- Thứ nhất: Chức năng tổ chức và thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa dịch vụ trong và ngoài nước. Đây là chức năng xã hội của thƣơng mại dịch vụ, với chức năng này, ngành thƣơng mại[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2019
TS ĐẶNG THỊ HOA
ThS CHU THỊ HỒNG PHƯỢNG
Vµ DÞCH Vô
Trang 2TS ĐẶNG THỊ HOA - ThS CHU THỊ HỒNG PHƯỢNG
BÀI GIẢNG
KINH TẾ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ 3 1.1 Nguồn gốc, khái niệm và vai trò của thương mại - dịch vụ 3
1.1.1 Nguồn gốc của thương mại - dịch vụ 3
1.1.2 Khái niệm thương mại - dịch vụ 6
1.1.3 Vai trò của thương mại - dịch vụ 8
1.2 Chức năng, nhiệm vụ của thương mại - dịch vụ 10
1.2.1 Chức năng của thương mại - dịch vụ 10
1.2.2 Nhiệm vụ của thương mại - dịch vụ 12
1.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 13
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 13
1.3.2 Nội dung nghiên cứu 13
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Chương 2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ 17
2.1 Sự cần thiết khách quan và vai trò quản lý nhà nước về thương mại và dịch vụ 17
2.1.1 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ 17
2.1.2 Mục tiêu quản lý 19
2.1.3 Vai trò quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ 19
2.2 Chức năng và nội dung quản lý nhà nước về thương mại và dịch vụ 20
2.2.1 Chức năng 20
2.2.2 Nội dung 21
2.3 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại và dịch vụ ở Việt Nam 22
2.3.1 Quyền hạn và nhiệm vụ của Chính phủ 22
2.3.2 Quyền hạn và nhiệm vụ của Bộ Công thương 24
2.3.3 Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ 24
2.3.4 Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Công thương 24
2.4 Các phương pháp quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ 25
2.4.1 Phương pháp hành chính 25
Trang 42.4.2 Phương pháp kinh tế 26
2.4.3 Phương pháp tuyên truyền giáo dục 27
2.5 Chính sách và công cụ quản lý nhà nước về thương mại và dịch vụ 28
2.5.1 Chính sách thương mại 28
2.5.2 Những công cụ chủ yếu của chính sách thương mại 30
2.5.3 Những xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại 32
2.5.4 Chính sách quản lý thương mại trong nước 35
2.5.5 Chính sách quản lý thương mại quốc tế 36
2.6 Chiến lược thương mại 37
2.6.1 Khái niệm 37
2.6.2 Đặc tính của chiến lược thương mại quốc gia 37
2.6.3 Vai trò của chiến lược thương mại quốc gia 38
2.6.4 Quy trình xây dựng chiến lược thương mại 39
2.6.5 Các chiến lược thương mại trong nền kinh tế toàn cầu 42
2.7 Kế hoạch hóa thương mại 44
2.7.1 Khái niệm 44
2.7.2 Sự cần thiết của kế hoạch hóa phát triển thương mại 44
2.7.3 Vai trò của kế hoạch hóa trong phát triển thương mại 45
2.7.4 Căn cứ xây dựng kế hoạch phát triển thương mại 46
2.7.5 Nội dung kế hoạch phát triển thương mại của nền kinh tế quốc dân 46 2.7.6 Những vấn đề cơ bản cần được quan tâm để đổi mới kế hoạch hóa thương mại 47
2.8 Mục tiêu và quan điểm phát triển thương mại - dịch vụ của Việt Nam 48
2.8.1 Mục tiêu phát triển thương mại - dịch vụ 48
2.8.2 Quan điểm phát triển thương mại - dịch vụ 48
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Đọc thêm THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 30 NĂM ĐỔI MỚI 51
Chương 3.TỔ CHỨC KINH DOANH THƯƠNG MẠI 67
3.1 Nội dung và đặc điểm của thương mại 67
3.1.1 Bản chất và nội dung của thương mại 67
3.1.2 Đặc điểm kinh tế của thương mại 68
3.2 Nguồn hàng trong kinh doanh thương mại 69
3.2.1 Khái niệm và phân loại 69
Trang 53.2.2 Các hình thức tạo nguồn hàng 72
3.3 Các mối quan hệ kinh tế trong thương mại 73
3.3.1 Cơ sở ra đời các mối quan hệ kinh tế 73
3.3.2 Khái niệm, bản chất, đặc trưng 74
3.3.3 Hệ thống các mối quan hệ kinh tế 75
3.3.4 Tổ chức các mối quan hệ kinh tế 76
3.3.5 Cơ sở pháp lý của các mối quan hệ kinh tế (Hợp đồng kinh tế) 77
3.4 Dự trữ hàng hóa 80
3.4.1 Khái niệm và vai trò 80
3.4.2 Phân loại dự trữ hàng hóa 81
3.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ hàng hóa 82
3.5 Tiêu thụ hàng hóa 83
3.5.1 Khái niệm tiêu thụ hàng hóa 83
3.5.2 Vai trò của tiêu thụ hàng hóa 84
3.5.3 Các hình thức tiêu thụ hàng hóa 84
3.5.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ hàng hóa 89
3.6 Các loại hình kinh doanh hàng hóa 94
3.6.1 Theo mức độ chuyên doanh hàng hóa 94
3.6.2 Theo chủng loại hàng hóa kinh doanh 95
3.6.3 Theo phương thức kinh doanh 98
3.7 Hệ thống kinh doanh hàng hóa ở việt nam 102
3.7.1 Theo ngành và cấp quản lý 102
3.7.2 Theo thành phần kinh tế 103
3.7.3 Theo quy mô doanh nghiệp 106
3.8 Hiệu quả kinh tế trong kinh doanh thương mại 107
3.8.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế 107
3.8.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá 108
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Chương 4.CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ CƠ BẢN 114
4.1 Đặc điểm, phân loại và định giá dịch vụ 114
4.1.1 Đặc điểm của dịch vụ 114
4.1.2 Phân loại dịch vụ 115
4.1.3 Định giá dịch vụ 116
Trang 64.2 Dịch vụ thương mại 119
4.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại dịch vụ thương mại 119
4.2.2 Một số loại dịch vụ thương mại điển hình 122
4.3 Dịch vụ logistics 124
4.3.1 Khái niệm 124
4.3.2 Bản chất của dịch vụ logistics 127
4.3.3 Đặc điểm của dịch vụ logistics 127
4.3.4 Vai trò của dịch vụ logistics 129
4.3.5 Ý nghĩa của dịch vụ logistics 130
4.3.6 Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics 133
4.3.7 Cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ logistics 134
4.4 Dịch vụ trong hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa 139
4.4.1 Khái niệm và đặc điểm 139
4.4.2 Các loại hình dịch vụ trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa 140
4.5 Dịch vụ cho thuê tài chính 148
4.5.1 Khái niệm 148
4.5.2 Bản chất 149
4.5.3 Vai trò 150
4.5.4 Một số loại hình dịch vụ cho thuê tài chính 154
4.6 Dịch vụ du lịch 156
4.6.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ du lịch 156
4.6.2 Các loại hình dịch vụ du lịch 160
4.6.3 Các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch 163
4.6.4 Các điều kiện phát triển dịch vụ du lịch 166
4.6.5 Các tác động về kinh tế xã hội của du lịch 178
4.6.6 Hiệu quả kinh doanh dịch vụ du lịch 181
4.7 Dịch vụ bảo hiểm 184
4.7.1 Khái niệm 184
4.7.2 Đặc điểm 184
4.7.3 Tính chất 185
4.7.4 Chức năng 186
4.7.5 Các hình thức bảo hiểm chủ yếu ở Việt Nam 186
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 189
TÀI LIỆU THAM KHẢO 190
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Bài giảng “Kinh tế thương mại và dịch vụ” do nhóm giảng viên Kinh tế
thương mại và dịch vụ thuộc Bộ môn Kinh tế - Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Lâm nghiệp biên soạn nhằm phục vụ việc giảng dạy
và nghiên cứu cho sinh viên các ngành: Kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị kinh doanh, Kế toán và Quản lý công trong trường
Thông qua bài giảng này, sinh viên sẽ có những kiến thức cơ bản về thương mại, dịch vụ; về quản lý nhà nước đối với thương mại và dịch vụ; tổ chức kinh doanh thương mại; và các loại hình dịch vụ cơ bản
Nội dung của bài giảng được trình bày trong 4 chương với những câu hỏi, tài liệu tham khảo theo từng chương
Bài giảng tuy đã có nhiều bổ sung chỉnh sửa để đảm bảo tính khoa học hiện đại, cập nhật về thông tin kinh tế, xã hội của đất nước, của khu vực Đông Nam
Á và trên thế giới Song do hoạt động kinh tế thương mại - dịch vụ trong thực tế luôn thay đổi và một số hạn chế của người biên soạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp, phê bình của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và bạn đọc để bài giảng này được hoàn thiện hơn
Nhóm tác giả
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ
1.1 Nguồn gốc, khái niệm và vai trò của thương mại - dịch vụ
1.1.1 Nguồn gốc của thương mại - dịch vụ
a Cơ sở ra đời của thương mại - dịch vụ
Thương mại - Dịch vụ được tồn tại và phát triển trong xã hội có sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa Khi không còn sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa thì thương mại dịch vụ cũng tự mất đi V I Lênin đã chỉ ra rằng “nên hiểu sản xuất hàng hóa là một tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó sản xuất đều do con người cá thể riêng lẻ sản xuất ra, mỗi người chuyên làm một sản phẩm nhất định, thành thử muốn thỏa mãn nhu cầu của xã hội thì cần phải mua bán sản phẩm Vì vậy, sản phẩm mới trở thành hàng hóa trên thị trường” Từ đó rút ra những điều kiện ra đời, tồn tại và phát triển sản xuất hàng hóa, lưu thông hàng hóa như sau: Kinh tế thương mại dịch vụ ra đời dựa trên tiền đề về sở hữu tư liệu sản xuất và phân công lao động xã hội cũng như về lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi quốc gia hay của mỗi doanh nghiệp, doanh nhân
Sở hữu tư liệu sản xuất:
Sự khác nhau về tư liệu sản xuất đã dẫn đến sự khác nhau về sản phẩm của
xã hội Xã hội xuất hiện những nhóm người có tư liệu sản xuất được hưởng phần lớn hơn khi thành quả của lao động tạo ra theo hướng chuyên môn hóa Chuyên môn hóa sản xuất đã làm tăng thêm lực lượng sản xuất xã hội và là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật Chính yếu tố chuyên môn hóa sản xuất đã đặt ra sự cần thiết phải trao đổi trong
xã hội các sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng Mối quan hệ trao đổi hàng tiền đó chính là lưu thông hàng hóa
Trong chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người sản xuất độc lập với nhau về mặt kinh tế Sản phẩm sản xuất ra thuộc quyền chiếm hữu của từng người sản xuất riêng lẻ, không ai có quyền lấy không của họ, do đó, đòi hỏi sự trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau phải là sự trao đổi hoàn lại, mà phải hoàn lại một vật có giá trị tương đương Sản phẩm trở thành hàng hóa Trong nền sản xuất lớn, sự tách biệt giữa quyền sở hữu về tư liệu sản xuất
và quyền sử dụng, thì sự tách biệt kinh tế giữa người sản xuất, giữa các doanh nghiệp thuộc cùng một chế độ sở hữu do tính tự chủ kinh doanh quyết định Chính do chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và những hình thức tách
Trang 9biệt khác về kinh tế đã làm cho lao động của người sản xuất mang tính chất lao động tư nhân, làm cho sản xuất và tái sản xuất của họ tách biệt với nhau về mặt kinh tế Trong điều kiện đó, khi muốn tiêu dùng các sản phẩm của nhau thì họ phải trao đổi sản phẩm dưới hình thái hàng hóa - tiền tệ
Phân công lao động xã hội:
Phân công lao động xã hội là việc phân chia lao động ra các ngành, các lĩnh vực khác nhau, tạo ra sự chuyên môn hóa sản xuất Mỗi người chỉ chuyên sản xuất một hoặc vài thứ sản phẩm hoặc một chi tiết sản phẩm Do đó, để thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và đời sống của xã hội đòi hỏi cần có sự trao đổi giữa họ với nhau Khi loài người xuất hiện thì sản phẩm sản xuất ra còn ít ỏi và nhu cầu tiêu dùng cũng còn ít Mọi thứ còn giản đơn Khi xã hội phát triển, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển tiến bộ thì nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng phong phú và đa dạng hơn Mỗi người cần nhiều thứ hàng hóa và dịch vụ khác nhau để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân và xã hội Do vậy, cần phải có sự trao đổi hàng hóa giữa người này và người khác, giữa vùng này và vùng khác, cho nên hình thành sự phân công lao động xã hội để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu của xã hội và cầu ngày càng tăng của con người về hàng hóa và dịch vụ
Sản xuất và lưu thông hàng hóa là những phạm trù lịch sử, lưu thông hàng hóa sinh ra ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ thay cho chế độ cộng sản nguyên thủy Trong thời kỳ này, trong xã hội đã có sự phân công giữa chăn nuôi, trồng trọt và những người chủ nô khác nhau chiếm hữu sản phẩm thặng dư của những người nô lệ làm ra đã bắt đầu có những sản phẩm dư thừa Sự trao đổi này bắt đầu với tính chất ngẫu nhiên, dần dần nó phát triển đi đôi với sự phát triển của sản xuất hàng hóa Khi trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ đã xuất hiện tiền tệ làm chức năng phương tiện lưu thông thì trao đổi hàng hóa được gọi là lưu thông hàng hóa
Quá trình lưu thông hàng hóa tất yếu đòi hỏi một sự hao phí lao động nhất định trong quan hệ trao đổi hàng hóa trực tiếp giữa người sản xuất với người tiêu dùng và cả trong việc thực hiện những hoạt động mua - bán giữa họ với nhau Việc phân công lao động xã hội không cụ thể, chi tiết ngay từ đầu giữa các tập đoàn sản xuất dẫn tới hậu quả là năng suất lao động sẽ rất thấp, hiệu quả không cao Sự xuất hiện mối quan hệ tổng hợp đó trong các doanh nghiệp, các
hộ tiêu dùng dẫn tới sự ra đời các ngành thương mại dịch vụ
Trang 10b Các hình thái kinh tế thương mại - dịch vụ
Trao đổi hàng hóa giản đơn (H - H):
Trao đổi hàng hóa giản đơn là hình thái trao đổi thương mại dịch vụ dạng hàng đổi hàng (H - H) Hình thái này xuất hiện ở những giai đoạn đầu của sự phát triển loài người khi chưa xuất hiện tiền hay vàng là những vật ngang giá cho trao đổi
Đặc điểm của sự trao đổi hàng lấy hàng là:
- Trao đổi trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng với nhau, không
có tầng lớp trung gian làm môi giới Mục đích của trao đổi là trực tiếp phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của con người;
- Trao đổi xảy ra ở tại một địa điểm và thời gian nhất định Quá trình “bán”
và “mua” diễn ra đồng thời, trên cùng một địa điểm Hành vi bán đồng thời là hành vi mua, người bán đồng thời là người mua; người sản xuất có thể đồng thời
là người tiêu dùng;
- Không có mâu thuẫn đối kháng giữa người sản xuất và người tiêu dùng Một khi hình thức trao đổi này không đáp ứng nhu cầu của sự phát triển về sản xuất và tiêu dùng thì cần có một hình thức trao đổi mới, tiến bộ hơn đó là hình thức lưu thông hàng hóa
Lưu thông hàng hóa (H - T- H’):
Đặc điểm của lưu thông hàng hóa là:
- Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt và có giá trị Tiền là vật ngang giá có chức năng trao đổi, dự trữ… Mặc dù đồng tiền làm môi giới, nhưng đây vẫn là hình thức trao đổi trực tiếp giữa người sản xuất với nhau, hoặc giữa người sản xuất và người tiêu dùng, không có tầng lớp trung gian tham gia;
- Mua và bán tách rời nhau cả về không gian và thời gian;
- Lưu thông hàng hóa ra đời phủ nhận trao đổi hàng hóa trực tiếp do nó có nhiều ưu thế hơn và nó cũng là một trong những nguyên nhân gây nên khủng hoảng giữa cung, cầu về hàng hóa
Trang 11 Thương mại là hình thức phát triển cao của trao đổi và lưu thông hàng
hóa (T - H - T’; T’ = T + T):
Khi xuất hiện vật ngang giá là tiền hay vàng thì hàng hóa được trao đổi rộng rãi hơn Hàng hóa được mang bán lấy tiền mua loại hàng hóa khác phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của con người Lưu thông hàng hóa phát triển hoàn thiện hơn khi tiền được mang mua hàng rồi bán lại cho người tiêu dùng có thể ở nơi khác, thời điểm khác thu được lượng tiền chênh lệch là T (xuất hiện tầng lớp trung gian) Trao đổi thương mại dưới hình thức này phản ánh bản chất của thương nghiệp
Thương nghiệp là một phạm trù kinh tế, là hình thái phát triển của trao đổi
và lưu thông hàng hóa Hình thái này có công thức tổng quát là: T - H - T’ (T’ =
T + T) Mục đích chính của thương nghiệp là mua để bán và bán để mua nhằm kiếm lời Nó là ngành kinh tế có chức năng lưu thông hàng hóa
Khi lực lượng sản xuất phát triển, nền kinh tế xã hội cũng ngày càng phát triển, mục tiêu của thương nghiệp trong mỗi giai đoạn lịch sử cũng biến đổi theo
để phù hợp với sự phát triển Thương nghiệp trở thành thương mại dịch vụ và được phát triển rất đa dạng và phong phú là một tất yếu khách quan Thương mại dịch vụ là một bộ phận cấu thành của quá trình sản xuất xã hội, phụ thuộc vào sản xuất, sản xuất quyết định lưu thông, không có sản xuất hàng hóa thì không có lưu thông hàng hóa và trao đổi thương mại dịch vụ Song, thương mại dịch vụ cũng tác động trở lại sản xuất, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển lên tầm cao mới
1.1.2 Khái niệm thương mại - dịch vụ
a Khái niệm về thương mại
Thương mại, tiếng Anh là Trade, vừa có ý nghĩa là kinh doanh, vừa có ý nghĩa là trao đổi hàng hóa dịch vụ Ngoài ra, tiếng Anh còn dùng một thuật ngữ nữa là Business hoặc Commerce với nghĩa là buôn bán hàng hóa, kinh doanh hàng hóa hay là mậu dịch Tiếng Pháp cũng có từ ngữ tương đương Commerce (tương đương với từ Business, Trade của tiếng Anh) là sự buôn bán, mậu dịch hàng hóa dịch vụ Tiếng La tinh, thương mại là “Commercium” vừa có ý nghĩa
là mua bán hàng hóa vừa có ý nghĩa là hoạt động kinh doanh
Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên
thị trường
Trang 12Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trường Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại, ngày 25 tháng 5 năm 2003 thì hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, đầu
tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận chuyển hàng hóa - hành khách và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật
Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình trao đổi, phân phối, lưu thông,
mua bán hàng hóa và dịch vụ trên thị trường
Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế) Với cách tiếp cận này, theo Luật Thương mại (1998), thì các hành vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hóa, gia công thương mại, đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giám định hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội trợ triển lãm thương mại Trên thực tế, thương mại có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Theo phạm vi hoạt động, có thương mại nội địa (nội thương), thương mại quốc tế (ngoại thương), thương mại khu vực, thương mại thành phố, nông thôn, thương mại nội bộ ngành…;
- Theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong quá trình tái sản xuất xã hội, có thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại hàng tư liệu sản xuất, thương mại hàng tiêu dùng…;
- Theo các khâu của quá trình lưu thông, có thương mại bán buôn, thương mại bán lẻ;
- Theo mức độ can thiệp của Nhà nước vào quá trình thương mại, có thương mại tự do (hay mậu dịch tự do) và thương mại có sự bảo hộ;
- Theo kỹ thuật giao dịch, có thương mại truyền thống và thương mại điện tử Việc xem xét thương mại theo các góc độ như vậy chỉ mang tính tương đối nhưng có ý nghĩa rất lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong việc hình thành các chính sách và biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện, bền vững thương mại
Trang 13b Khái niệm về dịch vụ
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của sản xuất, tiến bộ khoa học công nghệ… nhiều kiểu dịch vụ phát triển, bản chất và mục đích kinh doanh dịch vụ cũng hết sức phong phú và đa dạng Về bản chất, sản phẩm dịch
vụ và sản phẩm hàng hóa có nhiều nét rất khác biệt, khiến cho các nhà kinh doanh dịch vụ lựa chọn các hình thức kinh doanh dịch vụ càng phải lưu tâm lựa chọn cho phù hợp với từng vùng, từng quốc gia và từng dân tộc
Theo nghĩa rộng, dịch vụ được quan niệm như một ngành kinh tế thứ ba
sau hai ngành kinh tế truyền thống (nông nghiệp và công nghiệp)
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh
doanh, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng
Dịch vụ là sản phẩm vô hình, do tương tác giữa các yếu tố hữu hình và vô hình mà người tiêu dùng nhận được phù hợp với quy cách và chi phí mà hai bên thỏa thuận Nói một cách khác, dịch vụ là hoạt động cung ứng khoa học kỹ thuật, nghệ thuật, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm… nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, đời sống và tinh thần của xã hội
Như vậy, theo những khái niệm trên có thể hiểu rằng kinh tế thương mại
dịch vụ là khoa học và nghệ thuật giải quyết tối ưu các nhu cầu, mong muốn của con người thông qua hoạt động sản xuất, lưu thông, phân phối, trao đổi sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ trên thị trường
Kinh tế thương mại dịch vụ được coi là khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu là các quy luật kinh tế cũng như các cách thức thể hiện của các quy luật đó trên thị trường hàng hóa và tiền tệ Kinh tế thương mại dịch vụ được coi là nghệ thuật vì nó phải thông qua những con người cụ thể để đáp ứng các đòi hỏi của các quy luật về kinh tế một cách tốt nhất của con người trong hoạt động sản xuất, lưu thông, phân phối, trao đổi và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên thị trường
1.1.3 Vai trò của thương mại - dịch vụ
Thương mại dịch vụ là một trong những ngành kinh tế quốc dân quan trọng Ở những nước có nền kinh tế phát triển thì giá trị thương mại dịch vụ trong GDP lên tới 2/3 tổng giá trị sản phẩm Thương mại dịch vụ của Việt Nam cũng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân (38,6% năm 1990 và
Trang 14năm 2007 chiếm 38,12% GDP, đến năm 2017 chiếm 41,32%) Hoạt động dịch
vụ tính theo giá trị gia tăng đạt nhịp độ tăng trưởng 7 - 8%/năm Thương mại dịch vụ có vị trí rất quan trọng trên mọi lĩnh vực
a Vai trò của thương mại - dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
Thương mại dịch vụ là một bộ phận hợp thành của tái sản xuất, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Thương mại dịch vụ nối liền sản xuất với tiêu dùng Thương mại dịch vụ làm cho sản xuất hàng hóa phát triển Qua hoạt động mua bán hàng hóa tạo ra động lực kích thích người sản xuất, thúc đẩy việc phân công lao động xã hội, tổ chức lại sản xuất, hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa Thương mại dịch vụ là lĩnh vực kinh doanh thu hút nhiều trí lực và tiền của của xã hội và nhân dân Phát triển thương mại dịch vụ góp phần tích lũy vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng thu ngân sách nhà nước Thương mại dịch vụ buộc các nhà sản xuất kinh doanh phải
đa dạng về kiểu dáng, mẫu mã và chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ Thương mại dịch vụ góp phần tăng thu ngoại tệ, củng cố và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, gắn nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới Thương mại dịch vụ góp phần nâng cao mức sống dân cư, tạo việc làm, góp phần thực hiện các mục tiêu, chính sách về kinh tế, chính trị, xã hội
b Thương mại - dịch vụ đối với các doanh nghiệp
Thương mại dịch vụ đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp diễn ra bình thường, liên tục; cung ứng vật tư, hàng hóa đầy đủ, kịp thời, đúng số lượng, chất lượng, thời gian và giá cả phù hợp Thực hiện dự trữ các yếu
tố sản xuất (vật tư, kỹ thuật…), giảm bớt khối lượng dự trữ ở các doanh nghiệp sản xuất (dự trữ chết), tránh ứ đọng vốn, nâng cao hiệu quả Thúc đẩy việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ do thương mại và dịch vụ cung ứng
Thương mại dịch vụ có vai trò điều tiết, hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh nhu cầu của xã hội về sản xuất ra sản phẩm hàng hóa gì? Số lượng là bao nhiêu? Bán ở thị trường nào và giá bán hàng hóa, dịch vụ là bao nhiêu? Tiêu thụ sản phẩm sau sản xuất, bảo đảm thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Thương mại dịch vụ tác động đến vị thế của doanh nghiệp trên thương trường Thương mại dịch vụ góp phần mở rộng các quan hệ của doanh nghiệp
Trang 15c Đối với tài chính, ngân hàng, người tiêu dùng và các quan hệ kinh tế quốc tế
Thương mại dịch vụ cùng phối hợp với ngân hàng xử lý các mối quan hệ
về vốn như vay và trả, vấn đề lãi suất ngân hàng, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ luôn luôn tồn tại song song với nhau và tác động qua lại Tiền mặt trong nhân dân, thông qua hoạt động thương mại dịch vụ, được thu hút vào lưu thông nhằm tăng nhanh vòng quay của tiền Thương mại dịch vụ cùng với hệ thống ngân hàng bình ổn sức mua của đồng tiền Giải quyết các vấn đề liên quan đến tỷ giá hối đoái và ngoại tệ trong nước
và quốc tế Thương mại dịch vụ kích thích nhu cầu, luôn tạo ra nhu cầu mới về loại hình, mẫu mã và chất lượng hàng hóa dịch vụ Thương mại dịch vụ dễ dàng thỏa mãn nhu cầu hàng hóa dịch vụ thông qua các cơ sở, quầy hàng hóa trên địa bàn dân cư Thương mại dịch vụ cung ứng đầy đủ, văn minh, lịch sự cho mọi đối tượng trong xã hội và cộng đồng Thương mại dịch vụ góp phần bình ổn giá
cả thị trường, ổn định đời sống dân cư Hoạt động thương mại dịch vụ phát triển góp phần đắc lực vào việc tiết kiệm thời gian cho người lao động, giải phóng sức lực cho phụ nữ
Thương mại dịch vụ đóng vai trò quan trọng đối với phát triển quan hệ kinh
tế thương mại dịch vụ với các nước Trong quan hệ kinh tế quốc tế thì quan hệ thương mại dịch vụ giữ vị trí tiên phong thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển Phát triển hợp tác, hội nhập khu vực và thế giới là xu hướng tất yếu của sự phát triển thời đại Một yếu tố có tính quyết định để phát triển hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế là phát triển thị trường ra các nước, phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa, trong đó xuất khẩu giữ vị trí chiến lược để phát triển kinh tế của Việt Nam Đây là con đường để phát triển kinh tế nhảy vọt, thực hiện thành công đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2 Chức năng, nhiệm vụ của thương mại - dịch vụ
1.2.1 Chức năng của thương mại - dịch vụ
Chức năng của một ngành kinh tế là một phạm trù khách quan, được hình thành trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất và trình độ phân công lao động xã hội Cần có sự phân biệt giữa chức năng với nhiệm vụ Nếu như chức năng của
Trang 16thương mại dịch vụ mang tính khách quan, thì nhiệm vụ của nó lại được xác định trên cơ sở chức năng và phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng giai đoạn Nhiệm vụ là sự quy định cụ thể công việc phải làm trong từng thời kỳ nhất định Nó thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi những điều kiện thực hiện chức năng
Ở nước ta, thương mại dịch vụ được tổ chức thành một ngành kinh tế quốc dân độc lập và có những chức năng cơ bản sau đây:
- Thứ nhất: Chức năng tổ chức và thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa dịch vụ trong và ngoài nước
Đây là chức năng xã hội của thương mại dịch vụ, với chức năng này, ngành thương mại dịch vụ phải nghiên cứu và nắm vững nhu cầu thị trường hàng hóa, dịch vụ; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội; thiết lập hợp lý các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân
và thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ trong quá trình kinh doanh Để thực hiện chức năng này, ngành thương mại dịch vụ cần có đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có một hệ thống quản lý kinh doanh và có tài sản riêng
- Thứ hai: Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông
Thực hiện chức năng này, thương mại dịch vụ phải tổ chức tốt công tác vận chuyển hàng hóa, tiếp nhận, bảo quản, phân loại và ghép đồng bộ hàng hóa… Xuất phát từ đặc điểm của sản xuất và tiêu dùng, hàng hóa sau khi sản xuất trong lưu thông mới đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, đòi hỏi phải có những biện pháp sản xuất trong lưu thông mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Trong quá trình lưu thông hàng hóa, đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, ngành thương mại dịch vụ phải thực hiện vận chuyển, phân loại, chọn lọc, chia nhỏ, bao gói, bảo quản hàng hóa, bảo hành hàng hóa… Những khâu này nhằm hoàn thiện hàng hóa, đảm bảo hàng hóa ở dạng tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Đây chính là chức năng tiếp tục những khâu sản xuất mà giai đoạn sản xuất chưa hoàn thiện để hoàn thiện sản phẩm hàng hóa Để thực hiện chức năng này, ngành thương mại dịch vụ phải nắm chắc quy trình kỹ thuật sản xuất hàng hóa, tính chất lý hóa của hàng hóa, đặc điểm công dụng của hàng hóa, tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa… để lập ra các phương án hoàn thiện hàng hóa phù hợp nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của thị trường
Trang 17- Thứ ba: Chức năng gắn sản xuất với thị trường, gắn nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới
Yêu cầu của thương mại dịch vụ không ngừng mở rộng các hoạt động trao đổi hàng hóa, hoàn thiện các hoạt động dịch vụ Gắn sản xuất với thị trường, gắn nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách mở rộng tự do hóa thương mại dịch vụ và thực hiện tốt quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Thứ tư: Chức năng thực hiện giá trị hàng hóa, dịch vụ
Thực hiện chức năng này chính là thực hiện mục tiêu của quá trình kinh doanh thương mại dịch vụ Qua đó, thương mại dịch vụ góp phần đáp ứng tốt mọi nhu cầu của sản xuất và đời sống, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng Chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa là chức năng quan trọng của thương mại dịch vụ Thực hiện chức năng này, thương mại dịch vụ tích cực phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo đảm lưu thông thông suốt, là thực hiện mục tiêu của quá trình kinh doanh
Những chức năng trên của thương mại dịch vụ được thực hiện thông qua hoạt động của các công ty, doanh nghiệp thương mại dịch vụ, thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ kinh doanh trong nước và ở nước ngoài
1.2.2 Nhiệm vụ của thương mại - dịch vụ
- Nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Phát triển thương mại dịch vụ, bảo đảm lưu thông hàng hóa thông suốt, dễ dàng trong cả nước, đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của đời sống
- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội quan trọng của đất nước: vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng
- Chống trốn thuế, lậu thuế, lưu thông hàng giả, hàng kém phẩm chất, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, xã hội và người lao động
- Đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động thương mại dịch vụ, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế
Ngoài ra, trong hệ thống thị trường, đối với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ thường đặt ra 4 nhiệm vụ cơ bản:
Trang 181) Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực thương mại dịch vụ;
2) Xác định được phương pháp sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải trả lời được các vấn đề cơ bản của kinh tế thị trường là kinh doanh cái gì? Kinh doanh bằng cách nào và bán cho ai?;
3) Giải quyết tốt vấn đề phân phối trong nội bộ doanh nghiệp, bởi vì trên thị trường hàng hóa dịch vụ chỉ được phân phối (bán) cho những người có tiền
và chấp nhận giá;
4) Không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý và mạng lưới kinh doanh trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường là nguyên tắc nhu cầu
và hiệu quả
1.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của môn học tập trung chủ yếu vào các vấn đề kinh tế thương mại dịch vụ của quốc gia, của các vùng, của thành thị và nông thôn, của
các doanh nghiệp, các hộ gia đình và mối quan hệ giữa các quốc gia Cụ thể là:
- Nghiên cứu những vấn đề của thương mại dịch vụ dưới tác động của các quy luật kinh tế ở tầm vĩ mô cũng như vi mô Nghiên cứu những mối quan hệ về thương mại dịch vụ giữa các ngành kinh tế, giữa các doanh nhân, giữa người sản xuất và người tiêu dùng;
- Các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hệ thống quản lý nhà nước trong kinh tế thương mại dịch vụ cũng như các vấn đề chiến lược, giải pháp phát triển và hiệu quả kinh doanh trong ngành kinh tế thương mại dịch vụ
1.3.2 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế thương mại dịch vụ trên thế giới, nhất là những nước trong khu vực và ở Việt Nam Điều tra, nghiên cứu, phân tích và xác định nhu cầu thị trường về các loại hàng hóa và dịch vụ Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên trong kinh doanh thương mại dịch vụ, thỏa mãn đầy đủ và có chất lượng cao các nhu cầu của xã hội
Trang 19Tổ chức các mối quan hệ giao dịch thương mại, giải quyết các vấn đề về kinh tế, tổ chức và luật pháp phát sinh giữa các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh thương mại dịch vụ Tổ chức các kênh phân phối tiêu thụ hàng hóa
và dịch vụ Quản lý hàng hóa ở các tập đoàn, công ty, doanh nghiệp và xúc tiến mua bán hàng hóa
Đánh giá và phân tích hiệu quả của quản lý nhà nước, của các doanh nghiệp, doanh nhân và các chính sách ở tầm vĩ mô và vi mô về kinh tế thương mại dịch vụ, trên cơ sở đó đề ra những định hướng và các giải pháp phát triển tốt hơn nữa ngành kinh tế dịch vụ thương mại ở Việt Nam Những vấn đề trên đây tập trung chủ yếu vào nội dung ở 4 chương dưới đây:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thương mại dịch vụ;
- Chương 2: Quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ;
- Chương 3: Tổ chức kinh doanh thương mại;
- Chương 4: Các loại hình dịch vụ cơ bản
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Kinh tế thương mại và dịch vụ là một môn khoa học xã hội, đòi hỏi phải được xem xét trên quan điểm duy vật biện chứng Mác-xít và phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp xác định các chỉ tiêu giá trị của phương án kinh doanh thương mại dịch vụ; phương pháp PRA và RRA; phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp cận biên; phương pháp phân tích tổng hợp (phân tích cho điểm, phân tích “điểm nút”, phân tích hòa vốn, phân tích thời gian thu hồi vốn đầu tư, phương pháp “xác định kiểm tra”)…
Kinh tế thương mại và dịch vụ đòi hỏi người học có kiến thức vững chắc về các phương pháp nghiên cứu của các môn khoa học: Kinh tế chính trị học; Kinh
tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô; Kinh tế tài nguyên môi trường; Toán kinh tế; Chính sách kinh tế và những môn học về kinh tế nghiệp vụ như: Thống kê, Kế toán, Tài chính, Ngân hàng tiền tệ… Những môn học đó làm nền tảng lý luận cho các nội dung của môn khoa học kinh tế này Nghiên cứu khoa học kinh tế thương mại và dịch vụ cần đọc và tham khảo những sách, tài liệu sẵn có trên báo, tạp chí kinh tế chuyên ngành
Trang 20CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Thương mại là gì? Phân tích cơ sở hình thành thương mại dịch vụ?
2 Kinh tế thương mại dịch vụ trải qua mấy hình thái Đó là những hình thái nào?
3 Thương mại dịch vụ có chức năng, nhiệm vụ như thế nào đối với nền kinh tế quốc dân ?
4 Dịch vụ là gì? Thương mại dịch vụ có vai trò như thế nào trong nền kinh
tế quốc dân?
5 Vì sao nói thương mại là một ngành của nền kinh tế quốc dân?
Trang 21TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ngô Xuân Bình, Thân Danh Phúc, Hà Văn Sự (2006) Bài giảng Kinh tế
thương mại đại cương Nxb Đại học Thương mại, Hà Nội
2 Đặng Đình Đào (2004) Kinh tế & Quản lý ngành thương mại dịch vụ
Nxb Thống kê, Hà Nội
3 Đặng Đình Đào, Trần Văn Bão (2007) Giáo trình Kinh tế thương mại
Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
4 Đinh Văn Đãn, Nguyễn Viết Đăng, Quyền Đình Hà (2009) Giáo trình
Kinh tế thương mại dịch vụ Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
Trang 22Chương 2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
2.1 Sự cần thiết khách quan và vai trò quản lý nhà nước về thương mại và dịch vụ
2.1.1 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ
* Khái niệm về quản lý nhà nước
- Theo nghĩa rộng: Quản lý Nhà nước là hoạt động của toàn bộ bộ máy Nhà nước từ cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp); các cơ quan hành chính Nhà nước (Chính phủ, các Bộ, Uỷ ban hành chính Nhà nước); cơ quan kiểm soát (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện Kiểm sát nhân dân các cấp )
Quản lý Nhà nước theo nghĩa rộng là nói chức năng tổng thể bộ máy Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực và mang tính chất pháp quyền, là tổ chức công quyền quản lý toàn xã hội bằng các hoạt động lập pháp, hành pháp,
tư pháp
- Theo nghĩa hẹp: Quản lý Nhà nước là hoạt động của riêng hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước: Chính phủ, các Bộ và các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, các sở phòng ban chuyên môn…
Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp không bao gồm hoạt động lập pháp và tư pháp của Nhà nước, mà là hoạt động điều hành công việc hàng ngày của quyền hành pháp và của hệ thống tổ chức hành chính
Như vậy, theo nghĩa chung nhất thì Quản lý Nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên
cơ sở pháp luật
* Khái niệm quản lý nhà nước về thương - dịch vụ
Quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ là quá trình thực hiện và phối hợp các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động thương mại dịch vụ trên thị trường trong sự tác động của hệ thống quản lý đến hệ thống
bị quản lý nhằm đạt mục tiêu thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý
Trang 23Như vậy, quản lý thương mại dịch vụ là một quá trình thực hiện và phối hợp bốn loại chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát
* Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ
Quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ trong nền kinh tế thị trường là cần thiết khách quan bởi những lý do sau đây:
- Thương mại dịch vụ là khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất, Thương mại được coi là một ngành kinh tế quốc dân quan trọng, sự phát triển của thương mại góp phần vào việc nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
- Thương mại dịch vụ là hoạt động mang tính liên ngành, liên quan đến nhiều ngành, có tính xã hội hóa cao mà mỗi doanh nhân không thể xử lý các vấn
đề một cách tốt đẹp, hơn nữa trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, những mặt trái của nó đòi hỏi phải có sự quản lý can thiệp của Nhà nước;
- Thương mại dịch vụ cùng một lúc đòi hỏi nhiều chủ thể trong xã hội cùng tham gia và nó là một lĩnh vực chứa đựng nhiều mâu thuẫn của đời sống (giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với ngưười lao động, giữa doanh nhân với cộng đồng);
- Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ có những hoạt động mà doanh nghiệp, người lao động không được làm hoặc có những vị trí mà nhà nước cần phải chiếm lĩnh để điều chỉnh các quan hệ kinh tế;
- Trong hoạt động thương mại dịch vụ, có cả các doanh nghiệp nhà nước;
- Thị trường có những khuyết tật và hạn chế nhất định
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện ở việc định hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung, cũng như thương mại dịch vụ nói riêng trong từng thời kỳ Do vậy, Nhà nước cần điều tiết, can thiệp vào các quan
hệ thương mại dịch vụ, vào nền kinh tế và thị trường nhằm đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường và giá cả, cải thiện cán cân thanh toán
Để giải quyết các mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường, duy trì sự ổn định, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, thực tiễn đã chỉ ra rằng bản thân cơ chế thị trường không thể tự điều chỉnh trong mọi trường hợp, mà cần thiết phải có vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế, thương mại, thương mại dịch vụ
Trang 24Quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ tạo ra sự thống nhất trong tổ chức
và phối hợp các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ, giúp cho hoạt động lưu thông hàng hóa được thông suốt trong phạm vi thị trường nội địa, mở rộng trao đổi sản phẩm quốc tế, tăng cường khai thác thế mạnh của từng vùng nhằm phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong phát triển thương mại quốc tế
2.1.2 Mục tiêu quản lý
Trước xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa, cùng với sự đóng góp to lớn của thương mại dịch vụ vào sự phát triển nền kinh tế, nhà nước thực hiện quản lý thương mại dịch vụ nhằm đạt được những mục tiêu sau đây:
- Tạo lập trật tự trong hoạt động thương mại dịch vụ;
- Bảo vệ một số ngành công nghiệp nội địa, chủ yếu là ngành công nghiệp non trẻ, có vai trò phát triển trong tương lai và có ảnh hưởng đối với các ngành khác;
- Bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng;
- Làm cho thương mại dịch vụ trở thành công cụ phục vụ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung
2.1.3 Vai trò quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ
Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nước ta, vai trò quản lý Nhà nước được thể hiện trên các mặt sau đây:
- Một là, Nhà nước tạo môi trường và điều kiện cho thương mại dịch vụ phát triển Nhà nước bảo đảm sự ổn định về mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho
thương mại phát triển Nhà nước thực thi cơ chế, chính sách để hạn chế tình trạng thiếu cầu, giảm lạm phát, khuyến khích sản xuất và tiêu dùng Nhà nước tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, bao gồm kết cấu hạ tầng vật chất, tài chính, giáo dục, luật pháp… cho thương mại Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, môi trường vĩ mô phù hợp với xu thế phát triển của thương mại trong cơ chế thị trường;
- Hai là, Nhà nước định hướng cho sự phát triển của thương mại Sự định
hướng này được thực hiện thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược kinh tế xã hội, các chương trình mục tiêu, các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn Định hướng dẫn dắt sự phát triển của thương mại còn được bảo đảm bằng hệ thống chính sách, sự tác động của hệ thống tổ chức quản lý thương mại
từ trung ương đến địa phương;
Trang 25- Ba là, Nhà nước điều tiết và can thiệp vào quá trình hoạt động thương mại của nền kinh tế quốc dân Nhà nước có vai trò củng cố, bảo đảm dân chủ,
công bằng xã hội cho mọi người, mọi thành phần kinh tế hoạt động thương mại trên thị trường Nhà nước cần có sự can thiệp và điều tiết hợp lý nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định, nhân cách của con người được tôn trọng, đồng thời bảo đảm tính tự chủ, sáng tạo và ham làm giàu của mọi công dân;
- Bốn là, quản lý trực tiếp khu vực kinh tế nhà nước Nhà nước quy định rõ
những bộ phận, những ngành then chốt, những nguồn lực và tài sản mà Nhà nước trực tiếp quản lý Đất đai, các nguồn tài nguyên, các sản phẩm và ngành có ý nghĩa sống còn với quốc gia thuộc sở hữu nhà nước Nhà nước phải quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia nhằm bảo tồn và phát triển các tài sản đó
Quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, phát huy tối đa mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường trong thương mại dịch vụ nhằm đảm bảo sự phát triển thị trường lành mạnh, hướng dẫn các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp theo định hướng phát triển của Nhà nước và chấp hành pháp luật, hạn chế những rủi ro trong kinh doanh thương mại dịch vụ
2.2 Chức năng và nội dung quản lý nhà nước về thương mại và dịch vụ
2.2.1 Chức năng
Trong quá trình tổ chức nền kinh tế thường có hai chức năng: Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế do cơ quan hành chính kinh tế thực hiện và chức năng quản lý kinh doanh do các doanh nghiệp thực hiện Hai chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý kinh doanh vừa độc lập với nhau, vừa
có mối quan hệ mật thiết với nhau và tác động qua lại lẫn nhau Đó là mối quan
hệ giữa quản lý điều tiết vĩ mô với tổ chức hoạt động vi mô của nền kinh tế Các
cơ quan quản lý hành chính kinh tế định hướng, điều phối các hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu chiến lược, hạn chế các hậu quả xấu và sự phá sản của doanh nghiệp thương mại dịch vụ Các doanh nghiệp thương mại dịch
vụ căn cứ vào định hướng và hành lang pháp lý đã được tạo dựng để tổ chức các hoạt động kinh doanh và qua đó tác động trở lại các cơ quan quản lý nhằm điều chỉnh các chế tài cho thích ứng với thực tiễn kinh doanh thương mại dịch vụ Xuất phát từ các vấn đề trên, chức năng cơ bản về quản lý nhà nước vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong thương mại dịch vụ thể hiện ở các mặt cơ bản sau đây:
Trang 26- Một là, Nhà nước định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy
hoạch và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển thương mại dịch
vụ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân;
- Hai là, Nhà nước trực tiếp đầu tư và quản lý một số ngành, lĩnh vực quan
trọng để dẫn dắt phát triển toàn bộ nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
- Ba là, Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật, chính sách để tạo ra
khuôn khổ pháp lý và môi trường ổn định cho các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển, phát huy những mặt tích cực và hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường;
- Bốn là, Nhà nước thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân
theo định hướng phân phối dựa trên kết quả và hiệu quả của lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, làm cho mọi người quan tâm đến kết quả lao động và hiệu quả kinh doanh, tăng dần và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, có cuộc sống ấm no và hạnh phúc;
- Năm là, Nhà nước thực hiện quản lý và bảo vệ tài sản công, kiểm kê,
kiểm soát, hướng dẫn toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thương mại dịch vụ đi vào quỹ đạo của nền kinh
1) Ban hành các văn bản pháp luật về thương mại dịch vụ, xây dựng chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại dịch vụ;
2) Tổ chức đăng ký kinh doanh thương mại dịch vụ, cấp, đình chỉ, gia hạn, sửa đổi thu hồi hoặc hủy bỏ các chứng chỉ, bằng, giấy phép và các giấy tờ liên quan đến hoạt động thương mại dịch vụ;
3) Tổ chức thu thập, xử lý, cung cấp thông tin, dự báo và định hướng về thị trường trong nước và ngoài nước;
Trang 274) Tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thương mại dịch vụ; bảo vệ môi trường trong hoạt động thương mại dịch vụ;
5) Quản lý việc đào tạo, tuyển chọn và phát triển nhân lực ngành thương mại dịch vụ;
6) Ký kết tham gia và bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế về thương mại dịch vụ; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ; Đại diện và quản lý hoạt động thương mại dịch vụ của Việt Nam ở nước ngoài;
7) Tổ chức, hướng dẫn các hoạt động xúc tiến thương mại;
8) Điều tiết lưu thông hàng hóa theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước và theo luật pháp; Hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm; Quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông trong nước và xuất nhập khẩu;
9) Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại và việc chấp hành pháp luật về thương mại dịch vụ; 10) Xử lý vi phạm pháp luật về thương mại dịch vụ; xử lý các hoạt động kinh doanh trái phép và các hành vi khác vi phạm pháp luật về thương mại dịch vụ
2.3 H ệ thống các cơ quan quản lý nhà nư ớ c về thư ơ ng m ại và dịch vụ ở V iệt N a m
Ở nước ta, cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại dịch vụ gồm có:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ;
- Bộ Công thương là cơ quan của chính phủ thực hiện việc thống nhất quản
lý nhà nước về thương mại dịch vụ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ phối hợp với
Bộ Công thương quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ;
- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ;
Chính phủ, Bộ Công thương, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và bộ máy thương mại dịch vụ ở địa phương trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ đối với lĩnh vực được phân công phụ trách và thực hiện quản lý nhà nước theo quy định của Chính phủ
2.3.1 Quyền hạn và nhiệm vụ của Chính phủ
Theo hiến pháp 2013 của Việt Nam, “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Trang 281) Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; 2) Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội;
3) Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo
vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân;
4) Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
5) Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện
để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định;
6) Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;
7) Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm
dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình
Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
8) Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình
Trang 292.3.2 Quyền hạn và nhiệm vụ của Bộ Công thương
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương được quy định tại Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ Nghị định 98 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành, thay thế Nghị định số 95/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ
Theo Nghị định 98 của Chính phủ, Bộ Công Thương là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm các ngành và lĩnh vực: điện, than, dầu khí, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp cơ khí, luyện kim, công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp môi trường, công nghiệp công nghệ cao; cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khuyến công; thương mại trong nước; xuất nhập khẩu, thương mại biên giới; phát triển thị trường ngoài nước; quản lý thị trường; xúc tiến thương mại; thương mại điện tử; dịch
vụ thương mại; hội nhập kinh tế quốc tế; cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng vệ thương mại; các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ
2.3.3 Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ
Chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc
Chính phủ (gọi chung là Bộ) được quy định tại Nghị định 123/2016/NĐ-CP
ngày 01 tháng 09 năm 2016 của Chính phủ
Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc Bộ có chức năng, nhiệm vụ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật; công bố (trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước) và
tổ chức chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; Thẩm định về nội dung các báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi các chương trình, dự án, đề án thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ; phê duyệt và quyết định đầu tư các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ theo quy định của pháp luật…
2.3.4 Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Công thương
Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về thương mại và dịch vụ trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ Sở Công
Trang 30thương là cơ quan tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân thực hiên quản lý nhà nước về thương mại trong phạm vi địa phương Sở Công thương không can thiệp vào quyền tự chủ của các chủ thể kinh tế nhưng phải làm đầy đủ các chức năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân về quản lý nhà nước đối với thương mại của địa phương Theo Thông tư liên tịch số 07/2008/TTLT-BCT-BNV ngày 28 tháng 05 năm 2008 của Bộ Công thương - Bộ Nội vụ thì Sở Công thương về lĩnh vực thương mại, dịch vụ có những quyền hạn và nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Lập quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, đề án phát triển thương mại trên địa bàn tỉnh Tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và đề án phát triển thương mại đó;
- Tổ chức khảo sát, nghiên cứu thị trường trong và ngoài tỉnh, thị trường nước ngoài; tổng hợp và xử lý các thông tin thị trường cung cấp cho các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước có liên quan;
- Cụ thể hóa các văn bản pháp luật, các chủ trương, chính sách về thương mại trình Ủy ban nhân dân tỉnh xét duyệt, quyết định Phổ biến, hướng dẫn, giáo dục pháp luật thương mại đối với thương nhân trên địa bàn tỉnh để đảm bảo việc thực hiện đúng quy định của pháp luật về thương mại;
- Thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn;
- Quản lý hoạt động xúc tiến thương mại trên địa bàn tỉnh;
- Thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thị trường Kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về thương mại trên địa bàn tỉnh
2.4 Các phương pháp quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ
2.4.1 Phương pháp hành chính
* Khái niệm: Phương pháp hành chính là sự tác động trực tiếp của cơ quan
quản lý hay người lãnh đạo đến cơ quan bị quản lý hay người chấp hành nhằm mục đích bắt buộc thực hiện một hoạt động
* Mục tiêu: Để quản lý tập trung thống nhất
* Nội dung:
- Một là, phải thiết lập được hệ thống quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Cơ quan bị lãnh đạo, bị quản lý phải phục tùng cơ quan lẫn đạo, quản lý Cơ quan quản lý cấp dưới phải phục tùng cơ quan quản lý cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương Tất nhiên, ở đây cũng có tác động ngược chiều để cơ quan quản lý cấp trên kịp thời điều chỉnh quyết định của mình cho phù hợp với thực tiễn;
Trang 31- Hai là, xác định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng của các bộ phận trong hệ thống tổ chức Xây dựng bộ máy tổ chức phù hợp với chức năng nhiệm vụ Khi quy định chức năng, nhiệm vụ cần phải quan tâm đến mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức;
- Ba là, tác động bằng hệ thống pháp chế Đó chính là hệ thống pháp luật, các quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh, nội quy…để chống tập trung quan liêu, hành chính quan liêu, chủ nghĩa bè phái, cá nhân chủ nghĩa, địa phương chủ nghĩa;
- Bốn là, phương pháp hành chính trực tiếp tác động tới người bị quản lý
Do vậy, hiệu quả của nó rất rõ và có tính chất tức thời
Phương pháp hành chính thể hiện quyền lực của quản lý Vấn đề sử dụng đúng mực không lạm dụng phương pháp hành chính có ý nghĩa lớn đối với thành công của người quản lý Do đó, sử dụng phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý thương mại dịch vụ phải nắm vũng các vấn đề sau:
+ Quyết định hành chính chỉ có hiệu lực và hiệu quả khi quyết định đó có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế Ngoài ra, quyết định phải xuất phát từ tình hình thực tế, nắm vững tình hình cụ thể Khi đưa ra các quyết định hành chính, một mặt phải thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết, mặt khác, người quản lý cần dự kiến trước được tình hình khi quyết định được thi hành, từ đó đề ra các biện pháp xử lý các tình hình phát sinh, hạn chế các tác động tiêu cực có thể xảy ra;
+ Cơ quan hành chính, cán bộ quản lý phải hiểu rõ và nắm vững quyền hạn của mình để không lạm quyền, không thực hiện đầy đủ quyền lực;
+ Người ra quyết định phải nắm rõ khả năng và tâm lý người thực hiện Trong những trường hợp cần thiết phải làm công tác tư tưởng cho người thực hiện trước khi ra quyết định;
+ Khi triển khai thực hiện, những khâu khó khăn hay trọng yếu then chốt, người lãnh đạo phải trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc thường xuyên và tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời
2.4.2 Phương pháp kinh tế
* Khái niệm: Phương pháp kinh tế là sự tác động tới lợi ích vật chất của tập
thể hay cá nhân nhằm làm cho họ quan tâm tới kết quả hoạt động và chịu trách nhiệm vật chất về hành động của mình
* Mục tiêu: Lấy lợi ích vật chất là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế
xã hội
Trang 32* Nội dung: Sử dụng các đòn bẩy kinh tế là nội dung chủ yếu của phương
pháp kinh tế Các đòn bẩy như tiền lương, tiền thưởng, giá cả, lợi nhuận, chi phí… có tác động lớn tới người lao động Nó có tác động kích thích hay hạn chế động lực làm việc của mỗi người Bên cạnh việc sử dụng đòn bẩy còn phải sử dụng cả hệ thống đòn hãm như phạt vật chất và trách nhiệm vật chất khác
2.4.3 Phương pháp tuyên truyền giáo dục
* Khái niệm: Phương pháp tuyên truyền giáo dục là sự tác động tới tinh
thần và năng lực chuyên môn của người lao động để nâng cao ý thức và hiệu quả công việc của họ
* Mục tiêu: Nhằm nâng cao tính tự giác làm việc và phấn đầu không ngừng
của mọi người
* Nội dung:
- Tác động thông quan hệ thống thông tin đa chiều tới toàn bộ hệ thống quản lý và người lao động Hệ thống thông tin đa chiều có định hướng, chính xác và kịp thời sẽ có tác động kích thích chủ thể theo khuynh hướng đã dự kiến;
- Thể hiện được sự khen, chê rõ ràng Nêu gương là cách quan trọng để tác động gây chú ý và thuyết phục người khác làm theo, xử phạt nghiêm minh để giữ vững kỷ cương và ngăn chặn các khuynh hướng tiêu cực;
- Bồi dưỡng, đào tạo để nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kết hợp chặt chẽ với cơ chế, tuyển dụng, bố trí sử dụng và đào thải người lao động;
- Giáo dục chuyên môn và năng lực công tác là vấn đề quan trọng trong hệ thống tuyên truyền vận động Dân trí nâng cao không ngừng, con người được giải phóng và tự do tư tưởng là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công của mọi hoạt động;
Trang 33- Giáo dục truyền thống ở mỗi doanh nghiệp là việc làm có ý nghĩa và hiệu quả cao, làm cho mỗi người có ý thức đầy đủ về vị trí của doanh nghiệp, tự hào về những đóng góp của doanh nghiệp, xác định rõ trách nhiệm của cá nhân,
đề cao trách nhiệm đối với công việc
- Phương pháp giáo dục, tuyên truyền là cách thức tác động gián tiếp đến người lao động, hiệu quả của nó không bộc lộ ngay mà nhiều khi mang tính chất của một quá trình
Mỗi phương pháp quản lý đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, do vậy để phát huy mặt mạnh, hạn chế những nhược điểm cần phải sử dụng tổng hợp các phương pháp trong quản lý Việc sử dụng tổng hợp các phương pháp trong quản
lý ở các cấp được thể hiện trong quá trình ra các quyết định quản lý và tổ chức thực hiện các quyết định đó Ở mỗi giai đoạn khác nhau và mỗi đối tượng quản lý khác nhau có thể đặt trọng tâm vào phương pháp này hay phương pháp khác tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể
2.5 Chính sách và công cụ quản lý nhà nước về thương mại và dịch vụ
2.5.1 Chính sách thương mại
* Khái niệm:
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách thương mại thường được coi là phương cách, đường lối hoặc tiến trình dẫn dắt hành động trong khi phân bổ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân Nó được coi như
là phương tiện để đạt được các mục tiêu Chính sách bao gồm: những hướng dẫn, các quy tắc, quy định và thủ tục được thiết lập để hậu thuẫn cho các nỗ lực hành động
Như vậy, Chính sách thương mại là một hệ thống các quy định, công cụ và
biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại trong và ngoài nước ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu
đã định
Trang 34* Mục tiêu:
Chính sách thương mại quy định các vấn đề thương nhân và hoạt động của thương nhân, chính sách phát triển thương mại trong nước và quốc tế, chức trách của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại, tổ chức lưu thông hàng hóa, phát triển thương mại các vùng khó khăn, chính sách thuế quan và bảo
hộ, chính sách phi thuế quan, trách nhiệm và quyền hạn của các doanh nghiệp thương mại khi kinh doanh thương mại trong nước hay với nước ngoài, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại
Chính sách thương mại là một bộ phận của chính sách kinh tế - xã hội, nó
có quan hệ chặt chẽ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do vậy, mục tiêu chung của chính sách thương mại là nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Mục tiêu cụ thể là nhằm tác động đến quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, đến quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗi nước vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế
* Vai trò:
- Chính sách thương mại có vai trò to lớn trong việc khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu;
- Chính sách thương mại có tác động rất lớn đến việc mở rộng giao lưu hàng hóa trong nước và xuất khẩu, trong đó tăng trưởng trong thương mại, nhất
là thương mại quốc tế là một động lực phát triển kinh tế quan trọng;
- Chính sách thương mại có thể tạo ra môi trường cạnh tranh, đặc biệt là giữa các ngành công nghiệp sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu cho thị trường trong nước Để cạnh tranh với hàng nhập khẩu, bắt buộc các doanh nghiệp trong nước phải giảm chi phí, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm ;
- Chính sách thương mại được coi là một trong các yếu tố cấu thành của một chiến lược tổng hợp, nhằm khuyến khích xuất khẩu và phát triển công nghiệp Cùng với các chính sách khác có liên quan, chính sách thương mại tác động đồng
bộ đến việc tạo lập môi trường vĩ mô ổn định, cơ sở hạ tầng tốt, lực lượng lao động
có tay nghề, nâng cao trình độ chuyên môn… Chính sách thương mại khuyến khích việc tiếp nhận công nghệ mới và thúc đẩy phát triển công nghiệp
Trang 352.5.2 Những công cụ chủ yếu của chính sách thương mại
2.5.2.1 Công cụ thuế
* Thuế quan: Là thuế gián thu đánh vào hàng hóa dịch vụ di chuyển qua
biên giới của một nước Thuế quan bao gồm: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
thuế chuyển khẩu, thuế chống bán phá giá, thuế chống chuyển giá…
- Thuế xuất khẩu: Đối tượng đánh thuế là hàng hóa ra ngoài biên giới quốc gia Loại thuế này ít được sử dụng vì mục tiêu của các nước là khuyến khích hoạt động xuất khẩu Nó chỉ được áp dụng đối với mặt hàng mà quốc gia đó không muốn xuất khẩu nhiều như nguyên vật liệu, tài nguyên thiên nhiên
- Thuế nhập khẩu: Đánh thuế vào hàng hóa di chuyển vào biên giới quốc gia Theo đó, người mua trong nước phải trả cho những hàng hóa nhập khẩu một khoản lớn hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc nhận được Loại thuế này được sử dụng nhiều với mục đích bảo vệ hàng hóa trong nước
- Thuế chuyển khẩu: Là loại thuế được đánh vào hàng hóa dịch vụ được mua tại nước ngoài, sau đó chuyển bán thẳng cho một bên của nước khác mà không qua cửa khẩu tại Việt Nam
- Thuế chống bán phá giá: Là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông thường, đánh vào sản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu
- Thuế chống chuyển giá: Là loại thế được đánh vào việc chuyển dịch hàng hóa dịch vụ và tài sản giữa các thành viên trong tập đoàn hay nhóm liên kết không theo giá trị trường
* Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa,
dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ
Ví dụ: Hàng hóa (thuốc lá, rượu bia…); Dịch vụ (kinh doanh vũ trường, karaok, casino…)
* Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là loại thuế trực thu, thu trên kết quả hoạt
động sản xuất, kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập
2.5.2.2 Công cụ hành chính
* Hàng rào phi thuế quan: Các biện pháp phi thuế quan là các biện pháp
dùng để thực thi chính sách thương mại quốc tế mà không dùng đến thuế quan, bao gồm: quy định giấy phép, đăng ký kinh doanh, hạn chế xuất khẩu
tự nguyện…
Trang 36Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là việc các quốc gia nhập khẩu yêu cầu các quốc gia xuất khẩu phải tự nguyện hạn chế lượng hàng hoá xuất khẩu nếu không
họ sẽ áp dụng những biện pháp trả đũa
* Hạn ngạch (Quota): Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng
hay giá trị của một mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ một quốc gia, trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép
2.5.2.3 Các đòn bẩy kinh tế
* Trợ cấp xuất khẩu: Là những biện pháp của Nhà nước hỗ trợ các doanh
nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm tăng nhanh số lượng hàng và trị giá kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
* Tỷ giá hối đoái: Là tỷ lệ (mức giá) tại đó hai đồng tiền quốc gia chuyển
đổi cho nhau, tức là số tiền nhận được khi đổi 1 đơn vị tiền tệ nước này sang tiền
tệ nước khác
+ Tỷ giá danh nghĩa: Là tỷ giá trao đổi được niêm yết trên ngân hàng
+ Tỷ giá thực tế: Là tỷ giá phản ánh mối quan hệ tương quan giá cả hàng hóa giữa 2 nước
2.5.2.4 Các biện pháp kỹ thuật
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật là những quy định về tiêu chuẩn
vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng dịch, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái…
Như vậy, quy định tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hướng tới bảo vệ người tiêu dùng và người sản xuất sản phẩm, bao gồm tất cả những quy định liên quan đến sản phẩm dưới các khía cạnh sau:
+ Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm;
Trang 37+ Quy định các điều kiện về phòng cháy và chữa cháy;
+ Quy định liên quan đến sử dụng, bảo quản và vận hành;
+ Quy định về độ an toàn cho người lao động và người sử dụng sản phẩm
2.5.3 Những xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại
2.5.3.1 Xu hướng bảo hộ mậu dịch
* Khái niệm: Xu hướng bảo hộ mậu dịch là quá trình Chính phủ các nước
tiến hành xây dựng và đưa vào áp dụng các biện pháp thích hợp trong chính sách
thương mại quốc tế nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài
* Mục tiêu: Bảo hộ hàng hóa và sản xuất trong nước trước sự xâm nhập
ngày càng mạnh mẽ của các luồng hàng hóa từ bên ngoài, đặc biệt là những ngành sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu
* Cơ sở hình thành:
- Xuất phát từ sự khác nhau về khả năng và điều kiện tái sản xuất giữa các nước (lợi thế tương đối và lợi thế tuyệt đối) nên cần phải áp dụng các biện pháp bảo hộ đối với sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh với các mặt hàng được sản xuất ở nước ngoài nhằm đảm bảo chủ quyền kinh tế cho quốc gia, tránh sự lệ thuộc vào các quốc gia khác trong quá trình phát triển kinh tế;
- Xuất phát từ nguyên nhân về mặt lịch sử trong quan hệ kinh tế đối ngoại, hợp tác nói chung và các lý do chính trị - xã hội nói riêng giữa các nước;
- Một số lý do cụ thể khác như tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, tạo cơ hội cho các ngành công nghiệp non trẻ phát triển…
* Nội dung: Chính phủ và các bộ ngành thực hiện việc xây dựng và hoàn
thiện hệ thống các biện pháp, công cụ chính sách phù hợp với xu thế biến động của môi trường kinh tế quốc tế cũng như mục tiêu, điều kiện phát triển trong nước để bảo vệ cho nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài
* Các biện pháp: Áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu vừa đảm bảo
cho lợi ích sản xuất trong nước, đồng thời đảm bảo lợi ích cho các quốc gia bạn hàng dựa trên nguyên tắc cùng có lợi Ngoài ra, chính phủ cần xây dựng mục tiêu và lựa chọn các ngành sản xuất để bảo hộ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực trong nước
* Xu hướng hiện nay: Chính phủ và các bộ ngành đang thực hiện giảm dần
bảo hộ mậu dịch, tiến đến tự do hóa thương mại; Thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; Hạn chế rào cản thuế quan, hạn ngạch; Tăng cường rào cản kỹ thuật,chống bán phá giá, cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền…
Trang 382.5.3.2 Xu hướng tự do hóa thương mại
* Khái niệm: Xu hướng tự do hóa thương mại là quá trình nhà nước giảm
dần sự can thiệp vào các hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế của quốc gia nhằm tạo điều kiện thông thoáng và thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh đó phát triển một cách hiệu quả
* Mục tiêu:
- Phát triển hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, cụ thể là phát triển khả năng xuất khẩu hàng hóa sang các nước khác, đồng thời mở rộng hoạt động nhập khẩu những hàng hóa không có điều kiện để sản xuất hoặc sản xuất có hiệu quả thấp;
- Tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước, đặc biệt là đầu tư;
- Tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp bằng cách tạo ra môi trường cạnh tranh tốt như tạo ra sự bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp nước ngoài, đó là động lực quan trọng để các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Các nước trên thế giới đang chuyển sang xu hướng áp dụng mô hình kinh
tế thị trường mở cửa nhằm tạo điều kiện phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại quốc tế;
- Sự phát triển của các công ty đa quốc gia cũng là cơ sở cho các nước thực hiện mô hình chính sách tự do hóa thương mại quốc tế
* Nội dung:
- Nhà nước tiến hành cắt giảm các công cụ, biện pháp gây hạn chế cho hoạt động thương mại quốc tế như thuế quan, hạn ngạch, các thủ tục hành chính… nhằm tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng và phát triển quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa với nước khác;
- Nhà nước từng bước đưa vào thực hiện các chính sách, quy định, biện pháp quản lý về: tiêu chuẩn kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách
Trang 39đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền, chính sách bảo đảm quyền
sở hữu trí tuệ, thương hiệu hàng hóa… theo các cam kết trong các hiệp định hợp tác đã ký kết và theo chuẩn mực chung của thế giới
* Các biện pháp: Nhà nước phải xây dựng một lộ trình tự do hóa thương
mại một cách phù hợp với điều kiện, khả năng của quốc gia và mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước Chính phủ và các cơ quan phải áp dụng các biện pháp
và hoạt động phù hợp để tuyên truyền, phổ biến các thông tin cơ bản của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại Ngoài ra, chính phủ cần
có biện pháp hỗ trợ kịp thời và thích hợp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tận dụng được những cơ hội cũng như vượt qua được những thách thức trong quá trình mở cửa, thực hiện tự do hóa thương mại như khuyến khích xuất khẩu, nâng cao mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước, quảng cáo…
2.5.3.3 Mối quan hệ giữa hai xu hướng bảo hộ mậu dịch và tự do hóa thương mại
Xu hướng tự do hóa thương mại và xu hướng bảo hộ mậu dịch có tác động mạnh mẽ đến chính sách thương mại của mỗi quốc gia qua từng thời kỳ
* Về nguyên tắc: Hai xu hướng này đối nghịch nhau vì chúng gây nên tác
động ngược chiều nhau đến hoạt động thương mại dịch vụ Nhưng chúng không bài trừ nhau mà trái lại thống nhất với nhau, một sự thống nhất giữa hai mặt đối lập
* Về lịch sử: Chưa khi nào có sự tự do hóa thương mại một cách hoàn toàn
đầy đủ, và trái lại cũng không khi nào lại có bảo hộ mậu dịch quá dày đặc đến mức làm tê liệt các hoạt động thương mại, dịch vụ
* Về logic: Tự do hóa thương mại là một quá trình đi từ thấp đến cao, từ cục
bộ đến toàn thể, thậm chí có trường hợp nó có ý nghĩa trước hết như một xu hướng
Tự do hóa thương mại và bảo hộ mậu dịch là hai mặt nương tựa nhau, chúng làm tiền đề cho nhau và kết hợp với nhau để phát triển thương mại dịch vụ
Trong thực tế, hai xu hướng này không bao giờ được thực hiện một cách triệt
để hoàn toàn, mà thường được kết hợp với nhau trong quá trình xây dựng các chính sách thương mại của các quốc gia, trong đó xu hướng bảo hộ mậu dịch được điều chỉnh theo hướng giảm dần, đồng thời xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng được các quốc gia tăng cường, trong đó các công cụ, biện pháp bảo hộ mậu dịch từng bước được chuyển dần từ những biện pháp truyền thống như thuế quan, hạn ngạch sang các biện pháp hiện đại hơn như các rào cản về kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền, biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Trang 402.5.4 Chính sách quản lý thương mại trong nước
* Mục tiêu:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế mở rộng giao lưu hàng hóa và phát triển kinh doanh (mở rộng quyền đăng ký kinh doanh thương mại dịch vụ), khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh
tế trong nước, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
- Bảo vệ thị trường nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng đứng vững và vươn lên trong hoạt động kinh doanh thương mại, đáp ứng tốt mọi nhu cầu của sản xuất và đời sống Nhà nước bảo hộ các quyền kinh doanh hợp pháp, tạo điều kiện bình đẳng trong vay vốn, mở tài khoản tại ngân hàng và thuê mướn lao động
* Một số chính sách phát triển thương mại trong nước: chính sách
thương nhân, chính sách thị trường, chính sách mặt hàng, chính sách đầu tư phát triển thương mại…
* Một số chính sách quản lý thương mại trong nước: Chính sách đối với
doanh nghiệp nhà nước, đối với nông thôn, đối với miền núi, chính sách lưu thông hàng hóa và dịch vụ thương mại
- Chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước: Chính sách này được khẳng
định trong Luật thương mại như sau: Nhà nước đầu tư về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực để các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh những mặt hàng thiết yếu nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động thương mại Doanh nghiệp nhà nước là một trong những công
cụ của nhà nước để điều tiết cung cầu, ổn định giá cả, nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước
- Chính sách thương mại đối với nông thôn: Là một bộ phận của chính sách
nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Đảng và nhà nước ta Mục tiêu của chính sách thương mại đối với nông thôn:
+ Thay đổi cơ cấu sản xuất ở nông thôn theo hướng hàng hóa, đa dạng hóa ngành nghề, xã hội hóa nông thôn theo con đường văn minh, hiện đại;
+ Phát triển sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập…, từ đó tăng sức mua, cải thiện điều kiện sống của nông dân;
+ Góp phần giải quyết việc làm cho nông dân, thực hiện chính sách xã hội, góp phần xóa đói, giảm nghèo;
+ Góp phần hình thành, khôi phục và phát triển các làng nghề, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn