm vụ của giai đoạn này là tính toán các chỉ tiêu cần thiết, thực hiện phân tích, đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận về kết quả, thành tựu, tồn tại cũng như nguyên nhân tác động về phát triển sản xuất - dịch vụ, phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể Đồng thời nêu lên được những giải pháp, biện pháp cần thiết phát huy thành tích, khắc phục tồn tại và dự báo phát triển tương lai Phương pháp

và chỉ tiêu phân tích mức độ khối lượng kết quả tuyệt đối, bình quân, so sánh, mức độ tốc độ phát triển, tăng trưởng, chỉ số phát triển, xu hướng phát triển, dự

Như vậy, muốn xác định được một tổng thể thống kê, ta cần xác định được tất cả các đơn vị cấu thành nó Hay thực chất của việc xác định tổng thể thống

kê là việc xác định các đơn vị tổng thể

Tổng thể thống kê là một khái niệm quan trọng của thống kê học Xác định tổng thể nhằm đưa ra giới hạn về phạm vi nghiên cứu cho người nghiên cứu Qua đó cho biết chúng ta phải thu thập tài liệu từ những đơn vị nào và ở đâu Chẳng hạn, khi muốn nghiên cứu tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, thì tổng thể thống kê sẽ là tổng thể các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội, mỗi doanh nghiệp là một đơn vị tổng thể

1.5.1.2 Phân loại tổng thể thống kê

Căn cứ vào sự nhận biết các đơn vị trong tổng thể, có thể chia thành hai loại: tổng thể bộc lộ và tổng thể tiềm ẩn

Trang 16

Tổng thể bộc lộ là tổng thể mà ranh giới rõ ràng, các đơn vị của tổng thể

được xác biểu hiện một cách rõ ràng, dễ xác định Ví dụ như: Số nhân khẩu của địa phương, số xe máy được cấp đăng ký trong một tháng tại một thành phố hay tổng thể các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

Ngược lại, một số tổng thể mà các đơn vị của nó không được nhận biết một

cách trực tiếp, ranh giới của tổng thể không rõ ràng được gọi là tổng thể tiềm ẩn

Chẳng hạn, tổng thể những người ưa dùng một loại sản phẩm nào đó, hoặc tổng thể những người mê tín dị đoan, những người yêu thích bóng đá… đều là tổng thể tiềm ẩn

Việc phân chia này có liên quan trực tiếp đến việc xác định tổng thể Thông thường, việc xác định các đơn vị của một tổng thể bộc lộ không gặp nhiều khó khăn do chúng được định nghĩa rõ ràng, có ranh giới xác định với các đơn vị khác Trong khi đó, việc tìm được đầy đủ, chính xác các đơn vị của một tổng thể tiểm ẩn lại gặp nhiều khó khăn hơn do không có sự phân biệt rạch ròi, chuẩn xác giữa chúng với các đơn vị không thuộc tổng thể Vì vậy, việc nhầm lẫn, bỏ sót các đơn vị trong tổng thể dễ xảy ra

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, có thể chia làm hai loại tổng thể: tổng thể đồng chất và tổng thể không đồng chất

Tổng thể đồng chất bao gồm những đơn vị có cùng chung những đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu Tổng thể không đồng chất bao gồm những đơn vị khác nhau về loại hình, khác nhau về những đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu Sự phân chia này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định tính đại diện của các con số thống kê tính được Các con số này chỉ có ý nghĩa, đảm bảo tính đại diện khi được tính ra từ một tổng thể đồng chất Nếu chúng được tính ra từ một tổng thể không đồng chất thì ý nghĩa, tính đại diện của chúng cho tổng thể giảm đi rất nhiều, thậm chí không sử dụng được Ví dụ: Khi nghiên cứu về thu nhập, ta thường sử dụng chỉ tiêu thống kê là

“thu nhập trung bình” Tuy nhiên, thu nhập trung bình chỉ có ý nghĩa và cũng đảm bảo tính đại diện cao khi được tính ra từ một tổng thể chỉ bao gồm những người có cùng chung những điều kiện làm việc, tính chất công việc, như những người nông dân, những thương nhân Nếu trộn cả nông dân và thương nhân lại với nhau thì ý nghĩa tính đại diện của “Thu nhập trung bình” đã giảm đi rất nhiều

Trang 17

Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, người ta còn phân biệt tổng thể chung bao gồm tất cả các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu, tổng thể bộ phận chỉ chứa đựng một phần của tổng thể chung

Trong thực tế nghiên cứu thống kê, nhiều khi ranh giới của tổng thể còn có chỗ mập mờ, khó xác định chính xác, người ta phải quy ước một số loại đơn vị nào

đó được đưa vào tổng thể, một số khác không được tính là đơn vị tổng thể

1.5.2.2 Các loại tiêu thức thống kê

- Tiêu thức thực thể: Là loại tiêu thức phản ánh đặc điểm về nội dung của

đơn vị tổng thể Tùy theo cách biểu hiện mà có hai loại:

+ Tiêu thức thuộc tính: Là tiêu thức mà các biểu hiện của nó được dùng để

phản ánh các thuộc tính của đơn vị tổng thể và không có các biểu hiện trực tiếp bằng con số Ví dụ: tiêu thức giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, thành phần kinh tế Tiêu thức thuộc tính có hai loại: Thứ nhất, tiêu thức thuộc tính có biểu hiện trực tiếp chẳng hạn giới tính có hai biểu hiện: nam và nữ, các biểu hiện này được dùng để chỉ rõ người này là nam giới, còn người kia là nữ giới; Thứ hai, tiêu thức thuộc tính có biểu hiện gián tiếp, chẳng hạn như tiêu thức mức sống có biểu hiện gián tiếp qua thu nhập, diện tích nhà ở (nếu ở thành phố) các biểu hiện gián tiếp của tiêu thức thuộc tính gọi là tiêu chí thống kê;

+ Tiêu thức số lượng là tiêu thức phản ánh các đặc điểm về lượng của đơn

vị tổng thể và có các biểu hiện trực tiếp bằng con số, mỗi con số này được gọi là một lượng biến Ví dụ: số nhân khẩu trong gia đình, tiền lương tháng của người lao động, năng suất lao động Các lượng biến là cơ sở để thực hiện các phép tính thống kê như: cộng, trừ, nhân, chia, trung bình, tỷ lệ Có hai loại lượng biến:

Trang 18

lượng biến rời rạc (biểu hiện bằng số nguyên) và lượng biến liên tục (biểu hiện bằng cả số nguyên và số thập phân)

Trong trường hợp, tiêu thức (cả thuộc tính và số lượng) chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên một đơn vị tổng thể được gọi là tiêu thức thay phiên Ví dụ: Tiêu thức giới tính chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau là nam và nữ Loại tiêu thức này có đặc điểm quan trọng là nếu một đơn vị tổng thế nào đó đã nhận biểu hiện này thì không nhận biểu hiện kia

- Tiêu thức thời gian: Là tiêu thức phản ánh hiện tượng nghiên cứu theo sự

xuất hiện của nó ở thời gian nào đó Ví dụ: Có dữ liệu về số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo quý trong năm năm qua thì “quý” là tiêu thức thời gian

- Tiêu thức không gian: Là loại tiêu thức phản ánh phạm vi lãnh thổ bao

trùm và sự xuất hiện theo địa điểm của hiện tượng nghiên cứu Ví dụ: Tiêu thức

“tỉnh/thành phố” trong dữ liệu phản ánh giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam theo tỉnh/thành

1.5.3 Chỉ tiêu thống kê

1.5.3.1 Khái niệm

Chỉ tiêu thống kê phản ánh mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian, không gian cụ thể

Ví dụ: Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, chỉ tiêu tổng

kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước trong 4 tháng đầu năm 2017 đạt gần 126,09 tỷ USD; tăng 20,3% tương ứng tăng gần 21,31 tỷ USD so với cùng kỳ

năm 2016 (chỉ tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu)

1.5.3.2 Phân loại chỉ tiêu thống kê

Căn cứ theo các tiêu thức khác nhau để phân loại chỉ tiêu thống kê có thể được phân loại thành các loại sau:

- Theo hình thức biểu hiện, chia thành hai loại:

+ Chỉ tiêu hiện vật: Là chỉ tiêu có biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên hoặc đơn

vị đo lường quy ước Ví dụ: số dân đơn vị người, sản lượng sản phẩm sản xuất đơn vị mét, tấn;

+ Chỉ tiêu giá trị: Là chỉ tiêu biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ như đồng Việt

Nam, đô la Mỹ Ví dụ: GDP, giá trị sản xuất công nghiệp (đơn vị đồng Việt Nam), FDI (đơn vị đô la Mỹ)

- Theo tính chất biểu hiện, chia thành hai loại:

Trang 19

+ Chỉ tiêu tuyệt đối: Là chỉ tiêu biểu hiện quy mô khối lượng hiện tượng

Ví dụ: số học sinh lớp 60KT0; sản lượng vải sản xuất tháng 6 năm 2017 của nhà máy dệt X là 1 triệu mét là chỉ tiêu phản ánh khối lượng của hiện tượng;

+ Chỉ tiêu tương đối: Phản ánh mối quan hệ so sánh giữa các mức độ của

hiện tượng Ví dụ: Tốc độ phát triển doanh thu của doanh nghiệp A năm 2016 so với năm 2015 là 110%

- Theo đặc điểm về thời gian, chia thành hai loại:

+ Chỉ tiêu thời kỳ: Phản ánh mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu trong

một thời kỳ nhất định, phụ thuộc vào độ dài thời kỳ nghiên cứu Khi là chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể cộng với nhau để tính chỉ tiêu trong thời kỳ dài hơn

Ví dụ: Doanh thu của doanh nghiệp A quý 1/2016 là 1,3 tỷ đồng; quý 2/2016 là 1 tỷ đồng; quý 3/2016 là 0,7 tỷ đồng; quý 4/2016 là 1,2 tỷ đồng Vậy

có thể tính chỉ tiêu doanh thu doanh nghiệp A cả năm là 4,2 tỷ đồng

+ Chỉ tiêu thời điểm: Phản ánh mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu tại

một thời điểm nhất định, không phụ thuộc vào độ dài thời kỳ nghiên cứu Thông thường chỉ tiêu này phản ánh nguồn như lao động, vốn, không thể cộng với nhau

để tính chỉ tiêu trong thời kỳ dài hơn

Ví dụ: Không thể cộng số học sinh trong 1 lớp học tại hai thời điểm khác nhau để thành số học sinh trong cả lớp

- Theo nội dung phản ánh, chia thành hai loại:

+ Chỉ tiêu khối lượng: Phản ánh quy mô khối lượng hiện tượng nghiên cứu

theo thời gian và địa điểm cụ thể;

+ Chỉ tiêu chất lượng: Biểu hiện trình độ phổ biến và mối quan hệ so sánh

trong tổng thể Chỉ tiêu chất lượng có thể là số tương đối, số bình quân chứ không biểu hiện bằng số tuyệt đối

1.5.4 Thang đo trong thống kê

- Thang đo định danh: Thang đo định danh là đánh số các biểu hiện cùng

loại của tiêu thức, thường dùng với các tiêu thức thuộc tính mà các biểu hiện của

nó là một hệ thống các loại khác nhau không theo một trật tự xác định nào như:

giới tính, khu vực địa lý, nghề nghiệp, tôn giáo

Ví dụ: Với tiêu thức giới tính chỉ có hai loại nam và nữ và không có trật tự nào giữa hai loại này Vì vậy, có thể đánh số các biểu hiện nam là 1 và nữ là 2 hoặc ngược lại

Trang 20

Đặc điểm của loại thang đo này là các con số không có quan hệ hơn kém, không thực hiện được tất cả các phép tính, chỉ dùng để mã hóa và đếm tần số xuất hiện của từng biểu hiện

- Thang đo thứ bậc: Thang đo thứ bậc là thang đo định danh nhưng giữa

các biểu hiện của tiêu thức có quan hệ hơn kém Thang đo thứ bậc thường dùng

để đo các tiêu thức thuộc tính mà các biểu hiện có quan hệ thứ tự như đo thái độ đối với hành vi nào đó (hoàn toàn đồng ý, đồng ý, chưa quyết định, hoàn toàn

không đồng ý) hoặc thứ tự chất lượng sản phẩm, huân chương, bậc thợ

Ví dụ: Trình độ thành thạo của người công nhân được chia theo bậc thợ 1,

2, 3, 4 Chất lượng sản phẩm được chia thành sản phẩm loại I, II, III Huân chương có hạng nhất, hạng nhì, hạng ba Sau đó gán lần lượt các số 1, 2, 3 cho mỗi biểu hiện Những con số này thể hiện trật tự hơn kém của các biểu hiện của tiêu thức Tuy nhiên, không nhất thiết theo trật tự logic của toán học

Thang đo thứ bậc có đặc điểm là sự chênh lệch giữa các biểu hiện của tiêu thức không nhất thiết phải bằng nhau và chưa biết được khoảng cách giữa các số thứ tự đó gần hay xa bao nhiêu Vì vậy, không thực hiện được các phép tính cộng trừ nhân chia mà chỉ nói lên đặc trưng chung của tổng thể một cách tương đối căn cứ trên sự giải thích “lớn hơn” hay “nhỏ hơn” mà thôi

- Thang đo khoảng: Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có các khoảng

cách đều nhau nhưng không có điểm gốc là 0 Ví dụ như nhiệt độ không khí

Nếu ở thang đo thứ bậc, ta chỉ có thể so sánh sự hơn kém về chất giữa các đơn vị theo một tiêu thức nào đó, thì thang đo khoảng, nhờ có tiêu chuẩn đo được quy định chính xác, ta có thể đánh giá được mức độ hơn kém cụ thể về mặt lượng Do vậy, thang đo này luôn có đơn vị đo và được sử dụng cho các tiêu thức số lượng Từ đó, ta có thể thực hiện các phép tính cộng, trừ, tính được các đặc trưng thống kê như trung bình, phương sai

Thang đo có hạn chế là không có điểm 0 gốc thực tế, mà chỉ những điểm xác định các khoảng theo trật tự nào đó, nếu điểm 0 thì đó chỉ là quy ước Ví dụ: Nhiệt độ không khí đo theo độ C

- Thang đo tỷ lệ: Là thang đo khoảng với một điểm gốc 0 tuyệt đối (một trị

số thật) được coi như là điểm xuất phát của độ dài đo lường trên thang đo Do có điểm gốc 0, nên có thể giúp so sánh được tỷ lệ giữa các trị số đo Ví dụ: các đơn

vị đo lường vật lý thông thường (kg, mét), thu thập, số lao động

Trang 21

Đây là loại thang đo định lượng chặt chẽ nhất (có đơn vị đo và giá trị 0 tuyệt đối) Với thang đo này, ta có thể thực hiện được tất cả các công cụ toán thống kê để tính toán và phân tích số liệu

Trong các thang đo trên, tuần tự thang đo sau có chất lượng đo lường cao hơn thang đo trước, đồng thời việc xây dựng thang đo cũng phức tạp hơn Hai loại đầu được sử dụng để đo lường các dấu hiệu định tính và được gọi là thang

đo định tính Hai loại sau là thang đo định lượng Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể sử dụng được thang đo hoàn hảo mà phải tùy thuộc vào đặc điểm của hiện tượng và tiêu thức nghiên cứu mà sử dụng thang đo thích hợp

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

Câu 1: Thảo luận và so sánh các khái niệm: tiêu thức thống kê, chỉ tiêu thống kê, tiêu chí thống kê? Cho ví dụ minh họa?

Câu 2: Phân biệt thống kê mô tả và thống kê suy luận (phân tích)?

Câu 3: Thảo luận và so sánh các loại thang đo khác nhau, cho ví dụ minh họa?

Câu 4: Năm mùi vị kem được xếp hạng theo sở thích, cần sử dụng thang đo nào? Thang đo đối với màu sắc đai lưng trong môn Karate là gì?

Câu 5: Một phiếu đăng kí hoàn thuế cá nhân, bên cạnh những nội dung khác, hỏi về các thông tin sau: thu nhập, số nhân khẩu ăn theo, đang sống độc thân hay cùng vợ/chồng, các khoản giảm trừ có được phân loại hay không, tiền thuế nộp Hãy mô tả thang đo của từng biến số và nêu rõ biến số là biến định tính hay định lượng

Trang 22

Chương 2 ĐIỀU TRA THỐNG KÊ

2.1 Khái niệm, ý nghĩa, yêu cầu của điều tra thống kê

2.1.1 Khái niệm, ý nghĩa

Nhiệm vụ chủ yếu của điều tra thống kê là thu thập đầy đủ thông tin cần thiết về hiện tượng nghiên cứu, làm cơ sở cho việc tổng hợp và phân tích Tuy nhiên, đối tượng của thống kê thường là những hiện tượng số lớn, phức tạp bao gồm nhiều đơn vị, phần tử khác nhau Mặt khác, các hiện tượng này lại luôn biến động theo thời gian và không gian Vì vậy, việc thu thập các thông tin này cũng hết sức phức tạp Chẳng hạn, khi cần nghiên cứu về tình hình sản xuất kinh doanh của một ngành sản xuất nào đó, thì ta phải tổ chức thu thập tài liệu ban đầu phát sinh tại từng doanh nghiệp của ngành, như: số lao động, tài sản, giá trị tài sản cố định, vốn lưu động, số giờ máy thực hiện, số ngày công lao động, các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất, kết quả sản xuất đạt được Do sự đa dạng, phong phú và phức tạp của đối tượng nghiên cứu, nên muốn đáp ứng được mục đích nghiên cứu, muốn giải quyết được một vấn đề lý thuyết hoặc thực tế đã được định trước đòi hỏi các cuộc điều tra thống kê phải được tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch tập trung thống nhất, có chuẩn bị chu đáo theo những nguyên tắc khoa học nhất định

Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học theo một kế hoạch thống nhất việc thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện cụ thể về thời gian, không gian

Điều 3, luật Thống kê của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng định nghĩa: “Điều tra thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê theo phương

án điều tra” Định nghĩa này hoàn toàn phù hợp với khái niệm nêu trên, bởi lẽ phương án điều tra thống kê sẽ quy định rõ về mục đích, ý nghĩa, toàn bộ quá trình

tổ chức, điều kiện thời gian, không gian của cuộc điều tra Tính khoa học, tính kế hoạch của cuộc điều tra được thể hiện rõ trong phương án này

Điều tra thống kê, nếu được tổ chức theo những nguyên tắc khoa học chặt chẽ, sẽ đáp ứng được nhiều yêu cầu khác nhau cả về lý thuyết cũng như thực tế đặt ra

Trước hết, tài liệu do điều tra thống kê thu được là căn cứ để kiểm tra, đánh giá thực trạng hiện tượng nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng đơn vị, từng địa phương và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Trang 23

Thứ hai, điều tra thống kê cung cấp những luận cứ xác đáng cho việc phân tích, phát hiện và tìm ra những yếu tố tác động, những yếu tố quyết định sự biến đổi của hiện tượng nghiên cứu Trên cơ sở, tìm ra biện pháp thích hợp thúc đẩy hiện tượng phát triển theo hướng có lợi nhất

Thứ ba, tài liệu điều tra thống kê cung cấp một cách có hệ thống và là căn

cứ vững chắc cho việc phát hiện, xác định xu hướng, quy luật biến động của hiện tượng và dự đoán xu hướng biến động của chúng trong tương lai Trong quá trình điều hành, quản lý kinh tế xã hội, các tài liệu này giúp cho việc xây dựng các định hướng, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai, quản lý quá trình thực hiện các kế hoạch đó

Theo cách tổ chức các hoạt động thống kê Nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, điều tra thống kê được tổ chức thành các cấp

độ, tổng điều tra thống kê và điều tra thống kê

Tổng điều tra thống kê để thu thập những thông tin thống kê cơ bản, trên phạm vi cả nước theo chu kỳ dài, quy mô lớn, phạm vi rộng liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, có sử dụng lực lượng và kinh phí rất lớn Các cuộc tổng điều tra dân số được tổ chức theo chu kỳ 10 năm một lần, tổng điều tra nông nghiệp - nông thôn là những cuộc điều tra điển hình thuộc loại này

Điều tra thống kê được thực hiện đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong các trường hợp:

- Thu thập những thông tin thống kê từ các tổ chức không phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê;

- Khi cần bổ sung thông tin từ các tổ chức có thực hiện chế độ báo cáo thống kê;

- Thu thập thông tin từ các cá nhân, hộ gia đình và các đơn vị;

- Thu thập thông tin thống kê khi có nhu cầu đột xuất

2.1.2 Các yêu cầu cơ bản của điều tra thống kê

Những yêu cầu cơ bản của điều tra thống kê là: chính xác, khách quan, trung thực, kịp thời và đầy đủ

- Chính xác - khách quan trong điều tra thống kê nghĩa là các tài liệu thu

thập được phải phán ánh đúng đắn tình hình thực tế khách quan của hiện tượng nghiên cứu Điều này đòi hỏi việc ghi chép phải được thực hiện một cách trung thực, khách quan không được thêm bớt, không được sao chép một cách tùy hứng, không được suy luận, “sáng tạo” ra các con số theo ý muốn chủ quan của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, nhằm bất cứ mục đích gì Tài liệu điều tra chính

Trang 24

xác mới có thể dùng làm căn cứ tin cậy cho việc tổng hợp, phân tích và rút ra kết luận đúng đắn về hiện trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng đến quy luật biến động của nó Chỉ có trên cơ sở tài liệu điều tra chính xác - khách quan mới

có thể tính toán, lập kế hoạch và quản lý tốt các mặt, các lĩnh vực của nền kinh

tế quốc dân

- Yêu cầu trung thực được đặt ra cho cả người tổ chức điều tra và người

cung cấp thông tin Yêu cầu này đòi hỏi người thu thập thông tin phải tuyệt đối trung thực, ghi chép đúng những điều đã được nghe, được thấy Ngay trong việc đặt câu hỏi cũng phải rõ ràng, không làm sai lệch nội dung câu hỏi, không áp đặt ý muốn chủ quan, thậm chí không được đưa ra những góp ý có thể gây ảnh hưởng đối với người trả lời nhằm giúp thu được những thông tin trung thực Đối với người cung cấp thông tin, yêu cầu này đòi hỏi họ phải cung cấp những thông tin xác thực, không được che giấu và đặc biệt nghiêm cấm khai man thông tin

- Yêu cầu kịp thời của điều tra thống kê được hiểu theo hai nghĩa Trước

hết, các tài liệu của điều tra thống kê phải phản ánh được mọi sự biến đổi của hiện tượng nghiên cứu đúng lúc cần thiết, đúng lúc hiện tượng có sự thay đổi về chất và phải phản ánh đầy đủ những bước ngoặt quan trọng nhất trong sự biến đổi của hiện tượng mà ta cần theo dõi Tức là các tài liệu ghi chép phải mang tính thời sự Thứ hai, thống kê phải cung cấp tài liệu phục vụ các yêu cầu nghiên cứu đúng lúc cần thiết Trong quản lý kinh tế, yêu cầu kịp thời của điều tra thống kê giúp cho nhà quản lý ra các quyết định, mệnh lệnh có tính chuẩn xác, mang lại lợi ích kinh tế cao Yêu cầu này cũng đòi hỏi việc cung cấp thông tin cũng phải đảm bảo đúng hạn theo quy định của phương án điều tra

- Đầy đủ có nghĩa là tài liệu điều tra phải được thu thập theo đúng nội dung

cần thiết cho việc nghiên cứu hoặc đã được quy định trong phương án điều tra Đầy đủ cũng còn có nghĩa là phải thu thập thông tin đối với tất cả số đơn vị của hiện tượng nghiên cứu, không được bỏ sót bất kỳ một đơn vị nào Trong các cuộc điều tra không toàn bộ thì phải thu thập thông tin trên tất cả các đơn vị đã được quy định Tài liệu điều tra đầy đủ sẽ không những giúp cho việc tổng hợp phân tích chính xác mà còn giúp cho việc đánh giá, phân tích hiện tượng nghiên cứu một cách đúng đắn, tránh đưa ra những kết luận phiến diện chủ quan

2.2 Các hình thức của điều tra thống kê

Điều 10 luật Thống kê quy định hai hình thức chủ yếu để thu thập thông tin thống kê là: báo cáo thống kê định kỳ và điều tra chuyên môn

Trang 25

2.2.1 Báo cáo thống kê định kỳ

2.2.1.1 Khái niệm

Là hình thức tổ chức thu thập thông tin thống kê một cách thường xuyên,

có định kỳ, theo nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo đã được quy định thống nhất Khoản 7, Điều 3 Luật Thống kê quy định “Báo cáo thống kê là hình thức thu thập thống kê theo chế độ báo cáo thống kê do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Báo cáo thống kê bao gồm báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp”

Ví dụ: Báo cáo thống kê hàng mua, hàng dự trữ, giá trị sản xuất lao động, doanh thu, chi phí của doanh nghiệp

Có thể nói, tác dụng của các cuộc điều tra thống kê là rất lớn Nó ngày càng được sử dụng rộng rãi và phục vụ đươc nhiều yêu cầu nghiên cứu khác nhau Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vai trò của các cuộc điều tra chuyên môn trong việc thu thập các số liệu thống kê càng quan trọng Do đó, nó càng được

sử dụng nhiều hơn Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt các cuộc điều tra chuyên

môn, cần xây dựng được phương án điều tra tỉ mỉ, toàn diện và chi tiết

Trang 26

2.3 Các loại điều tra thống kê

Điều tra thống kê có nhiều loại khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu, đặc điểm của đối tượng điều tra và điều kiện thực tế mà người ta có thể sử dụng loại nào cho phù hợp Sau đây là một số cách phân loại điều tra chủ yếu:

2.3.1 Theo tính chất liên tục, hệ thống của cuộc điều tra

2.3.1.1 Điều tra thường xuyên

a Khái niệm

Là tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu của hiện tượng nghiên cứu một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống và thường là theo sát quá trình

phát sinh, phát triển của hiện tượng

Ví dụ: tổ chức chấm công cho lao động, doanh số bán hàng, tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa

b Đặc điểm

Thu thập được số liệu đầy đủ sẽ theo dõi được tỉ mỉ về tình hình phát triển của hiện tượng theo thời gian Đánh giá được sự phát triển, tích lũy của hiện tượng Đây là cơ sở chủ yếu để lập các báo cáo thống kê định kỳ và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch

d Ưu điểm và nhược điểm

- Ưu điểm: Thường xuyên thu thập thông tin, nguồn thông tin lớn bao quát được nhiều lĩnh vực và vấn đề khác nhau Nên dùng được trong phạm vi rộng Theo dõi được toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng Không làm mất thông tin

- Nhược điểm: Chi tiết quá nên mất nhiều thời gian, chi phí khi thu thập thông tin Thiếu tính hệ thống vì tràn lan nhiều mặt của thông tin

2.3.1.2 Điều tra không thường xuyên

a Khái niệm

Là tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu của hiện tượng không thường xuyên, liên tục, không gắn với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng Điều tra không thường xuyên được tiến hành vào một thời điểm nhất

định Ví dụ: điều tra tài sản cố định, điều tra gia súc gia cầm

Trang 27

b Đặc điểm

Các hiện tượng cũng như đối tượng nghiên cứu của điều tra không thường xuyên hầu như ít biến động, biến động chậm hoặc không cần theo dõi thường xuyên khi cần mới nghiên cứu Các cuộc điều tra không thường xuyên thường được tiến hành với mục đích, nội dung phạm vi, đối tượng, phương pháp không giống nhau

c Hình thức

- Điều tra chuyên môn

- Chỉ được tổ chức khi cần bổ sung thông tin

- Phục vụ những mục đích nhất định

d Ưu điểm và nhược điểm

- Ưu điểm: Thời gian và chi phí được giảm bớt Tập trung vào những vấn đề quan trọng cần nghiên cứu Phục vụ được yêu cầu trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau

- Nhược điểm: Kết quả điều tra mang tính rời rạc, chỉ phản ánh được trạng thái của hiện tượng tại một thời điểm

2.3.2 Theo phạm vi tổng thể tiến hành điều tra

2.3.2.1 Điều tra toàn bộ

a Khái niệm

Điều tra toàn bộ là tiến hành thu thập tài liệu ban đầu trên tất cả các đơn

vị tổng thể của hiện tượng nghiên cứu Ví dụ: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2014

b Đặc điểm

Tài liệu thu thập trên tất cả các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu nên vừa tính được các chỉ tiêu tổng hợp cho tổng thể, vừa có thể phân tích chi tiết cho từng đơn vị

c Ưu điểm và nhược điểm

- Ưu điểm: Do nguồn thông tin lớn, đầy đủ nên đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu khác nhau

- Nhược điểm: Mất nhiều thời gian, chi phí lớn Số người tham gia đông, thời gian dài, không tập trung

2.3.2.2 Điều tra không toàn bộ:

a Khái niệm

Là tiến hành thu thập, ghi chép thông tin của một số đơn vị được chọn trong toàn bộ các đơn vị từ tổng thể chung Ví dụ: điều tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Trang 28

b Ưu điểm và nhược điểm

- Ưu điểm: Tiết kiệm chi phí, thời gian, số đơn vị điều tra ít nên có thể mở rộng nội dung điều tra, đi sâu vào nhiều chi tiết khác nhau của đối tượng nghiên cứu

- Nhược điểm: Không cung cấp tài liệu chi tiết, đầy đủ về từng đơn vị tổng thể, không biết được quy mô tổng thể

Điều tra không toàn bộ được áp dụng nhiều trong nghiên cứu thống kê và trong thực tiễn sản xuất kinh doanh vì nó phù hợp với tính đa dạng, phong phú, linh hoạt của cơ chế thị trường Để đáp ứng yêu cầu thực tế khách quan hiện nay, người ta thường áp dụng 3 loại điều tra không toàn bộ sau:

+ Điều tra chọn mẫu: Là tiến hành thu thập tài liệu trên một số đơn vị được chọn ra từ tổng thể chung Số đơn vị này phải có tính chất đại biểu cho tổng thể chung và phải đủ về số lượng cho định luật số lớn phát huy tác dụng khi suy rộng tài liệu Kết quả của điều tra chọn mẫu cho ta suy rộng đặc điểm của toàn bộ tổng thể chung Tiến hành điều tra chọn mẫu thường nhanh gọn, tiết kiệm, kịp thời và đảm bảo được chất lượng của nội dung điều tra

Ví dụ: Điều tra giá cả thị trường, kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

+ Điều tra trọng điểm: Là tiến hành thu thập tài liệu trên bộ phận chủ yếu

nhất của hiện tượng nghiên cứu, thích hợp với những tổng thể có các bộ phận tương đối tập trung, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể Kết quả điều tra giúp ta nhận thức được tình hình cơ bản của hiện tượng, không dùng để suy rộng thành đặc điểm của tổng thể chung Điều tra trọng điểm thường áp dụng với những hiện tượng thuộc ngành nông - lâm - thủy sản, vì những ngành này sản xuất tập trung, chuyên môn hóa theo vùng, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu

Ví dụ: Điều tra về tình hình sản xuất chè, cà phê, cây cao su, cây đay, lúa + Điều tra chuyên đề: Là tiến hành thu thập tài liệu trên một số rất ít, thậm chí một đơn vị tổng thể nhưng đi sâu nghiên cứu vào nhiều khía cạnh khác nhau của đơn vị đó Kết quả điều tra chuyên đề giúp ta tìm ra những nhân tố mới, tích cực để rút kinh nghiệm trong chỉ đạo và quản lý, tài liệu điều tra chuyên đề không dùng suy rộng hoặc đánh giá chung về hiện tượng, mà chỉ giúp ta nghiên cứu sâu hiện tượng, tìm ra những nhân tố tích cực những mặt mạnh, yếu để có giải pháp hữu hiệu

Ví dụ: Tìm thông tin về một đơn vị điển hình tiên tiến

Trang 29

2.4 Phương pháp thu thập thông tin trong điều tra thống kê

2.4.1 Phương pháp thu thập trực tiếp

2.4.1.1 Khái niệm

Là phương pháp điều tra thu thập tài liệu, trong đó người điều tra phải trực tiếp quan sát, tiếp xúc với đơn vị điều tra để trực tiếp thực hiện các công việc điều tra, ghi chép kết quả vào phiếu điều tra

2.4.1.2 Ưu điểm và nhược điểm

- Ưu điểm: Người điều tra có thể phát hiện những sai sót trong khi cung cấp tài liệu của đơn vị điều tra, kịp thời sửa chữa và bổ sung tài liệu cho chính xác

- Nhược điểm: Tốn kém về thời gian và chi phí

2.4.2 Phương pháp thu thập gián tiếp

2.4.2.1 Khái niệm

Là phương pháp điều tra thu thập tài liệu của hiện tượng thông qua điện

thoại, thư từ, phiếu điều tra, báo cáo thống kê, fax, internet

2.4.2.2 Ưu điểm và nhược điểm

- Ưu điểm: Phương pháp này tiến hành nhanh gọn, kịp thời và đỡ tốn kém

- Nhược điểm: Kết quả điều tra phụ thuộc vào đơn vị điều tra, chất lượng

và mức độ chính xác của tài liệu còn hạn chế, nhân viên điều tra khó phát hiện sai sót để xử lý kịp thời

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Nhân viên điều tra gặp trực tiếp đối tượng điều tra đặt câu hỏi và nghe câu trả lời

Phương pháp tự ghi báo cáo: Đối tượng được điều tra sau khi nghe hướng dẫn tự ghi số liệu vào phiếu điều tra rồi nộp cho cơ quan điều tra

Phương pháp gửi thư: Cơ quan điều tra và đối tượng điều tra không trực tiếp găp nhau mà chỉ trao đổi tài liệu hướng dẫn và phiếu điều tra bằng cách thông qua bưu điện Bên cạnh đó, người ta thường chia thành các phương pháp sau:

- Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu

thập dữ liệu sơ cấp thông qua sự tiếp xúc giữa người hỏi và người trả lời Căn cứ vào điều kiện thực tế người nghiên cứu sẽ quyết định lựa chọn phương pháp nào

để tiếp xúc với người được phỏng vấn;

- Phương pháp phỏng vấn viết: Là phương pháp phỏng vấn trong đó sự tiếp xúc giữa người hỏi và người trả lời thông qua bảng hỏi người trả lời tự điền câu trả lời vào bảng hỏi Bảng hỏi là vấn đề quan trọng, cần chú ý đến những vấn đề

về tâm lý khi đặt câu hỏi và những nguyên tắc tâm lý trong việc sắp xếp bảng hỏi đều phải hướng vào người trả lời

Trang 30

+ Ưu điểm:

 Tiết kiệm thời gian và chi phí cũng như công sức cán bộ điều tra;

 Thông tin thu được khách quan, không bị ảnh hưởng bởi thái độ người hỏi;

 Dễ trả lời những vấn đề tế nhị;

 Nguyên tắc nặc danh được đảm bảo trong phỏng vấn

+ Nhược điểm:

 Chất lượng thông tin thu được không thật cao;

 Không biết được thái độ người trả lời

Lưu ý: Trong phương pháp này muốn tăng số phiếu trả lời cần chú ý một

số biện pháp như:

 Tạo điều kiện dễ dàng tối đa cho việc trả lời;

 Gửi thư nhắc tại kèm theo bảng câu hỏi đề phòng thư lần trước thất lạc;

 Khuyến khích vật chất

- Phương pháp phỏng vấn trực diện: Là phương pháp mà người phỏng vấn

và người trả lời tham gia một cuộc nói chuyện riêng hay còn gọi là trò chuyện có chủ định Tức đây là một cuộc nói chuyện có mục đích và là quá trình giao tiếp

một chiều do người phỏng vấn điều khiển

+ Ưu điểm:

 Việc tiếp xúc trực tiếp tạo ra những điều kiện đặc biệt để hiểu đối tượng sâu sắc hơn;

 Do tiếp xúc trực tiếp nên đã đồng thời kết hợp phỏng vấn với quan sát;

 Có thể phát hiện sai sót và sửa đổi kịp thời

+ Hạn chế:

 Tốn kém hơn về thời gian, chi phí và con người;

 Tổ chức điều tra khó khăn hơn;

 Không cẩn thận câu trả lời sẽ bị ảnh hưởng bởi thiên kiến của điều tra viên

Lưu ý:

Cuộc phỏng vấn phải đảm bảo không gây hậu quả cho người được phỏng vấn

về bản thân những giả định của người phỏng vấn và đảm bảo nguyên tắc nặc danh Phỏng vấn trực diện nếu phân theo nội dung và trình tự phỏng vấn thì có 5 loại là: Phỏng vấn tiêu chuẩn hóa, phỏng vấn bán tiêu chuẩn, phỏng vấn tự do,

Trang 31

phỏng vấn sâu và phỏng vấn định hướng Ngoài ra phỏng vấn trực diện còn được phân theo đối tượng tiếp xúc, gồm có 2 loại là: phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm

- Phương pháp phỏng vấn qua điện thoại: Phương pháp phỏng vấn qua điện thoại là một loại phỏng vấn trực diện nhưng người phỏng vấn và đối tượng phỏng vấn không gặp mặt trực tiếp

+ Ưu điểm: Tiết kiệm, khách quan hơn

+ Hạn chế:

 Mất nhiều công sức để chọn số điện thoại mà đôi khi vẫn không được như mong muốn;

 Làm giảm hứng thú khi phỏng vấn qua điện thoại;

 Việc đưa ra các gợi ý hay hỗ trợ thêm bằng quan sát là khó thực hiện được

Lưu ý: Phương pháp phỏng vấn này cần chú ý cách tiếp cận và chú ý lịch

sự khi nói chuyện

- Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin bằng tri giác trực tiếp trong điều kiện hoàn cảnh tự nhiên và ghi chép lại Phương pháp này dùng trong việc nghiên cứu dự định, thăm dò khi chưa có khái niệm rõ ràng về vấn đề nghiên cứu và không có yêu cầu về tính đại diện Phương pháp này còn dùng trong việc nghiên cứu miêu tả với quy mô không lớn

và thường được dùng để thu thập thông tin sơ cấp

+ Hạn chế:

 Đòi hỏi nhiều công sức và chi phí;

 Nhiều nội dung khác nhau trong nghiên cứu không thể thực hiện được bằng phương pháp quan sát

Theo tính chất tham gia, phương pháp quan sát được chia làm 2 loại:

+ Quan sát có tham dự: Là hình thức quan sát trong đó người quan sát trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động của đối tượng quan sát Gồm có quan sát kín, quan sát trung lập, quan sát tham dự thông thường và quan sát tham dự tích cực Phương pháp này có thể thu thập được thông tin một cách toàn diện, tránh được các ấn tượng tức thời ngẫu nhiên Tuy nhiên, nếu tham dự tích cực hoặc quá lâu có thể mang lại hậu quả không tốt, chẳng hạn mất tính khách quan trong

Trang 32

việc thu thập thông tin hay chủ quan bỏ qua những diễn biến mới trong phản ứng của các thành viên trong tập thể;

+ Quan sát không tham dự (quan sát từ bên ngoài): Trong phương pháp này người quan sát hoàn toàn đứng ngoài không can thiệp vào quá trình xảy

ra và không đặt câu hỏi Do đặc điểm đó nên khi dùng phương pháp này thường không thấy được nội tình do vậy những điều giải thích không phải lúc nào cũng đúng

Theo thời gian, phương pháp quan sát được chia làm 2 loại:

+ Quan sát ngẫu nhiên: Là sự quan sát không được định trước là sẽ tiến hành vào một thời điểm nào đó mà hoàn toàn ngẫu nhiên Do vậy, đảm bảo được tính khách quan cao trong thông tin ghi chép được;

+ Quan sát có hệ thống: Là quan sát có tính thường xuyên và lặp lại

Theo hình thức hóa, phương pháp quan sát được chia làm 2 loại:

+ Quan sát tiêu chuẩn hóa (quan sát có kiểm tra): Là quan sát mà trong đó những yếu tố cần quan sát được vạch sẵn trong chương trình, được tiêu chuẩn hóa trong các bảng, phiếu hoặc biên bản quan sát kết hợp với việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ Đây là hình thức sử dụng rộng rãi nhất trong quan sát thực nghiệm và ít được dùng trong nghiên cứu thăm dò;

+ Quan sát không tiêu chuẩn hóa: Là hình thức quan sát trong đó không xác định trước các yếu tố hoặc tình huống sẽ quan sát mà chỉ xác định bản thân đối tượng nghiên cứu trực tiếp Đây là hình thức thường được thực hiện trong nghiên cứu thăm dò và ít được dùng trong nghiên cứu miêu tả

Theo địa điểm, phương pháp quan sát được chia làm 2 loại:

+ Quan sát tại hiện trường: Quan sát thực trạng của hiện tượng cuộc sống với một số nội dung được chuẩn hóa còn một số nội dung thì không;

+ Quan sát trong phòng thí nghiệm: Là quan sát trong đó những điều kiện của môi trường xung quanh và tình huống quan sát đã được quy định sẵn

2.5 Sai số trong điều tra thống kê

- Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa trị số thực của hiện tượng nghiên cứu so với trị số của nó mà điều tra thống kê thu được Sai số này làm giảm chất lượng của các cuộc điều tra, ảnh hưởng đến kết quả của tổng hợp

Trang 33

2.5.1 Sai số do đăng ký, ghi chép

Xảy ra đối với mọi cuộc điều tra thống kê Nó phát sinh do việc đăng ký số liệu ban đầu không chính xác Nguyên nhân gây ra loại sai số này rất đa dạng,

có thể do cân, đo, đếm sai, tính toán sai, ghi chép sai, do dụng cụ đo lường không chuẩn xác Ta có thể phân chia loại sai số này thành sai số ngẫu nhiên và sai số có hệ thống, do cố ý, có chủ định của người điều tra và người trả lời Sai

số ngẫu nhiên là những sai số phát sinh một cách tình cờ, không có chủ định, không có bất kỳ một sự sắp đặt trước nào của người tham gia điều tra (cả người hỏi và người trả lời) Nó xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên Loại sai số này chịu sự chi phối của quy luật số lớn, tức là nếu ta điều tra càng nhiều đơn vị, các sai lệch ngẫu nhiên sẽ có khả năng bù trừ, triệt tiêu nhau làm cho sai số chung càng nhỏ Sai số có hệ thống, có chủ định thường xảy ra do chủ định của người điều tra, người trả lời hoặc sai số một cách có hệ thống do lỗi của hệ thống đo lường, hệ thống thang đo được thiết kế không chuẩn xác Loại sai số này chịu sự chi phối của quy luật số lớn, nên điều tra càng nhiều, khả năng xảy ra sai số càng lớn

2.5.2 Sai số do tính chất đại biểu

Chỉ xảy ra trong điều tra chọn mẫu Nguyên nhân là do trong các cuộc điều tra này, người ta chỉ chọn một số đơn vị để điều tra thực tế Các đơn vị này không đủ đảm bảo đại diện cho toàn bộ tổng thể, nên phát sinh sai số, ngay cả trong trường hợp việc lựa chọn số đơn vị để điều tra được thực hiện một cách hoàn toàn ngẫu nhiên

2.5.3 Biện pháp hạn chế sai số

Để đảm bảo các kết quả điều tra đạt độ chính xác cao, cần áp dụng một số biện pháp để hạn chế sai số

Làm tốt công tác chuẩn bị điều tra: Thông thường, trong các cuộc điều tra

thống kê, công tác chuẩn bị chiếm vị trí rất quan trọng, nó đòi hỏi một sự đầu tư

Trang 34

chất xám khá lớn Công tác chuẩn bị càng chu đáo, tỉ mỉ, thận trọng và chi tiết, đặc biệt là trong cách thiết lập phương án điều tra, xây dựng phiếu điều tra, lựa chọn và tập huấn cán bộ điều tra càng làm tốt, sai số điều tra càng giảm

Tiến hành kiểm tra có hệ thống toàn bộ cuộc điều tra: Kiểm tra là biện

pháp có hiệu quả để sửa chữa, uốn nắn kịp thời các sai lầm có thể mắc phải trong quá trình điều tra Việc kiểm tra được tiến hành theo nhiều giai đoạn khác nhau Trước hết, cần tiến hành kiểm tra ngay từ giai đoạn chuẩn bị xem các khâu cần chuẩn bị đã được đầy đủ, chu đáo chưa Việc kiểm tra trong giai đoạn thu thập thông tin, việc ghi chép số liệu ban đầu nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân viên điều tra cũng có ý nghĩa quan trọng Nghiệm thu phiếu điều tra là một khâu điều tra có ý nghĩa quyết định Trong giai đoạn này, người ta cần kiểm tra xem các phiếu điều tra có đầy đủ hay không, các câu trả lời, các con số được ghi chép trong từng phiếu có được tính toán đúng, đủ không, có hợp logic không, có mâu thuẫn với nhau không Nhìn chung, việc kiểm tra, nghiệm thu phiếu điều tra có tác dụng rất lớn, nhưng nó đòi hỏi người kiểm tra phải có trình

độ, kinh nghiệm hiểu biết thực tế và rất nhạy cảm Tiếp theo, việc nhập số liệu vào máy cũng cần được kiểm tra kỹ lưỡng Thực tế cho thấy đây cũng là một khâu dễ làm phát sinh sai số Nhiều cuộc điều tra, người ta yêu cầu nhập hai lần độc lập với nhau, để khắc phục những sai sót có thể xảy ra trong quá trình nhập

số liệu Ngày nay, với việc sử dụng công nghệ máy quét, các sai số xảy ra trong quá trình nhập số liệu được hạn chế đáng kể

Ngoài ra, trong các cuộc điều tra chọn mẫu, người ta còn tiến hành kiểm tra tính đại diện của các đơn vị được chọn để điều tra

Trang 35

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2

Câu 1: Phân tích những vấn đề chung của điều tra thống kê ở Việt Nam: Khái niệm, vai trò, hình thức tổ chức?

Câu 2: Phân tích các yêu cầu cơ bản của điều tra thống kê Cho ví dụ minh họa? Câu 3: Phân biệt các loại điều tra thống kê Cho ví dụ minh họa?

Câu 4: Trình bày những nội dung chủ yếu của một phương án điều tra? Câu 5: Trình bày các loại sai số trong điều tra thống kê và các biện pháp khắc phục?

Câu 6: Giới thiệu một cuộc điều tra thống kê cụ thể ở nước ta mà bạn biết Qua đó, hãy xác định rõ mục đích, phạm vi, đối tượng, đơn vị điều tra và nội dung của cuộc điều tra này?

Trang 36

Chương 3 TỔNG HỢP THỐNG KÊ

3.1 Khái niệm, ý nghĩa và yêu cầu của tổng hợp thống kê

3.1.1 Khái niệm tổng hợp thống kê

Kết quả của giai đoạn điều tra thông tin ban đầu cho chúng ta các dữ liệu thô về các đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị tổng thể Các dữ liệu này mang tính chất rời rạc, rất khó quan sát để đưa ra các nhận xét chung cho cả hiện tượng nghiên cứu và cũng không thể sử dụng ngay vào phân tích và dự báo thống kê được

Ví dụ: Nghiên cứu tình hình trang bị máy tính của trường ta, ở giai đoạn điều tra thống kê cho ta những tài liệu ban đầu về từng đơn vị, số lượng máy, năm sản xuất, năm trang bị, nơi sản xuất, công suất, mã hiệu, hãng, tình trạng máy Sau đó cần trả lời các câu hỏi:

- Trường có bao nhiêu máy tính?

- Mỗi khoa, phòng có bao nhiêu máy tính?

- Loại máy, công suất?

- Nơi sản xuất?

- Khó khăn và thuận lợi?

Muốn có được các tài liệu phản ánh chung cho cả tổng thể nghiên cứu như trên thì từ các thông tin riêng biệt của từng đơn vị chúng ta phải sắp xếp lại, hệ thống hoá, phân loại theo những tiêu thức cần nghiên cứu để thấy được các đặc trưng chung của tổng thể mẫu hay toàn bộ tổng thể nghiên cứu Toàn bộ những công việc đó, người ta gọi là tổng hợp thống kê

Tổng hợp thống kê là sự tập trung, chỉnh lý và hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu ban đầu thu thập được trong điều tra thống kê của từng đơn vị tổng thể thành tài liệu phản ánh đặc trưng chung của cả tổng thể

Nhiệm vụ của giai đoạn này là:

- Tổng hợp, kiểm tra lại tài liệu gốc;

- Tập trung và sắp xếp các tài liệu theo một trình tự nhất định

Nếu tài liệu điều tra thu thập được ở số ít các đơn vị người ta thường sắp xếp

dữ liệu này theo một trình tự nào đó (thứ tự tăng dần về lượng biến của 1 tiêu thức

số lượng nào đó, hoặc theo trật tự quy định nào đó đối với dữ liệu định tính);

Trang 37

- Sắp xếp các đơn vị vào các tổ nhóm theo một hay một vài tiêu thức đặc trưng và tính toán các đại lượng thống kê đặc trưng cho tổ nhóm và toàn bộ tổng thể;

- Nhiệm vụ này thường gặp khi tài liệu điều tra thu thập được ở số lớn các đơn vị, khối lượng dữ liệu nhiều

Ví dụ: Trong điều tra dân số, tài liệu thu thập được ở từng người dân rất lớn, người ta thường tổng hợp theo cách sắp xếp người dân theo độ tuổi, trình độ văn hóa hay nghề nghiệp sau đó tính các chỉ tiêu thống kê mô tả từng tổ như

số lượng trung bình, nhiều nhất, ít nhất, tần số hay tần suất

- Xác định và tính toán các chỉ tiêu giải thích;

- Trình bày dữ liệu tổng hợp dưới hình thức bảng hay đồ thị thống kê

3.1.2 Ý nghĩa của tổng hợp thống kê

Tài liệu điều tra thống kê được tổng hợp đúng đắn sẽ trở nên có giá trị hơn

và thuận lợi cho giai đoạn nghiên cứu thống kê tiếp theo  Tổng hợp thống kê

có vai trò đặc biệt trong quá trình nghiên cứu thống kê Cụ thể là:

- Phân loại, sắp xếp chuyển các số liệu riêng lẻ của từng đơn vị cá biệt thành những con số cộng theo nhóm, tổ và con số tổng cộng của tổng thể hiện tượng nghiên cứu;

- Tổng hợp thống kê là giai đoạn thứ 2 của quá trình nghiên cứu thống kê, không thể thiếu được, cũng không thể không khoa học và không thể không đúng phương pháp, nó là cơ sở rất quan trọng cho giai đoạn phân tích thống kê Kết quả thu được từ tổng hợp thống kê là cơ sở số liệu để thực hiện giai đoạn phân tích thống kê và dự báo thống kê;

- Tổ chức tổng hợp tài liệu điều tra đúng đắn bằng phương pháp khoa học

là sự đảm bảo quan trọng cho kết quả tổng hợp thống kê, tài liệu điều tra được chính xác, có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện phân tích thống kê thuận lợi, đạt kết quả đúng đắn, chính xác

3.1.3 Yêu cầu của tổng hợp thống kê

Tổng hợp thống kê là giai đoạn phức tạp, đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn tốt và hiểu biết về lý luận chính trị, kinh tế - xã hội nhất định Chất lượng tài liệu điều tra dù có tốt nhưng công tác tổng hợp không đảm bảo yêu cầu thì chất lượng của cả quá trình nghiên cứu thống kê cũng bị hạn chế, đôi khi còn có những kết luận trái ngược với sự thật Vì vậy, phải làm tốt khâu tổng hợp mới phát huy được giá trị của những tài liệu điều tra thống kê và mới tạo được cơ sở cho công tác phân tích và dự đoán xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu một cách khoa học

Trang 38

3.2 Kế hoạch tổng hợp thống kê

3.2.1 Xác định mục đích tổng hợp thống kê

Xác định mục đích của tổng hợp thống kê là cụ thể hóa tiêu thức cần sắp xếp và phân loại Đây là bước quan trọng vì tổng thể nghiên cứu có biểu hiện khác nhau Mặt khác mục đích tổng hợp thống kê làm cơ sở cho phân tích thống kê nên rất cần cụ thể hóa mục đích tổng hợp Do đó, để xác định mục đích tổng hợp cần phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu để xác định các chỉ tiêu đặc trưng cần tổng hợp để phục vụ cho mục tiêu phân tích và dự đoán hiện tượng nghiên cứu

Ví dụ: Tổng thể dân số có biểu hiện về nghề nghiệp, lứa tuổi, trình độ văn hoá, ngoại ngữ, quê quán, tôn giáo Do vậy, khi nghiên cứu tổng thể ở đặc tính nào thì tổng hợp thống kê mới khái quát hoá, sắp xếp, hệ thống hoá theo các đặc trưng và khía cạnh đó

3.2.2 Xác định nội dung (tiêu thức) tổng hợp thống kê

Xác định nội dung của tổng hợp thống kê: Những danh mục về các biểu hiện của các tiêu thức đã có ở điều tra thống kê, nhưng không phải tất cả các biểu hiện của tiêu thức đều đưa vào tổng hợp, mà chỉ chọn các tiêu thức nào có nội dung tổng hợp vừa đủ đáp ứng mục đích nghiên cứu

Ví dụ: Điều tra dân số, người ta thường tổng hợp theo độ tuổi như: dưới 1 tuổi, 1 - 3 tuổi, 4 - 6 tuổi, 7 - 11 tuổi, 12 - 15 tuổi, 16 - 55 tuổi, 56 - 100 tuổi, hơn 100 tuổi Nhưng tên quê quán không nhất thiết phải tổng hợp

Xác định nội dung tổng hợp thống kê là thống nhất danh mục chính thức về các biểu hiện của các tiêu thức bằng hệ thống các tiêu thức hay chỉ tiêu thống kê cần cho nghiên cứu dùng để mô tả bản chất của sự vật, hiện tượng Người ta thường dùng phân tổ thống kê để thực hiện các nội dung tổng hợp thống kê

3.2.3 Kiểm tra tài liệu đưa vào tổng hợp thống kê

Chất lượng của tổng hợp thống kê phụ thuộc vào chất lượng của tài liệu đưa vào tổng hợp Ở điều tra thống kê người ta đã kiểm tra tài liệu rồi Tuy nhiên, trong giai đoạn này vẫn cần kiểm tra lại trước khi tổng hợp

Nội dung kiểm tra gồm:

- Kiểm tra điển hình: Chọn mẫu các phiếu điều tra để kiểm tra;

- Kiểm tra theo nội dung: Chính xác, đầy đủ, kịp thời và lôgic

Việc kiểm tra này được tiến hành trên nhiều mặt để đảm bảo chính xác của tài liệu loại bỏ toàn bộ hoặc một phần các biến điều tra không phù hợp

 Kiểm tra tài liệu, số liệu dùng để tổng hợp để đảm bảo độ tin cậy của số liệu

Trang 39

3.2.4 Xác định phương pháp tổng hợp thống kê

Yêu cầu cơ bản của tổng hợp thống kê là cần phải nêu lên cơ cấu các mặt

cơ bản của tổng thể nghiên cứu Thông thường ta sử dụng phương pháp phân tổ thống kê

 Xác định phương pháp tổng hợp phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất

và trình độ chuyên môn thực tế của đơn vị

3.2.5 Tổ chức kỹ thuật tổng hợp thống kê

3.2.5.1 Hình thức của tổng hợp thống kê

Tổ chức và kỹ thuật tổng hợp: Thông thường ta áp dụng hai hình thức tổng hợp: tổng hợp tập trung (các tài liệu gốc được tập trung về 1 trung tâm xử lý) và tổng hợp từng cấp (tổng hợp theo trình tự từng cấp từ dưới lên) Mỗi hình thức tổng hợp đều có những ưu và nhược điểm nhất định Vì vậy, tùy từng điều kiện thực tiễn và yêu cầu cụ thể mà vận dụng cho phù hợp

- Tổng hợp từng cấp là tổ chức tổng hợp tài liệu điều tra theo từng bước, từ cấp dưới lên cấp trên theo kế hoạch đã định sẵn Cơ quan phụ trách tổng hợp tiến hành tổng hợp trong phạm vi được phân công, sau đó gửi kết quả lên, tiếp tục như vậy cuối cùng tài liệu được gửi về trung ương để tổng hợp lần cuối Thường được sử dụng trong báo cáo thống kê định kỳ và 1 số cuộc điều tra chuyên môn

- Tổng hợp tập trung: Là toàn bộ tài liệu được tập trung về một cơ quan sau

Do đó, đối với những công việc đòi hỏi khối lượng tổng hợp lớn, yêu cầu nhanh chóng, chính xác cần phải tổng hợp tập trung trên hệ thống máy hiện đại

3.3 Phương pháp tổng hợp bằng phân tổ thống kê

3.3.1 Khái niệm, ý nghĩa phân tổ thống kê, nhiệm vụ phân tổ thống kê

3.3.1.1 Khái niệm phân tổ thống kê

Ta đã biết, hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội mà thống kê học nghiên cứu thường rất phức tạp, vì chúng tồn tại và phát triển dưới nhiều loại hình có quy mô và đặc điểm khác nhau Trong kết cấu nội bộ của hiện tượng nghiên cứu

Trang 40

được bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng, nếu chỉ dựa vào những con

số tổng cộng chung chung thì không thể nêu được vấn đề một cách sâu sắc Phải tìm cách nêu lên được đặc trưng của từng loại hình, của từng bộ phận cấu thành hiện tượng phức tạp, đánh giá tầm quan trọng của mỗi bộ phận, nêu lên mối liên

hệ giữa các bộ phận, rồi từ đó nhận thức được các đặc trưng chung của toàn bộ Yêu cầu nói trên chỉ có thể giải quyết được bằng phương pháp phân tổ thống kê Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) sao cho các đơn vị ở trong cùng một tổ thì giống nhau về tính chất, ở khác tổ thì có tính chất khác nhau

Ví dụ: Phân tổ các em sinh viên trong lớp Kế toán K60A theo tiêu thức giới tính

3.3.1.2 Ý nghĩa

- Khi phân tổ thống kê trước hết ta thực hiện được việc nghiên cứu cái chung và cái riêng một cách kết hợp Các đơn vị tổng thể được tập hợp lại thành một số tổ (và tiểu tổ): Giữa các tổ đều có sự khác nhau rõ rệt về tính chất, còn trong phạm vi mỗi tổ các đơn vị đều có sự giống nhau (hay gần giống nhau) về tính chất theo tiêu thức được dùng làm căn cứ phân tổ

- Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản để tiến hành tổng hợp thống kê,

vì ta sẽ không thể tiến hành hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu điều tra nếu không áp dụng phương pháp này Tính chất phức tạp của hiện tượng nghiên cứu đòi hỏi phải tổng hợp theo từng tổ, từng bộ phận Vì vậy, khi tổng hợp thống kê, trước hết, người ta thường sắp xếp các đơn vị vào từng tổ, từng bộ phận, tính toán các đặc điểm của mỗi tổ hoặc bộ phận, rồi sau đó mới tính các đặc điểm chung của cả tổng thể

- Phân tổ thống kê là một trong các phương pháp quan trọng của phân tích thống kê, đồng thời là cơ sở để vận dụng các phương pháp phân tích thống kê khác Qua kết quả phân tổ thống kê, thu được số liệu tổng hợp theo tiểu tổ, tổ, nhóm tổ và chung của tổng thể, có thể cho chúng ta có nhận xét sơ bộ có tính phân tích sự hơn kém giữa các tiểu tổ, nhóm tổ; cho thấy vị trí tầm quan trọng của từng tiểu tổ, tổ, nhóm tổ trong tổng thể hiện tượng nghiên cứu Phương pháp phân tổ được vận dụng phổ biến nhất trong mọi trường hợp nghiên cứu kinh tế,

vì không những phương pháp này đơn giản, dễ hiểu mà lại có tác dụng phân tích sâu sắc Các phương pháp phân tích thống kê khác như: phương pháp số tương đối, phương pháp số bình quân, phương pháp chỉ số, phương pháp bảng cân đối, phương pháp tương quan… thường cũng phải dựa trên các kết quả phân tổ thống

kê chính xác

- Phân tổ thống kê còn được vận dụng ngay trong giai đoạn điều tra thống kê,

Ngày đăng: 29/01/2021, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN